1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ

17 98 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 29,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN MÔN: KINH TẾ HỌC TIỀN TỆ, NGÂN HÀNG VÀ

THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

ĐỀ TÀI: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH? VẬN DỤNG LỸ THUYẾT NÀY

ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG VÀ HIỆN TƯỢNG TÍN DỤNG ĐEN TRONG NỀN KINH TẾ?

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, thị trường tài chính cũng không nằm ngoài xu thế đó

Nhưng trong quá trình phát triển, những cuộc khủng hoảng tài chính luôn là vấn đề bất cập trong mỗi quốc gia Các nhà phân tích cho rằng, đa phần các cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra đều có thể tránh được nếu có sự minh bạch và tính công khai Nếu như các hoạt động của các tổ chức rõ ràng hơn, công khai nhiều tin tức hơn, hay nói cách khác là có sự cân xứng về thông tin giữa các bên trong mọi cuộc giao dịch thì mức độ rủi ro sẽ được hạn chế và giải quyết kịp thời hơn

Vấn đề này ảnh hưởng không những lâu dài mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tâm

lý, niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường tài chính Làm thế nào để hạn chế thông tin bất cân xứng, làm cách nào để nâng cao chất lượng công bố thông tin, đảm bảo cho thị trường tài chính vận hành công bằng, hiệu quả, công khai, minh bạch được đặt ra rất cấp thiết

Trang 3

PHẦN I:

LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG

Cha đẻ của thông tin bất cân xứng là ba nhà kinh tế học đã đoạt giải Nobel về các vấn đề liên quan đến thông tin: G.Akerlof, M.Spence and J.Stiglitz

1.Thông tin bất cân xứng là gì?

Là trạng thái mà ở đó các bên của một giao dịch có sự nhận biết (thông tin) không giống nhau về đối tượng và các vấn đề liên quan của giao dịch đó

Đôi khi một lý do khiến các thị trường thất bại là thông tin bất cân xứng Hiện tượng này đã trở thành mối quan tâm chính của các nhà kinh tế trong thời gian gần đây

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên tham gia thỏa thuận biết nhiều hơn bên kia:

- Một người bán đưa ra món hàng mà người mua không dễ đánh giá chất lượng

- Một người tuyển dụng lao động khó có thể biết trong số các ứng viên ai là người có năng lực nhất

- Người cho vay không bao giờ biết rõ hơn người đi vay về khả năng thanh toán nợ

Sự cách biệt thông tin có thể gây tốn kém và làm cho nhiều hàng hóa hay dịch

vụ không thể tham gia thị trường

2 Nguyên nhân của thông tin mất cân xứng:

- Tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô

- Môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương trong việc triển khai

- Công tác thống kê, dự báo còn hạn chế, cho nên những điều chỉnh trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN chưa theo kịp diễn biến của nền kinh tế và kết quả đạt chưa cao

Trang 4

- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN

- Rủi ro do hệ thống thông tin quản lý còn bất cập, yếu kém

3 Các hệ quả của thông tin mất cân xứng:

3.1 Lựa chọn ngược

Lựa chọn ngược là tình huống thông tin bất cân xứng xảy ra trước khitiến hành giao dịch: khi một bên trong giao dịch có lợi thế thông tin về một đặc điểmnào đó (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm, tình trạng sức khỏe, sự lành mạnh về tài chính,

…) mà bên kia không thể quan sát với độ chính xác tuyệt đối khiến bên kia không thể đưa ra quyết định chính xác và tối ưu Bên có lợi thế về thông tin có thể lợi dụng đặc điểm này để che dấu, bóp méo thông tin theo hướng có lợi cho mình Còn bên thiếu thông tin hơn cần hiểu được bất lợi này để tìm các biện pháp buộc bên có nhiều thông tin phải bộc lộ những đặc điểm hay thông tin cần biết

Xét một ví dụ trong hoạt động bảo hiểm Một công ty bảo hiểm phát hành một hợp đồng bảo hiểm rủi ro mất xe Kết quả có nhiều khả năng xảy ra là đa số những người phải để xe ở những nơi không an toàn sẽ mua bảo hiểm Thông tin về nơi mà người sử dụng xe hay gửi xe là thông tin chỉ riêng anh hay chị ta biết Nói một cách khác, đó là thông tin mà người ngoài và cụ thể là công ty bảo hiểm không thể quan sát được Do vậy, công ty không thể phân biệt được để tính mức phí bảo hiểm khác nhau với độ rủi ro khác nhau Ai cũng nói là mình luôn gửi xe ở những nơi an toàn để hy vọng được hưởng phí bảo hiểm thấp Trường hợp này, công ty bảo hiểm sẽ áp dụng một mức phí bảo hiểm bình quân Với một mức phí bảo hiểm bình quân như vậy, thì những người thực sự luôn gửi xe ở nơi an toàn – khách hàng mà công ty bảo hiểm muốn hướng tới - sẽ thấy không đáng để mua bảo hiểm, còn những người có độ rủi ro cao - đối tượng khách hàng công ty bảo hiểm muốn tránh - sẽ sẵn sàng mua Như vậy, chỉ có những người có độ rủi ro mất xe cao mới mua bảo hiểm Như vậy, công ty bảo hiểm đã bị đặt trong tình trạng lựa chọn ngược vì thực chất, công ty bảo hiểm chỉ muốn bán bảo hiểm cho những khách hàng gửi xe ở nơi an toàn

3.2 Rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại)

Trang 5

Hiện tượng rủi ro đạo đức là tình trạng thông tin bất cân xứng xảy ra sau khi giao dịch, trong đó một bên trong giao dịch có ít thông tin hơn bên kia về hành động của bên kia sau khi giao kết hợp đồng Do bên có nhiều thông tin hơn có thể dễ dàng che đậy hành động của mình, nên họ có xu hướng hành động đi ngược lại lợi ích của bên kia và theo hướng có lợi cho mình

Để hiểu rõ hơn về khái niệm rủi ro đạo đức, ta hãy dùng một ví dụ về bảo hiểm Trong phần nói về lựa chọn ngược ở trên, chúng ta đã sử dụng ví dụ về rủi ro mất xe máy để minh họa cho khái niệm “lựa chọn ngược” Ta thấy rằng trước khi ký hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm không biết được đặc điểm của các khách hàng

(thông tin bị che đậy dẫn tới lựa chọn ngược) Thậm chí sau khi đã ký hợp đồng, công

ty bảo hiểm cũng không cũng không quan sát được hành vi của khách hàng Những người sau khi đã mua bảo hiểm thường trở nên bất cẩn hơn Họ không còn giữ xe cẩn thận như trước nữa vì ỷ lại rằng nếu mất thì cũng được công ty bảo hiểm đền bù Đây chính là tâm lý ỷ lại hay rủi ro đạo đức Kết quả là xác suất mất xe của những người bảo hiểm tăng lên đáng kể, từ đó kéo theo chi phí đền bù của công ty bảo hiểm tăng lên

Nếu quan sát được hành vi của khách hàng, công ty bảo hiểm sẽ đưa vào trong hợp đồng các điều khoản để xác định rõ những hành vi (bất cẩn) nào dẫn tới mất xe thì sẽ không được bồi thường và sẽ thực thi những điều khoản đó Tuy nhiên, việc quan sát hành vi là rất tốn kém, nếu không muốn nói là không khả thi Do vậy, khi một khách hàng đến đòi đền bù thì công ty bảo hiểm thường không có cách nào để xác định được là khách đó có thực hiện đúng các điều khoản hợp đồng hay không

Hiện tượng rủi ro đạo đức còn được nghiên cứu dưới hình thức là vấn đề người

ủy thác - đại lý (principal - agent problem) Hợp đồng vốn, ví dụ cổ phiếu thường là

quyền được chia lợi nhuận và tài sản của công ty Hợp đồng vốn chứa đựng rủi ro đạo đức, được thể hiện bởi vấn đề “uỷ thác – đại lý” Trong khi những nhà quản lý là những đại lý nhỏ chỉ nắm giữ một tỷ lệ nhỏ, các cổ đông còn lại là những người uỷ thác nắm giữ chủ yếu cổ phần của công ty Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc

Trang 6

quản lý công ty làm phát sinh rủi ro đạo đức Nhà quản lý công ty có thiên hướng hành động có lợi cho riêng mình hơn là vì quyền lợi của các cổ đông còn lại, bởi vì nhà quản lý không có động lực nhằm tối đa hoá lợi nhuận công ty như các cổ đông mong muốn

4 Giải pháp khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng

Tình trạng thông tin bất cân xứng khiến các thị trường hoạt động kém hiệu quả, các nguồn lực của xã hội được phân bổ không hiệu quả, gây lãng chí chung cho toàn

xã hội, đe dọa sự tồn tại của một số thị trường, kìm hãm sự phát triển chung của nền kinh tế Giải pháp chung thường được sử dụng để hạn chế mức độ thông tin bất cân xứng là: Cơ chế phát tín hiệu, Cơ chế sàng lọc, cơ chế giám sát

4.1 Cơ chế phát tín hiệu (Signaling)

Michael Spence chỉ ra được cơ chế phát tín hiệu: bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu đến những bên ít thông tin một cách trung thực và tin cậy

Spence lấy ví dụ trong thị trường lao động Người bán trên thị trường lao động

là những ứng cử viên đi xin việc và người mua là nhà tuyển dụng Nhà tuyển dụng không thể trực tiếp quan sát các khả năng của ứng cử viên mà chỉ có thể đánh giá gián tiếp thông qua bằng cấp, kinh nghiệm,…của họ Đó được gọi là những tín hiệu được phát ra cuả người lao động Như vậy việc phát tín hiệu này đã làm giảm thông tin bất cân xứng giữa những người lao động và ông chủ

4.2 Cơ chế sàng lọc (Screening)

Stiglitz đặt ra vấn đề là bản thân những người có ít thông tin hơn cũng có thể tự cải thiện tình trạng của mình thông qua cơ chế sàng lọc Bên có ít thông tin hơn có thể thu thập thông tin từ bên kia bằng cách đưa ra các điều kiện giao dịch hợp đồng khác nhau

Ông lấy ví dụ bất cứ hàng hóa nào cũng đều có những đặc tính khác nhau như chất lượng khác nhau, mẫu mã khác nhau nên cần phải phân loại chúng Đối với lao động cũng có lao động có khả năng, tay nghề cao và lao động có khả năng tay nghề thấp Vì vậy không thể trả lương theo một mức lương chung Để khuyến khích người

Trang 7

có khả năng cao, tạo ra năng suất lao động cao thì cần phải trả lương cao để khuyến khích họ Đối với người có khả năng thấp, việc cố gắng đạt được một năng suất sản xuất để nhận được lương cao sẽ tốn chi phí rất lớn so với người có khả năng cao Vì vậy việc phân nhóm lao động để trả lương là việc làm cần thiết để khuyến khích những người có khả năng nâng cao trình độ và mang lại hiệu qủa cao cho xã hội

4.3 Cơ chế giám sát

Cơ chế giám sát được áp dụng nhằm mục đích kiểm soát tâm lý ỷ lại, cơ chế bao gồm giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp

Giám sát trực tiếp: Bên có ít thông tin hơn sẽ bỏ ra nguồn lực để đạt được kiểm soát thông tin đối với bên kia, cơ chế giám sát này sẽ tốn nhiều chi phí và sức lực

Giám sát gián tiếp: là việc một bên trong giao dịch thiết kế hợp đồng sao cho bên kia cảm thấy không có động cơ để thực hiện những hành vi đi ngược lại lợi ích của anh ta, và khiến bên kia cảm thấy rằng việc tuân thủ các điều khoản sẽ có lợi cho mình Trong hợp đồng có thể thiết kế các điều khoản hạn chế để ngăn cản bên kia tham gia vào các hoạt động có độ rủi ro cao, hạn chế vấn đề rủi ro đạo đức

PHẦN II:

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐỂ GIẢI THÍCH HIỆN TƯỢNG NỢ XẤU

TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM

Nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng nợ xấu là do các ngân hàng không có đầy

đủ thông tin từ phía khách hàng của mình mặc dù các NHTM đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định và do hạn chế chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp Nói một cách đơn giản, là do cơ chế sàng lọc chưa đủ hiệu quả nên các ngân hàng đã

để "lọt" những khách hàng có khả năng che đậy hành vi và thông tin của họ trong

Trang 8

giao dịch vay vốn để thực hiện những dự án có rủi ro cao Vấn đề thông tin bất cân xứng là nguyên nhân gây ra những trục trặc trong hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Do đó, để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của mình, bản thân các

tổ chức tín dụng phải xử lý thông tin bất cân xứng để hạn chế sai lệch và rủi ro, nhằm cho vay đúng người, đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để khách hàng vay vốn có hành vi đúng đắn, nhằm đảm bảo việc thu hồi cả gốc và lãi tín dụng đã cấp

1 Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM trong những năm qua

Với quyết tâm cao của ngành Ngân hàng và các NHTM, lãi suất cho vay bình quân của hệ thống ngân hàng thương mại giảm nhanh từ 18,2% năm 2011, xuống dưới 9% năm 2016 Cùng với việc giảm lãi suất, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước

có nhiều chính sách tích cực để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh

tế, mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6-7%/năm đối với các lĩnh vực ưu tiên

Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay ngắn hạn của các NHTM chỉ còn 4-5%/năm

2 Nguyên nhân thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các NHTM

2.1 Nguyên nhân từ hệ thống ngân hàng:

Quá nhiều chi nhánh ngân hàng TM trên địa bàn với vốn tự có ít, cạnh tranh trong cho vay, dễ dãi trong việc cấp tín dụng, thiếu sự chặt chẽ, khoa học, lập hồ sơ cho vay hoàn toàn không có căn cứ, không thẩm định thực tế mà chỉ dựa vào thông tin do doanh nghiệp cung cấp, bỏ qua các điều kiện về giải ngân như tài sản đảm bảo, giá trị tiền cho vay…

2.2 Nguyên nhân con người bao gồm cán bộ NHTM và người đi vay: Nhiều

vụ việc xảy ra một phần là do chính cán bộ ngân hàng móc nối với khách hàng lừa gạt ngân hàng, không chỉ cán bộ tín dụng mà còn có cả những cán bộ lãnh đạo Những vụ việc như vậy thường gây hậu quả lớn hơn nhiều so với những

vụ việc khách hàng thực hiện lừa gạt đơn lẻ

Trang 9

3 Giải pháp giúp các ngân hàng tìm được “đúng” khách hàng, “đúng” dự

án và khách hàng thực hiện “đúng” những hành động như đã cam kết với ngân hàng, cần thiết phải có các giải pháp sau:

3.1 Phát triển ngành Kiểm toán

Khi ngành Kiểm toán phát triển chuyên sâu, cán bộ kiểm toán có năng lực và phẩm chất Một đội ngũ nhân viên kiểm toán tốt sẽ không chỉ giúp ngân hàng xác minh các báo cáo tài chính, mà còn có thể đưa ra những tư vấn, nhìn nhận và định hướng phát triển, giúp các doanh nghiệp có những quyết định tối ưu, đem lại lợi nhuận trong tương lai

3.2 Sử dụng hệ thống thông tin tín dụng

CIC đã cung cấp một số sản phẩm hiện hành riêng dành cho các tổ chức tín dụng muốn thẩm định về khách hàng của mình Với những lợi thế của mình, Trung tâm thông tin tín dụng CIC là một tổ chức có khả năng đáp ứng các điều kiện này Khả năng trong thời gian tới, CIC sẽ là một cơ quan cung cấp thông tin và xếp hạng tín dụng khách hàng đáng tin cậy làm nền tảng cho một hạ tầng thông tin tốt phục vụ cho hoạt động tín dụng của các ngân hàng ở Việt Nam

Bên cạnh việc sử dụng hệ thống thông tin đánh giá chung, các ngân hàng cũng nên tự xây dựng cho mình cơ chế riêng trong việc đánh giá và thẩm định khách hàng của mình, đồng thời thường xuyên cập nhật thông tin liên quan từ bên ngoài Trên cơ

sở nắm đầy đủ thông tin về các khách hàng từ nhiều phía, các ngân hàng có thể hạn chế rủi ro do lựa chọn sai lệch nảy sinh từ vấn đề thông tin bất cân xứng

3.3 Hệ thống đăng ký giao dịch đảm bảo

Để tránh tình trạng khách hàng sử dụng một tài sản thế chấp, cầm cố vay vốn ở nhiều ngân hàng, các cơ quan đăng ký giao dịch đảm bảo đã được thành lập như: Cơ quan đăng ký giao dịch đảm bảo quốc gia và chi nhánh; Cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực; Sở Tài nguyên môi trường Ngoài ra, việc đưa ra các điều kiện

về giá trị tài sản ròng cũng rất cần thiết Giá trị tài sản ròng ở đây được tính bằng cách lấy tổng tài sản trừ đi tổng nợ Như vậy, chỉ những cá nhân hay doanh nghiệp nào có

Trang 10

đủ tài sản mới được xem xét cho vay Nguy cơ rủi ro đạo đức sẽ giảm xuống bởi người đi vay có thể bị kiện và cưỡng chế nếu không trả nợ đúng hạn

3.4 Nâng cao kỹ thuật phân tích và thẩm định dự án

Như cơ chế truyền thống, nhân viên kinh doanh vừa là người trực tiếp gặp khách hàng, tổng hợp hồ sơ, vừa là người thẩm định Điều này làm gia tăng các khoản

nợ xấu trong ngân hàng bởi bản thân nhân viên phải chịu gánh nặng chỉ tiêu, lại đồng thời là người duyệt khoản vay

Các ngân hàng nên thực hiện phân chia lại chức năng Nhân viên kinh doanh chỉ thực hiện chức năng lập hồ sơ kinh doanh của khách hàng và sẽ có một bộ phận chuyên thẩm định dự án đưa ra phán quyết giải ngân Điều này giúp thắt chặt hệ thống, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng vì nhân viên thẩm định là người không bị áp đặt chỉ tiêu cũng như không phải người tiếp xúc trực tiếp khách hàng nên khó có thể

bị tác động như nhân viên kinh doanh

Sau khi hoàn thành thẩm định, sẽ có một bộ phận chuyên chức năng hoàn thiện

hồ sơ sau phán quyết và đây cũng là bộ phận không tiếp xúc khách hàng Sẽ có một ban kiểm soát nội bộ chuyên chức năng thẩm tra tính tuân thủ quy định về hồ sơ trong ngân hàng Thêm vào đó, ngân hàng cần thành lập hội đồng tín dụng cùng giải quyết

hồ sơ xin vay, cũng như hạn chế hạn mức cấp tín dụng của người có thẩm quyền cấp tín dụng

Để mô hình trên có thể đi vào hoạt động một cách hiệu quả, cần nâng cao chuyên môn của từng nhóm cán bộ Có nhiều cách để thực hiện điều này như tổ chức lớp học cho cán bộ nâng cao chuyên môn, hay tạo điều kiện cho cán bộ giỏi đi học tập cách thức hoạt động ở các ngân hàng nước ngoài,…

3.5 Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá khách hàng

- Các tiêu chuẩn đánh giá năng lực khách hàng

Việc đặt ra các tiêu chuẩn đánh giá năng lực và trình độ của khách hàng vẫn là cần thiết, nhằm đánh giá chuẩn xác hơn, đầy đủ và tổng quan hơn về khách hàng

Ngày đăng: 21/04/2021, 15:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w