Nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu của các NĐT nước ngoài trong việc thu hút đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia cũng như tiến trình hội nhập
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH HỐ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
ĐỀ TÀI: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
Trang 2Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tác giả, mọi sự trích dẫn đều đã được ghi chú rõ ràng, đầy đủ Trong thời gian thực hiện đề tài, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ths Trần Thị Bảo Nga đã giúp tác giả hoàn thành khóa luận này một cách tốt nhất!
Tác giả
Đỗ Thị Như Diễm
Trang 3NĐT Nhà đầu tư
Trang 4Phần mở đầu 1
Chương 1: Tổng quan về quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam 6
1.1 Khái quát về NĐT nước ngoài và quyền sở hữu của NĐT nước ngoài 6
1.1.1 Khái niệm NĐT nước ngoài 6
1.1.2 Quyền sở hữu của NĐT nước ngoài 10
1.1.2.1 Khái niệm sở hữu và quyền sở hữu 10
1.1.2.2 Đặc trưng quyền sở hữu của NĐT nước ngoài 12
1.2 Sự cần thiết phải bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài 13
1.2.1 Các căn cứ pháp lý xây dựng quy chế bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài14 1.2.1.1 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) 14
1.2.1.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) 15
1.2.2 Chính sách của Nhà nước ta đối với NĐT nước ngoài và vai trò của việc thu hút đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam… 18
1.2.2.1 Chính sách của Nhà nước ta đối với NĐT nước ngoài 19
1.2.2.2 Vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài trong việc thu hút đầu tư nước ngoài về Việt Nam 21
Chương 2: Bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành – một số hạn chế và giải pháp khắc phục 25
2.1 Bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn và các tài sản hợp pháp của NĐT nước ngoài 27 2.1.1 Vốn, tài sản đã đầu tư 27
2.1.2 Chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài 30
2.1.3 Chuyển nhượng dự án đầu tư 34
2.2 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của NĐT nước ngoài 38
2.2.1 Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 39
2.2.2 Những hạn chế của Luật trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của NĐT nước ngoài 41 2.3 Bảo hộ đối với quyền sở hữu bất động sản 46
Trang 52.3.1.1 Về hình thức sử dụng đất 47
2.3.1.2 Giao đất, cho thuê đất 50
2.3.1.3 Vấn đề thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 53
2.3.1.4 Thu hồi đất 53
2.3.2 Bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài đối với nhà ở sinh hoạt 56
2.3.2.1 Về điều kiện NĐT nước ngoài được mua nhà ở tại Việt Nam 57
2.3.2.2 Về loại nhà và số lượng nhà ở 57
2.3.2.3 Về thời hạn sở hữu nhà ở 58
KẾT LUẬN 1
Trang 6Phần mở đầu
I Lý do chọn đề tài:
Hội nhập vào nền kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu Bởi lẽ, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một cách biệt lập mà không có quan hệ với các quốc gia khác Nếu không muốn bị tụt hậu, bị “bỏ rơi” trong sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ, các nước cần nhanh chóng gia nhập vào sân chơi chung này Bên cạnh những thuận lợi, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các nước, đặc biệt là những nước đang phát triển trong nhiều vấn đề Một trong những vấn đề cấp bách là cần hoàn thiện pháp luật vì pháp luật là phương tiện quan trọng để thực hiện các chính sách, mục tiêu của Nhà nước Pháp luật nếu phản ánh đúng sự vận động của các quan hệ xã hội, điều chỉnh các quan hệ ấy, thì sẽ là bàn đạp vững chắc cho sự phát triển về sau Ngược lại nếu pháp luật không phù hợp với thực tiễn nó sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển của nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
Một trong những vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta cũng như toàn xã hội quan tâm là làm thế nào để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Đầu tư nước ngoài là một công cụ hữu hiệu để góp phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ,…đồng thời khẳng định quan điểm “Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới” Sự ra đời của LĐTNN năm 1987 đã mang lại một luồng gió mới để thu hút đầu tư Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung qua các năm 1990,
1992, 1996, 2000 LĐTNN vẫn không thể điều chỉnh hết các quan hệ xã hội mà thực tiễn đặt ra Do vậy, LĐT năm 2005 ra đời là bước tiến quan trọng để tạo cơ sở pháp
lý vững chắc thu hút các NĐT đầu tư vào Việt Nam
Vấn đề đặt ra: Muốn thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài cần phải có cơ chế bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài vì một khi các NĐT nước ngoài được bảo hộ với những chính sách pháp luật hợp lý họ sẽ có được sự thoải mái, yên tâm, mạnh dạn hơn khi đầu tư vào Việt Nam Đây là mong muốn chính đáng của các
Trang 7NĐT, đặc biệt là các NĐT nước ngoài khi họ tiến hành bỏ vốn, công nghệ để đầu tư
ở một thị trường mà chính sách pháp luật, chính sách quản lý của nhà nước hoàn toàn khác với quốc gia của họ Bảo hộ cho các NĐT nước ngoài nghĩa là ta đang đối
xử họ bình đẳng với các NĐT trong nước Điều này hoàn toàn phù hợp với những chuẩn mực chung của quốc tế
Nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu của các NĐT nước ngoài trong việc thu hút đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia cũng như tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài : “Bảo
hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, những hạn chế và giải pháp khắc phục” cho luận văn tốt nghiệp của mình
II Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
1 Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của
Luật đầu tư 2005; Luật doanh nghiệp năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm
2009, Luật Nhà ở 2005; Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2010; Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và các nghị định có liên quan để xem xét các quy định pháp lý có liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu của các NĐT nước ngoài
2 Về mục tiêu nghiên cứu: Luận văn tập trung theo các mục đích sau:
- Quyền sở hữu của NĐT nước ngoài là gì và tại sao phải bảo hộ quyền sở hữu của họ
- Qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành trong việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam, những hạn chế và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 8III Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm qua đã có rất nhiều bài viết về đầu tư nước ngoài Có thể
kể ra những công trình nghiên cứu của các tác giả của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề này:
- Nguyễn Thanh Sơn (2003), “Chế độ pháp lý về đảm bảo quyền lợi của NĐT nước ngoài”, Đề tài tham dự hội nghị nghiên cứu khoa học của sinh viên lần thứ VIII;
- Đỗ Thị Thanh Vân (2006), “Cơ sở pháp lí đảm bảo sự bình đẳng trong đầu tư giữa các NĐT trong nước và NĐT nước ngoài tại Việt Nam”, Khóa luận cử nhân luật, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;
- Nguyễn Thị Bích Lành (2011): “Cơ sở pháp lí đảm bảo sự bình đẳng trong đầu tư giữa các NĐT trong nước và NĐT nước ngoài tại Việt Nam”, Khóa luận cử nhân luật, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;
- Nguyễn Thị Cẩm Thuyên (2010): “Quyền góp vốn, mua cổ phần của NĐT nước ngoài tại Việt Nam”, Khóa luận cử nhân luật, Đại học Luật Thành phố
có thể kể ra như: Giáo trình Tư pháp quốc tế 2006 của trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp, do TS Bùi Xuân Nhự chủ biên đã đề cập đến quyền sở hữu, quyền sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam; Giáo trình tư pháp quốc tế 2012 của trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, do PGS
TS Mai Hồng Quỳ chủ biên đã đưa nội dung bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài trong tư pháp quốc tế nhưng cũng chỉ đề cập sơ khai những vấn đề cơ bản của quyền sở hữu của NĐT nước ngoài Ngoài ra, công trình “Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thường Lạng đã phân
Trang 9tích toàn diện ở khía cạnh triết học, kinh tế, pháp lý Tuy nhiên vào thời điểm tác giả viết (năm 2005) Luật Đầu tư 2005, Luật Doanh nghiệp 2005 chưa được ban hành nên tác giả chỉ tập trung phân tích các quy định của luật cũ bao gồm: LĐTNN tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LĐTNN tại Việt Nam năm 2000 Có thể nói đề tài: “Bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, những hạn chế và giải pháp khắc phục” mà tác giả chọn làm khóa luận tốt nghiệp trên cơ sở áp dụng những quy định của pháp luật của thời điểm lúc bấy giờ, hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách toàn diện, chi tiết và cụ thể về vấn đề này Các bài viết trên các diễn đàn cũng chỉ đi phân tích từng khía cạnh riêng của quyền sở
hữu mà không đi nghiên cứu toàn diện vấn đề này
IV Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Quyền sở hữu của NĐT nước ngoài là một quyền năng khá rộng và có nhiều vấn đề để khai thác Tuy nhiên trong phạm vi của luận văn cử nhân, tác giả tập trung nghiên cứu và phân tích những vấn đề chủ yếu của quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài: quyền sở hữu đối với vốn, tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu bất động sản bao gồm quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở sinh hoạt Đây là những vấn đề mà quy định của pháp luật vẫn còn có những hạn chế nhất định trong việc đảm bảo quyền lợi chính đáng của các NĐT nước ngoài, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật hiện hành
V Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, vận dụng linh hoạt chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác-Lenin Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp được khai thác để làm rõ cho vấn đề nghiên cứu, làm rõ những hạn chế của pháp luật hiện hành cũng như đưa ra những ý kiến đề xuất
Trang 10VI Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Với những kiến thức đã được nghiên cứu và trình bày, tác giả hy vọng luận văn sẽ đóng góp vào việc giải quyết những vấn đề đang tồn đọng trong việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài, góp phần tạo ra môi trường hấp dẫn đầu tư cho các NĐT nước ngoài và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới Bên cạnh đó, với những ý kiến đóng góp của tác giả sẽ đem lại những ứng dụng thiết thực sau:
Thứ nhất, giúp đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo
hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài của Đảng và Nhà nước ta
Thứ hai, đối với những người quan tâm đến vấn đề này, luận văn có thể là một nguồn tài liệu để tham khảo thêm
VII Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài được chia làm hai chương với các nội dung sau:
Chương 1: Tổng quan về quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam
Chương 2: Bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành – một số hạn chế và giải pháp khắc phục
Trang 11Chương 1: Tổng quan về quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam
Quyền sở hữu của NĐT nước ngoài là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các NĐT khi hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện và ngày càng phát triển Tiến hành đầu tư ở một quốc gia khác là hoạt động chứa đựng nhiều rủi
ro vì chính sách kinh tế, chính sách pháp luật của nước nhận đầu tư có thể ảnh hưởng đến quyền sở hữu của NĐT nước ngoài Đây là vấn đề mà các NĐT nước ngoài cân nhắc trước khi tiến hành đầu tư tại một quốc gia nào đó và cũng là vấn đề
mà nước nhận đầu tư quan tâm khi muốn thu hút hơn nữa đầu tư nước ngoài Đảm bảo quyền sở hữu của NĐT nước ngoài nghĩa là chúng ta đang tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài
1.1 Khái quát về NĐT nước ngoài và quyền sở hữu của NĐT nước ngoài NĐT nước ngoài không phải là một khái niệm mới mẻ trong hệ thống pháp luật nước ta Từ khi LĐTNN 1996 được ban hành, nhà làm luật đã đưa ra khái niệm này trong những điều đầu tiên làm cơ sở cho việc quy định quyền và nghĩa vụ của
họ Tuy nhiên cho đến hiện nay, khái niệm NĐT nước ngoài vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi
1.1.1 Khái niệm NĐT nước ngoài
Để tìm hiểu khái niệm NĐT nước ngoài, trước hết ta cần hiểu khái niệm
NĐT Theo qui định tại khoản 4 điều 3 LĐT 2005 thì : “NĐT là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam” Khái niệm này được tiếp cận dưới 2 góc độ: Thứ nhất, dưới góc độ chủ thể:
NĐT là những tổ chức cá nhân đã được liệt kê Thứ hai, dưới góc độ hành vi: NĐT phải thực hiện hoạt động đầu tư Về định nghĩa hoạt động đầu tư bao gồm: “Tất cả các giai đoạn của việc thực hiện một dự án, chính vì vậy khả năng chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư sẽ có thể có hai loại đối tượng Đối tượng thứ nhất là NĐT đã bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư Đối tượng thứ hai là pháp nhân mới được hình
Trang 12thành để thực hiện dự án đầu tư (đối với trường hợp dự án đầu tư có thành lập pháp nhân mới)”1
Từ khái niệm NĐT, LĐT 2005 cũng đưa ra khái niệm NĐT nước ngoài tại
khoản 5 điều 3: “NĐT nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” Như vậy khái niệm NĐT nước ngoài cũng
được tiếp cận dưới hai góc độ là chủ thể và hành vi Xem xét khái niệm này ở các văn bản dưới luật cụ thể sau:
Tại Nghị định 69/2007/NĐ-CP về việc NĐT nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam ban hành ngày 20 tháng 4 năm 2007 quy định, NĐT
nước ngoài bao gồm “tổ chức nước ngoài” là “tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và hoạt động, kinh doanh tại nước ngoài hoặc/và tại Việt Nam” và "cá nhân nước ngoài" là “người mang quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam”
Tại Quy chế hoạt động của NĐT nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ngày 24 tháng 12 năm 2008 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính xác định, NĐT nước ngoài bao gồm cả “tổ chức thành lập
và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này”
Theo Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của NĐT nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam ngày 15 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính
Phủ, NĐT nước ngoài bao gồm cả “tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có
tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%”
Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh
nghiệp ban hành ngày 1 tháng 10 năm 2010 khẳng định: “Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định khác,
1
“Sự tương thích giữa Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp”, Nguồn:
http://vn.360plus.yahoo.com/hoada131/article?mid=51&fid=-1 ngày 22/8/2009
Trang 13DN đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của NĐT nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với NĐT trong nước…”
Xem xét khái niệm này ở nhiều văn bản pháp luật có thể thấy sự không thống nhất trong cách tiếp cận khái niệm NĐT nước ngoài Trong khi LĐT 2005 chỉ tiếp cận NĐT nước ngoài ở đối tượng thứ nhất là NĐT đã bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư mà không đề cập đến NĐT ở trường hợp thứ hai là pháp nhân mới được hình thành để thực hiện dự án đầu tư thì nhiều văn bản dưới luật lại không hướng dẫn đúng tinh thần của LĐT 2005 Điều này gây ra sự phức tạp trong quá trình thực thi pháp luật khi không biết tư cách pháp lý áp dụng đối với doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài là NĐT trong nước hay NĐT nước ngoài?
Vậy khái niệm NĐT nước ngoài có nên bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam hay không? Nhiều ý kiến cho rằng, không nên đưa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào khái niệm NĐT nước ngoài
“Cho dù có tỷ lệ sở hữu của bên nước ngoài là bao nhiêu, thì các doanh nghiệp được thành lập ở Việt Nam nên được coi là doanh nghiệp trong nước”2 Nhưng nếu xem doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam là NĐT trong nước thì mục đích bảo hộ của nhà nước thể hiện trong cam kết WTO không thực hiện được.Vì nó là nguyên nhân gây ra tình trạng “đầu tư chéo”3 Trước tình trạng đó, có
ý kiến cho rằng khái niệm NĐT nước ngoài nên bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam với tỷ lệ vốn của bên nước ngoài cao hơn 49% Với cách quy định này đã thể hiện đúng tinh thần của các hạn chế của WTO nhưng lại mâu thuẫn khi dùng tiêu chí kép để xác định NĐT nước ngoài là tiêu chí quốc tịch và tiêu chí vốn đầu tư Theo đó, “hạn chế trong cam kết WTO sẽ
bị hạn chế bởi cam kết WTO” tại Trần Thanh Tùng, “NĐT nước ngoài: sợ nên rối”, Nguồn
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/33680/ truy cập Thứ Ba, 4/5/2010, 11:22 (GMT+7)
Trang 14được áp dụng đến hai lần cho cùng một NĐT: lần đầu tiên khi NĐT nước ngoài lần đầu thành lập doanh nghiệp B và lần thứ hai khi doanh nghiệp B thành lập hoặc đầu
tư vào doanh nghiệp khác tại Việt Nam - dù doanh nghiệp B hiển nhiên là pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam”4
Qua những phân tích ở trên, theo quan điểm của tác giả thì khái niệm NĐT nước ngoài nên bao gồm: “tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam và tổ chức được thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ
lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%” Thiết nghĩ nên coi người Việt Nam định cư ở nước ngoài là NĐT trong nước vì điều này sẽ thúc đẩy họ đầu tư xây dựng đất nước theo đúng chính sách và quan điểm mà Đảng và Nhà nước ta đã đề
ra
NĐT nước ngoài là một chủ thể đặc biệt, do vậy việc xác định tư cách chủ thể của đối tượng này có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật Xuất phát từ ý nghĩa đó, đòi hỏi các nhà làm luật phải xem xét, cân nhắc trong toàn bộ hệ thống pháp luật để đưa ra một khái niệm đúng đắn, chấm dứt tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn hiện nay, góp phần bảo vệ tốt hơn lợi ích của các chủ thể Tìm hiểu khái niệm NĐT nước ngoài trong khi nghiên cứu đề tài: “Bảo
4 Xem Trần Thanh Tùng, “NĐT nước ngoài: sợ nên rối”, chú thích số 3
Trang 15hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, những hạn chế và giải pháp khắc phục” sẽ giúp ta bảo vệ tốt hơn quyền sở hữu của loại chủ thể này
1.1.2 Quyền sở hữu của NĐT nước ngoài
Thực tế cho thấy một quốc gia bảo đảm những quyền lợi chính đáng của NĐT cũng như bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu của NĐT nước ngoài thì quốc gia đó trở thành môi trường đầu tư hấp dẫn NĐT nước ngoài Vậy quyền sở hữu của NĐT nước ngoài là gì và tại sao phải bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài?
1.1.2.1 Khái niệm sở hữu và quyền sở hữu
Trong bất kỳ một hình thái xã hội nào, lao động là một điều kiện tiên quyết
để con người có thể tồn tại Qua quá trình lao động, con người mới tích lũy của cải
dư thừa và dần dần hình thành sự chiếm hữu Chiếm hữu hay nói rộng ra là sở hữu
“được hiểu chính là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động (ngày nay còn gồm cả những tư liệu sản xuất) của xã hội loài người Nhiều công trình khoa học nghiên cứu lịch sử, xã hội, triết học đều đã thống nhất rằng sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan xuất hiện và phát triển song song cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người”5 Sở hữu là một khái niệm có trong lòng mọi xã hội, là một phạm trù kinh tế dùng để chỉ việc chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt các tài sản
Khái niệm sở hữu và quyền sở hữu là hoàn toàn khác nhau vì khái niệm quyền sở hữu chỉ xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp, có Nhà nước và pháp luật Quyền sở hữu là một khái niệm pháp lý, và do vậy ở mỗi Nhà nước lại có một cách hiểu khác nhau về quyền sở hữu Nhưng nhìn chung khái niệm quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản Ba quyền năng này tạo thành một thể thống nhất, quan hệ mật thiết với nhau Quyền chiếm hữu là tiền đề quan trọng nhưng quyền sử dụng lại có một ý nghĩa thiết thực, vì chỉ có thông qua quyền này chủ sở hữu mới khai thác được lợi ích, công dụng của tài sản để thỏa mãn các nhu cầu cho mình, còn quyền định đoạt
5
Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 1, Đại học Luật Hà Nội, năm 2010, tr 173
Trang 16lại xác định ý nghĩa pháp lý quan trọng nhất của chủ sở hữu Do đó chúng ta không được đồng nhất ba quyền này dễ dẫn đến những sai lầm tệ hại6
Điều 164 BLDS 2005 quy định: “Quyền sở hữu gồm quyền chiếm hữu, quyền
sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”
Cụ thể hóa ba quyền này, điều 182 BLDS 2005 quy định: “quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản” nghĩa là bảo đảm để chủ sở hữu tài sản có được đối
tượng sở hữu và chi phối đối tượng này theo ý chí của mình Điều 192, BLDS quy
định: “sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”
nghĩa là chủ sở hữu được dùng tài sản để phục vụ cho nhu cầu, sở thích của bản thân hoặc để khai thác lợi ích kinh tế của tài sản Còn quyền định đoạt, điều 195 BLDS
2005 cũng định rõ: “là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản” nghĩa là chủ sở hữu được quyền định đoạt địa vị pháp lý của tài sản
Việc định đoạt có thể là định đoạt số phận thực tế, làm chấm dứt sự tồn tại của vật như hủy bỏ, từ bỏ hoặc định đoạt số phận pháp lý của chúng: bán, trao đổi, tặng cho,… Như vậy nếu chủ sở hữu có được cả ba quyền năng thì chủ sở hữu sẽ khai thác hết các giá trị của đối tượng sở hữu Nếu chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu và định đoạt mà không có quyền sử dụng hay nói cách khác, chủ sở hữu đã chuyển giao quyền sử dụng cho chủ thể khác dưới hình thức cho thuê thì khoản lợi ích do đối tượng sở hữu đem lại sẽ bị phân phối giữa các chủ thể theo cơ chế do các bên thỏa thuận và được pháp luật bảo vệ
Từ khái niệm sở hữu và quyền sở hữu ta có thể đưa ra định nghĩa về quyền sở hữu của NĐT nước ngoài: quyền sở hữu của NĐT nước ngoài là tổng thể các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các đối tượng sở hữu là vốn, tài sản mà tổ chức, cá nhân nước ngoài đã đầu tư vào Việt Nam Bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài nghĩa là đảm bảo để NĐT nước ngoài thực hiện đầy đủ các quyền sở hữu của mình mà không có bất kỳ sự giới hạn nào mà nhà nước nhận đầu tư đặt ra để bảo hộ cho các NĐT nước ngoài
6 Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, năm 2007, tr 213
Trang 171.1.2.2 Đặc trưng quyền sở hữu của NĐT nước ngoài
NĐT nước ngoài là một chủ thể đặc biệt, do vậy, quyền sở hữu của NĐT nước ngoài cũng mang những đặc trưng nhất định:
Thứ nhất, quyền sở hữu của NĐT nước ngoài là quyền sở hữu có yếu tố nước
ngoài, "để điều chỉnh các quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài, trước hết pháp luật các quốc gia phải có sự công nhận lẫn nhau về chế độ sở hữu và quyền sở hữu được quy định trong pháp luật quốc gia khác7” Do vậy nếu thiếu những điều ước quốc tế, thiếu những đạo luật thừa nhận một cách rõ ràng sự bảo hộ của quốc gia sở tại đối với quyền sở hữu của NĐT nước ngoài, thì những NĐT này thường chần chừ khi tiến hành hoạt động đầu tư tại một quốc gia nào đó
Thứ hai, “quyền sở hữu của NĐT nước ngoài được bảo hộ phải đáp ứng được
hai điều kiện cần và đủ Về điều kiện cần, vốn, tài sản và các khoản lợi ích hợp pháp khác của NĐT phải được bảo toàn Về điều kiện đủ, vốn, tài sản và các khoản lợi ích thuộc sở hữu của NĐT phải được sinh lợi theo những quy luật của nền kinh tế thị trường”8 Hai điều kiện này có quan hệ tương hổ lẫn nhau và không thể thiếu bất
kỳ điều kiện nào trong hoạt động đầu tư nước ngoài Bởi lẽ, hoạt động đầu tư cũng
là hoạt động kinh doanh, mà hoạt động kinh doanh lại là hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Do vậy, một khi các NĐT kiếm tìm một môi trường đầu tư mới thì hai điều kiện này luôn là hai điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến quyết định của
họ
Thứ ba, việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài phải gắn với việc bảo
vệ lợi ích của các chủ thể kinh doanh trong nước, không thể tách bạch hai lợi ích này Mục tiêu của việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài là để thực hiện những cam kết quốc tế, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài Khi các NĐT nước ngoài vào Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư sẽ góp phần kích thích sự phát triển của nền kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ đó tạo động lực cho các
Trang 18doanh nghiệp trong nước trong quá trình tìm kiếm công nghệ, nâng cao sức sản xuất
và sức cạnh tranh trên thị trường Do vậy phải bảo vệ lợi ích của các chủ thể kinh doanh trong nước trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng với các NĐT nước ngoài Việc bảo hộ quyền lợi kinh tế của NĐT nước ngoài “đồng nghĩa với việc bảo hộ quyền lợi kinh tế của nước đi đầu tư và nước sở tại cũng như các chủ thể kinh tế trong nước, duy trì sự ổn định của các quan hệ kinh tế trong nước với các quan hệ kinh tế nước ngoài”9
Thứ tư, quyền sở hữu của NĐT nước ngoài phải được đảm bảo bởi ba quyền
năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Để thực hiện điều này đòi hỏi pháp luật nước nhận đầu tư phải quy định cụ thể, chi tiết
Thứ năm, quyền sở hữu của NĐT nước ngoài có tính quốc tế Điều này xuất
phát từ quốc tịch của NĐT nước ngoài Sự khác biệt trong chính sách pháp luật, phong tục tập quán giữa các quốc gia là những yếu tố ảnh hưởng đến quyền năng sở hữu và việc thực hiện chúng trên thực tế
Xuất phát từ những đặc trưng của quyền sở hữu của NĐT nước ngoài, có thể thấy việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài là một trong những vấn đề quan trọng mà nước nhận đầu tư phải thực hiện Điều này không chỉ là để bảo hộ lợi ích chính đáng của NĐT nước ngoài khi họ thực hiện hoạt động đầu tư tại quốc gia nhận đầu tư mà còn góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế cho nước nhận đầu tư
1.2 Sự cần thiết phải bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài
Bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài là một việc cần thiết bởi đây không chỉ là tuân thủ những nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế về đầu tư nước ngoài
mà nó còn thể hiện cho chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thu hút đầu
tư nước ngoài để phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam
9
Xem “Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam”, chú thích số 8, tr 51
Trang 191.2.1 Các căn cứ pháp lý xây dựng quy chế bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài
Trong pháp luật đầu tư quốc tế, việc bảo hộ thỏa đáng quyền lợi của NĐT nước ngoài là một vấn đề xuất hiện từ rất sớm trong các hiến chương, hiệp ước quốc
tế Cụ thể, trong Hiến chương Havana 1948 của Tổ chức Thương mại quốc tế, cụm
từ “đối xử bình đẳng” lần đầu tiên xuất hiện Cũng trong năm 1948, Hội nghị quốc
tế lần thứ 9 tại Hoa Kỳ đã thông qua Hiệp ước kinh tế Bogota, trong đó đưa ra các biện pháp bảo hộ thỏa đáng NĐT nước ngoài Ngày 12 tháng 10 năm 1967, Hội đồng OECD thông qua Dự thảo Công ước về Bảo vệ tài sản nước ngoài Sau đó, trong các hiệp định đầu tư song phương và các văn bản đa phương được ký kết cũng
đã thể hiện rõ tinh thần của Dự thảo Công ước OECD
Tại Việt Nam, việc bảo hộ thỏa đáng quyền lợi của NĐT nước ngoài cũng là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong tiến trình thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập quốc tế Với việc tham gia đàm phán, ký kết những hiệp định khuyến khích
và bảo hộ đầu tư song phương với các nước và vùng lãnh thổ, ký hiệp định khung với EU, hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, hiệp định đầu tư Nhật Bản - Việt Nam,… Việt Nam đã thể chế hóa những nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế: nguyên tắc tối huệ quốc (MFN), nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)
1.2.1.1 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN)
“Nguyên tắc tối huệ quốc là nguyên tắc cho phép người nước ngoài được hưởng sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà một quốc gia dành cho công dân của nước thứ ba”10 Theo cam kết về MFN trong đầu tư, “một bên ký kết có nghĩa vụ dành cho NĐT của bên ký kết kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho NĐT của bất kỳ nước thứ ba nào trong toàn bộ quá trình đầu tư từ khi thành lập, hoạt động, mở rộng cho đến khi thanh lý hay giải thể, chấm dứt hoạt động”11
Các hiệp định song phương được ký kết với các nước cũng đã thể hiện cho
10
Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr 77
11 Nguyễn Đức Vinh, Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế,
Luận văn thạc sĩ Luật, 2006, tr 56-57
Trang 20nguyên tắc này Ví dụ tại điều 3 Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ
nhân dân Lào quy định: “Đầu tư của các NĐT mỗi bên ký kết trên lãnh thổ Bên ký kết kia được hưởng sự đối xử thoả đáng công bằng và sự đối xử này không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho đầu tư của NĐT của bất kỳ nước thứ ba nào”
Hiệp định cũng đưa ra những trường hợp ngoại lệ liên quan đến việc đưa ra sự đối
xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho NĐT của bất kỳ nước thứ ba nào (điều 4)
Tại điều 2, Hiệp định đầu tư Nhật Bản –Việt Nam cũng quy định: “Mỗi Bên
Ký kết, trong Khu vực của mình, sẽ dành cho NĐT của Bên Ký kết kia và những đầu
tư của họ sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các NĐT của bất
kỳ nước thứ ba nào và những đầu tư của họ, trong cùng một hoàn cảnh tương tự như nhau đối với các hoạt động đầu tư” Trong các hiệp định song phương khác,
nguyên tắc này cũng đã trở thành một nội dung không thể thiếu
1.2.1.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)
Bên cạnh MFN, NT cũng là một nguyên tắc quan trọng Trong hoạt động đầu
tư nước ngoài, NT được hiểu là việc một quốc gia dành cho NĐT nước ngoài sự đối
xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các NĐT của nước mình Theo đó, các NĐT nước ngoài và các NĐT trong nước trong những trường hợp tương tự nhau cần được hưởng chế độ đối xử giống nhau về những vấn đề như thành lập, quyền sở hữu, quản lý doanh nghiệp và các quyền khác Nguyên tắc này được ghi nhận trong hầu hết các hiệp định song phương về đầu tư giữa Việt Nam và các nước Ví dụ tại
điều 2, Hiệp định đầu tư Nhật Bản - Việt Nam quy định: “Mỗi Bên Ký kết, trong Khu vực của mình, sẽ dành cho các NĐT của Bên Ký kết kia và những đầu tư của họ
sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử dành cho các NĐT và những đầu tư của nước mình, trong cùng một hoàn cảnh tương tự như nhau trong việc thành lập, mua lại, mở rộng, hoạt động, quản lý, duy trì, sử dụng, thu lợi và bán hoặc một hình thức chuyển nhượng đầu tư khác” Tại điều 3, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Hà Lan cũng quy định: “Đặc biệt mỗi Bên
Trang 21ký kết sẽ dành sự an toàn và bảo hộ vật chất đầy đủ cho những đầu tư đó và trong bất kỳ trường hợp nào không kém thuận lợi hơn so với đầu tư của công dân nước mình hoặc của công dân của nước thứ ba; sự đối xử nào thuận lợi hơn cho công dân có liên quan sẽ được áp dụng”
Trong việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài, các hiệp định song phương cũng đã thể hiện rõ cho chính sách bảo hộ đầu tư mà Việt Nam cam kết: không quốc hữu hóa, không trưng thu, trưng mua; bồi thường thiệt hại trong trường hợp trưng thu trưng mua vì mục đích công cộng; bảo đảm quyền chuyển tiền Tại Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, hiệp định song phương đầu tiên Việt Nam đàm phán trên cơ sở các hiệp định mà WTO giành cho những nước đang và kém phát triển đã thể hiện rõ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế: nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) trong việc bảo đảm quyền lợi của NĐT nước ngoài nói chung và bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài nói riêng Tại điều 10, hiệp định khẳng định về việc không quốc hữu hóa các khoản đầu tư trừ trường hợp vì mục đích công cộng và phải bồi thường
cho khoản đầu tư bị tước quyền sở hữu đó, đồng thời yêu cầu: “mỗi bên dành sự đối
xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc cho các khoản đầu tư theo Hiệp định này đối với bất kỳ biện pháp nào liên quan đến các tổn thất mà các khoản đầu tư đó phải gánh chịu tại lãnh thổ của mình do chiến tranh hoặc xung đột vũ tranh, cách mạng, tình trạng khẩn cấp quốc gia, khởi nghĩa, nội chiến hoặc các sự kiện tương tự khác; Mỗi bên chấp nhận phục hồi hoặc bồi thường phù hợp với khoản 1 trong trường hợp các khoản đầu tư theo Hiệp định này bị tổn thất tại lãnh thổ của mình do chiến tranh hoặc xung đột vũ trang, cách mạng, tình trạng khẩn cấp quốc gia, khởi nghĩa, nội chiến hoặc các tình trạng tương tự khác phát sinh từ việc:
A trưng dụng toàn bộ hoặc một phần các khoản đầu tư đó bởi các lực lượng vũ trang hoặc các cơ quan có thẩm quyền của bên đó hoặc
B phá hủy toàn bộ hoặc một phần các khoản đầu tư đó bởi các lực lượng vũ trang hoặc các cơ quan có thẩm quyền của bên đó mà tình hình không cần thiết phải làm vậy”
Trang 22Tiếp đó, trong hiệp định đầu tư Nhật Bản - Việt Nam đã khẳng định sự bảo
hộ của Nhà nước ta đối với quyền sở hữu của NĐT nước ngoài: “NĐT thuộc một Bên Ký kết, trong trường hợp đã chịu tổn thất hoặc thiệt hại đối với các hoạt động đầu tư trong Khu vực của Bên Ký kết kia do xung đột vũ trang hoặc tình trạng khẩn cấp như cách mạng, khởi nghĩa, nội chiến hoặc những sự kiện tương tự xảy ra trong Khu vực của Bên Ký kết kia, thì sẽ được Bên Ký kết kia phục hồi, đền bù, bồi thường hoặc bất kỳ một hình thức giải quyết hoặc đối xử nào khác không kém thuận lợi hơn, mà bên đó dành cho NĐT của mình hoặc NĐT của bất kỳ nước thứ ba nào, tùy
sự ưu đãi nào thuận lợi hơn”
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tham gia vào các thiết chế kinh tế lớn trên thế giới mà trước hết phải kể đến là việc tham gia ký kết hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) với mục tiêu tạo khu vực đầu tư tự do trong nội bộ các nước ASEAN vào năm 2010 và cho các nước ngoài ASEAN vào năm 2020
Thành tựu lớn nhất của Việt Nam là đã gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO Theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO đối với các biện pháp áp dụng riêng cho NĐT nước ngoài, đại diện của Việt Nam lưu ý rằng tháng 11/2005 Quốc hội đã thông qua LĐT mới nhằm mục đích cải thiện hơn nữa môi trường đầu
tư cho các NĐT thuộc mọi thành phần kinh tế Luật năm 2005 cũng đưa ra những quy định đảm bảo không quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản của NĐT (việc quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản sẽ chỉ có thể được thực hiện vì lợi ích công cộng và sẽ được đền bù đầy đủ và công bằng theo quy định của luật)12
Từ những nội dung thỏa thuận trong các hiệp định song phương, đa phương
và cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, ta có thể nhận thấy việc đối xử bình đẳng giữa các NĐT nước ngoài cũng như giữa NĐT trong nước và NĐT nước ngoài
đã trở thành nguyên tắc chung của cộng đồng quốc tế Theo đó, bất cứ hành vi nào đối xử bất bình đẳng cũng bị coi là vi phạm nghiêm trọng những chuẩn mực chung của thế giới Sự bình đẳng giữa các NĐT thể hiện rõ nét ở việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT, đặc biệt là đối với NĐT nước ngoài, bởi lẽ, bất kỳ một Nhà nước nào
12
Các cam kết của Việt Nam với WTO (phần tiếng việt), Nxb Lao động – Xã hội, 2006, tr19
Trang 23cũng sẽ bảo hộ cho NĐT của nước mình về sở hữu để các NĐT trong nước yên tâm
bỏ vốn, đầu tư thu lợi nhuận góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và từ
đó kích thích sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu cho NĐT trong nước nên theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, nhà nước cũng phải bảo hộ quyền sở hữu cho NĐT nước ngoài Điều này là cần thiết bởi khi NĐT nước ngoài tiến hành bỏ vốn là tiền, tài sản để tiến hành đầu tư tại nước ngoài thì vốn đầu tư của họ phải được đảm bảo, nhà nước nhận đầu tư không thể tùy tiện quốc hữu hóa, tịch thu mà không có lý do chính đáng Bên cạnh đó, nhà nước nhận đầu tư cũng cần phải có những chính sách phù hợp để các quyền năng sở hữu của NĐT nước ngoài được mở rộng và bình đẳng với NĐT trong nước về nhiều lĩnh vực Nhà nước không được bảo hộ quá nhiều mà hãy để cho các quan hệ sản xuất diễn ra theo những quy luật tự nhiên Thực hiện điều này, không chỉ góp phần thể chế hóa những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế mà còn góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng của các NĐT nước ngoài
Trong hệ thống văn bản pháp luật quốc gia, sau khi có pháp lệnh MFN - NT, một loạt các văn bản pháp luật nội địa trong các lĩnh vực thương mại quan trọng đã chuyển hóa các nguyên tắc này vào nội dung các điều khoản cụ thể Có thể nói các văn bản pháp luật Việt Nam về cơ bản đã ghi nhận tương đối đầy đủ các nguyên tắc không phân biệt đối xử trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ở các điều khoản cụ thể của những văn bản pháp luật quan trọng Điều này thể hiện mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển đất nước của Nhà nước ta
1.2.2 Chính sách của Nhà nước ta đối với NĐT nước ngoài và vai trò của việc thu hút đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài luôn là mục tiêu của mọi nhà nước nếu muốn thu hút đầu tư nước ngoài Đối với Việt Nam điều này cũng không ngoại lệ Để gia nhập vào sân chơi chung, Việt Nam đã có một thời gian khá dài trong việc hoạch định các chính sách đối với NĐT nước ngoài
Trang 241.2.2.1 Chính sách của Nhà nước ta đối với NĐT nước ngoài
Sau ngày thống nhất đất nước (1975) Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc thực hiện chính sách hợp tác đầu tư với nước ngoài Văn kiện Đại hội lần thứ
IV và Nghị quyết lần thứ 24 của Đảng nhấn mạnh chủ trương “thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa nước ta với tất cả các nước khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi, tích cực tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”
Thực hiện chính sách đó, ngày 18/4/1977 Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 115/CP ban hành Điều lệ đầu tư nước ngoài nhằm tạo cơ sở pháp lý để xác lập quyền sở hữu của NĐT nước ngoài Tuy nhiên, do điều kiện của đất nước ta vào thời gian đó nên Điều lệ đã không thực hiện được Sau đó, năm 1987, điều lệ này được nâng cấp lên thành LĐTNN tại Việt Nam, tiếp đó qua hai lần sửa đổi, bổ sung
vào năm 1990 và năm 1992; và đến năm 1996 Quốc hội đã thông qua LĐTNN tại
Việt Nam mới, sau đó luật này lại được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và năm 2005 Quốc hội đã ban hành LĐT áp dụng chung cho cả đầu tư trong nước và nước ngoài
So với các đạo luật khác thì gần như trong cùng thời gian ngắn, đây là đạo luật mà
có nhiều thay đổi nhất Sự thay đổi này một mặt thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, mặt khác đó cũng
là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, để tiến tới xây dựng một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh, phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài
Tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã nêu rõ: “công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu Đi đôi với việc công
bố LĐT cần có chính sách và tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt Kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh”
Hiến pháp 1992 ra đời đã thể chế hóa chính sách kinh tế do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra Trong đó, Hiến pháp đã khẳng định tính hợp pháp của quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại điều 25: “Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân
Trang 25nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế, bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản
và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư không bị quốc hữu hóa”
Tại văn kiện đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định: kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần cấu thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Bên cạnh đó, văn kiện cũng chỉ rõ: “Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”
Tại điều 1 LĐTNN tại Việt Nam ban hành ngày 12 tháng 11 năm 1996 khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích các NĐT nước ngoài đầu tư vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và tuân thủ pháp luật của Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng có lợi”
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi hợp pháp khác của NĐT nước ngoài; tạo điều kiện thuận lợi
và quy định thủ tục đơn giản, nhanh chóng cho các NĐT nước ngoài đầu tư vào Việt Nam”
Tại khoản 3 điều 4 LĐT 2005 khẳng định: “Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của NĐT; thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của các hoạt động đầu tư”
Bên cạnh việc thể chế hóa những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế, Việt Nam cũng đã tham gia ký kết nhiều hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương với các nước và vùng lãnh thổ, trở thành thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM, ký hiệp định khung với EU, hiệp định thương mại Việt -
Mỹ và hiệp định bảo hộ đầu tư Việt - Nhật, gia nhập WTO
Trang 26Như vậy, với việc quy định những nguyên tắc chung trong bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại những văn bản luật có hiệu lực pháp lý cao nhất đã thể hiện được ý thức của Đảng và Nhà nước về tầm quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế và xu thế hội nhập Vấn đề đặt ra là thu hút đầu tư nước ngoài có vai trò gì đối với sự phát triển kinh tế quốc gia và việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài có vai trò như thế nào đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài
1.2.2.2 Vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài
trong việc thu hút đầu tư nước ngoài về Việt Nam
Như chúng ta đã biết, đầu tư là hoạt động mà NĐT bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm thu lợi nhuận Có thể thấy hoạt động đầu tư mà đặc biệt là đầu tư nước ngoài là hoạt động chứa nhiều rủi ro Bởi lẽ, khi tiến hành đầu tư tại một nước khác, NĐT nước ngoài phải làm quen với một môi trường làm việc mới với những chính sách, cách quản lý, hoạt động mà đặc biệt là hệ thống pháp luật của nước nhận đầu tư hoàn toàn khác so với quốc gia của NĐT Chính vì thế, NĐT nước ngoài thường rất cân nhắc khi tiến hành đầu tư tại một quốc gia nào đó Liệu quyền và lợi ích hợp pháp của họ có được bảo đảm không? Họ có khả năng thu được nhiều lợi nhuận hay không? Và chế độ pháp lý đối với quyền sở hữu của họ như thế nào? Đó là những câu hỏi mà các NĐT nước ngoài thường đặt ra và xem xét trên nhiều khía cạnh trước khi quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó
Việt Nam đã gia nhập vào WTO, sân chơi chung, có nhiều thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít thử thách Gia nhập vào sân chơi này, một điều quan trọng mà Việt Nam phải thực hiện là phải bảo đảm sự bình đẳng giữa NĐT trong nước và NĐT nước ngoài, bảo đảm quyền sở hữu của NĐT nước ngoài Yêu cầu đặt ra là phải minh bạch hóa chính sách và pháp luật, cũng như quy định rõ ràng các biện pháp bảo đảm trong pháp luật quốc gia Bởi lẽ Việt Nam là một nước đang phát triển, rất cần vốn và công nghệ Một khi đã tạo được sự an tâm của các NĐT nước
Trang 27ngoài thì hoạt động đầu tư sẽ dễ dàng hơn và kết quả của việc thu hút đầu tư nước ngoài sẽ tác động rõ rệt đến nền kinh tế quốc gia
Kinh nghiệm cho thấy, các nước thành công trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là những nước bên cạnh những thuận lợi về chính trị, điều kiện tự nhiên, lao động còn có chính sách pháp luật rộng mở đặc biệt là hệ thống những biện pháp bảo
hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài Các nước như Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ luôn được thế giới xếp hạng cao, là môi trường mơ ước của các NĐT nước ngoài Do vậy, hoạt động đầu tư nước ngoài tại đây diễn ra khá mạnh mẽ và sôi nổi Đối với những nước phát triển, đầu tư nước ngoài đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp nội địa Vai trò này càng trở nên quan trọng hơn đối với những nước đang và chậm phát triển, trong đó có Việt Nam Đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam rất cần vốn để đầu tư phát triển nhiều mặt của đời sống xã hội Các nguồn viện trợ ODA mặc dù giúp ta giải quyết nhiều khó khăn trước mắt nhưng để nhận được viện trợ, ta phải đáp ứng được các yêu cầu đặt ra của nước đầu tư, mức độ viện trợ càng cao thì mức độ đáp ứng càng cao và điều này nhiều khi dẫn đến những ảnh hưởng không tốt về chính trị Hơn nữa Việt Nam đang dần thoát khỏi hình ảnh một quốc gia nghèo và đang vươn lên phát triển Do vậy, nguồn viện trợ này cũng dần bị hạn chế Còn vốn vay thì thủ tục vừa khắc khe mà phải chịu lãi suất cao Chính vì lẽ
đó, việc thu hút trực tiếp đầu tư nước ngoài trở thành một phương án an toàn và đem lại nhiều hiệu quả, nguồn vốn đầu tư là “một cái hích ban đầu” tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế
Với vai trò quan trọng đối với nền kinh tế như vậy nên vấn đề bảo hộ quyền
sở hữu của NĐT nước ngoài là mối quan tâm hàng đầu trong các phương án đưa ra
để thu hút đầu tư nước ngoài Vì khi một chủ thể tiến hành hoạt động đầu tư tại
nước ngoài, họ luôn muốn nhà nước nhận đầu tư bảo hộ “Vì vậy việc tạo ra những
lợi thế sở hữu, đặc biệt là việc bảo hộ càng chặt chẽ vốn, tài sản và các khoản lợi ích hợp pháp khác cho NĐT nước ngoài sẽ góp phần làm cho các NĐT nước ngoài yên tâm đầu tư một khối lượng vốn, tài sản lớn trong thời hạn dài vào Việt Nam, tăng độ
Trang 28hấp dẫn của môi trường đầu tư và kết quả sẽ thu hút được nhiều vốn, công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các đối tác nước ngoài”13
Có thể kể ra lợi ích của việc bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ở hai khía cạnh: tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn và tăng khả năng cạnh tranh thu hút đầu tư
Thứ nhất, bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài sẽ góp phần tạo ra môi
trường đầu tư hấp dẫn
Môi trường đầu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư Một môi trường đầu tư hấp dẫn
là một môi trường ổn định về chính trị, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào, chi phí thấp, thị trường tiêu thụ rộng lớn, chính sách kinh tế và pháp luật minh bạch, quyền lợi của NĐT được đảm bảo Trong mắt các NĐT nước ngoải, Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn và nhiều tiềm năng cho các công ty nước ngoài chọn làm cơ sở đầu tư cho cả khu vực Tuy nhiên để thúc đẩy hơn nữa sự tăng trưởng kinh tế, chúng ta không được hài lòng với những kết quả của hiện tại mà chúng ta cần phải thu hút hơn nữa các NĐT lớn, các doanh nghiệp công nghệ cao, những tập đoàn kinh tế lớn mạnh có tầm ảnh hưởng trên thế giới Có như vậy thì khu vực kinh tế nước ngoài mới thực sự sôi động và đem lại sự tăng trưởng mạnh
mẽ cho nền kinh tế Muốn làm được điều đó, chúng ta cần phải hoàn thiện hơn nữa
về chính sách pháp luật, trong đó chú trọng các biện pháp về bảo đảm quyền sở hữu của NĐT nước ngoài, đảm bảo cho họ được bình đẳng với NĐT trong nước về các quyền sở hữu, nghĩa là chúng ta phải khắc phục các hạn chế của pháp luật hiện hành
và khi pháp luật đã hoàn thiện thì bước tiếp theo là phải đảm bảo cho pháp luật được thực thi trên thực tế một cách nghiêm minh
Thứ hai, bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài góp phần tăng khả năng
cạnh tranh thu hút đầu tư
13 Xem “Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của NĐT nước ngoài tại Việt Nam”, NXB Lý Luận Chính trị, chú thích số 8, tr 77
Trang 29Đi cùng với những lợi ích mà đầu tư nước ngoài mang lại thì công cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài cũng diễn ra mạnh mẽ Theo đó những nước đang
có nhiều lợi thế về môi trường đầu tư có nhiều cơ hội và gây được nhiều thiện cảm đối với các NĐT nước ngoài Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ là những nước đứng đầu
trong nhiều cuộc điều tra về sức hấp dẫn đầu tư Theo “Báo cáo của Ngân hàng Thế
giới phát hành ngày 16/5 dự báo tới năm 2030 các nước đang phát triển sẽ kiểm soát một nửa lượng tiền đầu tư của thế giới, tương đương với 158 ngàn tỷ USD (tính theo
tỷ giá USD năm 2010), trong đó lớn nhất là các nước thuộc khu vực Đông Á và Mỹ Latinh Cũng tới thời điểm đó, các nền kinh tế đang phát triển (BRICS) sẽ chiếm từ
87 đến 93% tăng trưởng kinh tế toàn cầu”14 Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nước đang phát triển, Việt Nam cần phải có hành động thiết thực hơn nữa để có thể đem lại cho mình một lượng đầu tư nước ngoài đầy đủ chất và lượng, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Kết luận chương 1:
Một lần nữa khẳng định về vai trò quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước nhà Do vậy, để thu hút hơn nữa đầu tư nước ngoài ngoài việc phải tạo ra các cơ sở vật chất thiết yếu nhằm phục vụ cho đầu tư còn cần phải hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật mà đặc biệt là pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu - một trong những quyền năng quan trọng trong việc bảo đảm lợi ích hợp pháp của của NĐT nước ngoài Các quan hệ sở hữu của NĐT nước ngoài là các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Do vậy, nghiên cứu vấn đề này trong hệ thống pháp luật Việt Nam đòi hỏi phải nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, nhiều lĩnh vực để đảm bảo họ bình đẳng với các NĐT trong nước và bình đẳng với các NĐT ở nước thứ ba theo nguyên tắc MFN, NT
14 “2030: BRICS sẽ thống trị đầu tư toàn cầu”, Nguồn:
nam-23.html, truy cập: Thứ bảy, ngày 18/05/2013, 09:18
Trang 30http://diendandautu.vn/c5n2013051809214406500/cac-nen-kinh-te-moi-noi-se-thong-tri-dau-tu-toan-cau-vao-Chương 2: Bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành – một số hạn chế và giải pháp khắc phục
Sau khi mở cửa hội nhập, hệ thống pháp luật của Việt Nam dần được hoàn thiện Với sự ra đời của LĐT 2005, LDN 2005, tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã có những khởi sắc rõ rệt Tính đến tháng 8 năm 2012, cả nước có 14.095 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn thực hiện giải ngân đạt 97,4 tỷ USD15 Trong Quý I năm 2013 NĐT nước ngoài đã đầu tư vào 15 lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của NĐT nước ngoài với 84 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 5,539 tỷ USD, chiếm 91,8% tổng vốn đầu tư đăng ký trong Quý I Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 249,84 triệu USD, chiếm gần 4,1% tổng vốn đầu tư Đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa với 29 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 85,2 triệu USD16
Trong Quý I năm 2013 đã có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm
là 3,159 tỷ USD, chiếm 52,3% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,278 tỷ USD, chiếm 37,8% tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 156,99 triệu USD, chiếm 2,6% tổng vốn đầu tư17
Như vậy, từ sau khi hội nhập và bắt đầu có dòng vốn ngoại tệ đáng kể chảy
về (năm 1991) thì cho tới năm 2013, Việt Nam đã thu hút gần 100 tỷ đôla vốn FDI, bình quân một năm 4,5 tỷ USD và chiếm khoảng 25% tổng đầu tư xã hội Đây là
15 “Phân tích vai trò của những NĐT nước ngoài vào Việt Nam”; Nguồn:
http://nguyentandung.org/mo-xe-25-nam-mo-cua-dau-tu-nuoc-ngoai.html; truy cập: Thứ tư, 27/03/2013, 09:43 (GMT+7)
Trang 31một con số khá ấn tượng Có thể nói, nếu không có vốn đầu tư nước ngoài thì kinh
tế Việt Nam không được như ngày hôm nay 18
Tuy nhiên, số dự án đầu tư có tăng lên đáng kể nhưng Việt Nam lại không thu hút được những dự án lớn với trình độ công nghệ cao, hơn nữa chất lượng môi trường đầu tư ngày càng sa sút Theo như số liệu đã thống kê thì Nhật Bản hiện là NĐT nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, “nhưng nếu so sánh với các quốc gia phát triển khác trong ASEAN thì đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam cũng chưa thể nói là nhiều Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Thái Lan cao gấp 3 lần vào Việt Nam về cả số dự án và quy mô vốn đầu tư”19 “Việt Nam cũng là quốc gia châu Á duy nhất rớt hạng trong bảng xếp hạng chỉ số niềm tin FDI được công bố bởi Công ty Tư vấn quản lý toàn cầu AT Kearney, trong khi Indonesia hay Malaysia đều thăng hạng ngoạn mục”20 Theo kết quả cuộc điều tra về chỉ số môi trường kinh doanh hàng quý của EuroCham tại Việt Nam, đại diện EuroCham cho biết: "Lòng tin của các doanh nghiệp châu Âu (vào sự phát triển trong dài hạn của Việt Nam - TG) đã có chiều hướng suy giảm từ đầu năm 2011”21 Trước thực trạng trên, để cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam, chúng ta cần có chiến lược cụ thể để xử lý các khó khăn, khắc phục những hạn chế Trong đó, hoàn thiện hệ thống pháp luật là một trong những yêu cầu cấp thiết để tạo ra sự đồng bộ, ổn định của môi trường đầu tư Đặc biệt cần quan tâm hơn nữa đối với vấn đề bảo hộ quyền sở hữu của NĐT nước ngoài tại Việt Nam vì đây là vấn đề mà các NĐT nước ngoài quan tâm nhất khi tiến hành đầu tư ở nước ngoài
18 “Việt Nam bỏ lỡ nhiều cơ hội sử dụng FDI hiệu quả hơn”, Nguồn:
http://vafie.org.vn/index.php?mod=article&cat=hoatdongcuahiephoi&article=705,
19
“Vốn FDI: NĐT nước ngoài thất vọng”; Nguồn:
http://www.doanhnhansaigon.vn/online/tin-tuc/kinh-te/2013/04/1072875/von-fdi-nha-dau-tu-nuoc-ngoai-that-vong/; truy cập: Thứ Bảy, 06/04/2013 05:13 (GMT+7)
Trang 32Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một văn bản nào ghi nhận cụ thể
và đầy đủ về quyền sở hữu của NĐT nước ngoài Nội dung của quyền sở hữu nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau Để phân tích quyền sở hữu của NĐT nước ngoài, tác giả tập trung phân tích quy định của pháp luật về: bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn và tài sản; quyền sở hữu trí tuệ; quyền sở hữu bất động sản bao gồm quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở sinh hoạt Trên cơ sở đó, nêu ra một số hạn chế của luật, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
2.1 Bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn và các tài sản hợp pháp của NĐT
nước ngoài
Vốn và tài sản hợp pháp của NĐT phải được bảo đảm Sự bảo đảm ở đây không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm để tài sản không bị tước đoạt, quốc hữu hóa, trưng mua, trưng dụng bất hợp lý mà còn phải bảo đảm để NĐT nước ngoài được chuyển nhượng vốn, tài sản đã đầu tư đặc biệt là vấn đề chuyển lợi nhuận hợp pháp của mình ra nước ngoài; được tự do chuyển nhượng tài sản mà mình đã đầu tư Nói cách khác, bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn và các tài sản hợp pháp của NĐT nước ngoài nghĩa là bảo đảm cho họ có đầy đủ cả ba quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với vốn, tài sản mà họ đã đầu tư và không có bất kỳ một hạn chế bất hợp lý của nước nhận đầu tư đặt ra để bảo hộ các chủ thể
trong nước
2.1.1 Vốn, tài sản đã đầu tư
Khi NĐT nước ngoài tiến hành đầu tư tại Việt Nam dù với hình thức nào thì
họ đều bỏ ra một số vốn và tài sản tại nước nhận đầu tư để tiến hành thực hiện các hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận Theo nguyên tắc “Lex rei sitae” (luật nơi có tài sản) các trường hợp còn lại pháp luật của Việt Nam có hiệu lực áp dụng đối với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản Bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn, tài sản
đã đầu tư là cam kết của Nhà nước không xâm hại đến tài sản của NĐT nước ngoài trong quá trình họ đầu tư tại Việt Nam Đây là biện pháp bảo đảm quan trọng nhất, luôn được các NĐT quan tâm
Trang 33Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, Nhà nước có thể thực hiện một số hành vi mang tính cưỡng chế, bắt buộc mọi chủ thể phải tuân thủ một cách vô điều kiện bao gồm các hành vi: quốc hữu hóa, trưng mua, trưng dụng tài sản Nếu điều này xảy ra
mà không có bất kỳ một ràng buộc nào cũng như không có bất kỳ sự bồi thường thích đáng nào của Nhà nước thì quyền lợi chính đáng của các chủ thể sẽ không được đảm bảo Lẽ hiển nhiên, không một NĐT nước ngoài nào tiến hành đầu tư ở một quốc gia mà quyền sở hữu của họ đối với tài sản không được đảm bảo Ý thức được vai trò của đầu tư nước ngoài trong việc phát triển kinh tế xã hội, Việt Nam đã đưa những quy định về bảo đảm quyền sở hữu của NĐT nước ngoài vào những văn bản pháp luật quan trọng như Hiến pháp 1992, đạo luật gốc đã công nhận quyền sở hữu về thu nhập, vốn, tài sản hợp pháp của NĐT trong nước và NĐT nước ngoài22 Tiếp đó, LĐTNN tại Việt Nam 199623, Luật Đầu tư 200524
cũng đã khẳng định lại điều này
Sự tiếp nối trong quy định của pháp luật khẳng định tư tưởng nhất quán của Nhà nước ta về việc bảo đảm quyền lợi của NĐT nước ngoài Đây là điều tất yếu mà
22
Điều 25, Hiến pháp 1992: “Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế, bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư không bị quốc hữu hóa”
23 Điều 21, LĐTNN tại Việt Nam 1996: “Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản hợp pháp khác của NĐT nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các NĐT nước ngoài trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
Trong trường hợp do thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh đã được cấp giấy phép, thì Nhà nước có biện pháp giải quyết thoả đáng đối với quyền lợi của NĐT”
Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của NĐT và không phân biệt đối xử giữa các NĐT
3 Đối với NĐT nước ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản quy định tại khoản 2 Điều này được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và được quyền chuyển ra nước ngoài
4 Thể thức, điều kiện trưng mua, trưng dụng theo quy định của pháp luật”
Trang 34Việt Nam phải thực hiện khi mở cửa hội nhập Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi khu vực và thế giới đang đối mặt với các vấn đề về chính trị, an toàn xã hội, sự thay đổi khí hậu dẫn đến những diễn biến bất thường của thiên tai, địch họa,…để chủ động đối phó với những nguy cơ và thách thức nói trên, đồng thời đảm bảo lợi ích của NĐT nước ngoài, các văn bản pháp luật đã khẳng định về việc không quốc hữu hóa; trưng mua, trưng dụng trong những “trường hợp thật cần thiết” và có bồi thường Điều kiện, thể thức, cơ chế bồi thường được quy định tại Luật trưng mua, trưng dụng tài sản được ban hành ngày 03 tháng 6 năm 2008, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá 12 Đây là đạo luật cần thiết để điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa nhà nước và các chủ thể khi Nhà nước tiến hành trưng mua, trưng dụng tài sản Luật này được áp dụng không chỉ đối với các chủ thể trong nước mà còn đối với các tổ chức,
cá nhân nước ngoài có hoạt động đầu tư tại Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi
để bảo đảm quyền sở hữu cho các NĐT nước ngoài, tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư
Theo quy định của Luật trưng mua, trưng dụng tài sản 2008 thì chỉ trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia mà sau khi đã huy động tài sản do Nhà nước quản lý nhưng chưa đảm bảo được yêu cầu nhiệm vụ thì Nhà nước mới trưng mua, trưng dụng; người có tài sản trưng mua, trưng dụng được thanh toán hoặc bồi thường theo nguyên tắc giá thị trường Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản bị trưng mua, trưng dụng và không phân biệt đối xử Nghiên cứu luật này, để đảm bảo quyền sở hữu của NĐT nước ngoài không bị tước đoạt một cách vô căn cứ thì luật pháp cần làm rõ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc không quy định rõ ràng thế nào là “trường hợp thật cần thiết”
của luật khiến cho việc thực thi gặp nhiều khó khăn bởi lẽ không phải trong mọi trường hợp khi các điều kiện trưng mua, trưng dụng tài sản xảy ra thì Nhà nước sẽ tiến hành trưng mua, trưng dụng tài sản mà phải đảm bảo nguyên tắc là trong
“trường hợp thật cần thiết” Thiết nghĩ nên lý giải khái niệm “trường hợp thật cần thiết” tại điều 2 của Luật trưng mua, trưng dụng tài sản 2008: “trường hợp thật cần
Trang 35thiết” là “trường hợp mà đã áp dụng các biện pháp huy động khác mà không có hiệu quả” để tạo cơ sở pháp lý vững chắc, tránh việc áp dụng pháp luật tùy tiện của các
cơ quan cấp dưới và đảm bảo quyền lợi chính đáng của NĐT nước ngoài
Thứ hai, trong các điều kiện để trưng mua, trưng dụng tài sản theo quy định của luật, xét thấy việc không quy định rõ ràng về điều kiện “khi phải đối phó với nguy cơ hoặc để khắc phục thảm hoạ do thiên tai, dịch bệnh gây ra trên diện rộng hoặc nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức
khăn cho các NĐT nước ngoài bởi lẽ Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực khí hậu mà thiên tai và dịch bệnh có thể xảy ra thường xuyên, do đó cần phải xác định
rõ ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh ở mức độ nào Nếu không quy định cụ thể, khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh, các địa phương sẽ trưng mua, trưng dụng tài sản không thống nhất dẫn tới quyền lợi của các NĐT nước ngoài không được đảm bảo Thiết nghĩ các nhà làm luật phải quy định cụ thể điều kiện này, đây là một công việc khó nhưng rất quan trọng để đảm bảo lợi ích của các chủ thể
Sau khi vốn và tài sản được nước nhận đầu tư đảm bảo, một vấn đề mà các NĐT nước ngoài luôn quan tâm khi tiến hành đầu tư ở nước ngoài là vấn đề chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài của họ như thế nào Đặc biệt, vấn đề chuyển lợi nhuận ra nước ngoài của họ vì mục tiêu đầu tư của các NĐT nước ngoài là lợi nhuận và khi
đã thu được lợi nhuận, ngoài phần tái đầu tư thì phần còn lại họ muốn được chuyển
về nước Do đó, NĐT nước ngoài cũng sẽ quan tâm đến quy định của quốc gia nhận đầu tư về vấn đề chuyển vốn và tài sản hợp pháp của họ Có hạn chế nào mà quốc gia sở tại đặt ra làm giới hạn quyền của NĐT nước ngoài hay không?
2.1.2 Chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài
Tại điều 9 LĐT 2005 cho phép NĐT nước ngoài được chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam:
25
Khoản 4, điều 5, Luật trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008
Trang 36lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh, những khoản tiền trả cho việc cung cấp
kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, và cá nhân nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho các dự án đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp pháp của mình sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam26
Để hướng
dẫn cụ thể quy định của LĐT 2005, Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư 186/2010/TT-BTC ban hành ngày 18 tháng 11 năm 2010 hướng dẫn thực hiện việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài của các tổ chức, cá nhân nước ngoài có lợi nhuận từ việc đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo quy định của LĐT (Thông tư 186) Tuy
nhiên thông tư này lại có một số hạn chế:
động đầu tư trực tiếp chứ không áp dụng đối với các hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam Tại điều 1, Thông tư 186 hướng dẫn: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu
tư gián tiếp tại Việt Nam theo quy định tại Điều 26 của Luật Đầu tư, việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật liên quan” Như vậy, thu nhập từ việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, sẽ được điều chỉnh ở các pháp luật chuyên ngành khác Xét thấy ngay tại điều 1, thông tư
186 chúng ta nên khẳng định là NĐT nước ngoài có quyền chuyển lợi nhuận từ hoạt động đầu tư gián tiếp và thống nhất các quy định về chuyển lợi nhuận trong cùng một văn bản pháp luật Điều này sẽ góp phần tạo sự đơn giản trong công tác tra cứu
26Điều 9, LĐT 2005 quy định: “1 Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam, NĐT nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây:
a) Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;
b) Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trí tuệ;
c) Tiền gốc và lãi các khoản vay nước ngoài;
d) Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;
đ) Các khoản tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của NĐT
2 Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho các dự án đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp pháp của mình sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam
3 Việc chuyển ra nước ngoài các khoản trên được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi theo tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thương mại do NĐT lựa chọn
4 Thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản tiền liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật
về quản lý ngoại hối.”