Tình hình nghiên cứu đề tài Liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm bí mật đời tư trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, hiện nay có các công trình
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM BÍ MẬT ĐỜI TƢ TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG VÀ MẠNG XÃ HỘI
Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về BMĐT, quyền BMĐT
Trong cuộc sống hàng ngày, hầu nhƣ ai cũng có một nỗi niềm muốn giữ cho riêng mình Đó có thể là những nốt trầm trong quá khứ hoặc góc khuất của hiện tại nhƣ hình ảnh riêng tƣ trong chuyện tình cảm; những thông tin liên quan đến các thành viên của gia đình; những tƣ liệu về mối quan hệ bạn bè, đối tác hay những hồ sơ, giấy tờ cá nhân…những thông tin hay tƣ liệu đƣợc xem là “bí mật” đó có thể được cất giấu, giữ gìn trong tủ khóa bằng phương tiện truyền thống hay hiện đại hơn cất giữ trong các phương tiện điện tử với sự bảo mật kỹ càng Dù là thông tin, tƣ liệu gì và đƣợc đặt để ở bất cứ đâu, những gì liên quan đến bí mật cá nhân, chúng ta đều muốn giữ cho riêng mình, không chia sẻ hay tiết lộ với bất cứ ai Và mỗi cá nhân, đều đƣợc pháp luật bảo vệ quyền BMĐT ấy Mặc dù, quyền BMĐT đƣợc ghi nhận trong khá nhiều văn bản pháp luật nhƣng chƣa có văn bản nào chính thức ghi nhận khái niệm cụ thể của thuật ngữ “bí mật đời tƣ” Tuy nhiên nếu nhƣ Bộ luật dân sự 2005 sử dụng thuật ngữ “bí mật đời tƣ” thì các văn bản pháp luật sau này đã không còn sử dụng thuật ngữ này nữa ví dụ nhƣ Hiến pháp 2013, Bộ luật dân sự
2015, Luật trẻ em 2016 mà thay vào đó là “đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” Vậy khái niệm “bí mật đời tƣ” và “đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” có đồng nhất và cùng chung nội hàm với nhau hay không? Để trả lời cho câu hỏi đó, tác giả sẽ phân tích từng khái niệm nhƣ sau
Thuật ngữ “bí mật đời tƣ” đƣợc nhiều tác giả định nghĩa khác nhau Cụ thể, theo Giáo sƣ Pierre Trudel (Khoa Luật, Đại học Montreal, Canada) cho rằng: “Nội dung của đời tư thay đổi tùy theo những tình huống, những người có liên quan và những giá trị của một xã hội hay của một cộng đồng Nhưng nhìn chung, BMĐT là những thông tin liên quan tới đời sống tình cảm hay dục vọng, tình trạng sức khỏe, đời sống gia đình, quê quán và cả những quan điểm tôn giáo, chính trị hay triết học… BMĐT được hiểu như là “vùng hoạt động riêng của một người” và cũng là nơi cấm người khác can thiệp hay nhòm ngó.” 1 Tiến sĩ Lê Đình Nghị có định nghĩa
1 Nguyễn Trọng Luận (2013), “Quyền BMĐT-Những vấn đề cần bàn luận” Link nguồn: http://vietluatlaw.com/news/115/QUYEN-BI-MAT-DOI-TU NHUNG-VAN-DE-C%E1%BA%A6N-BAN-LUAN.html (Truy cập ngày: 15/6/2017)
7 nhƣ sau: “BMĐT là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận.” 2 Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, mặc dù các học giả có cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm “bí mật đời tƣ”, tuy nhiên, nhìn chung hầu hết các tác giả đều đồng ý rằng BMĐT là những thông tin liên quan và gắn liền với chính chủ thể đó, đó là những nội dung mang tính chất thầm kín của cá nhân và họ muốn giữ bí mật cho riêng họ, không muốn công khai cho người khác biết Đó có thể là các thông tin liên quan đến các yếu tố nhƣ tinh thần, vật chất, các quan hệ xã hội Tác giả cho rằng tính “bí mật” trong khái niệm BMĐT chỉ mang tính tương đối Điều này có nghĩa là, cùng một nội dung vụ việc có tính chất như nhau, đối với người này có thể là bí mật, nhưng đối với người khác thì đây chỉ là một thông tin bình thường, có thể công bố rộng rãi Đồng thời, không phải mọi thông tin về đời sống riêng tƣ mà cá nhân không muốn công khai sẽ trở thành BMĐT mà muốn đƣợc pháp luật bảo vệ thì những thông tin này phải hợp pháp Tuy nhiên, để xác định tính hợp pháp này phải căn cứ vào từng trường hợp, hoàn cảnh sự việc cụ thể, mà ưu tiên hàng đầu đặt ra là bảo vệ tốt nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân người trong cuộc
Mặt khác, đối với khái niệm về đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, có quan điểm cho rằng: “Đời sống riêng tư là khái niệm rộng, bao gồm những suy nghĩ, những hành động có thể bí mật hoặc không bí mật và có thể bộc lộ cho người khác biết và người khác có thể có nghĩa vụ phải tôn trọng Còn quyền bí mật cá nhân là khái niệm hẹp hơn, bao gồm những nội dung mà chủ thể đó không cho ai biết và luôn muốn giữ bí mật, pháp luật phải bảo đảm bảo vệ quyền đó của họ.” 3 Có thể nhìn nhận rõ ràng hơn khái niệm này nhờ quy định của pháp luật Cụ thể, tại Điều 33 Nghị định 56/2017/NĐ-CPngày 09 tháng 5 năm 2017 quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em, đã đƣa ra định nghĩa về thông tin bí mật đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân của trẻ em: “Thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em là các thông tin về: tên, tuổi; đặc điểm nhận dạng cá nhân; thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án; hình ảnh cá nhân; thông tin về các thành viên trong gia đình, người chăm sóc trẻ em; tài sản cá nhân; số điện
2 Lê Đình Nghị (2007), “Bàn về khái niệm BMĐT” Link nguồn: https://dqlaw.wordpress.com/2011/08/15/ban-v%E1%BB%81-khai-ni%E1%BB%87m-bi- m%E1%BA%ADt-d%E1%BB%9Di-t%C6%B0/ (Truy cập ngày: 12/6/2017)
3 Huỳnh Quang Thuận và Nguyễn Thị Hoài Trâm (2015), “Quyền BMĐT trong bộ luật dân sự” Link nguồn: https://kieuanhvu.wordpress.com/2015/09/09/quyen-bi-mat-doi-tu-trong-bo-luat-dan-su/ (Truy cập ngày: 12/6/2017)
8 thoại; địa chỉ thư tín cá nhân; địa chỉ, thông tin về nơi ở, quê quán; địa chỉ, thông tin về trường, lớp, kết quả học tập và các mối quan hệ bạn bè của trẻ em; thông tin về dịch vụ cung cấp cho cá nhân trẻ em.” Định nghĩa trên đƣợc giải thích theo hướng liệt kê, cụ thể những thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em là các thông tin liên quan đến cá nhân, gia đình, bạn bè, học tập, tài sản, tình trạng sức khỏe Với quy định trên, ta có thể xác định dễ dàng nội hàm của thuật ngữ đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân của trẻ em Mặc dù, pháp luật chỉ mới đƣa ra định nghĩa “đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân của trẻ em”, tuy nhiên, đây có thể đƣợc xem là căn cứ quan trọng để mọi người có thể hiểu rõ hơn về nội hàm của thuật ngữ
“đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân” Bên cạnh đó, khái niệm “bí mật gia đình” là thuật ngữ khá mới mẻ, đƣợc ghi nhận lần đầu tại Hiến pháp 2013, sau đó là Bộ luật dân sự 2015 và hiện nay vẫn chƣa có văn bản nào giải thích nội hàm của thuật ngữ này Theo tác giả, bí mật gia đình cũng là một yếu tố cấu thành bí mật đời tƣ Nếu nhƣ bí mật cá nhân gắn liền với một cá nhân riêng biệt thì bí mật gia đình là thông tin liên quan đến hai thành viên trở lên trong gia đình và các thành viên này đều có ý muốn giữ bí mật, không công khai, không tiết lộ thông tin ấy Bất cứ việc sử dụng, công khai thông tin, lưu giữ, thu thập thông tin thì phải được các thành viên gia đình đồng ý 4
Từ các quan điểm và quy định pháp luật trên có thể thấy rằng, thuật ngữ “bí mật đời tƣ” và “đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” mặc dù có cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên nội dung của thuật ngữ này vẫn không thay đổi Vậy nên sau đây thuật ngữ “bí mật đời tƣ” hay “đời sống riêng tƣ, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” gọi chung là “bí mật đời tƣ” Theo đó, “BMĐT là những thông tin, tƣ liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác gắn liền với cá nhân đƣợc cá nhân đó thấy rằng cần thiết và mong muốn không công khai, không tiết lộ, được giữ bí mật bằng các phương pháp không trái với quy định của pháp luật.”
Quyền BMĐT là một quyền con người cơ bản đã được quy định trong nhiều văn kiện pháp lý của Liên hợp quốc và của các khu vực, trong đó Việt Nam đã tham gia một số văn kiện như: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) 5 , Công ƣớc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) 6 ,…Với tƣ
4 Điều 38 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ…việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.”
5 Điều 12 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 quy định: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự
9 cách quốc gia thành viên, nhà nước Việt Nam có nghĩa vụ chuyển hóa các điều ước đó vào pháp luật quốc gia và đang ngày càng củng cố và hoàn thiện
Cụ thể, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta - Hiến pháp 1946 đã khẳng định: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm công dân Việt Nam Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” Quy định này vẫn còn khá đơn giản, chỉ bao quát một khía cạnh của quyền BMĐT là quyền về thƣ tín, điện tín Tuy nhiên, đây đƣợc xem là tiền đề quan trọng để pháp luật các giai đoạn sau có thể củng cố và hoàn thiện hơn quy định về bảo vệ quyền BMĐT Đến thời điểm hiện tại, đã có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn đối với quyền này của công dân Theo đó, tại Điều 21 Hiến pháp
Quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt VPHC đối với hành vi xâm phạm BMĐT trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội
Hiện nay pháp luật về xử phạt VPHC đối với hành vi xâm phạm BMĐT trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội không được ghi nhận trong một Nghị định riêng biệt mà đƣợc quy định rải rác trong khá nhiều văn bản Cụ thể, tại Nghị định 159/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản, Nghị định 174/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện
26 http://baodientu.chinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid3237 (Truy cập ngày 20/6/2017)
Hành vi vi phạm là một trong những dấu hiệu cơ bản trong mặt khách quan của VPHC đối với hành vi xâm phạm BMĐT trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội Nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là căn cứ pháp lý đầu tiên giúp cơ quan chức năng xác định một hành vi xâm phạm BMĐT trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội có phải là hành VPHC hay không Hành vi xâm phạm BMĐT trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội rất đa dạng và phức tạp, tuy nhiên, có thể khái quát các nhóm hành vi vi phạm phổ biến sau:
Nhóm 1: Tiết lộ BMĐT của người khác trên báo chí, xuất bản phẩm, trang thông tin điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp
Tiết lộ BMĐT trên báo chí
Với tính chất đặc thù của nghề nghiệp, báo chí là lĩnh vực có liên quan nhiều nhất đến BMĐT cá nhân, đồng thời cũng là lĩnh vực mà việc xâm phạm BMĐT cá nhân xảy ra một cách thường xuyên, như một sự việc hiển nhiên của ngành, thậm chí việc xâm phạm BMĐT là một việc không thể thiếu nếu muốn có một bài báo
“giật gân”, “nổi”, thu hút dư luận chú ý 27 Và những người bị báo chí xâm phạm BMĐT phần lớn là những người nổi tiếng, bên cạnh đó thì mỗi cá nhân đều dễ dàng trở thành đối tƣợng bị xâm phạm BMĐT trong giới báo chí Tuy nhiên, hành vi xâm phạm đó là hành vi đi ngƣợc với tôn chỉ, mục đích của hoạt động báo chí là phản ánh và định hướng dư luận xã hội đến với những thông tin tốt đẹp, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Do đó, tại khoản 5 Điều 9 Luật báo chí 2016 quy định hành vi tiết lộ BMĐT của người khác là một trong những hành vi bị nghiêm cấm đối với người làm báo
Hành vi tiết lộ BMĐT của người khác trên báo chí gây tổn hại nghiêm trọng đến tinh thần và vật chất cho người bị xâm hại, do đó, sẽ chịu những chế tài từ pháp luật, cụ thể là pháp luật hành chính Vì Luật báo chí 2016 mới có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 nên chưa có quy phạm xử phạt tương ứng Vậy nên, đến thời điểm này vẫn áp dụng Nghị định số159/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định về xử phạt VPHC trong hoạt động báo chí, xuất bản để xử phạt VPHC đối với
27 Tại Hội thảo “Trách nhiệm của báo chí trong việc bảo vệ bí mật đời tƣ công dân”, do Trung tâm Nghiên cứu truyền thông phát triển (RED) và Đại sứ quán Anh tổ chức tại Hà Nội, nhiều ý kiến của đại biểu tham dự hội thảo cho rằng,xâm phạm BMĐT đã trở thành chuyện thường ngày trên báo chí, chuyện đời tư, scandal đang đƣợc coi là “miếng ngon” của một số báo nhất là báo mạng chạy theo tiêu chí “sốc - sex- sến” Link nguồn http://www.tienphong.vn/phap-luat/thong-tin-bao-chi-va-bi-mat-doi-tu-ranh-gioi-mong-manh-
21 hành vi tiết lộ BMĐT người khác trên báo chí Việc tiết lộ BMĐT trên báo chí có thể đƣợc thực hiện qua các hành động sau: 28
- Tiết lộ BMĐT khi chưa được sự đồng ý của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Công bố tài liệu, thƣ riêng của cá nhân khi chƣa đƣợc sự đồng ý của chủ sở hữu hợp pháp tài liệu, bức thư đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Đăng, phát ảnh của cá nhân mà không được sự đồng ý của người đó, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác
- Đăng, phát thông tin về thân nhân và các mối quan hệ của cá nhân trong các vụ án, vụ việc tiêu cực khi không có căn cứ chứng minh những thân nhân và các mối quan hệ đó liên quan đến vụ án, vụ việc tiêu cực hoặc chƣa có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Khai thác để đăng, phát các văn kiện, tài liệu của tổ chức, tài liệu, thƣ riêng của cá nhân có liên quan đến các vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các vụ việc tiêu cực hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật đang chờ kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng không nêu rõ xuất xứ của các văn kiện, tài liệu, thƣ riêng
Tiết lộ BMĐT trên trang thông tin điện tử tổng hợp
“Trang thông tin điện tử tổng hợp là sản phẩm thông tin có tính chất báo chí của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở đăng đường dẫn truy cập tới nguồn tin báo chí hoặc trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin báo chí theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ” 29 Mặc dù trang thông tin điện tử tổng hợp không có chức năng tạo ra các sản phẩm báo chí cụ thể nhưng vẫn có thể thực hiện hành vi tiết lộ BMĐT người khác thông qua hành động đăng, phát các bài báo chứa thông tin thuộc BMĐT người khác Và đó cũng là hành vi bị nghiêm cấm theo Luật báo chí 2016: “Đăng, phát trên sản phẩm thông tin có tính chất báo chí thông tin tiết lộ BMĐT người khác.” Và chịu chế tài theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 64 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm
2013 Quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện
Tiết lộ BMĐT trên xuất bản phẩm
“Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản thông
28 Điểm đ, e khoản 2, điểm e, g khoản 3 Điều 8 Nghị định 159/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định về xử phạt VPHC trong hoạt động báo chí, xuất bản
29 Khoản 20 Điều 3 Luật báo chí 2016
22 qua nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản bằng các ngôn ngữ khác nhau, bằng hình ảnh, âm thanh và được thể hiện dưới các hình thức sau đây: sách in; sách chữ nổi; tranh, ảnh, bản đồ, áp – phích, tờ rời, tờ gấp; các loại lịch; bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách” 30 Bên cạnh báo chí, xuất bản phẩm là phương tiện truyền thông mang tính truyền thống và khá quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, hành vi tiết lộ BMĐT người khác trên xuất bản phẩm là hành vi không thể được chấp nhận Do đó, căn cứ Điều 10 Luật Xuất bản 2012 quy định những hành vi bị cấm trong hoạt động xuất bản là: “Tiết lộ bí mật Nhà nước, BMĐT của cá nhân và bí mật khác do pháp luật quy định” Trong lĩnh vực xuất bản quy định các nguyên tắc mà bản thân những người có trách nhiệm phải tuân theo như không được xâm phạm BMĐT của cá nhân, các xuất bản phẩm không chứa đựng nội dung trong đó có sự tiết lộ BMĐT cá nhân Các quy định này là “cấm”, do đó người thực hiện những hành vi này sẽ bị coi là xâm phạm quyền BMĐT và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hành chính Cụ thể, hành vi tiết lộ BMĐT của cá nhân là một trong những hành vi vi phạm quy định nội dung xuất bản phẩm theo điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định 159/2013/NĐ-CP Để có thể tạo ra một xuất bản phẩm hoàn chỉnh, một trong những giai đoạn phải trải qua là in In là việc sử dụng thiết bị in để tạo ra xuất bản phẩm từ bản mẫu
Vì vậy, nếu trong giai đoạn này có hành vi xâm phạm BMĐT người khác cũng phải bị xử phạt VPHC căn cứ vào điểm d khoản 8 Điều 24 Nghị định 159/2013/NĐ-CP vi phạm quy định về hoạt động in: “In, nhân bản trái phép tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước, BMĐT của cá nhân và bí mật khác do pháp luật quy định.”
Tiết lộ BMĐT trên trang thông tin điện tử
Theo định nghĩa tại khoản 21 Điều 3 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2013 quy định về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, “Trang thông tin điện tử (website) là hệ thống thông tin dùng để thiết lập một hoặc nhiều trang thông tin được trình bày dưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác phục vụ cho việc cung cấp và sử dụng thông tin trên Internet” Có các loại trang thông tin điện tử sau đây: báo điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp, trang thông tin điện tử nội bộ, trang thông tin điện tử cá nhân và trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành Trong bối cảnh internet phát triển mạnh mẽ và rộng khắp nhƣ hiện nay, các trang thông tin điện tử là phương tiện truyền thông không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người
Và một trong những hình thức phát triển nổi trội nhất là loại hình trang thông tin
30 Khoản 4 Điều 4 Luật xuất bản 2012
23 điện tử cá nhân Theo đó, “Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp” 31 Mạng xã hội đã không còn quá xa lạ trong cuộc sống của mỗi người, thậm chí hầu hết ai cũng thiết lập cho mình một trang cá nhân thông qua dịch vụ mạng xã hội và nơi đó chính là phương tiện truyền tải, kết nối và chia sẻ thông tin của bản thân đến tất cả mọi người Điều đáng lo ngại là hiện nay các “chủ sở hữu” trang thông tin cá nhân đó đang tự do thông tin đến nỗi xâm phạm đến BMĐT người khác Điển hình là vô tư tiết lộ những thông tin thuộc BMĐT người khác như công bố những tin nhắn riêng tư, những hình ảnh nhạy cảm khi không được phép của người sở hữu những tin nhắn, hình ảnh ấy Và những hành vi tiết lộ BMĐT trên trang thông tin điện tử ấy cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật hành chính tại điểm b khoản 3 Điều 64 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP