Phân tích các điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào trong phương pháp khấu trừ và liên hệ thực tiễn. Kể từ năm 1997 đến nay, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới luật thuế giá trị gia tăng, các điều kiện khấu trừ thuế đã có sự thay đổi như thế nào và tại sao lại có những sự thay đổi ấy.
Trang 1DANH MỤC VIẾT TẮT
2 Hàng hóa, dịch vụ HH, DV
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
I Nhiệm vụ nghiên cứu 2
II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
III Kết cấu của bài tiểu luận 2
B PHẦN NỘI DUNG 2
PHẦN I: CÁC KHÁI NIỆM CHUNG 2
1 Khái niệm và đặc điểm về thuế GTGT 2
2 Phương pháp khấu trừ thuế 3
3 Khấu trừ thuế GTGT đầu vào 4
4 Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào 5
PHẦN 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐIỀU KIỆN KHẤU TRỪ THUẾ GTGT 6
I Điều kiện về hóa đơn, chứng từ 6
II Điều kiện về thanh toán 8
1 Chứng từ thanh toán qua ngân hàng 9
2 Thanh toán không dùng tiền mặt khác 11
III Điều kiện khác 12
PHẦN 3: SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUA CÁC LẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG, BAN HÀNH MỚI LUẬT THUẾ GTGT 19
I Sự thay đổi của các quy định pháp luật 19
1 Luật thuế GTGT số 57/1997/L-CTN 19
2 Luật số 07/2003/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế giá trị gia tăng 21
3 Luật số 57/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng 22
4 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 22
5 Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế giá trị gia tăng 23
6 Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi bổ sung một số điều của các luật về thuế và luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế GTGT, luật thuế tiêu thụ đặc biệt và luật quản lý thuế 23
II Nguyên nhân 24
C KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 3A MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, hệ thống pháp luật thuế từng bước đã được ban hành,bổsung và sửa đổi phù hợp với công cuộc cải cách kinh tế và đổi mới quản lý nhànước Việc thực hiện các chính sách thuế thống nhất và bình đẳng giữa các thànhphần kinh tế đã động viên hợp lý các nguồn thu quan trọng từ nội bộ nền kinh tế,đáp ứng nhu cầu chi ngân sách Nhà nước, góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thônghàng hóa phát triển cũng như đẩy mạnh sản xuất và hoạt động đầu tư…Thuế GTGT
là một trong những sắc thuế lớn và quan trọng trong hệ thống thuế, được áp dụngchính thức ở Việt Nam từ năm 1999 thay thế cho thuế doanh thu Luật thuế GTGTđầu tiên ở Việt Nam được thông qua vào ngày 10/5/1997 (có hiệu lực thi hành kể từngày 01/01/2019) sau đó đã hai lần được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2003, 2005
và đến ngày 03/6/2008, Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật thuếGTGT 2008 Luật thuế GTGT 2008 lại tiếp tục được sửa đổi, bổ sung vào các năm
2013, 2014, 2016 thông qua các luật số 31/2013/QH12, 71/2014/QH13 và106/2016/QH13 của Quốc hội Trải qua 21 năm thực hiện, qua nhiều lần sửa đổi,
bổ sung, Luật thuế GTGT về cơ bản đã phát huy được các mặt tích cực đối với đờisống kinh tế xã hội, góp phần khuyến khích đầu tư, ổn định sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và trình độ quản lý của ngành thuế…trong đó, khấu trừ thuế GTGT làmột trong hai phương pháp nhằm xác định thuế giá trị gia tăng Phương pháp nàyđược quy định chặt chẽ trong pháp luật về thuế GTGT và phải thỏa mãn những điềukiện nhất định Cùng với quá trình cải cách chính sách thuế GTGT, các điều kiện vềkhấu trừ thuế GTGT đầu vào cũng có những sửa đổi, bổ sung góp phần dễ dàng hơntrong việc thực hiện và quản lí việc khấu trừ thuế GTGT Để làm rõ các quy định vềđiều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào trong chính sách thuế của nước ta, em xin
chọn đề tài “Phân tích các điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào trong phương pháp khấu trừ và liên hệ thực tiễn Kể từ năm 1997 đến nay, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới luật thuế giá trị gia tăng, các điều kiện khấu trừ thuế đã có sự thay đổi như thế nào và tại sao lại có những
sự thay đổi ấy”.
Trang 4I Nhiệm vụ nghiên cứu.
Làm rõ một số vấn đề lí luận về điều kiện để được khấu trừ thuế giá trị gia tăngđầu vào trong phương pháp khấu trừ Lấy ví dụ liên hệ thực tiễn về việc áp dụng cácquy định pháp luật liên quan đến điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.Nghiên cứu quá trình thay thế, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật vềđiều kiện áp dụng thuế giá trị gia tăng đầu vào qua các văn bản luật từ Luật thuế giátrị gia tăng 1997, làm rõ sự thay đổi của các quy định này và nguyên nhân của sựthay đổi đó
II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là các điều kiện để được khấu trừ thuếgiá trị gia tăng đầu vào khi áp dụng phương pháp khấu trừ
Phạm vi nghiên cứu: Bài tiểu luận tập trung phân các điều kiện áp dụng phươngpháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào trong các văn bản pháp luật hiện hành,
sự thay đổi của các quy định về thuế giá trị gia tăng đầu vào qua quá trình thay đổi,sửa đổi, bổ sung của các văn bản pháp luật về thuế GTGT từ luật thuế GTGT 1997đến nay
III Kết cấu của bài tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài tiểu luận gồm có 3 phần:
Phần 1: Các khái niệm chung
Phần 2: Các quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầuvào
Phần 3: Sự thay đổi của các quy định pháp luật qua các lần sửa đổi, bổ sung, banhành mới luật thuế GTGT
B PHẦN NỘI DUNG.
PHẦN I: CÁC KHÁI NIỆM CHUNG.
1 Khái niệm và đặc điểm về thuế GTGT.
Thuế giá trị gia tăng có tên viết tắt là VAT từ cụm từ tiếng Anh Value AddedTax: thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp lànước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng vào năm 1954 Khai
Trang 5sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.Theo pháp luật Việt Nam, căn cứ Điều 2, Luật thuế giá trị gia tăng số13/2008/QH12 do Quốc hội nước ta ban hành ngày 03/06/2008 và cũng là văn bảnluật hiện nay đang áp dụng, thuế giá trị gia tăng được định nghĩa như sau: “Thuế giátrị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trongquá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” Như vậy, xét về bản chất, thuế giátrị gia tăng là thuế gián thu Các nhà sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ làngười nộp thuế nhưng người tiêu dùng lại thực chất là người chịu thuế thông quagiá cả hàng hóa dịch vụ.
Thuế GTGT có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hóa được tiêu dùng, dịch
vụ được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam
Thứ hai: Thuế giá trị gia tăng có căn cứ tính thuế là phần giá trị tăng thêm củahàng hóa, dịch vụ trong các khâu của quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.Thứ ba: Thuế giá trị gia tăng có phạm vi tác động rộng, đánh vào hầu hết cáchàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam
Thứ tư: Thuế giá trị gia tăng phát sinh nhiều lần, xuất hiện ở mỗi khâu của quátrình kinh doanh từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, người tiêu dùng là người phảitrả tiền thuế cho tất cả các khâu trước đó
Thứ năm: Thuế giá trị gia tăng có tính chất lũy thoái so với thu nhập Do thuếGTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng cuối cùng phải trả khoản thuếnày mà không phân biệt thu nhập cao hay thấp Như vậy, nếu tính ra và so sánh thì
so số thuế GTGT phải trả với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỉ lệnày sẽ thấp hơn và ngược lại
Thứ sáu: Thuế giá trị gia tăng có tính trung lập kinh tế cao Điều này có nghĩa làthuế GTGT không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản (kết quả kinh doanh) củangười nộp thuế
2 Phương pháp khấu trừ thuế.
Trang 6Phương pháp khấu trừ là một trong các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng.Nội dung cơ bản của phương pháp khấu trừ thuế là số thuế giá trị gia tăng phải nộpđược tính trên cơ sở số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ đi số thuế giá trị gia tăng đầuvào được khấu trừ.
3 Khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Thuế giá trị gia tăng đầu vào xuất hiện ở khâu mua vào, được tính trong tổng giá
mà chủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hóa dịch vụ Luật thuế giá trị gia tăngquy định số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị giatăng mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hóa nhậpkhẩu
Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn vì vậy thuế GTGT đã được nộp ở giaiđoạn trước sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau thông qua cơ chế giá cả khi thực hiệnhành vi mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Việc khấu trừ thuế đã nộp ởgiai đoạn trước gọi là khấu trừ thuế GTGT đầu vào Theo quy định của pháp luậthiện hành thì khấu trừ thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định:
Thứ nhất, chỉ khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuấtkinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải hạch toánriêng thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ, trường hợp không hạchtoán riêng thì số thuế đầu vào được khấu trừ theo phương pháp phân bổ dựa trên tỷ
lệ doanh số chịu thuế so với tổng doanh số bán ra tại doanh nghiệp
Thứ hai, thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong tháng nào thì được
kê khai khấu trừ trong tháng đó không phân biệt đã được xuất dùng hay chưa
Thứ ba, cơ sở mua vật tư hàng hoá không có hoá đơn chứng từ hoặc có hoá đơnnhưng không ghi riêng số thuế GTGT ngoài giá bán thì không được khấu trừ, trừmột số trường hợp có quy định riêng
Thứ tư thuế đầu vào của tài sản cố định được kê khai khấu trừ như đối với vật
tư, hàng hoá khác Nếu số thuế khấu trừ phát sinh lớn cơ sở được tính khấu trừ dần.Sau 3 tháng mà số thuế khấu trừ vẫn còn thì doanh nghiệp có thể đề nghị cơ quanthuế xét hoàn thuế
Trang 7Theo quy định thì chỉ những doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương phápkhấu trừ thuế mới được khấu trừ thuế GTGT đầu vào Những doanh nghiệp nộpthuế theo phương pháp trực tiếp sẽ không có cơ sở để khấu trừ thuế Điều này là bởi
vì, những doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp chỉ nộp khoản thuếtính trên phần GTGT của hàng hoá phát sinh ở khâu kinh doanh của mình mà thôi.Trong khi đó, đối với những doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ đãphải thanh toán khoản thuế GTGT khi mua hàng hoá đầu vào cho nhà cung cấp rồilại nộp tiếp khoản thuế GTGT đầu ra do người tiêu dùng chi trả Do đó, phần thuếGTGT đầu vào phải được hoàn lại để phản ánh doanh nghiệp chỉ phải nộp khoảnthuế ròng dựa trên phần GTGT phát sinh trong khâu
4 Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Là các điều kiện được quy định trong Luật thuế GTGT và các văn bản hướngdẫn mà theo đó chi phí đầu vào của hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp, cơ sở kinhdoanh phải thỏa mãn những điều kiện này mới được khấu trừ Điều kiện khấu trừthuế được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành về thuế giá trị gia tăng,bao gồm: Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12, Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổsung một số điều của luật thuế giá trị gia tăng; các nghị định như Nghị định số12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của cácluật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế; Nghị định số209/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuếgiá trị gia tăng; Nghị định số 91/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại cácnghị định quy định về thuế; các thông tư như: Thông tư 219/2013/TT-BTC của BộTài chính về việc hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng; Thông tư 151/2014/TT-BTChướng dẫn thi hành Nghị định 91/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tạiNghị định quy định về thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành; Thông tư26/2015/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định
Trang 812/2015/NĐ-CP, sửa đổi Thông tư 39/2014/TT-BTC về hóa đơn bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ do Bộ Tài chính ban hành.
PHẦN 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐIỀU KIỆN
KHẤU TRỪ THUẾ GTGT.
Theo pháp luật hiện hành, điều kiện khấu trừ thuế GTGT được quy định cụ thểtại Điều 12 luật thuế GTGT 2008, Điều 15 thông tư 219/2013/TT-BTC; khoản 10Điều 1 thông tư 26/2015/TT-BTC ban hành ngày 27/02/2015; Điều 1 thông tư173/2016/TT-BTC ban hành ngày 28/10/2016 bao gồm những điều kiện sau:
I Điều kiện về hóa đơn, chứng từ.
Doanh nghiệp muốn được khấu trừ thuế GTGT phải có hóa đơn giá trị gia tănghợp pháp của hàng hóa dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăngkhâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theohướng dẫn của Bộ tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tưcách pháp nhân Việt nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phátsinh tại Việt Nam
Hóa đơn được quy định làm điều kiện để khấu trừ thuế GTGT đầu vào của hànghóa dịch vụ mua vào phải thỏa mãn các điểm sau:
Thứ nhất, Hóa đơn đầu vào phải là hóa đơn hợp pháp, được lập đúng quy định,
đầy đủ các chỉ tiêu theo thông tư 39/2014/TT-BTC Hóa đơn được coi là hợp phápnếu đáp ứng yêu cầu sau: hóa đơn không nằm trong diện những hóa đơn được quyđịnh là bất hợp pháp Căn cứ theo quy định tại Điều 22 thông tư 39/2014/TT-BTCquy định về “ Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp” thì:
Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp là việc sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị
sử dụng, hết giá trị sử dụng:
(i) Hóa đơn giả là hóa đơn được in hoặc khởi tạo theo mẫu hóa đơn đã đượcphát hành của tổ chức, cá nhân khác hoặc in, khởi tạo trùng số của cùng một ký hiệuhóa đơn
(ii) Hóa đơn chưa có giá trị sử dụng là hóa đơn đã được tạo theo hướng dẫn tạiThông tư này, nhưng chưa hoàn thành việc thông báo phát hành
Trang 9(iii) Hóa đơn hết giá trị sử dụng là hóa đơn đã làm đủ thủ tục phát hành nhưng tổchức, cá nhân phát hành thông báo không tiếp tục sử dụng nữa; các loại hóa đơn bịmất sau khi đã thông báo phát hành được tổ chức, cá nhân phát hành báo mất với cơquan thuế quản lý trực tiếp; hóa đơn của các tổ chức, cá nhân đã ngừng sử dụng mã
số thuế (còn gọi là đóng mã số thuế)
Như vậy hóa đơn hợp pháp là hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành hoặc hóa đơn doDoanh nghiệp tự in theo quy định của Chính phủ và Bộ tài chính về in ấn, pháthành, quản lý và sử dụng hóa đơn Hóa đơn GTGT hợp pháp phải có thông báo pháthành trước khi sử dụng và còn giá trị sử dụng
Ngoài tính hợp pháp, hóa đơn còn phải đảm bảo tính hợp lệ và hợp lý theo quy địnhcủa pháp luật
Thứ hai, hóa đơn mà chủ thể được khẩu trừ thuế GTGT đầu vào phải là hóa
đơn GTGT trừ trường hợp được dùng hoá đơn, chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán
là giá đã có thuế GTGT Điểm a khoản 1 Điều 14 luật thuế GTGT 2008 quy định:
“Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế sử dụng hóa đơn giátrị gia tăng; hóa đơn phải được ghi đầy đủ, đúng nội dung quy định, bao gồm cảkhoản phụ thu, phí thu thêm (nếu có)” Hóa đơn giá trị gia tăng hay còn gọi là hóađơn đỏ (Hóa đơn VAT) là hóa đơn chính thức do Bộ tài chính Việt Nam ban hành
áp dụng cho các tổ chức cá nhân kê khai và tính thuế theo phương pháp khấu trừ.Trên Hóa đơn VAT sẽ ghi rõ tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán và người mua(nếu có), danh mục hành hóa dịch vụ, ngày thực hiện giao dịch, tổng giá trị hànghóa dịch vụ, giá trị tính thuế VAT, thuế suất VAT và giá trị thuế VAT
Ví dụ: Doanh nghiệp Y đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu và nhà máy để sản xuất, chế biến các sản phẩm từ sữa tươi sống (sữa tươi tiệt trùng, sữa chua, pho mát,…) Doanh nghiệp tổ chức sản xuất khép kín từ khâu chăn nuôi, kể cả trường hợp thuê gia công chăn nuôi mà doanh nghiệp đầu tư toàn bộ con giống (bò, dê), chuồng trại, hàng rào, trang thiết bị vắt sữa, hệ thống vệ sinh chuồng, trại và nguyên, vật liệu đầu vảo khác như thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, dịch vụ thú y, đến khâu chế biến thành các sản phẩm từ sữa Doanh nghiệp Y được khấu trừ toàn
Trang 10bộ thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định và của hàng hóa, dịch vụ mua vào không hình thành tài sản cố định tại tất cả các khâu sản xuất, chế biến Để được khấu trừ thuế GTGT, Doanh nghiệp Y phải có hóa đơn GTGT hợp pháp của tài sản
cố định và của hàng hóa, dịch vụ mua vào không hình thành tài sản cố định tại tất
cả các khâu sản xuất, chế biến các sản phẩm từ sữa Hóa đơn GTGT phải đúng theo quy định của pháp luật: hóa đơn có ghi thuế GTGT, ghi đúng tất cả các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế Hóa đơn không được tẩy xóa và phải ghi đúng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ.
Đối với hàng hóa ở khâu nhập khẩu, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh phải cóchứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay chophía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nướcngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanhhoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam
II Điều kiện về thanh toán.
Hàng hóa dịch vụ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào có chứng từ thanhtoán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóanhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên Trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch
vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng, hàng hóa dịch vụ muavào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT vàtrường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức,
cá nhân ở nước ngoài
Như vậy, đối với các trường hợp:
Một là, giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồngHai là, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 20 triệu đồng
Ba là, nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoàiThì sẽ không cần phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt Cơ sở pháp
lí của thanh toán không dùng tiền mặt được quy định tại Điều 15 thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn về “Điều kiện khấu trừ thuế GTGT”; được sửa đổi, bổ sung bởiKhoản 10 điều 1 thông tư 26/2015/TT-BTC và Điều 1 thông tư 173/2016/TT-BTC
Trang 11Theo đó, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm: Chứng từ thanh toánqua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác.
1 Chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việcchuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chứccung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy địnhcủa pháp luật hiện hành như séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu,thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức khác theoquy định của pháp luật (theo quy định tại điều 1 thông tư 173/2016/TT-BTC) Sovới thông tư 26/2015/TT-BTC thì tại thông tư 173/2016/TT-BTc đã bỏ quy định tàikhoản của bên mua và bên bán phải đăng ký và thông báo với cơ quan thuế Trướcđây, doanh nghiệp phải đăng ký thông tin tài khoản với cơ quan thuế mới được khấutrừ thuế giá trị gia tăng và tính vào chi phí hợp lý Nhưng kể từ ngày thông tư173/2016/TT-BTC có hiệu lực thì tài khoản ngân hàng không cần đăng ký và thôngbáo với cơ quan thuế vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào Do vậy, từ ngày15/12/2016 trở đi, Bộ tài chính chấp nhận việc thanh toán từ tài khoản ngân hàngcủa bên mua sang tài khoản của bên bán, trong đó tài khoản của bên mua và bên bánkhông nhất thiết phải đăng ký với cơ quan Thuế
Pháp luật hiện hành về thuế GTGT quy định đối với hàng hóa, dịch vụ mua từ
20 triệu đồng trở lên ngoài điều kiện về hóa đơn GTGT bắt buộc phải có chứng từthanh toán qua ngân hàng thì mới được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, trừ trườnghợp giá trị của hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 20 triệu đồng(giá đã bao gồm thuế GTGT) Thanh toán qua ngân hàng là chuyển tiền từ tài khoảncủa bên mua sang tài khoản mang tên bên bán mở tại ngân hàng theo các hình thứcthanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng Cácchứng từ bên mua nộp tiền vào tài khoản của bên bán hoặc chứng từ thanh toán theohình thức không phù hợp với quy định thì không đủ điều kiện được khấu trừ hoànthuế GTGT đối với hàng hóa dịch vụ từ 20 triệu đồng trở lên
Trang 12Đối với hàng hóa, dịch vụ (HH, DV) mua theo phương thức trả chậm, trả góp
mà giá trị HH, DV mua từ 20 triệu đồng trở lên, trường hợp chưa có chứng từ thanhtoán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ sở kinhdoanh vẫn được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào (đồng thời ghi rõ thời hạnthanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hóa đơn, chứng từ HH, DV mua vào).Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng mà không có chứng từ thanh toán qua ngânhàng, cơ sở kinh doanh phải kê khai điều chỉnh lại số thuế GTGT đầu vào đã khấutrừ
Hóa đơn, dịch vụ mua vào được thanh toán dưới hình thức bù trừ giữa giá trị
HH, DV mua với giá trị HH, DV bán ra; bù trừ công nợ; thanh toán ủy quyền quabên thứ 3 thanh toán qua ngân hàng mà phương thức này được quy định cụ thểtrong hợp đồng cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng; trường hợp sau khi bùtrừ mà phần giá trị chênh lệch còn lại từ 20 triệu đồng trở lên thì phải có chứng từthanh toán qua ngân hàng
Trường hợp mua HH, DV của cùng một nhà cung cấp có giá trị dưới 20 triệuđồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày mà tổng giá trị mua từ 20 triệuđồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào nếu có chứng từ thanh toánqua ngân hàng Trong trường hợp này, nhà cung cấp phải là người nộp thuế, có mã
số thuế, trực tiếp khai và nộp thuế GTGT
Trường hợp mua HH, DV có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, nhưng chỉ có 1 phầnthanh toán qua ngân hàng, thì chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ % sốtiền được thanh toán qua ngân hàng
Ví dụ về trường hợp khấu trừ thuế GTGT đầu vào phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một nhà cung cấp có giá trị dưới 20 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày mà tổng giá trị mua từ 20 triệu đồng trở lên : Sáng ngày 15/3/2014 Công ty A mua xi măng của công ty xi măng Bỉm Sơn trị giá cả thuế GTGT là 16,5 triệu, chiều ngày 15/3/2014 Công ty A tiếp tục mua xi măng của Công ty xi măng Bỉm Sơn trị giá cả thuế GTGT
là 18,7 triệu đồng Trong trường hợp này, để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào,
Trang 13việc mua bán phải có hóa đơn thuế GTGT và hàng hóa mua vào từng lần phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng Trong trường hợp này, nhà cung cấp (công ty
xi măng Bỉm Sơn) phải là người nộp thuế, có mã số thuế, trực tiếp khai và nộp thuế GTGT.
2 Thanh toán không dùng tiền mặt khác.
Đối với các hình thức thanh toán khác, để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào thìviệc thanh toán phải đáp ứng một số điều kiện khác
Thứ nhất, Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán
bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra,vay mượn hàng khi áp dụng phương thức thanh toán này thì phải trình bày cụ thểtrong hợp đồng Hai bên phải có phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận vềviệc thanh toán bù trừ Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba thì phải có biênbản bù trừ công nợ của ba bên
Thứ hai, Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công
nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba khi áp dụng phương thứcnày thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó
và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đivay đối với khoản vay bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hànghóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà người bán hỗ trợ cho người mua, hoặc nhờngười mua chi hộ
Thứ ba, Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua
bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bênmua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) Trườnghợp này phải có hợp đồng trình bày rõ về việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanhtoán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán; đồng thời, bên thứ ba phải là mộtpháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật
Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị cònlại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì phải thanh toánqua ngân hàng, nếu không thì không được khấu trừ đối với phần giá trị này
Trang 14Thứ tư, Thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ vào tài khoản của bên thứ ba
mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản
do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền)
Ví dụ của phương thức thanh toán không dùng tiền mặt khác trong trường hợp
bù trừ công nợ: Công ty A mua hàng của công ty B và Công ty A đang còn nợ tiền hàng của công ty B Tuy nhiêm công ty B đang còn nợ tiền thuế vào ngân sách nhà nước Căn cứ Luật quản lý thuế, cơ quan thuế thực hiện thu tiền, tài sản của công
ty B do công ty A đang nắm giữ để thi hành quyết định hành chính thuế thì khi công
ty A chuyển tiền vào tài khoản thu ngân sách cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng, số thuế GTGT đầu vào tương ứng với doanh số của hàng hóa mua vào được
kê khai, khấu trừ.
III Điều kiện khác.
Căn cứ Thông tư 219/2013/TT-BTC (sửa đổi bởi điểm b khoản 6 Điều 3 Thông
tư 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư 173/2016/TT-BTC), đối với hàng hoá,dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện về hóa đơn, chứng từ quy định như trên cònphải còn phải đáp ứng các điều kiện như sau:
Thứ nhất, Có hợp đồng bán, gia công hàng hóa xuất khẩu hoặc ủy thác gia công
hàng hóa xuất khẩu, hợp đồng cung ứng dịch vụ với tổ chức, cá nhân ở nước ngoàihoặc ở trong khu phi thuế quan
Hợp đồng bán hàng hóa, gia công hàng hóa (đối với trường hợp gia công hàng hóa),cung ứng dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài Đối với trường hợp ủy thác xuấtkhẩu là hợp đồng ủy thác xuất khẩu và biên bản thanh lý hợp đồng ủy thác xuấtkhẩu (trường hợp đã kết thúc hợp đồng) hoặc biên bản đối chiếu công nợ định kỳgiữa bên ủy thác xuất khẩu và bên nhận ủy thác xuất khẩu có ghi rõ: số lượng,chủng loại sản phẩm, giá trị hàng ủy thác đã xuất khẩu; số, ngày hợp đồng xuấtkhẩu của bên nhận ủy thác xuất khẩu ký với nước ngoài; số, ngày, số tiền ghi trênchứng từ thanh toán qua ngân hàng với nước ngoài của bên nhận ủy thác xuất khẩu;
số, ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh toán của bên nhận ủy thác xuất khẩu thanh
Trang 15toán cho bên ủy thác xuất khẩu; số, ngày tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu củabên nhận ủy thác xuất khẩu.
Thứ hai, có tờ khai hải quan Tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu
đã làm xong thủ tục hải quan theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về thủ tục hải quan;kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối vớihàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Đối với cơ sở kinh doanh xuất khẩu sản phẩm phần mềm dưới các hình thức tàiliệu, hồ sơ, cơ sở dữ liệu đóng gói cứng để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầuvào, cơ sở kinh doanh phải đảm bảo thủ tục về tờ khai hải quan như đối với hànghóa thông thường
Riêng các trường hợp sau không cần tờ khai hải quan:
- Đối với cơ sở kinh doanh xuất khẩu dịch vụ, phần mềm qua phương tiện điện tửthì không cần có tờ khai hải quan Cơ sở kinh doanh phải thực hiện đầy đủ các quyđịnh về thủ tục xác nhận bên mua đã nhận được dịch vụ, phần mềm xuất khẩu quaphương tiện điện tử theo đúng quy định của pháp luật về thương mại điện tử
- Hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuếquan
- Cơ sở kinh doanh cung cấp điện, nước, văn phòng phẩm và hàng hóa phục vụ sinhhoạt hàng ngày của doanh nghiệp chế xuất gồm: lương thực, thực phẩm, hàng tiêudùng (bao gồm cả bảo hộ lao động: quần, áo, mũ, giầy, ủng, găng tay)
Thứ ba, hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng
Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sangtài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toánphù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng Chứng từ thanhtoán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tàikhoản của ngân hàng bên nhập khẩu Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏathuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải
có chứng từ thanh toán qua ngân hàng Trường hợp ủy thác xuất khẩu thì phải cóchứng từ thanh toán qua ngân hàng của phía nước ngoài cho bên nhận ủy thác và