1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan ở sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương

6 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 327,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK) và thai chậm tăng trưởng trong tử cung (TCTTTTC) có ảnh hưởng không tốt đến cả mẹ và thai. Bài viết trình bày nghiên cứu khảo sát tỷ lệ biểu hiện TCTTK ở sản phụ có TCTTTTC và một số yếu tố liên quan.

Trang 1

TỶ LỆ BIỂU HIỆN TRẦM CẢM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở SẢN PHỤ CÓ THAI CHẬM TĂNG TRƯỞNG TRONG TỬ CUNG

TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG

Trương Thị Bích Hà 1 , Huỳnh Nguyễn Khánh Trang 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK) và thai chậm tăng trưởng trong tử cung (TCTTTTC) có ảnh hưởng không tốt đến cả mẹ và thai

Mục tiêu: Nghiên cứu khảo sát tỷ lệ biểu hiện TCTTK ở sản phụ có TCTTTTC và một số yếu tố liên quan Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 400 sản phụ có TCTTTTC tại bệnh viện Hùng Vương từ 03/2020 đến 08/2020 với bảng điểm EPDS có điểm cắt 13

Kết quả: Tỷ lệ biểu hiện TCTTK của sản phụ có TCTTTTC là 13,5%; KTC 95% [10,2 – 16,8] Qua phân tích hồi quy đa biến các yếu tố, bốn yếu tố ghi nhận liên quan đến biểu hiện TCTTK của sản phụ có TCTTTTC là: (i) Nhóm có chồng với nghề nghiệp không ổn định tăng nguy cơ biểu hiện TCTTK so với nhóm có chồng với nghề nghiệp ổn định, OR = 3,04; KTC 95% [1,12 - 8,29] (ii) Nhóm sản phụ có sang chấn tâm lý trong thời gian 2 tuần gần đây tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không có sang chấn tâm lý, OR = 5,19; KTC 95% [2,15 - 12,57] (iii) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt sức khỏe tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không có lo lắng về mặt sức khỏe OR= 2,81; KTC 95% [1,35 – 5,85] (iv) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt tinh thần tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không có lo lắng về mặt tinh thần, OR = 8,88; KTC 95% [2,92 – 26,96]

Kết luận: Trầm cảm trong thai kỳ trên sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung là vấn đề cần được quan tâm và cần thêm các nghiên cứu can thiệp trong tương lai

Từ khóa: biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ, thai chậm tăng trưởng trong tử cung

ABSTRACT

PREVALENCE OF DEPRESSIVE SYMPTOMS IN WOMEN WITH INTRAUTERINE GROWTH

Truong Thi Bich Ha, Huynh Nguyen Khanh Trang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 1 - 2021: 251 - 256

Background: Depression in pregnancy and fetal growth delay in the uterus have a negative effect on both mother and fetus

Objectives: Study to investigate the prevalence of depressive symptoms in pregnant women with intrauterine growth retardation (IUGR) and some related factors

Methods: We performed a cross-sectional study on 400 pregnant women with intrauterine growth restriction at Hung Vuong Hospital The study is conducted during the period from 03/2020 to 08/2020 The study used EPDS scores with cut-off 13 to evaluate pregnant women with symptoms of depression

Results: The prevalence of depressive symptoms in pregnant women with IUGR is 13.5%; 95%CI [10.2 - 16.8] Multivariable factors regression analysis, four recognized factors related to depressive symptoms in pregnant women with IUGR are: (i) Married group with unstable occupation stable increase risk of depressive symptoms in pregnancy compared with the group with husband with stable occupation, OR = 3.04; 95% CI [1.12

1 Bộ môn Sản Phụ khoa, ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

- 8.29] (ii) The group of women with psychological trauma in the last 2 weeks increased the risk of depression in pregnancy compared with the group without psychological trauma, OR = 5.19; 95% CI [2.15 - 12.57] (iii) The group of women with health concerns increased the risk of depression in pregnancy compared with the group without health concerns OR = 2.81; 95% CI [1.35 - 5.85] (iv) The group of women with mental anxiety increased the risk of AFT compared with the group without mental anxiety, OR = 8.88; 95% CI [2.92 - 26.96]

Conclusion: Depression symptoms in pregnant women with intrauterine growth retardation is a problem that needs attention and needs more intervention studies in the future

Keywords: depressive symptoms in pregnancy, intrauterine growth retardation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thai chậm tăng trưởng trong tử cung

(TCTTTTC) được xem như là một trong những

vấn đề rất phổ biến trong thai kỳ, đe dọa đến

tình trạng sức khỏe thai như: có thể gây mất tim

thai, trẻ sơ sinh khó nuôi sống do nhẹ cân hoặc

phải chấm dứt thai kỳ khi còn non tháng(1) Thai

chậm tăng trưởng có thể là kết cục của nhiều bất

thường khác trong thai kỳ như tiền sản giật,

thiếu máu, nhiễm trùng bào thai hoặc thai dị tật,

các bất thường về bánh nhau, dây rốn vv… Bên

cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy những

xáo trộn về mặt tâm lý, như trầm cảm trong thai

kỳ, cũng có thể làm tăng nguy cơ thai nhi tăng

cân chậm(2), trẻ sơ sinh nhẹ cân(3)

Theo Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ

(ACOG), dựa trên số liệu từ Trung tâm Phòng

ngừa và Kiểm soát bệnh tật (CDC) năm 2018, tỷ

lệ trầm cảm trong thai kỳ được ghi nhận là 9%(4)

Tỷ lệ này cho thấy cao hơn ở các quốc gia có thu

nhập trung bình và kém(5) Có rất nhiều yếu tố

nguy cơ của trầm cảm trong thai kỳ Trong đó,

các thai kỳ nguy cơ cao là một trong những yếu

tố làm tăng khả năng trầm cảm(2)

Bảng điểm EDS đã thực hiện tại các trung

tâm sức khỏe ở Livingstone và Edinburgh (Anh)

vào năm 1987, sử dụng đặc biệt để phát hiện

trầm cảm trong thời kỳ hậu sản Chính vì vậy

bảng điểm EDS được biết đến và có tên gọi đầu

tiên là EPDS (Edinburgh Postnatal Depression

Scale - EPDS)(6) Nghiên cứu tại Nhật Bản, năm

2017 đi tìm điểm cắt tối ưu cho EDS, cho thấy

với điểm cắt là 13 điểm thì độ nhạy là 90%, độ

đặc hiệu là 92,1%, giá trị tiên đoán dương là

54,5%, và giá trị tiên đoán âm là 98,9%(7) Một

nghiên cứu tại Thụy Điển năm 2011, cũng đã kết luận EDS là công cụ có giá trị để chẩn đoán trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK), với điểm cắt tối ưu

là 13 điểm(8) Nghiên cứu tại Úc kết luận EDS với điểm cắt 15, có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 96% trong sàng lọc TCTTK Tuy nhiên, xét về tính phổ biến, theo tổng quan năm 2018 của Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ, thì điểm cắt 13 của bảng điểm EDS được sử dụng phổ biến nhất

để sàng lọc trầm cảm chu sinh(9)

Vì vậy, việc phát hiện biểu hiện trầm cảm ở các sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung có thể giúp cho các nhân viên y tến quan tâm và hỗ trợ điều trị cho những sản phụ này, nhằm tránh làm nặng thêm tình trạng thai chậm tăng trưởng trong tử cung

Với câu hỏi nghiên cứu là: “Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm ở sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung là bao nhiêu, cũng như các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở nhóm đối tượng này

là gì?” Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu:

Xác định tỷ lệ biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ của sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung tại khoa Sản bệnh viện Hùng Vương, năm 2020

Xác định các yếu tố liên quan đến biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ của sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung gồm 5 nhóm: Đặc điểm xã hội – kinh tế; Tình trạng hôn nhân - gia đình; Tiền căn sản khoa; Tình trạng thai kỳ hiện tại; Các lo lắng hiện tại và sự hỗ trợ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Các sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong

Trang 3

tử cung, tại khoa Sản bệnh viện Hùng Vương

trong thời gian từ tháng 3/2020 đến tháng 8/2020

thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn chọn vào

Sản phụ được nhập vào khoa Sản bệnh -

bệnh viện Hùng Vương, chẩn đoán thai chậm

tăng trưởng trong tử cung cần phải theo dõi

trong bệnh viện, bao gồm: Chu vi vòng bụng

thai nhi hoặc ước lượng cân thai < bách phân vị

thứ 5; Chu vi vòng bụng thai nhi hoặc ước lượng

cân thai từ 5 - <10 bách phân vị kèm theo một

trong các dấu hiệu sau: Mẹ có bệnh nội khoa, kết

quả siêu âm Doppler Velocimetry bất thường,

thiểu ối, NST nghi ngờ Có khả năng nghe hiểu

và đọc hiểu tiếng Việt Có trạng thái tinh thần và

tình trạng sức khỏe đủ để cho phép tiến hành

cuộc phỏng vấn Đồng ý tham gia nghiên cứu

sau khi đã được thông tin đầy đủ và hiểu rõ về

nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại ra

Thai ngừng phát triển hoặc thai lưu, có tiền

căn bệnh lý tâm thần, có tình trạng bệnh lý cần

điều trị cấp cứu ngay, khả năng hiểu tiếng Việt

không tốt

Không đồng ý tiếp tục tham gia nghiên

cứu (NC)

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang

Cỡ mẫu

2

2

)

2

/

1

d

p p

Z

n     

Trong đó:

Z2(1-α/2): Trị số tới hạn ở KTC 95% (Z(1-α/2)=1,96

với α = 0,05)

Vì hiện nay theo y văn chưa thấy ghi nhận

về tỷ lệ trầm cảm trong thai kỳ ở đối tượng có

thai chậm tăng trưởng nên chọn p = 0,5 Tính n =

386 Nghiên cứu thu nhận 400 đối tượng

Phương pháp chọn mẫu

Lấy mẫu toàn bộ

Thu thập dữ liệu

Dữ liệu thu thập với bảng câu hỏi soạn sẵn ghi lại những biến số nghiên cứu thông qua phỏng vấn trực tiếp tại phòng tư vấn khoa Sản bệnh, kết hợp với hồ sơ bệnh án

Bảng thang điểm đánh giá TCTTK Edinburgh EPDS cho thai phụ tự đánh giá Thang điểm EPDS gồm 10 câu hỏi, mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn với điểm số từ 0 đến 3, thai phụ chọn 1 câu phù hợp với bản thân Tổng số điểm sẽ được ghi nhận (dao động từ 0 đến 30 điểm) Kết quả: Những thai phụ có tổng số điềm

từ 0 đến 12: không có biểu hiện TCTTK

Những thai phụ có tổng số điểm ≥13 được ghi nhận là có biểu hiện TCTTK Những thai phụ này sẽ được giới thiệu đi khám chuyên khoa tâm thần và được điều trị trầm cảm khi chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu được xác lập bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần

Nhập và xủ lý dữ liệu

Bằng phần mềm SPSS 20.0 với thống kê mô

tả và phân tích đơn biến và hồi quy đa biến

Y đức

Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, số 150/HĐĐĐ-TĐHYKPNT, ngày 18/11/2019 KẾT QUẢ

Bảng1: Đặc điểm dịch tễ của đối tượng nghiên cứu (n = 400)

Tần số Tỷ lệ (%)

Tuổi TB:

28,52 ± 5,98 18 - 34 tuổi 322 80,5 (15 – 46 tuổi) ≥ 35 tuổi 70 17,5

Trình độ học vấn

Cao đẳng/Trung cấp 84 21,0 Đại học/Sau đại học 64 16,0

Sản phụ đang sống

Chung bên nhà chồng 137 34,3

Trang 4

Tần số Tỷ lệ (%) Chung bên nhà cha

Nghề nghiệp

Không ổn định 116 29,0

Hoàn cảnh kinh

tế

Hôn nhân

Sống chung với chồng 385 96,2 Hòa hợp, rất ít cãi vã 343

Hòa hợp ít, thỉnh thoảng cãi vã 41 Không hòa hợp,

thường xuyên cãi vã 1

Ly thân/ Ly dị/ Không

Sang chấn tâm

lý (2 tuần gần

đây)

Lo lắng lớn nhất

hiện nay

Tinh thần, tình cảm 18 4,5

Mâu thuẫn với

gia đình chồng

Các yếu tố về xã hội – kinh tế được khảo sát

đầy đủ theo bảng câu hỏi nghiên cứu với tất cả

400 trường hợp (không có trường hợp nào bị

thiếu giá trị của biến số): Đa số các sản phụ sống

chung với nhà chồng (34,3%) và nhà thuê

(24,5%) Số ít các sản phụ sống chung với nhà

cha mẹ ruột (17,5%) Hầu hết các sản phụ có

nghề nghiệp ổn định (71%) Đa số các sản phụ có

hoàn cảnh kinh tế ở mức đủ sống (89%) Hầu hết

các sản phụ hiện đang sống chung với chồng

(385 trường hợp, 96,2%) Trong số đó đa số đều

có cuộc sống hôn nhân hòa hợp, chỉ có 1 trường

hợp sản phụ cảm thấy không hòa hợp với chồng

(Bảng 1)

Tỷ lệ sản phụ với TCTTTTC có biểu hiện

trầm cảm (EPDS ≥13) là 13,5%, với KTC 95%

[10,2-16,8] (Bảng 2)

Có 4 yếu tố làm tăng nguy cơ biểu hiện

TCTTK cho các sản phụ có thai chậm tăng

trưởng trong tử cung (p <0,05) (Bảng 3):

(i) Nghề nghiệp chồng không ổn định, (ii) sản phụ có sang chấn tâm lý trong thời gian gần đây,

(iii) sản phụ cảm thấy lo lắng về mặt sức khỏe,

(iv) cảm thấy lo lắng về mặt tinh thần

Bảng 2: Tỷ lệ sản phụ với TCTTTTC có biểu hiện trầm cảm

N Tỷ lệ KTC 95%

Có biểu hiện trầm cảm (EPDS ≥ 13) 54

13,5%

(54/400) 10,2 – 16,8

Bảng 0: Hồi quy đa biến 7 yếu tố liên quan đến biểu hiện TCTTK (EDS ≥13) của đối tượng nghiên cứu (n=400)

Yếu tố liên quan Trị số

p OR

KTC 95% của OR

Ít hoặc không hòa hợp 0,057 Nghề nghiệp chồng không ổn

định 0,029 3,04 1,12 - 8,29 Thai kỳ ngoài ý muốn 0,127

Sang chấn tâm lý gần đây 0,000 5,19 2,15 – 12,57

Lo lắng về mặt sức khỏe 0,006 2,81 1,35 - 5,85

Lo lắng về mặt tinh thần 0,000 8,88 2,92 – 26,96 Không có chồng là chỗ dựa

chính về tinh thần 0,448

BÀN LUẬN Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã lựa chọn một công cụ sàng lọc TCTTK phổ biến nhất hiện nay theo là bảng điểm EDS (Edinpurgh Depression Scale)(4) Các nghiên cứu hiện tại về trầm cảm trong thai kỳ trên những đối tượng khác nhau và quốc gia khác nhau có thể sử dụng các bảng câu hỏi khác nhau Vì vậy, khi so sánh kết quả của các nghiên cứu về biểu hiện TCTTK giữa các nghiên cứu khác nhau dễ bị thiếu chính xác Trong nghiên cứu của chúng tôi, các sản phụ có thai chậm tăng trưởng có điểm số EDS

≥13 chiếm tỷ lệ 13,5%, trong đó nhóm sản phụ

có số điểm 13 - 14 điểm chiếm gần một nửa, 6,5% (26/400 sản phụ) Nếu nâng điểm cắt lên

là 15 điểm như trong một số nghiên cứu sử dụng thang điểm EDS để sàng lọc TCTTK(9), chúng ta có thể bỏ sót một lượng đáng kể các

Trang 5

sản phụ có biểu hiện TCTTK

Theo một nghiên cứu năm 2016 tại bệnh viện

Sản Nhi Quốc tế Hòa Bình, Thượng Hải, Trung

Quốc, tỷ lệ biểu hiện TCTTK ở những sản phụ

nhập viện vì thai kỳ nguy cơ cao là 5,13%(10) Tỷ

lệ này thấp hơn so với trong nghiên cứu của

chúng tôi Tuy nhiên cũng rất khó so sánh vì cỡ

mẫu trong nghiên cứu trên chỉ có 197 sản phụ,

và công cụ sử dụng là bảng câu hỏi HAD

(Hospital Anxiety and Depression Scale)

Một tổng quan hệ thống, năm 2016, dựa trên

16 nghiên cứu, với nhiều công cụ đo lường khác

nhau, nhằm khảo sát tỷ lệ trầm cảm trên nhóm

sản phụ có đái tháo đường thai kỳ(11) Kết quả

cho thấy tỷ lệ này dao động trong khoảng 4,1 –

80% (trung vị: 14,7%) Nghiên cứu của chúng tôi,

với kết quả tỷ lệ biểu hiện TCTTK là 13,5% cũng

gần giá trị trung vị của tổng quan trên

Hiện tại chúng tôi chưa tìm thấy các nghiên

cứu trong nước cũng như trên thế giới về xác

định tỷ lệ biểu hiện TCTTK ở các sản phụ có thai

chậm tăng trưởng nên chưa thể so sánh tỷ lệ này

với nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, theo

báo cáo của nhiều nghiên cứu, TCTTK có thể

làm tăng nguy cơ thai nhi tăng cân chậm(2), trẻ sơ

sinh nhẹ cân(3) và những bất thường khác trong

thời kỳ nhũ nhi như hội chứng chết bất ngờ ở

nhũ nhi, hen suyễn, tiêu chảy, đau bụng…(12),

phát triển bất thường về cấu trúc và chức năng

của não bộ(13)

Một nghiên cứu tiền cứu đoàn hệ được thực

hiện tại một vùng bán nông thôn thuộc Thành

phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, năm 2013(14), cho

thấy các rối loạn tâm lý trong thai kỳ có thể làm

tăng nguy cơ của trẻ nhẹ cân dưới 2500 gram

(RR=2,40; KTC 95% [1,09 – 5,25]) và sanh non

dưới 37 tuần (RR=2,07; KTC 95% [1,2 – 3,56])

Điều này, có thể thấy TCTTK có thể ảnh hưởng

nghiêm trọng hơn đến khả năng nuôi sống của

trẻ sơ sinh, khi trước đó đã được chẩn đoán là

thai chậm tăng trưởng trong tử cung Quyết

định chấm dứt thai kỳ trên những đối tượng vừa

có thai chậm tăng trưởng vừa có biểu hiện

TCTTK càng trở nên thách thức cho các nhà lâm

sàng Bởi lẽ, nếu chấm dứt thai kỳ sớm, chúng ta

sẽ đối diện với khả năng thai nhẹ cân, non tháng, khó nuôi sống Trái lại, nếu càng kéo dài thai kỳ thì bên cạnh nguy cơ mất tim thai thì còn kéo theo sự lo lắng của sản phụ có thể tăng lên, trầm cảm có thể diễn biến nặng hơn, các biến chứng liên quan đến trầm cảm có thể sẽ xuất hiện nhiều hơn cho sản phụ và trẻ sau khi sinh Chính vì vậy, việc phát hiện biểu hiện TCTTK ở các sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung, cũng như trong các thai kỳ nguy cơ cao nói chung sẽ giúp cho các nhân viên y tế quan tâm

và hỗ trợ điều trị đặc biệt cho những sản phụ này, nhằm tránh làm nặng thêm tình trạng thai chậm tăng trưởng trong tử cung, và các biến chứng khác trong thai kỳ và sau sanh

Hạn chế của nghiên cứu Đây không phải là thiết kế nghiên cứu tối ưu

để tìm các tương quan, mối quan hệ nhân quả giữa các biến số nghiên cứu Nhằm hạn chế khuyết điểm này chúng tôi đã tiến hành phân tích đa biến để có thể loại bỏ các yếu tố gây nhiễu, tìm ra các yếu tố có mối liên quan thực sự với trầm cảm trong thai kỳ Tuy nhiên, để xác định rõ các yếu tố nguy cơ của bệnh lý này cần

có những nghiên cứu với thiết kế mạnh hơn trong việc tìm mối liên quan như bệnh chứng, đoàn hệ

KẾT LUẬN Qua nghiên cứu 400 sản phụ có TCTTTTC với bảng sàng lọc dấu hiệu trầm cảm EDS, chọn điểm cắt 13 Chúng tôi có kết luận sau:

Tỷ lệ biểu hiện TCTTK của sản phụ có TCTTTTC là 13,5%; KTC 95% [10,2 – 16,8] Qua phân tích hồi quy đa biến các yếu tố, bốn yếu tố ghi nhận liên quan đến biểu hiện TCTTK của sản phụ có TCTTTTC là:

(i) Nhóm có chồng với nghề nghiệp không

ổn định tăng nguy cơ biểu hiện TCTTK so với nhóm có chồng với nghề nghiệp ổn định, OR=3,04; KTC 95% [1,12 - 8,29]

(ii) Nhóm sản phụ có sang chấn tâm lý trong thời gian 2 tuần gần đây tăng nguy cơ TCTTK so

Trang 6

với nhóm không có sang chấn tâm lý, OR=5,19;

KTC 95% [2,15 - 12,57]

(iii) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt sức

khỏe tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không

có lo lắng về mặt sức khỏe OR=2,81; KTC 95%

[1,35 – 5,85]

(iv) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt tinh

thần tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không

có lo lắng về mặt tinh thần, OR

=8,88; KTC 95% [2,92 – 26,96]

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 American Congress of Obstetricians and Gynecologists (2019)

ACOG Practice Bulletin No 204: Fetal Growth Restriction

Obstetrics & Gynecology, 133(2):e97-e109

2 Räisänen S, Lehto SM, Nielsen HS, et al (2014) Risk factors for

and perinatal outcomes of major depression during pregnancy:

A population-based analysis during 2002-2010 in Finland BMJ

Open, 4:e004883

3 Liu Y, Zhuo L, Zhu B, et al (2017) Association between

depression during pregnancy and low birth weight in

neonates: a Meta analysis Zhongguo Dang Dai Er Ke Za Zhi,

19(9):994-998

4 American Congress of Obstetricians and Gynecologists (2018)

ACOG Committee Opinion No 757: Screening for Perinatal

Depression Obstet Gynecol, 132(5):e208-e212

5 Fisher J, Meena CM, Patel V, et al (2012) Prevalence and

determinants of common perinatal mental disorders in women

in low- and lower-middle-income countries: a systematic

review Bull World Health Organ, 90(2):139-149

6 Cox JL, Holden JM, and Sagovsky R (1987) Detection of

postnatal depression Development of the 10-item Edinburgh

Postnatal Depression Scale Br J Psychiatry, 150:782-6

7 Usuda K, Nishi D, Okazaki E, Makino M, Sano Y (2017)

Optimal cut-off score of the Edinburgh Postnatal Depression Scale for major depressive episode during pregnancy in Japan

Psychiatry Clin Neurosci, 71(12):836-842

8 Rubertsson C, Börjesson K, Berglund A, Josefsson A, Sydsjö G (2011) The Swedish validation of Edinburgh Postnatal

Depression Scale (EPDS) during pregnancy Nord J Psychiatry,

65(6):414-8

9 Boyce P, Stubbs J, and Todd A (1993) The Edinburgh Postnatal

Depression Scale: validation for an Australian sample Aust N

Z J Psychiatry, 27(3):472-6

10 Chen J, Cai Y, Liu Y, et al (2016) Factors Associated with Significant Anxiety and Depressive Symptoms in Pregnant

Women with a History of Complications Shanghai Archives of

Psychiatry, 28(5):253-262

11 Ross GP, Falhammar H, Chen R, et al (2016) Relationship between depression and diabetes in pregnancy: A systematic

review World Journal of Diabetes, 7(19):554-571

12 Raposa E, Hammen C, Brennan P, Najman J (2014) The long-term effects of maternal depression: early childhood physical

health as a pathway to offspring depression J Adolesc Health,

54(1):88-93

13 Lebel C, Walton M, Letourneau N, et al (2016) Prepartum and Postpartum Maternal Depressive Symptoms Are Related to

Children's Brain Structure in Preschool Biol Psychiatry,

80(11):859-868

14 Niemi M, Falkenberg T, Petzold M, Chuc NTK, Patel V (2013)

Symptoms of antenatal common mental disorders, preterm birth and low birthweight: a prospective cohort study in a

semi-rural district of Vietnam Trop Med Int Health, 18(6):687-95

Ngày đăng: 10/04/2021, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w