Có không ít những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, nhưng công tác tổ chức triển khai nghiên cứu chậm nên công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn hoạt động kiểm toán[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ KIỂM TOÁN – 20 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
*Phĩ Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tốn
THÀNH QUẢ 20 NĂM HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA TRƯỜNG ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ KIỂM TOÁN GẮN LIỀN VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
PGS.TS NGuyỄN ĐìNH HịA*
Kiểm tốn nhà nước (KTNN) ra đời trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh
tế vận hành theo cơ chế kế hoạch tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa KTNN là cơ quan được thành lập mới, khơng cĩ cơ quan tiền thân, do đĩ, KTNN phải tự nghiên cứu và tổng kết, đúc rút những bài học kinh nghiệm từ các KTNN khu vực và thế giới để xây dựng và từng bước hồn thiện về cơ cấu tổ chức bộ máy, phương pháp chuyên mơn, nghiệp vụ Chính vì vậy, hoạt động Khoa học và cơng nghệ (KH&CN) và thơng tin khoa học của Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tốn (Trường ĐT) trong những năm vừa qua đã cĩ vai trị hết sức quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý luận và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn gĩp phần vào quá trình xây dựng và phát triển KTNN Bài viết sẽ tập trung đánh giá những đĩng gĩp của Trường trong hoạt động KH&CN đối với hoạt động cũng như sự phát triển của KTNN, chỉ ra những tồn tại hạn chế và đề xuất các kiến nghị giải pháp để nâng cao chất lượng KH&CN và thơng tin khoa học của Trường trong thời gian tới.
Từ khĩa: Hoạt động khoa học & cơng nghệ của Trường ĐTBDNV kiểm tốn;
Achievement of 20 years of scientific and technological activities of the Audit Training Institute (ATI) associated with the process of building and development of the State Audit
The State Audit Office of Vietnam (SAV) was born in the context of the transition from a centrally planned economy to a socialist-oriented market economy The State Audit is a newly established body with no precursors, therefore, the State Audit must study and summarize lessons learned from the SAIs in region and world in order to build and step by step improve the State Audit Office of Vietnam Improved organizational structure, professional methods Therefore, the scientific and technological activities and informational communication of the ATI in recent years have played a very important role in the construction theoretical bases and practical experiences to contruct and develope the SAV The paper will focus on evaluating the contribution of the ATI to the development and operation of the State Audit, identifying shortcomings and proposing solutions to improve the quality of scientific and technological activitiesand scientific informational communicationof the ATI in the coming time
Key words: Scientific and technological activities of the Audit Training Institute (ATI)
Trang 21 Những đóng góp của Trường đối với sự phát
triển của kTNN thông qua hoạt động kH&CN
và thông tin kH trong 20 năm qua
1.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học
KTNN chính thức được công nhận là đầu mối
khoa học và công nghệ từ năm 1996 và từ khi thành
lập năm 1997, Trường ĐT trở thành cơ quan đại
diện cho KTNN, đảm nhiệm về hoạt động KH &
CN Hoạt động KH&CN của Trường ĐT trong 20
năm qua bao gồm việc tổ chức quản lý và triển khai
thực hiện nghiên cứu 363 đề tài NCKH các cấp,
trong đó có 02 đề tài độc lập cấp Nhà nước, 171 đề
tài NCKH cấp Bộ và 190 đề tài NCKH cấp cơ sở
Có thể đánh giá khái quát hoạt động KH&CN
trong 20 năm qua ở một số khía cạnh sau đây:
Về chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học:
Về cơ bản, các đề tài nghiên cứu đã hoàn thành
mục tiêu, nội dung nghiên cứu và được đánh giá
tương đối tốt, đặc biệt trong giai đoạn 1996 - 2005,
khoảng 30% đề tài các cấp đạt kết quả xuất sắc, 60%
đề tài đạt loại khá và 10% đề tài đạt yêu cầu
Một trong những điểm nổi bật đáng ghi nhận
của hoạt động NCKH của KTNN trong 20 năm
qua là có tính ứng dụng cao; hoạt động KH&CN
đã tập trung trí tuệ, sức lực và tâm huyết để nghiên cứu và giải quyết những vấn đề cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn khẳng định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, lợi ích, triết lý hoạt động và thẩm quyền của KTNN, là cơ sở khoa học và thực tiễn để KTNN kiến nghị Đảng, Nhà nước xây dựng khung khổ pháp lý về tổ chức và hoạt động của KTNN( hiến định địa vị pháp lý; ban hành Luật KTNN; các văn bản quy phạm pháp luật khác )
- Nghiên cứu hoạch định chiến lược, giải pháp xây dựng hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoạt động của KTNN nhằm góp phần xây dựng nền tài chính quốc gia minh bạch, bền vững phục vụ hiệu quả chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
- Nghiên cứu để làm rõ nhận thức về nội dung và kết cấu hệ thống các chuẩn mực, hệ thống phương pháp, quy trình kiểm toán gắn với các đối tượng kiểm toán chung và các đối tượng kiểm toán đặc thù (như NSNN; các doanh nghiệp nhà nước; các
tổ chức tín dụng; các dự án đầu tư xây dựng như các dự án ODA, BOT, BT ; nợ công, các chương trình mục tiêu quốc gia; kiểm toán môi trường…) cũng như phát triển các loại hình kiểm toán (kiểm
Trang 3TRƯỜNG ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ KIỂM TOÁN – 20 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
tốn tài chính, kiểm tốn tuân thủ, kiểm tốn hoạt
động, kiểm tốn lồng ghép chuyên đề hỗn hợp);
- Nghiên cứu để xây dựng, hồn thiện và ban
hành Hệ thống hồ sơ, mẫu biểu kiểm tốn ngày
càng tiệm cận tính khoa học, hiệu quả, tiện ích,
đơn giản và khả thi trong thực tế nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả cơng tác kiểm tốn; hiệu lực,
hiệu quả của việc thực hiện kết luận, kiến nghị
kiểm tốn và cơng tác quản lý
- Nghiên cứu cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn
của việc hoạch định mục tiêu, chương trình, nội
dung, phương pháp, phương thức tổ chức quản lý
cơng tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cơng chức
KTNN; nghiên cứu về chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp kiểm tốn viên, về văn hĩa giao tiếp ứng
xử của KTV nhà nước để ĐTBD xây dựng một đội
ngũ kiểm tốn viên tinh thơng nghiệp vụ, cĩ đạo
đức nghề nghiệp và bản lĩnh với tác phong chuyên
nghiệp, cĩ khả năng xử lý mọi tình huống nảy sinh
trong hoạt động kiểm tốn,theo phương châm:
“Cơng minh, chính trực, nghệ tinh, tâm sáng”
Bộ chương trình này bao gồm từ đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp
của KTV nhà nước theo hướng cơ bản ngày càng
hiện đại, hội nhập quốc tế và phù hợp với điều kiện
thực tiễn Việt Nam
- Nghiên cứu để ứng dụng các phương pháp
kiểm tốn hiện đại, đặc biệt là cơng nghệ thơng tin
cho hoạt động kiểm tốn Kết quả nghiên cứu của
những đề tài này là cơ sở xây dựng các phần mềm
ứng dụng tin học vào hoạt động kiểm tốn, đặc biệt
là phục vụ cho việc tổng hợp kết quả kiểm tốn,
xử lý việc lập báo cáo kiểm tốn và tiếp cận dần
việc hình thành các phần mềm kiểm tốn chuyên
biệt cho KTNN, trước hết là cho các lĩnh vực quan
trọng (như NSNN, đầu tư dự án, nợ cơng, doanh
nghiệp nhà nước, các tổ chức tín dụng – ngân
hàng) và cho tất cả loại hình kiểm tốn tài chính,
kiểm tốn tuân thủ và kiểm tốn hoạt động
Những đề tài đầu tiên trong lĩnh vực CNTT đã
gĩp phần quan trọng cho việc hình thành phịng
thơng tin của Trường, tiền thân của Trung tâm Tin học của KTNN khi đề án này do Trường khởi thảo
và đã được thơng qua
- Nghiên cứu về phương thức tổ chức thực hiện các loại hình kiểm tốn, cách thức lập kế hoạch kiểm tốn trung và dài hạn phân cấp cho các KTNN chuyên ngành, khu vực, tránh chồng chéo hay bỏ sĩt đối tượng và khách thể kiểm tốn, khai thác một cách hiệu quả năng lực, thế mạnh kiểm tốn của tồn Ngành;
- Nghiên cứu thiết lập và xử lý các quan hệ: giữa
cơ quan khoa học cơng nghệ, cơ sở đào tạo của KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực và các đơn
vị trực thuộc KTNN; mối quan hệ phối hợp với các
cơ quan hữu quan trong bộ máy nhà nước nhằm hình thành sự phối hợp chặt chẽ hiệu quả khi triển khai hoạt động kiểm tốn theo kế hoạch trung hạn
và dài hạn của KTNN;
- Nghiên cứu các vấn đề về hợp tác quốc tế trong hoạt động kiểm tốn (bao gồm kinh nghiệm xây dựng Luật, chuẩn mực, quy trình kiểm tốn; tổ chức bộ máy; đào tạo bồi dưỡng cán bộ) nhằm tận dụng kinh nghiệm, trí tuệ của KTNN các quốc gia tiên tiến qua các dự án ODA, GTZ, JICA…
- Nghiên cứu phát triển hệ thống kiểm tốn Việt Nam và mối quan hệ giữa các phân hệ trong hệ thống kiểm tốn (bao gồm 3 phân hệ: KTNN, kiểm tốn độc lập, kiểm tốn nội bộ) Đối với những vấn
đề này đã thu hút thêm lực lượng nghiên cứu và sự trợ giúp từ Bộ Tài chính, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội Kế tốn và kiểm tốn Việt Nam (VAA), các cơng ty kiểm tốn độc lập, các trường đại học và cả một số tổ chức quốc tế
Kể từ những năm đầu xây dựng và phát triển, Trường ĐT đã chủ động đề xuất và chủ trì nghiên
cứu Đề tài khoa học cấp nhà nước: “Cơ sở lý luận
và thực tiễn phát triển hệ thống kiểm tốn ở Việt Nam” Đề tài nghiệm thu đạt loại xuất sắc, đã cung
cấp một cách tồn diện cả về phương diện lý luận
và thực tiễn để phát triển hệ thống kiểm tốn ở Việt Nam và mối quan hệ giữa các phân hệ kiểm
Trang 4cơ quan KTNN Không
chỉ nghiên cứu các vấn
đề nội tại của KTNN,
Trường ĐT đã chủ động
đề xuất và chủ trì nghiên
cứu đề tài cấp nhà nước:
“Luận cứ khoa học xây
dựng Luật kiểm toán độc
lập ở Việt Nam trong quá
trình phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và thực hiện hội
nhập kinh tế quốc tế”.
- Hoạt động KH&CN đã nghiên cứu chuyên sâu
về các lĩnh vực kiểm toán mới, nghiên cứu những
vấn đề phát sinh trong thực tiễn quản lý và sử dụng
nguồn lực công của nền kinh tế và hoạt động kiểm
toán, nhằm đáp ứng yêu cầu của Quốc hội, Chính
phủ và xã hội như: Kiểm toán các Chương trình
mục tiêu quốc gia; kiểm toán các chuyên đề về
chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ trong thời
kỳ khủng hoảng kinh tế; kiểm toán nợ công; kiểm
toán quá trình tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế; kiểm
toán việc quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên
khoáng sản; kiểm toán các dự án BOT, BT, kiểm
toán môi trường, kiểm toán lồng ghép
Các đề tài mà Trường ĐT chủ trì nghiên cứu
hoặc tham gia nghiên cứu luôn bám sát thực tiễn
hoạt động của KTNN, thực tiễn đời sống kinh tế xã
hội của đất nước
Năm 2007 khi có những biểu hiện của gia tăng
nợ Chính phủ mà gắn với nó có thể là những hệ
lụy, Trường đã tổ chức nghiên cứu đề tài: “Kiểm
toán các khoản vay nợ, viện trợ Chính phủ và vai trò
của Kiểm toán nhà nước” Khi nền kinh tế có biểu
hiện của suy thoái, Trường đã tổ chức nghiên cứu
nhiều đề tài cấp bộ như: “Vai trò của Kiểm toán
nhà nước trong chính sách tài khóa, chính sách tiền
tệ trong điều kiện khủng hoảng kinh tế”; đề tài cấp
Bộ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài
chính công sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008-2009 và khủng hoảng nợ công của một số nước tại Châu Âu dưới góc nhìn kiểm toán”; hay đề tài
“Nâng cao giá trị, lợi ích của hoạt động kiểm toán nhà nước trong hoạch định và điều hành chính sách kinh tế vĩ mô”
Những năm gần đây, khi xã hội đã có sự thay đổi trong nhận thức về vai trò của KTNN trong quản lý tài chính, tài sản công và được hiến định trong Hiến pháp năm 2013,Trường luôn chủ động
đề xuất chủ trì nghiên cứu các đề tài cấp bộ phù hợp với chức năng nhiệm vụ của KTNN gắn liền với sự phát triển KTNN, hội nhập kinh tế quốc tế
và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền XHCN
Bên cạnh đó công tác NCKH trong thời gian qua còn tập trung nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho các đối tượng theo kế hoạch và chiến lược phát triển KTNN; hoàn thiện công tác quản lý đào tạo Tiêu
biểu các đề tài cấp Bộ năm 2012 “Giải pháp nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, kiểm toán viên theo định hướng chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020”; Đề tài cấp Bộ 2014 “Xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng hệ thống các kỹ năng cho Kiểm toán viên Kiểm toán nhà nước”
Về công tác quản lý khoa học
Là đầu mối quản lý khoa học, thường trực Hội đồng khoa học và Văn phòng Hội đồng khoa học
Trang 5TRƯỜNG ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ KIỂM TOÁN – 20 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
của KTNN, Trường đã hồn thành tốt nhiệm vụ
được giao Các đề tài khoa học do Trường chủ trì
đều lựa chọn và ký hợp đồng với các nhà khoa học
cĩ uy tín để đảm bảo chất lượng nghiên cứu Kết
quả nghiên cứu đều được tổ chức đánh giá, thẩm
định theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Cơng
nghệ Hàng năm, Trường luơn chủ động tham
mưu, đề xuất các chủ đề nghiên cứu, chủ đề hội
thảo khoa học cấp Bộ để báo cáo Hội đồng khoa
học xem xét và trình Tổng KTNN quyết định
Cho đến nay, về cơ bản các đề tài khoa học đều
được quản lý chặt chẽ theo đúng quy chế và đảm
bảo tiến độ nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu
một mặt được ứng dụng trong hoạt động của ngành
hoặc làm cơ sở cho việc đề xuất các kiến nghị và
giải pháp đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tài chính
với Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan nhà nước
1.2 Hoạt động thơng tin khoa học và hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực KH - CN
Hoạt động thơng tin khoa học và cơng nghệ của
Trường ĐT gắn liền với cơng tác NCKH và triển
khai ứng dụng kết quả nghiên cứu của KTNN
Hoạt động thơng tin khoa học của Trường trong
những năm qua đã cung cấp những thơng tin cĩ giá
trị cho lãnh đạo KTNN cân nhắc lựa chọn và quyết
định các định hướng về hoạt động KH & CN phù
hợp cho từng giai đoạn phát triển của KTNN Kết
quả NCKH đã hỗ trợ các đồn kiểm tốn trong việc
ứng dụng các vấn đề nghiên cứu vào thực tiễn hoạt
động kiểm tốn, giúp các kiểm tốn viên tra cứu,
vận dụng các vấn đề lý luận vào học tập, nghiên
cứu cũng như hoạt động kiểm tốn Ngồi ra, hoạt
động thơng tin khoa học cịn gĩp phần phổ biến
cập nhật chuyên mơn, nghiệp vụ kiểm tốn thơng
qua các cuộc hội thảo khoa học hàng năm của
KTNN do Trường ĐT chủ trì tổ chức phối hợp với
các tổ chức trong và ngồi nước như: Ủy ban Tài
chính - Ngân sách của Quốc hội, Ngân hàng Thế
giới, Ngân hàng Phát triển Châu á, uSAID, CPA
Australia, Hiệp hội kế tốn cơng chứng Vương
quốc Anh - ACCA Các cuộc hội thảo khoa học là
diễn đàn để các nhà khoa học, các nhà quản lý, các
chuyên gia trao đổi, thảo luận một cách cởi mở và dân chủ về những vấn đề liên quan đến địa vị pháp
lý, chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, hoạt động cũng như những vấn đề về chuyên mơn nghiệp vụ kiểm tốn của KTNN.Thơng qua kết quả của các cuộc hội thảo đã từng bước khẳng định được vị trí, vai trị và giá trị hoạt động của KTNN đối với các vấn đề được Quốc hội và xã hội quan tâm như các cuộc hội thảo về các chủ đề kiểm tốn nợ cơng, kiểm tốn chính sách tài khĩa và chính sách tiền
tệ, kiểm tốn việc quản lý và sử dụng tài nguyên, khống sản, kiểm tốn quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, kiểm tốn dự án BOT, BT
Năm 2016, đứng trước bức xúc của cơng luận
về việc thu phí dự án BOT cũng như việc quản lý
và triển khai các dự án BOT, Trường đã tham mưu cho lãnh đạo KTNN tổ chức Hội thảo khoa học cấp
Bộ năm 2016 với chủ đề “Những vấn đề đặt ra đối
với dự án BOT và vai trị của KTNN” Đồng thời,
Trường cũng tổ chức các hội thảo khoa học “Những
thách thức của việc thực hiện kiểm tốn hoạt động”,
hội thảo “Phát triển kiểm tốn độc lập ở Việt Nam
và xác lập mối quan hệ giữa Kiểm tốn nhà nước
và Kiểm tốn độc lập”; phối hợp với ACCA tổ chức
Hội thảo: “Kinh nghiệm quốc tế về kiểm sốt chất
lượng kiểm tốn và đảm bảo chất lượng kiểm tốn”
Các hội thảo này đã được dư luận xã hội đánh giá cao khơng những về mặt nội dung mà cịn đánh giá tốt về cơng tác tổ chức Qua việc tổ chức thành cơng các hội thảo này khơng chỉ giúp KTNN giải quyết những vấn đề chuyên mơn, nghiệp vụ, xác định mục tiêu, nội dung, phạm vi kiểm tốn, hồ
sơ, mẫu biểu một cách khoa học phù hợp với thực tiễn Việt Nam mà cịn gĩp phần nâng cao uy tín và truyền thơng về vai trị của KTNN trong cơng tác quản lý và sử dụng tài chính, tài sản cơng
Kết quả NCKH, tĩm tắt các đề tài khoa học các cấp đã được nghiệm thu được lưu trữ, quản lý
và phục vụ tốt cho các đối tượng trong và ngồi KTNN qua hệ thống Thư viện Khoa học kiểm tốn (đặt tại Trường ĐT), mạng nội bộ đặc biệt là trang Thơng tin Điện tử của KTNN Ngồi ra, cịn cĩ tờ
Trang 6“Thông tin khoa học” phát hành nội bộ trong cơ
quan KTNN, phát hành mỗi quý một số để thông
báo các kết quả nghiệm thu đề tài NCKH và các lớp
bồi dưỡng cán bộ kiểm toán trong ngành, các lớp
đào tạo, tư vấn về kế toán, kiểm toán, kinh nghiệm
quản lý, tài chính, thông tin về tài chính, kế toán,
kiểm toán trong và ngoài nước
Hoạt động thông tin khoa học đã hỗ trợ việc
khai thác và thu thập thông tin KH & CN từ các
nguồn trong và ngoài nước, trong nội bộ ngành,
từ các hiệp hội nghề nghiệp quốc tế, các công ty
kiểm toán quốc tế lớn như BigFour; xử lý, lưu trữ
và quản lý nguồn thông tin KH & CN; phát hành
các ấn phẩm khoa học làm diễn đàn nghiên cứu,
trao đổi của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các
chuyên gia trong và ngoài ngành; cung cấp thông
tin KH & CN phục vụ hoạt động chuyên môn
nghiệp vụ và các hoạt động KH & CN khác Tuy
vậy, để hoạt động thông tin khoa học đáp ứng được
nhu cầu thực tiễn của ngành trong thời gian tới cần
phải tăng cường hơn nữa về chất lượng các thông
tin khoa học, đảm bảo tính thời sự, tính khoa học
và hữu dụng của thông tin được cung cấp
Có thể nói rằng, hoạt động KH & CN của Trường trong thời gian qua đã giải quyết căn bản những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra cho KTNN, góp phần tạo ra một bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và tăng cường hiệu quả, hiệu lực và uy tín hoạt động kiểm toán của KTNN Hai mươi năm qua, cùng với quá trình xây dựng và phát triển, Trường luôn tập trung phát triển hoạt động KH&CN theo hướng nghiên cứu ứng dụng, chuyên sâu theo từng lĩnh vực làm cơ sở phát triển các loại hình, phương pháp và công nghệ kiểm toán mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của ngành theo hướng ngày càng chuyên nghiệp và hiện đại
2 Những tồn tại và hạn chế về kH&CN và thông tin kH
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động KH&CN và thông tin khoa học của Trường ĐT trong 20 năm qua cũng còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới để
KH & CN và thông tin khoa học tiếp tục có những đóng góp tích cực hơn nữa trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 Các
Trang 7TRƯỜNG ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ KIỂM TOÁN – 20 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
hạn chế của hoạt động KH&CN được biểu hiện ở
một số điểm sau đây:
Về chất lượng hoạt động NCKH: Nhìn chung kết
quả nghiên cứu của các đề tài đạt kết quả tốt vừa cĩ
tính lý luận vừa cĩ tính ứng dụng cao Tuy nhiên,
vẫn cịn một số đề tài chất lượng mới chỉ đạt yêu
cầu, những vấn đề và nội dung nghiên cứu chưa cĩ
sự đào sâu nghiên cứu, một số vấn đề chưa được
giải quyết một cách triệt để, các giải pháp đề ra cịn
chung chung, tính ứng dụng chưa cao
Về tiến độ thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu: Phần
lớn các đề tài được tổ chức nghiên cứu nghiêm
túc đảm bảo được tiến độ nghiên cứu Tuy nhiên
vẫn cịn khơng ít đề tài nghiên cứu chậm về tiến
độ Tiến độ nghiên cứu khơng đảm bảo, trước hết
đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc ứng dụng kết quả
nghiên cứu của đề tài vào thực tiễn ngồi ra cịn
ảnh hưởng đến việc tổ chức đánh giá nghiệm thu
và cơng tác quyết tốn kinh phí
Về tính tiên phong, định hướng dẫn dắt hoạt
động thực tiễn:
Cĩ khơng ít những vấn đề nảy sinh trong thực
tiễn, nhưng cơng tác tổ chức triển khai nghiên cứu
chậm nên cơng tác lý luận chưa theo kịp sự phát
triển của thực tiễn hoạt động kiểm tốn; chưa làm
sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng trong tổ chức triển
khai hoạt động kiểm tốn cũng như để phục vụ
việc hoạch định chiến lược và triết lý hoạt động,
chưa cĩ luận cứ khoa học chắc chắn để hướng dẫn
thực tiễn hoặc cung cấp luận cứ khoa học để phục
vụ kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trong
quá trình xây dựng và phát triển KTNN; NCKH
chưa thực sự làm trịn vai chức năng hướng dẫn
thực tiễn hoạt động kiểm tốn; cơng tác tổng kết
thực tiễn cũng như việc đánh giá ứng dụng kết quả
NCKH chưa thường xuyên, chưa kịp thời
Về đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học: Mặc dù
đã được Lãnh đạo KTNN quan tâm và Trường cĩ
nhiều cố gắng trong chính sách tuyển dụng, thu
hút nhân tài, đào tạo bồi dưỡng tại chỗ, nhưng do
cơ chế hoạt động, “danh và lợi” chưa đủ sức hấp
dẫn, thu hút nguồn nhân lực cĩ trình độ cao, trẻ trung từ các đơn vị của KTNN và từ xã hội về làm việc tại Trường cho nên hiện nay đội ngũ nghiên cứu chuyên trách cịn quá mỏng, cơ cấu các chuyên ngành nghiên cứu chưa hợp lý, kinh nghiệm thực tiễn kiểm tốn hạn chế nên ảnh hưởng khơng nhỏ đến chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN
3 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kH&CN và thơng tin khoa học
Để nâng cao chất lượng hoạt động KH&CNvà thơng tin khoa học, đáp ứng mục tiêu đề ra của KTNN trong thời gian tới, cơng tác nghiên cứu và thơng tin khoa học của Trường ĐT cần chú trọng một số giải pháp cụ thể sau đây:
Thứ nhất, phát triển đội ngũ cán bộ NCKH Lực
lượng cán bộ NCKH là nhân tố cơ bản quyết định đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động KH &
CN Vì vậy, để nâng cao chất lượng NCKH trước hết phải tăng cường được đội ngũ cán bộ làm cơng tác NCKH chuyên trách cả về số lượng và chất lượng Trước hết, Trường ĐT cần tích cực hơn nữa trong việc ĐTBD và phát triển đội ngũ cán bộ NCKH mạnh cả về số lượng và chất lượng; xây dựng kế hoạch và phương thức đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ NCKH hiện cĩ và thu hút từ ngồi ngành về; tạo điều kiện cho các cán bộ NCKH đi khảo sát, nghiên cứu, học tập kinh nghiệm ở nước ngồi và đẩy mạnh hợp tác về NCKH với các cơ quan nghiên cứu trong và ngồi nước, cũng như tạo điều kiện để nghiên cứu viên tham gia thực tiễn hoạt động kiểm tốn tại các KTNN chuyên ngành
và KTNN khu vực
Thứ hai, đổi mới cơ chế quản lý, tuyển chọn, giao nhiệm vụ NCKH, quản lý và theo dõi tiến độ nghiên cứu.
Mặc dù trong thời gian qua hàng năm Trường
đã xác định rõ định hướng, mục tiêu, yêu cầu về hoạt động nghiên cứu để các đơn vị và cá nhân chuẩn bị và đăng ký đề tài và sau đĩ tổ chức xét duyệt nhiệm vụ nghiên cứu Việc làm này đã đem