1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống lúa và ảnh hưởng của lượng đạm bón đến giống lúa thiên ưu 8 vụ xuân 2017 tại bình lục hà nam

99 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN GIỐNG LÚA THIÊN ƯU 8 VỤ XUÂN 2017

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN GIỐNG LÚA THIÊN ƯU 8

VỤ XUÂN 2017 TẠI BÌNH LỤC -HÀ NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ trong bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Kết quả nghiên cứu này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy PGS.TS

Vũ Quang Sáng và sự giúp đỡ tận tình của gia đình, đồng nghiệp

Hà nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thùy Dương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Quang Sáng, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh lý thực vật, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở việt nam 3

2.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 3

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam 4

2.2 Tình hình nghiên cứu về giống lúa trên thế giới và việt nam 8

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về giống lúa trên thế giới 8

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về giống lúa ở Việt Nam 9

2.3 Tình hình sử dụng phân bón đạm cho lúa 13

2.3.1 Tình hình sử dụng phân bón đạm cho lúa trên thế giới 13

2.3.2 Tình hình nghiên cứu phân đạm bón cho cây lúa ở Việt Nam 16

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 21

3.1 Vật liệu và địa điểm nghiên cứu 21

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 23

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 23

3.2 Nội dung nghiên cứu 23

Trang 5

3.3 Bố trí thí nghiệm 23

3.4 Các biện pháp kỹ thuật 25

3.5 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4 Kết quả và thảo luận 29

4.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống lúa 29

4.1.1 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa trong vụ Xuân 2017 29

4.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 30

4.1.3 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 31

4.1.4 Động thái ra lá của các giống lúa trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 33

4.1.5 Chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống lúa trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 35

4.1.6 Khối lượng chất khô tích lũy của các giống lúa trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 36

4.1.7 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống lúa trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 38

4.1.8 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa 40

4.1.9 Hiệu quả kinh tế của các giống lúa 42

4.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến một số đặc điểm về sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa thiên ưu 8 43

4.2.1 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến thời gian sinh trưởng của giống Thiên ưu 8 trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 43

4.2.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa Thiên ưu 8 44

4.2.3 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa Thiên ưu 8 46

4.2.4 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái ra lá của giống lúa Thiên ưu 8 48

Trang 6

4.2.5 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá (LAI) 49

4.2.6 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng tích lũy chất khô của giống lúa Thiên ưu 8 51

4.2.7 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng chống chịu sâu bệnh của giống lúa Thiên ưu 8 52

4.2.8 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Thiên ưu 8 53

4.2.9 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân đạm bón cho lúa giống Thiên ưu 8 55

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Kiến nghị 56

Tài liệu tham khảo 57

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa thế giới từ năm 2010 - 2016 3 Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa gạo của Việt Nam trong giai

đoạn từ 2010 - 2016 5 Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa vùng Đồng bằng sông Hồng và

cả nước giai đoạn 2010 - 2016 5 Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tại Hà Nam 7 Bảng 2.5 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tại huyện Bình Lục - Hà Nam 7 Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa trong vụ Xuân 2017, tại Hà

Nam 29 Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống lúa qua các thời kỳ

sinh trưởng, phát triển trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 31 Bảng 4.3 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa qua các thời kỳ sinh trưởng

phát triển trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 32 Bảng 4.4 Động thái ra lá của các giống lúa qua các thời kỳ sinh trưởng, phát

triển trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 34 Bảng 4.5 Chỉ số diện tích lá của các giống lúa qua các giai đoạn sinh trưởng,

phát triển trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 35 Bảng 4.6 Khối lượng chất khô tích lũy của các giống lúa qua các giai đoạn

sinh trưởng, phát triển trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 37 Bảng 4.7 Mức độ nhiễm sâu bệnh của các giống lúa trong vụ Xuân 2017, tại

Hà Nam 39 Bảng 4.8 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa trong

vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 40 Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của các giống lúa trồng vụ Xuân năm 2017 tại

huyện Bình Lục - Hà Nam 43 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến thời gian sinh trưởng của giống

Thiên ưu 8 trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 44 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao

cây của giống Thiên ưu 8 trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 45

Trang 9

Bảng 4.12 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh của giống

lúa Thiên ưu 8 trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 47 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái ra lá của giống Thiên

ưu 8 trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 48 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá của giống lúa

Thiên ưu 8 trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 50 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng tích lũy chất khô của

giống lúa Thiên ưu 8 trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 51 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại

của giống Thiên ưu 8 trong vụ Xuân 2017, tại Hà Nam 53 Bảng 4.17 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất và các yếu tố cấu

thành năng suất của giống lúa Thiên ưu 8 trong vụ Xuân 2017, tại

Hà Nam 54 Bảng 4.18 Hiệu quả kinh tế khi bón đạm cho giống lúa Thiên ưu 8 trong vụ

Xuân 2017, tại Hà Nam 55

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dương

Tên luận văn: Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống lúa và

ảnh hưởng của lượng đạm bón đến giống lúa Thiên ưu 8 vụ Xuân 2017 tại Bình Lục

- Xác định được lượng đạm bón thích hợp cho giống lúa Thiên ưu 8, có hiệu quả

để giới thiệu cho địa phương

Phương pháp nghiên cứu

- Thí nghiệm 1: 5 công thức (Thiên ưu 8, Bắc thơm số 7, TBR 225, Lúa thơm T10 và giống đối chứng Khang dân 18), trên nền phân chung: 8 tấn phân chuồng + 420

kg vôi bột + 90 kgN/ha + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O /1ha Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB), với 3 lần nhắc lại, tiến hành tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, trong vụ Xuân 2017, bắt đầu từ tháng 1 và kết thúc vào tháng 6 năm 2017

- Thí nghiệm 2 gồm 4 công thức: N70 (70kgN/ha), N90 (đối chứng 90kg N/ha), N110 (110kgN/ha), N130 (130kgN/ha), trên nền phân chung: 8 tấn phân chuồng + 420

kg vôi bột + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O /1ha Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) trên giống Thiên ưu 8, với 3 lần nhắc lại cho mỗi công thức Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 1 và kết thúc vào tháng 6 năm 2017, tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Kết quả chính và kết luận

Căn cứ vào kết quả thực hiện thí nghiệm tại đồng ruộng cho thấy:

- Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh

hại và năng suất của các giống Thiên ưu 8, Bắc thơm số 7, TBR 225, Khang dân 18 và Lúa thơm T10 tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

+ 2 giống triển vọng là Thiên ưu 8 và TBR 225 sinh trưởng phát triển tốt, có thời gian sinh trưởng trung bình (134 - 139 ngày), số lá ổn định từ 14 - 15 lá, chiều cao cây trung bình, đẻ nhánh khỏe (9 - 11 nhánh/khóm)

Trang 11

+ Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu 2 giống Thiên ưu 8 và TBR 225 đạt cao (74,7 - 79,3 tạ/ha), cao hơn đối chứng Khang dân 18 từ (2,0 - 6,6 tạ/ha), tương đương mức vượt từ 2,8% - 9,1%

- Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và

năng suất của giống lúa Thiên ưu 8

+ Khi nghiên cứu các lượng đạm bón thích hợp cho giống Thiên ưu 8, lúa ở các công thức đều sinh trưởng, phát triển tốt

+ Khi tăng lượng đạm bón từ 70kgN/ha lên 130kgN/ha đã làm kéo dài thời gian sinh trưởng của giống Thiên ưu 8 từ 137 - 147 ngày

+ Lượng đạm bón khác nhau không làm ảnh hưởng đáng kể đến chiều cao cây,

số lá nhưng ảnh hưởng đến số nhánh, lượng chất khô tích lũy của giống Thiên ưu 8

+ Lượng đạm bón thích hợp nhất cho giống Thiên ưu 8 là 110kgN/ha cho các yếu tố cấu thành năng suất tối đa và cho năng suất thực thu cao nhất đạt 78,3 tạ/ha, hiệu quả kinh tế (lãi thuần) cao đạt 26,86 triệu/ha

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master cadidate: Nguyen Thi Thuy Duong

Thesis title: Characteristics of growth and development and yield of some potential

inbred rice varieties, effect of nitrogen amount on development and yield of Thien uu 8 rice variety 2017 spring season in Ha Nam province

Major: Crop science Code: 8620110

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Materials and Methods:

Experiment 1: Including 5 varieties (Thien uu 8, Bac thom so 7, TBR 225, Lua

thom T10) and one check variety (Khang dan 18), fertilizer dose per ha: 8 tons of FYM,

420 kg of lime, 90 kg of nitrogen, 90 kg of phosphorus, 90 kg of potassium per ha The experiment was carried out follow Random complete block with three replications in Binh Luc district, Ha Nam province in 2017 spring season Implementing time: from January to June

Experiment 2: Including 4 treatments: N70 (70kgN/ha), N90 (90kgN/ha), N110

(110kgN/ha), N130 (130kgN/ha), fertilizer dose per ha: 8 tons of FYM, 420 kg of lime,

90 kg of phosphorus, 90 kg of potassium per ha The experiment was carried out follow Random complete block with three replications in Binh Luc district, Ha Nam province

in 2017 spring season Implementing time: from January to June

Main findings and conclusions

- The results of experiment 1 show that: there were 2 varieties which gave good growth ability with short crop duration (from 134 to 139 days), leaf number was 14 to 15 leaves per plant, tillering capacity was high, number of efficient tiller was great (9 to 11 tiller per hill) Thien uu 8 and TBR 225 gave high yield (74,7 - 79,3 quintal per ha) These were 2,0 to 6,6 quintal per ha higher than that of check variety (equal 2,8 - 9,1 percent)

- The results of experiment 1 show that:

+ There was no significant differency on growth between treatments

Trang 13

+ There was differency on crop duration between treatment: More increased nitrogen amount was applied, longer crop duration gave

+ There was no significant differency on plant height, leaf number between treatments But there was significant differency on number and biomass

+ Application of 110 nitrogen kg gave highest yield and economical efficiency, 78,3 quital and 26,86 million VND per ha respectively

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây lúa là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá trình phát triển của loài người Cây lúa có vai trò rất quan trọng đối với con người ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam Có tới 65% dân số thế giới mà chủ yếu là ở các nước Châu Á lấy lúa gạo làm lương thực chính

Đến nay cây lúa đã trở thành cây lương thực chính của Châu Á nói chung, người Việt Nam ta nói riêng và có vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc ta Ngày nay, cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì nền nông nghiệp trên thế giới nói chung và nông nghiệp Việt Nam nói riêng có những bước phát triển đáng kể Nước ta từ một nước thiếu đói trở thành nước có sản lượng lúa gạo xuất khẩu lớn trên thế giới, đó là một thành công lớn của nông nghiệp Việt Nam Mặc dù số lượng sản xuất ra nhiều, nhưng giá thành lại thấp Một trong những nguyên nhân khiến giá gạo Việt Nam thấp là do chất lượng gạo của chúng ta còn kém hơn so với các nước khác Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng có nhiều thay đổi, chuyển từ chỗ “ăn no” sang “ăn ngon” Do vậy, việc nghiên cứu ứng dụng các giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt đưa vào sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu là rất cần thiết

Vì vậy để đảm bảo nhu cầu lương thực và xuất khẩu, vấn đề cấp thiết đặt

ra cần phải nghiên cứu bộ giống mới, kỹ thuật mới (nhất là lượng đạm bón) phù hợp với giống mới nhằm tăng năng suất, chất lượng lúa gạo (Nguyễn Văn Hoan, 2006) Năng suất lúa chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: Giống, môi trường, kỹ thuật canh tác: Làm đất, bón phân, mật độ cấy, chế độ chăm sóc, nước tưới Trong đó, lượng phân bón, kỹ thuật bón và mật độ cấy là 2 yếu tố có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất lúa gạo (Vũ Cao Thái, 1996)

Hà Nam là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, có diện tích tự nhiên là 859,5 km2, có địa hình đồi núi và đồng bằng Địa hình đồng bằng chiếm diện tích lớn bao gồm thành phố Phủ Lý, các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục và một phần của hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng Đây là khu vực có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Diện tích trồng lúa ở Hà Nam ngày càng thu hẹp do sự xuất hiện của các khu công nghiệp lớn, vì vậy yêu

Trang 15

cầu đặt ra với nông nghiệp tỉnh Hà Nam là chọn được giống lúa phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương và các biện pháp kỹ thuật canh tác, nhất là lượng phân đạm bón tối ưu để cho năng suất cao là rất cần thiết Vì vậy, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống lúa và ảnh hưởng của lượng đạm bón đến giống lúa Thiên ưu 8 vụ Xuân 2017 tại Bình Lục - Hà Nam”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Chọn được 1 đến 2 giống lúa có thời gian sinh trưởng trung bình trong

vụ Xuân, năng suất cao (>60 tạ/ha), chất lượng tốt thích nghi với điều kiện sinh thái tỉnh Hà Nam

- Xác định được lượng đạm bón thích hợp cho giống lúa Thiên ưu 8, có hiệu quả để giới thiệu cho sản xuất địa phương

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất của 5 giống lúa và ảnh hưởng của 4 mức đạm bón đến giống lúa Thiên ưu 8 được triển khai tại huyện Bình Lục - tỉnh Hà Nam

- Thời gian: từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2017

1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

Xác định có cơ sở khoa học các giống lúa sinh trưởng phát triển, chống chịu sâu bệnh tốt, cho năng suất cao và làm sáng tỏ vai trò của lượng đạm bón đối với cây lúa trồng tại Hà Nam

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đa dạng hóa bộ giống lúa thuần phục vụ sản xuất lúa và bước đầu xác định được mức đạm bón thích hợp cho giống lúa Thiên ưu 8 tại địa phương Góp phần vào việc hoàn thiện quy trình thâm canh tăng năng suất, phát triển sản xuất lúa, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới

Cây lúa là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới vì vậy nó có khả năng thích nghi cao và được phân bố rộng khắp thế giới, từ vùng nhiệt đới nóng ẩm đến ôn đới lạnh vĩ độ cao Hiện nay có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục, với tổng diện tích là 160,76 triệu ha (năm 2015) Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á chiếm tới 88,2% diện tích gieo trồng và sản lượng (FAOSTAT, 2015) Trong giai đoạn 2010 - 2013, theo thống kê của FAO cho thấy diện tích canh tác lúa những năm đầu của thế kỉ 21 vẫn có xu hướng tăng nhưng tăng chậm (từ 161,68 - 164,53 triệu ha) Nhưng từ năm 2014 đến nay diện tích canh tác lúa trên Thế giới lại có xu hướng giảm dần (từ 164,53 xuống 159,81 triệu ha)

Tuy nhiên, năng suất bình quân tăng ổn định qua từng năm từ 43,37 tấn/ha (năm 2010) và đạt 46,37 tấn/ha (năm 2016) - bảng 2.1

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa thế giới từ năm 2010 - 2016

Năm Diện tích

(Triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Về sản lượng: sản lượng lúa trên thế giới tăng dần qua các năm từ 2010 -

2016 mặc dù diện tích trồng lúa đều giảm qua các năm Sản lượng cao nhất là

Trang 17

năm 2014 (742,3 triệu tấn) Năm 2015, 2016 có xu hướng giảm nhẹ còn 740,96 triệu tấn (năm 2016)

Sản lượng lúa gạo tại châu Á lớn nhất trên toàn thế giới Tỷ lệ này vẫn đang liên tục tăng vì vấn đề dân số gia tăng ở khu vực này Theo thống kê, sản lượng lúa gạo cao chủ yếu nhờ sản lượng tăng mạnh tại Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan và Việt Nam Trong đó, sản lượng lúa gạo của Việt Nam năm

2015 đạt tới 44,7 triệu tấn (năm 2015)

Sản lượng lúa gạo tại Châu Phi đạt 28,7 triệu tấn, tăng 0,8% so với sản lượng năm 2014 Sản lượng tăng tại các nước Tây Phi đã bù đắp những thiếu hụt

do sự suy giảm tại một nước ở Đông và Nam Phi

Tại vùng trung Mỹ và Caribe sản lượng lúa gạo duy trì ở mức ổn định 3 triệu tấn Vùng nam Mỹ sản lượng lúa gạo đạt 25,4 triệu tấn năm 2015 tăng 2,7%

so với cùng kỳ năm 2014 Sản lượng lúa gạo tại châu Âu giữ ở mức ổn định đạt 4,1 triệu tấn năm 2015

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam

a) Tình hình sản xuất lúa chung tại Việt Nam

Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam là cái nôi hình thành cây lúa nước Đã từ lâu cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế xã hội nước ta Cùng với sự phát triển chung của toàn thế giới, trong những năm gần đây sản xuất lúa nước ta không ngừng tăng nhanh cả về năng suất và chất lượng

Hiện nay lúa vẫn là cây lương thực quan trọng nhất ở nước ta, cây lúa cung cấp 85 - 87% tổng sản lượng lương thực trong nước Việc chuyển đổi mục đích sử dụng trong những năm gần đây đã và đang làm giảm đáng kể diện tích đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng Vì thế mặc dù việc thâm canh tăng vụ rất được chú trọng, xong tổng diện tích lúa thu hoạch hàng năm từ năm từ năm 2001 - 2007 đang giảm dần Năm 2007 diện tích lúa của cả nước ta

đã giảm tới 465,300 ha so với năm 2000 (FAO, 2015), từ năm 2010 đến nay diện tích có tăng trở lại và bắt đầu từ năm 2011 đến nay diện tích lúa trên cả nước dần

ổn định và duy trì ở mức 7,66 - 7,83 nghìn ha Theo tổng cục thống kê sơ bộ sản lượng lúa cả năm 2016 ước tính đạt 43,61 triệu tấn, giảm 1,5 triệu tấn so với năm

2015 Trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7.790,4 nghìn ha, giảm so với các năm trước, năng suất đạt 56 tạ/ha, giảm 1,6 tạ/ha so với năm 2015

Trang 18

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lƣợng lúa gạo của Việt Nam trong giai

đoạn từ 2010 - 2016

Năm Tổng diện tích

(Nghìn ha)

Năng suất (Tạ/ha)

Tổng sản lƣợng (Nghìn tấn)

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam (2017)

b) Tình hình sản xuất lúa tại Đồng bằng sông Hồng

Với đặc điểm địa hình chủ yếu là những cánh đồng bằng phẳng và điều kiện khí hậu và thuỷ văn thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa vùng Đồng bằng sông Hồng

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam (2017)

Trang 19

Về diện tích và tổng sản lượng lương thực, Đồng bằng sông Hồng chỉ đứng sau Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng là vùng có trình độ thâm canh cao nên năng suất lúa rất cao Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất

và đạt năng suất cao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình Thái Bình trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất lúa (65,8 tạ/ha - năm 2016) Sản lượng lúa của vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 1 phần nhỏ cả về diện tích và sản lượng lúa cả nước, nhưng là vùng có trình độ thâm canh nên năng suất lúa rất cao

c) Tình hình sản xuất lúa tại Hà Nam

Hà Nam có diện tích tự nhiên là 859,5 km2, có địa hình đồi núi và đồng bằng Địa hình đồi núi nằm ở phía Tây và Tây Nam của tỉnh, thuộc 2 huyện Thanh Liêm và Kim Bảng, chiếm 20% diện tích toàn tỉnh, có độ cao tuyệt đối tới

378 m Đây là vùng có điều kiện giao thông khó khăn nhưng lại là khu vực có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp đặc biệt là công nghiệp vật liệu xây dựng Địa hình đồng bằng chiếm diện tích lớn bao gồm thành phố Phủ Lý, các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục và một phần của hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng Đây là khu vực có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Trên địa bàn tỉnh có 2 sông lớn có điều kiện vận tải thủy là sông Hồng nằm ở phía Đông và Đông Bắc của tỉnh với chiều dài 35 km; sông Đáy nằm ở phía Tây với chiều dài 40 km Ngoài ra sông Châu cũng là một tuyến vận tải quan trọng khi nối với sông Đáy và sông Hồng

Theo kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất năm 2016, nguồn tài nguyên đất của Hà Nam được phân ra như sau:

Tổng diện tích đất tự nhiên: 86.193 ha, trong đó:

Đất nông nghiệp: 53.676 ha chiếm 62,3%

Đất phi nông nghiệp: 30.287 ha chiếm 35,1%

Đất chưa sử dụng: 2.230 ha chiếm 2,6%

Năm 2016, ngành nông nghiệp Hà Nam đạt kết quả tương đối toàn diện, tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 7.240,7 tỷ đồng và

tăng 3,5% so với năm 2015 (theo giá so sánh 2010) Cả ba vụ được mùa,

năng suất lúa cả năm đạt 60,3 tạ/ha; Tổng sản lượng lúa đạt 395.565 tấn, vượt 3,9% kế hoạch

Trang 20

Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tại Hà Nam

Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Sơ bộ

2016 Diện tích (ha) 70.284 69.855 69.084 68.278 67.348 66.861 65.571

Năng suất

(tạ/ha) 59,4 60,8 61,4 57,9 59,6 60,7 60,3 Sản lượng

(tấn) 417.374 424.535 424.465 395.497 401.586 405.612 395.565

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam (2016)

Tại Hà Nam, sản xuất nông nghiệp lúa vẫn là cây trồng chính Diện tích nông nghiệp từ năm 2010 - 2016 đang giảm dần qua các năm (từ 70,29 nghìn ha xuống còn 65,57 nghìn ha), tuy nhiên năng suất lúa vẫn ổn định tăng dần nên sản lượng lúa có giảm nhưng không đáng kể (từ 34,7 xuống còn 32,3 nghìn tấn)

Cơ cấu giống lúa tỉnh Hà Nam gồm có giống lúa lai và lúa chất lượng Trong đó giống lúa lai chiếm 54,8%, lúa chất lượng chiếm 34,1%

- Nhóm giống lúa lai Nhị ưu 838, Thục Hưng 6, Nam Dương 99, Đ ưu 527…: diện tích gieo cấy là 17.548,4 ha, bằng 54,8% diện tích gieo cấy, tăng so với KH là 1,5%, giảm 1.038 ha với vụ Xuân 2016

- Nhóm giống lúa chất lượng hàng hoá như Bắc thơm số 7, Bắc thơm số 7 kháng bạc lá, QR1, HT1, LT2, DT122, Việt Hương Chiếm, Nếp 87, Nếp 97 gieo cấy 10.912 ha bằng 34,1% diện tích, tăng 886 ha so với vụ Xuân 2016, tăng 1,6% kế hoạch vụ xuân 2017

- Nhóm giống lúa thuần như Thiên ưu 8, Khang dân, NA2, TBR225, Ải 32, VĐ8, ĐV108 gieo cấy 3.574,4 ha, bằng 11,1% diện tích, giảm 215,5 ha so với vụ

Xuân 2016 (Theo báo cáo sơ kết sản xuất vụ xuân năm 2017 tỉnh Hà Nam)

Bảng 2.5 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tại huyện Bình Lục - Hà Nam

Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Sơ bộ

2016 Diện tích (ha) 18.413 18.307 18.172 17.038 16.245 16.250 16.240

Năng suất

(tạ/ha) 58,6 59,5 61,4 57,7 59,1 60,5 60,3 Sản lượng (tấn) 107.922 108.925 111.486 98.362 96.058 98.267 97.983

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam (2016)

Trang 21

Huyện Bình Lục là huyện có diện tích canh tác lúa lớn nhất tỉnh, chiếm 24,8% (năm 2016) Năng suất trung bình của huyện cũng đạ tương đối cao (60,3 tạ/ha) bằng năng suất trung bình chung của tỉnh Mặc dù diện tích lúa giảm, nhưng nhờ công tác chọn giống năng suất cao và thâm canh tốt nên sản lượng của huyện đạt tương đối cao (97.983 tấn/năm) đáp ứng được nhu cầu lương thực cho người dân địa phương và những vùng xung quanh

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIỐNG LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về giống lúa trên thế giới

Trong thống kê nông nghiệp của FAO các loại lương thực truyền thống chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ trên thế giới bao gồm năm loại là lúa mì, lúagạo, ngô, kê và đại mạch Trong đó lúa mì và lúa gạo là hai loại lương thực cơ bản nhất dùng cho con người Ngày nay do sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ nhiều ngành nghề mới ra đời nhưng chưa có ngành nào dù hiện đại đến đâu cũng không có thể thay thế được sản xuất lúa gạo (Bùi Huy Đáp, 1999) Vào đầu những năm 1960, Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đã được thành lập tại Losbanos, Laguna, Philippin Sau đó các Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế khác cũng được thành lập ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác nhau như IRAT, EAT, CIAT, ICRISAT (Gomez and De Datta, 1995)

Với sự thành lập của Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế IRRI nhiều giống lúa mới ra đời: giống lúa IR8 và hàng loạt các giống mới như IR5, IR22, IR36 Các nước cũng đã lai tạo ra 178 giống có thành phần di truyền từ IR và thích hợp với mỗi địa phương (Bùi Huy Đáp, 1980) Năm 1970, Viện đã đưa ra giống chống bệnh bạc lá IR497-84-3, IR498-1-88

Ngoài ra, Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI đã lai tạo và chọn tạo hàng trăm giống lúa tốt được trồng phổ biến trên khắp thế giới Các giống lúa IR5, IR36, IR8, IR64, IR50404 và nhiều giống lúa khác đã tạo nên bước nhảy vọt về năng suất Đặc biệt IRRI đã ra giống lúa IR64Sub1 có khả năng chịu mặn và ngập, thời gian sinh trưởng 120 ngày, năng suất đạt 6,2 tấn/ha (Philrice, 2009) Ngoài ra IRRI còn tạo ra 2 giống lúa mới bằng kỹ thuật MAS là Tubigan7, Tubigan11 có khả năng chống chịu sâu đục thân và bệnh bạc lá (Philrice, 2007)

Bui Chi Buu and Nguyen Huu Nghia, (2001) cho biết, tại Mỹ các nhà khoa học đã chọn tạo ra giống lúa Jasmine 85 có thời gian sinh trưởng 100 - 105 ngày, cho năng suất khá (5 - 6 tấn/ha), chất lượng cao

Trang 22

Theo tác giả Edgar Alonso Torres và cs., (2007) cho biết khi kết hợp lai Japonica với Indica có thể tạo ra dòng lúa có năng suất cao và khả năng chịu lạnh tốt Bên cạnh những thành tựu trong công tác chọn tạo giống lúa năng suất cao, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã quan tâm đến chất lượng nấu nướng đối với các dòng, giống lúa cải tiến Hiện nay hàng loạt các dòng giống lúa cải tiếnđược chọn tạo có tiềm năng năng suất cao, chất lượng gạo tốt đang được mở rộng trong sản xuất như: IR29723, IR24, IR50… Tuy nhiên, kết quả chọn tạo giống lúa tẻ thơm chất lượng thường thấp vì hầu hết các giống mang gen chống chịu sâu bệnh đều có hàm lượng amylose cao và nhiệt độ hóa hồ thấp

Yi et al (2009) đã lai 2 giống lúa thơm Basmati 370 với giống địa phương của Myamar đó là Manawthukha để chuyển alen badh 2.1 vào giống mới, sau đó

sử dụng kỹ thuật PCR với mồi aromarker để xác định tính thơm

Hiện nay các nhà chọn giống đang rất tích cực cải thiện bộ giống lúa của

họ, tạo ra nhiều giống lúa có năng suất cao và chất lượng tốt, mang nguồn gen quý của giống Basmati Và một thành công mới bằng kỹ thuật chọn lọc dòng thuần là giống Basmati 370 vào năm 1993 ở Kala Shah Kaku của Pakistan Giống lúa này chất lượng gạo ngon, có mùi thơm được trồng phổ biến ở Ấn Độ

và Pakistan, đồng thời làm tiêu chuẩn xuất khẩu cho nhóm lúa này Tuy nhiên, Basmati 370 có năng suất thấp (1,7 tấn/ha ở phía Tây Punjab; 2,1 tấn/ha ở Pakistan và 3,8 tấn/ha ở phía Đông của Ấn Độ (Giraud, 2010))

Như vậy, xu hướng trong nghiên cứu của các nhà khoa học nông nghiệp hiện nay là tập trung nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên các vùng đất bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng mới vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng nông sản/1 đơn vị diện tích canh tác/1 năm với mục đích xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững (Phạm Văn Tiêm, 2005)

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về giống lúa ở Việt Nam

Ở Việt Nam sản xuất lúa chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp, thu hút hơn 70% dân số và 70% lao động xã hội cả nước Lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu vừa có kim ngạch lớn vừa có tính truyền thống lâu đời Do đó việc nghiên cứu các giống lúa cho năng suất cao, phẩm chất tốt luôn được nhà nước ta quan tâm

Hiện nay, Việt Nam có trên 80% diện tích lúa được trồng bằng các giống lúa cải tiến và ngành nông nghiệp đã làm chủ được các công nghệ tiên tiến trong chọn tạo giống lúa

Trang 23

Cụ thể, Viện Nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long với phương pháp ứng dụng công nghệ sinh học (marker phân tử, nuôi cấy túi phấn) kết hợp với khảo nghiệm đồng ruộng đã chọn tạo giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt như: OM1490, OM2517, OM3536, OM2717, OM2718, OM3405, OM4495

Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm với phương pháp thu thập nguồn vật liệu giống lúa cạn chịu hạn địa phương và các dòng lúa cải tiến nhập nội từ Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) với phương pháp lai hữu tính kết hợp với gây đột biến để tạo ra các tổ hợp lai có khả năng chịu hạn khá và năng suất cao như CH2, CH3, CH 133, CH5, HD8, P6, XH8…trồng rộng rãi ở vùng Trung

du miền núi phía Bắc, Trung bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

Viện Di truyền Nông nghiệp tạo ra hàng loạt giống lúa nổi tiếng như DT10, DT11, A20, DT33, DT122, DT22, DT37, ĐS1,VS1, Khang Dân đột biến, DT68…có năng suất cao chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng rộng là những giống chủ lực của miền Bắc vào những thập niên 90 của thế kỉ trước và tiếp tục phát huy ở thời gian hiện nay

Việt Nam cũng đã làm chủ được công nghệ sản xuất lúa lai hai và ba dòng như Việt Lai 20,TH3-3,TH3- 4, TH3-5… của Trường Đại học Nông Nghiệp 1

Hà Nội, các giống HYT 100, HYT 103, HYT 108, của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm

Ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong lĩnh vực nông nghiệp được coi là giải pháp đột phá xây dựng nền nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện theo hướng hiện đại Tuy nhiên, việc đầu tư nghiên cứu ứng dụng CNSH vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay

Theo báo cáo của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) năm 2015, tổng diện tích gieo trồng của Việt Nam là 7,66 triệu ha Giống lúa đưa vào sản xuất là 255 giống (gồm 155 giống lúa thuần, 81/85 giống lúa lai, lúa nếp là 19/22 giống) Tuy nhiên chỉ có 66 giống lúa chính gồm 46 giống lúa thuần, 5 giống nếp và 15 giống lúa lai, chiếm 91% tổng số diện tích Trong 12 giống lúa chính (chiếm 47% tổng diện tích gieo trồng trong cả nước) có 8 giống lúa của Việt Nam là các giống lúa IR50404, OM5451, OM4900, OM6976, OM4218, OM5954, BC15 và TH 3-3

Trang 24

Mặc dù Việt Nam đã nắm vững được công nghệ trong chọn tạo giống với

số giống được chọn tạo nhiều Hàng năm, Việt Nam đưa ra nhiều giống mới nhưng vẫn chưa có giống lúa đặc sản có thương hiệu để xuất khẩu, tỷ trọng xuất khẩu của các giống lúa chất lượng cao vẫn còn thấp Cho tới bây giờ, chưa có giống lúa xuất khẩu mang thương hiệu Việt Nam Nguyên nhân của việc này là

do Việt Nam đầu tư còn dàn trải, thiếu cán bộ giỏi trong lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là các trang thiết bị máy móc cho nghiên cứu còn quá lạc hậu so với các nước trong khu vực Một số đề tài công nghệ sinh học vẫn chỉ là thí nghiệm, thậm chí không ít đề tài đang nằm lưu cữu trong phòng thí nghiệm Theo các chuyên gia ngành nông nghiệp, việc chậm triển khai đưa các ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, vẫn là lực lượng nghiên cứu công nghệ sinh học còn mỏng, kinh phí đầu tư quá thấp

Trước yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng ngành sản xuất lúa gạo, yêu cầu đặt ra cho các nhà chọn tạo giống lúa là phải có các giống của Việt Nam tạo ra có chất lượng tốt, năng suất cao, chống chịu với phần lớn các yếu tố bất lợi: rầy nâu, đạo ôn, bạc lá, virus, hạn, mặn, ngập trong 10 hoặc 15 năm tới Để làm được điều

đó, chúng ta cần phải có các định hướng cụ thể:

Đối với giống lúa thuần:

- Lựa chọn phát triển 2 - 3 giống lúa thơm bản địa có thương hiệu để tăng năng suất lên 6 - 7 tấn/ha trong điều kiện giữ nguyên các đặc tính hiện có

- Chọn tạo các giống lúa (cấp 2) có khả năng xuất khẩu từ 600 - 800USD/tấn với các đặc tính cụ thể bao gồm: Năng suất 7 - 8 tấn/ha vụ Xuân, 6 tấn/ha vụ Mùa, chiều dài hạt >7mm, hàm lượng amylose < 20%

- Chọn tạo các giống ứng phó với biến đổi khí hậu bao gồm: giống lúa chịu được độ mặn lên đến 8 phần nghìn, năng suất từ 6 - 7 tấn/ha; giống lúa chịu hạn từ 15 - 20 ngày, năng suất từ 5 - 6 tấn/ha; giống lúa chịu úng ngập từ 7 - 12 ngày, năng suất từ 6 - 7 tấn/ha Chọn giống Japonica: năng suất 7 - 8 tấn/ha, hạt tròn, trong, amylose <18%, chống chịu sâu bênh, có mùi thơm

Đối với giống lúa lai:

- Chọn tạo các giống lúa có năng suất cao từ 9 - 10 tấn/ha, hạt dài, thơm; các giống lúa có đặc tính kháng bạc lá, đạo ôn, rầy nâu với năng suất từ 7 - 8 tấn/ha và các giống lúa lai chịu hạn, chịu mặn, thích ứng biển đổi khí hậu, với năng suất 7 - 8 tấn/ha trong vụ xuân, 6 - 7 tấn/ha vụ hè

Trang 25

Để đạt được các yêu cầu trên, Việt Nam cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn sâu theo định hướng phát triển công nghệ hiện đại vào chọn tạo giống Cùng đó, tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu đánh giá, giải

mã gen và thu thập, trao đổi nguồn vật liệu khởi đầu Nhà nước có cơ chế để các công ty được hợp tác cùng các cơ sở nghiên cứu công lập trong việc khai thác nguồn gen, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt thực hiện việc gắn hoạt động của các chuyên gia tạo giống với các doanh nghiệp và doanh nghiệp cùng góp vốn để nghiên cứu

Ngoài ra tăng cường hiệu quả hoạt động bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ Đây là một yêu cầu rất quan trọng để khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và phát triển khi các sản phẩm nghiên cứu của họ được bảo vệ

Về khoa học và công nghệ, khâu giống lúa có công đầu tiên trong quá trình tăng sản lượng lúa gạo từ khởi điểm nước ta phải nhập có năm hàng triệu tấn gạo, đến dư thừa để xuất khẩu gạo ổn định ở mức 3,5 - 4 triệu tấn gạo hàng năm Ðóng góp của khâu giống lúa vào quá trình tăng sản lượng ở cả hai mặt: cơ cấu giống lúa và cơ cấu mùa vụ

Về cơ cấu giống lúa: giống địa phương được thay dần bằng giống lúa cao sản xuất khẩu có năng suất và giá trị sản lượng cao hơn Về cơ cấu mùa vụ: do giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn cho nên tăng được vụ lúa và luân canh lúa với cây màu (ngô, khoai, rau đậu ), hay với một vụ thủy sản; đồng thời tổng giá trị sản lượng lúa - cá/tôm tăng vượt bậc, như nhiều mô hình có tổng thu nhập vượt 50 triệu đồng/ha, nhiều trường hợp đạt hàng trăm triệu đồng như ở Đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) và nhiều nơi khác Ở Đồng bằng sông Hồng, vụ lúa xuân trồng bằng giống mới bắt đầu thay dần lúa chiêm từ thập kỷ

60 đến thập kỷ 70 của thế kỷ trước thì cơ bản hoàn tất, đã đưa sản lượng lúa ở các tỉnh phía bắc tăng rất nhanh

Nếu tính trên diện tích sản xuất lúa cả nước, thì nhóm giống lúa tạo chọn trong nước chiếm 42,2%; nhóm nhập chiếm 43,8% Nếu tính riêng vựa lúa ÐBSCL, tỷ lệ trên sẽ nghiêng hẳn về nhóm giống tạo chọn trong nước (khoảng 70% - 80% về loại giống và về diện tích) Nếu kể mười giống lúa hàng đầu đã chiếm diện tích 65% tổng số diện tích năm 2001 ở ÐBSCL, thì có tám giống tạo chọn trong nước là: OM1490, VND 95-20, OMCS 2000, OM576, OM2031, AS

996, nếp các loại, và TNÐB 100; có hai giống nhập là IR 50404, và IR 64

Trang 26

Sự đổi mới về chủng loại và chất lượng giống lúa cũng khá rõ nét: các nhà khoa học Việt Nam đã tạo chọn và thuần hóa giống nhập một tập đoàn giống lúa khá phong phú đáp ứng yêu cầu đa dạng của sản xuất trên những vùng sinh thái thâm canh, chua phèn, mặn lợ, hạn, úng, vùng đồi núi đất dốc Hiện nay giống lúa có hàm lượng amylose trong gạo (20% - 24%, cơm dẻo) đáp ứng nhu cầu xuất khẩu đã chiếm hơn 60% thay vì dưới 20% trước đây Về thời gian sinh trưởng từ gieo sạ đến khi thu hoạch, nước ta đã có một tập đoàn hàng chục giống lúa dưới 90 ngày, có giống lúa như OMCS 21 trên dưới 80 ngày được xếp loại cao sản xuất khẩu, đã đạt 7 - 8 tấn/ha Trong một văn bản do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa phát hành đã xếp những giống lúa trên vào một nhóm riêng biệt, nhóm Ao, bên cạnh những nhóm do IRRI đề xuất là A1, A2, B

Các nhà khoa học Việt Nam đang tiếp cận những phương pháp hiện đại tạo chọn giống lúa mới, như công nghệ di truyền (GMO), đột biến, nuôi cấy mô Ðến nay, những giống lúa có trong sản xuất chủ yếu vẫn là những giống lúa tạo chọn bởi phương pháp truyền thống với giống bố và giống mẹ Phương pháp nào cũng là tạo biến dị rồi liên tục chọn tuyển những dòng tốt ngoài đồng cho đến khi

ra giống, mà khâu sau nhiều khi đóng vai trò quyết định Nói chung, các nhà khoa học trẻ còn yếu khâu này so với thế hệ trước Lúa lai đã góp phần tăng sản lượng lúa đáng kể ở các tỉnh phía bắc với hạt giống phần lớn nhập từ Trung Quốc Tuy nhiên, các nhà khoa học ở nước ta đã có tiến bộ đáng khích lệ, như đã tạo và sản xuất được hạt giống lúa lai ba dòng, hai dòng với số lượng ngày một tăng và được sản xuất chấp nhận Trường đại học Nông nghiệp 1 đã thành công trong việc tạo giống lúa lai hai dòng, được một doanh nghiệp ở TP Hải Phòng mua bản quyền 350 triệu đồng Ðây là lần đầu trong nước về mua bản quyền giống mới Các nhà khoa học mong muốn có một "trợ giá" nào đó như trợ giá lúa lai nhập để đưa lúa lai cũng như những tiến bộ về giống và kỹ thuật mới vào sản xuất dễ dàng hơn

2.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN ĐẠM CHO LÚA

2.3.1 Tình hình sử dụng phân bón đạm cho lúa trên thế giới

Trong số các nguyên tố đa lượng thiết yếu thì đạm được xem là nguyên tố quan trọng nhất trong quá trình sinh trưởng và hình thành năng suất lúa, đạm luôn là yếu tố hạn chế năng suất hàng đầu trên tất cả các loại đất (De Datta, 1981) Lúa cần đạm trong suốt quá trình sinh trưởng sinh dưỡng để tích lũy chất khô và đẻ nhánh, điều này xác định số lượng bông Đạm góp phần tạo nên số hạt

Trang 27

trong giai đoạn phân hóa đòng, tăng kích thước hạt bằng giảm số lượng hoa thoái hóa và tăng kích thước vỏ trấu trong suốt giai đoạn làm đòng Đạm góp phần tích lũy hydratcacbon trong thân lá ở giai đoạn trước trỗ và trong hạt ở giai đoạn vào chắc vì chúng phụ thuộc vào tiềm năng quang hợp (Mae, 1997)

Quang hợp của lúa trong giai đoạn vào chắc chiếm khoảng 60 - 100% hàm lượng hydratcacbon trong hạt, phần còn lại là do bộ phận khác chuyển đến (Yoshida, 1983) Để đạt được năng suất hạt cao nhất thì hoạt động trao đổi chất trong hạt phải trùng với giai đoạn lá lúa có hoạt động quang hợp mạnh nhất Thực tế năng suất lúa cao ở những giống mà lá có thể duy trì hoạt động quang

hợp đến tận giai đoạn vào chắc (Murchie et al., 1999) Bón đạm làm tăng diện

tích lá, bề rộng của tán lá, duy trì hoạt động quang hợp của cây vì vậy quyết định đến năng suất lúa (Mae, 1997)

Nhiều thí nghiệm về hiệu lực, liều lượng sử dụng đạm trong mối quan hệ

với các yếu tố khác đã được tiến hành Ladha et al., 2003 so sánh năng suất lúa

và yêu cầu dinh dưỡng đạm qua các năm cho biết: Thời kì trước Cách mạng xanh năng suất lúa rất thấp chỉ đạt 3 tấn/ha và lượng đạm cần bón là 60kg N/ha Trong những năm đầu cuộc Cách mạng xanh, năng suất hạt đạt gần 8 tấn/ha thì lượng đạm cần bón là 160kg N/ha Giai đoạn thứ 2 của Cách mạng xanh năng suất mong đợi là 12 tấn/ha và lượng đạm cần bón khá cao là 240 kg N/ha

Nghiên cứu của Norman et al., 1992 chứng minh rằng: Hiệu quả sử dụng

đạm không chỉ phụ thuộc vào điều kiện đất đai, mùa vụ mà còn phụ thuộc vào giống … Giống Indica sử dụng đạm có hiệu quả hơn giống Japonica Thí nghiệm nghiên cứu 5 giống lúa, trong đó 2 giống thuộc loài Indica, 3 giống thuộc loài Japonica cho kết quả: Sự tích lũy chất khô của các giống dao động từ 8,5 - 39,3%, hệ số sử dụng đạm dao động từ 44,7 - 66,7% Hệ số sử dụng đạm và chất khô của giống thấp cây, chín muộn cao hơn giống cao cây, chín sớm hoặc chín trung bình Thường thì giai đoạn hoa nở nếu giống nào tích lũy được nhiều đạm

và chất khô thì chúng sẽ di chuyển vào hạt nhiều hơn vì vậy năng suất cũng cao

hơn (Ntanos et al., 2002)

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, tăng lượng đạm bón làm tăng

cường độ quang hợp của cây lúa (Gu et al., 2015) Tuy nhiên, việc thay đổi liều

lượng đạm trong một phạm vi nhất định không làm sai khác giá trị cường độ quang hợp ở mức ý nghĩa Như kết quả nghiên cứu của Tang Thi Hanh và cs (2008) đã chỉ ra rằng cường độ quang hợp của giống Việt Lai 20 ở giai đoạn 7

Trang 28

ngày sau trỗ khi bón thiếu đạm (0,8gN/chậu 5 lít) là tương đương với khi bón đủ

đạm (1,6gN/chậu) Tương tự như trên, Li et al., (2012) cho rằng, cường độ quang

hợp của giống Shanyou 63 chỉ khác nhau giữa hai mức bón đạm thấp 20mgN/lít

và mức bón đạm cao 100mgN/lít, nhưng ở nồng độ đạm trung bình 40mgN/lít cho kết quả khác không ý nghĩa với mức thấp và mức cao

Bón các mức đạm khác nhau ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu sinh trưởng

và phát triển của cây lúa Theo kết quả nghiên cứu của Yoshinaga et al (2013),

khi bón đạm ở mức 9gN/m2 lên mức 18gN/m2 cho thời gian sinh trưởng của 5 giống lúa (Nipponbare, Bekoaoba, Momiroman, Takanari và Hokuriku 193) không khác nhau Tuy nhiên, khi tăng lượng đạm bón từ mức chuẩn lên mức cao đều làm tăng thời gian sinh trưởng của các giống Chnyou84, Zhongzao39 và

Xiangwanxian12 lên 1 - 2 ngày (Chen et al., 2017); Cũng theo kết quả nghiên cứu của Chen et al., (2017) cho thấy, tăng lượng đạm bón từ đạm chuẩn (142,5

kgN/ha) lên đạm cao (202,5 kgN/ha) làm tăng tốc độ tích lũy chất khô của trung bình 3 giống lúa thí nghiệm ở chính vụ từ 12,7 lên 13,4 g/m2/ngày, trong vụ sớm

từ 12,1 lên 12,7 g/m2/ngày và trong vụ muộn từ 12,8 lên 13,3 g/m2/ngày Khi bón đạm với liều lượng diệp lục trong lá cao hơn so với mức bón đạm chuẩn

(Yoshinaga et al., 2013)

Tăng lượng đạm bón làm tăng khối lượng chất khô (Qiao et al.,2013, Yoshinaga et al., (2013) Tuy nhiên, khi tăng lượng đạm đến một giới hạn nhất

định thì chỉ số thu hoạch giảm xuống Ví dụ như kết quả nghiên cứu của

Yoshinaga et al.(2013) cho thấy khi ở điều kiện đạm chuẩn (9g/m2) thì chỉ số thu hoạch trung bình của 5 giống (Nipponbare, Bekoaoba, Momiroman, Takanari và Hokuriku 193) trong năm 2009 và 2010 đạt lần lượt là 0,39 và 0,37, nhưng khi ở điều kiện đạm cao (18g/m2) chỉ số này giảm xuống còn 0,37 và 0,35 Tuy vậy,

chỉ số thu hoạch chỉ giảm khi bón lượng đạm cao, bởi theo tổng kết của Gu et al (2015), chỉ số thu hoạch của các giống lúa japonnica được tách ra trên lưu vực

sông Dương Tử đã tăng từ 36,5% trong những năm 1950 đến 48,9% trong những năm 2000 cùng với lượng đạm tăng trung bình 4%/năm

Liều lượng đạm bón ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất, cụ thể

số bông/m2

sẽ tăng khi tăng từ mức đạm chuẩn lên mức đạm cao (Yoshinaga et

al., 2013) Tương tự như vậy, kết quả nghiên cứu của Qiao et al (2013) cũng chỉ

ra rằng số bông/m2 tăng tuyến tính với mức phân bón 135, 189, 216, 243 và 270 kgN/ha; Khi bón đạm cho dòng T29s

cho thấy: Tỷ lệ hạt chắc không tăng từ mức

Trang 29

1N (0,05 g/chậu 2 lít) lên 2N (0,15 g/chậu 2 lít), nhưng giảm khi tăng lượng bón đạm lên 4N (0,3g/chậu 2 lít) Tỷ lệ hạt chắc của dòng D101 thì tăng từ 1n (đạt 87,0%) lên 2n (đạt 90,7%), nhưng tiếp tục tăng lượng đạm lên 4n thì tỷ lệ hạt chắc giảm còn 76,5% (Pham Van Cuong và cs., 2003)

Trung bình để tạo ra 1 tấn lúa cần bón lượng đạm là 20kg, lượng đạm bón

tăng thì năng suất sẽ tăng Theo kết quả nghiên cứu của Gu et al (2015), năng

suất hạt tăng dần từ những năm 1950 (3,13 tấn/ha) đến năm 2000 (9,44 tấn/ha) qua các mức đạm khác nhau với mức tăng trung bình hàng năm là 4% Trong 3

năm 2008, 2009, 2011, Qiao et al (2013) chỉ ra rằng, năng suất thực thu của

giống lúa Zhendao 10 khác nhau không ý nghĩa giữa các mức đạm bón 135, 189,

216, 243 và 270kgN/ha Nhưng theo kết quả nghiên cứu của Jian et al (2014)

cho thấy năng suất cho tất cả các giống (Guangliangyou - 19, Chuanyou - 4198, Zheyou - 3 và Yangliangyou 6) đều tăng từ mức bón 0 đến 90 và 135 kgN/ha, nhưng được duy trì khi tăng mức bón lên 180kgN/ha

Norman et al.,1992 khẳng định nếu đạm được hấp thu với lượng thích hợp

trong suốt quá trình sinh trưởng thì lúa cho năng suất cao Trong điều kiện khí hậu châu Á, khi tăng lượng đạm bón và bón vào thời điểm thích hợp thì năng suất có thể đạt trên 10 tấn/ha nếu cây không bị đổ hoặc bị sâu bệnh phá hoại Muốn tăng năng suất cần duy trì hàm lượng đạm trong lá cao qua giai đoạn lúa vào chắc Khi bón đạm không đúng yêu cầu của cây thì lượng đạm bị mất càng

nhiều hơn do hiệu quả sử dụng đạm thấp (Aggarwal et al.,1997)

Ở Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế thường bón 115kg N/ha và chia làm 3 lần, để đạt được năng suất cao hơn thì lượng đạm cần bón là 145kg N/ha và chia

làm 4 lần (Kroff et al.,1994) Ở Bangladesh lượng đạm khuyến cáo là 80kg N/ha, chia làm 3 lần bón vào thời gian 15, 30 và 50 ngày sau cấy (Murshedul Alam et

al., 2005)

2.3.2 Tình hình nghiên cứu phân đạm bón cho cây lúa ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước sử dụng phân bón tương đối cao do người dân áp dụng rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Việt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới Trong

đó, lúa có nhu cầu phân bón lớn nhất chiếm 65% trong nhu cầu tiêu thụ phân bón ở Việt Nam

Trang 30

Theo FAO (2015), lượng phân bón sử dụng của Việt Nam đang có mức cao lên đến 297kg/ha so với mức 156kg/ha của các quốc gia lân cận, điều này làm năng suất lúa Việt Nam cao hơn so với các quốc gia lân cận (55,7 tạ/ha so với 38,9 tạ/ha, 2011) nhưng do tình trạng ô nhiễm môi trường vì lạm dụng loại phân bón hóa học nên lượng phân bón sử dụng giảm dần trong những năm gần đây

Theo dự báo của Hiệp hội Công nghiệp Phân bón Quốc tế (IFA), trong năm 2015 cả nước cần khoảng 10,83 triệu tấn phân bón các loại không thay đổi

so với năm 2014

Hiện nay, trong sản xuất để được năng suất tối đa con người đã quá lạm dụng phân bón hóa học, gây lãng phí nghiêm trọng Theo số liệu tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực nông hóa học ở Việt Nam, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm mới chỉ đạt từ 35 - 45%, lân từ 40 - 45% và kali từ 40 - 50%, tùy theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp bón, loại phân bón…

Hệ số sử dụng chất dinh dưỡng của phân bón ở nước ta thấp Đối với lúa

hệ số sử dụng đạm là 30 - 40%, lân là 22% và kali là 45% Tỷ lệ đạm cây hút được trên lượng đạm bón chỉ vào khoảng 30 - 50% vùng nhiệt đới, tùy thuộc vào tính chất đất, phương pháp, số lượng, thời gian bón đạm, Tỷ lệ này có xu hướng cao khi mức đạm bón thấp và vùi sâu đạm vào trong đất hoặc bón thúc ở các thời

kỳ sinh trưởng về sau Hiệu quả sử dụng đạm là số kg hạt lúa, ngô thu được khi cây hấp thu 1kg đạm Ở vùng nhiệt đới, hiệu suất sử dụng đạm vào khoảng 50 kg hạt Nguyên nhân của hiệu quả sử dụng phân bón thấp là do đạm trong đất lúa bị mất đi qua các con đường sau: do bốc hơi dưới dạng NH3, do rửa trôi bề mặt, rửa trôi theo chiều sâu nhất là dạng nitrat (NO3-) bay hơi dưới dạng N2 do hiện tượng phản nitrat hóa

Theo Nguyễn Như Hà (2006), nên sử dụng phân NPK chuyên dụng cho lúa Đó là phân đa yếu tố cung cấp đủ chất dinh dưỡng không chỉ đa lượng (N, P, K) mà cả trung lượng (Ca, Mg, S) và vi lượng (Fe, Mn, Cu,…) nên tiết kiệm được chi phí phân bón

Trong các nguyên tố dinh dưỡng, đạm là chất dinh dưỡng quan trọng nhất Cây lúa cần đạm trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng, tuy nhiên giai đoạn đẻ nhánh lúa cần nhiều đạm nhất (Nguyễn Văn Hoan, 2006) Cung cấp đủ đạm và đúng lúc làm cho lúa đẻ nhánh nhanh, tập trung tạo nhiều nhánh hữu hiệu Đạm thúc đẩy hình thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất khác như số

Trang 31

hạt/bông, khối lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt chắc Vì vậy, bón đạm ở giai đoạn làm đòng ảnh hưởng quyết định đến năng suất Mặt khác bón đạm làm tăng hàm lượng protein nên ảnh hưởng đến chất lượng gạo Đạm cũng ảnh hưởng đến đặc tính vật lý và sức đề kháng đối với sâu bệnh hại lúa Thừa hoặc thiếu đạm đều làm lúa dễ nhiễm sâu bệnh hại do sức đề kháng giảm (Nguyễn Như Hà, 2006; Nguyễn Văn Hoan, 2006)

Thiếu đạm làm cho cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, đòng nhỏ, khả năng trỗ kém, số hạt/bông ít, lép nhiều, năng suất thấp Thừa đạm làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao, lốp, đổ non ảnh hưởng xấu đến năng suất và phẩm chất lúa Trong quá trình sinh trưởng, cây lúa có nhu cầu đạm tăng đều từ thời kỳ đẻ nhánh tới trỗ và giảm sau trỗ Lượng đạm cần thiết để tạo ra một tấn thóc từ 17 - 25 kgN, trung bình cần 22,2 kgN (Nguyễn Thị Lẫm, 2003)

Nghiên cứu của Nguyễn Như Hà và cs (2000) cho kết quả: Để năng suất lúa đạt 5,0 - 5,5 tấn/ha/vụ, đảm bảo phẩm chất tốt, hiệu suất phân bón cao

và ổn định độ phì đất cần bón 120 kgN/ha Muốn thu được 7 tấn/ha, các giống lúa cao sản cần bón 150 kgN/ha (Nguyễn Văn Hoan, 2006) Thực tế lượng đạm bón cho lúa khác nhau giữa các vùng Ở miền Bắc nông dân thường bón với lượng trung bình 103,2 kgN/ha (Nguyễn Văn Bộ và cs., 1996) Lượng phân khuyến cáo cho lúa cao sản ở vùng đất phù sa cặp giữa 2 sông Tiền và sông Hậu là 100 - 120 kgN/ha trong vụ Đông Xuân và 80 - 100 kgN/ha trong

vụ Hè Thu hoặc Xuân Hè Trên đất phèn vùng Tứ giác Long Xuyên, ở vụ Xuân bón 80 - 100 kgN/ha, vụ Hè thu bón 60 - 80 kgN/ha, một phần diện tích nhỏ từ Long An đến Cà Mau bón 30 - 50 kgN/ha

Thời kỳ bón đạm tố nhất cho lúa gồm: Bón lót, thúc đẻ, thúc đòng và có thể bón nuôi hạt (Nguyễn Như Hà, 2006) Ở thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng lúa cần nhiều đạm vì vậy bón đạm hợp lý vào hai thời kỳ này làm tăng khả năng đẻ nhánh, tạo bông lúa, tăng cường quá trình phân hóa hoa và số lượng hạt phấn Phần lớn đạm được bón sớm để đẻ nhánh tốt, hình thành nhiều bông và nhiều hạt Việc bón đạm quá muộn làm cây đẻ nhánh không tập trung, sâu bệnh phát sinh phá hoại mạnh (Nguyễn Văn Bộ và cs., 2003) Cây lúa thường bị thừa đạm vào thời kỳ kết thúc đẻ nhánh hữu hiệu, trước và sau khi trỗ bông (Nguyễn Thị Lẫm và cs., 2003)

Trang 32

Hiệu quả sử dụng đạm của lúa rất thấp, chưa tới 40% (Phạm Sĩ Tân, 1997) Trên đất phù sa không được bồi đắp thường xuyên của hệ thống sông Hồng với mức bón từ 80 - 240 kgN/ha, hệ số sử dụng đạm biến thiên từ 17,1 - 47,4% trong vụ Xuân, từ 24,3 - 38,6% trong vụ Mùa Trên đất bạc màu bón với lượng từ 40 - 120 kgN/ha thì hệ số sử dụng đạm ở vụ Mùa biến thiên từ 17,7 - 37,5% Cứ 1 kg N lúa hút được từ đất và phân bón cho bội thu 38 - 41 kg thóc ở

vụ Xuân và 60 kg thóc ở vụ Mùa Trên các loại đất có vấn đề (đất gley, đất bạc màu) khi các yếu tố hạn chế khác chưa được khắc phục thì vai trò của đạm không phát huy được Bón N hoặc NP năng suất lúa lai chỉ tăng 17,7% trên đất bạc màu, 11,5% trên đất gley (Nguyễn Văn Bộ và cs., 1996)

Để nâng cao hiệu quả sử dụng đạm ở ruộng lúa, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành Theo Bùi Huy Đáp (1985); Nguyễn Như Hà (2006): Khi đạm được bón sâu 5 - 10 cm vào tầng khử của đất thì hiệu quả sử dụng đạm cao hơn Bón đạm vào tầng khử, đạm được các keo đất giữ dưới dạng NH4+, cung cấp dần cho lúa, ngăn chặn việc hình thành NO3-, hiệu lực của đạm có thể tăng lên gấp đôi Bón đạm sâu còn ngăn chặn việc bốc hơi NH3 vào tầng khí quyển (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) Tuy nhiên, biện pháp này chỉ thích hợp với lần bón lót trước khi bừa lần cuối, không nên bón khi cày lần đầu vì đất chưa đủ mức độ khử để ngăn chặn quá trình nitrat hóa Ruộng sau khi bón phân phải giữ ngập nước 3 - 5 cm

để hạn chế mất đạm (Nguyễn Như Hà, 2006)

Nghiên cứu mức đạm bón ảnh hưởng đến số bông/m2 Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Văn Duy (2009) đã chỉ ra rằng số bông/m2 của giống lúa Xi23 tăng lên ở mức ý nghĩa khi tăng mức bón đạm từ 90 lên 120 và 150kgN/ha, tiếp tục tăng mức bón đạm lên trên 150kgN/ha không làm tăng chỉ tiêu này Ngoài ra, bón đạm trên mức 150kgN/ha giống N18 cho số bông/m2 có xu hướng giảm (Nguyễn Thị Lan và cs., 2007); Số hạt trên bông trung bình của 3 dòng/giống IL03-4-2-2, IL19-4-3-1 và Khang dân 18 trong vụ Mùa 2011 và vụ Xuân 2012 chỉ tăng từ mức 0kgN/ha (183,0 - 189,8 hạt/bông) lên mức bón 45kgN/ha (119,4 - 227,3 hạt/bông), tiếp tục tăng lên mức bón 90kgN/ha (204,2 - 231,4 hạt/bông) không làm tăng số hạt/bông ở mức ý nghĩa (Tăng Thị Hạnh và cs., 2013) Tuy nhiên, cũng theo nghiên cứu của Tăng Thị Hạnh, (2014) lượng đạm bón không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ hạt chắc trên các giống ngắn ngày cũng như giống đối chứng Khang dân 18

Trang 33

Nhiều nghiên cứu cho rằng tăng mức bón đạm thì đều làm tăng năng suất lúa (Phạm Văn Cường và cs., 2005; Tăng Thị Hạnh và cs., 2014) Tuy nhiên, khi tăng mức đạm bón lên cao thì không làm tăng năng suất và mỗi giống lúa khác nhau có giới hạn bón đạm khác nhau, theo nghiên cứu của Tăng Thị Hạnh và cs., (2013) khi tăng mức bón đạm từ 0 đến 45 kgN/ha năng suất thực thu của 2 dòng lúa ngắn ngày mới chọn tạo (IL03-4-2-2 và IL19-4-3-1) và giống Khang dân 18 tăng có ý nghĩa, tiếp tục tăng mức bón lên 90 kgN/ha, năng suất tăng không có ý nghĩa so với mức bón 45kgN/ha trong cả 2 vụ Tương tự như vậy, khi nghiên cứu các mức đạm bón trên giống Xi23 tác giả Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Văn Duy,

2009, khẳng định tăng mức bón đạm từ 120kgN lên 150kgN/ha tạo ra năng suất sai khác không có ý nghĩa Năng suất thực thu của giống Nếp Ốc bón lượng đạm trên 135 kgN/ha thì sẽ giảm (Dương Thị Hồng Mai và cs., 2012)

Trang 34

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 VẬT LIỆU VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Giống: Gồm 5 giống lúa tham gia thí nghiệm:

Giống lúa Thiên ưu 8

+ Nguồn gốc xuất xứ: Là giống lúa thuần chất lượng, tiềm năng năng suất

cao do Công ty cổ phần Giống cây trồng Trung ương chọn tạo

+ Đặc điểm của giống: Là giống cảm ôn, nên gieo cấy được cả hai vụ

Chiều cao cây 100 - 110 cm, phiến lá phẳng đứng, gọn khóm, màu xanh đậm, đẻ nhánh tập trung Thời gian sinh trưởng: Khu vực Đồng bằng sông Hồng và Trung

du Bắc Bộ vụ Xuân 125 - 130 ngày; vụ mùa 100 - 105 ngày Năng suất trung bình 70 - 75 tạ/ha, thâm canh đạt 85 - 90 tạ/ha Hạt thon, dài, mỏ cong, màu vàng sáng, khối lượng 1000 hạt 20 - 21 gram, chất lượng gạo tốt, cơm trắng, bóng, mềm, vị đậm Khả năng chống đổ khá, chống chịu khá với một số sâu bệnh hại chính (đạo ôn, khô vằn, bạc lá…), phạm vi thích ứng rộng

Giống lúa bắc thơm số 7

+ Nguồn gốc xuất xứ: Là giống lúa thơm, chất lượng cao có nguồn gốc từ

Trung Quốc được Trung tâm Khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương nhập nội

và giới thiệu vào sản xuất từ năm 1992

+ Đặc điểm của giống: Là giống cảm ôn nên gieo cấy được cả hai vụ

Thời gian sinh trưởng: vụ xuân 135 - 140 ngày, vụ mùa 115 - 120 ngày Cao cây

từ 90 - 95 cm, đẻ nhánh khá, hạt thon nhỏ, màu vàng sẫm Khối lượng 1000 hạt

19 - 20 gram, phẩm chất gạo ngon, cơm thơm, mềm Năng suất trung bình 45 -

50 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 55 - 60 tạ/ha Chống đổ trung bình, chịu rét khá Nhiễm rầy, đạo ôn, khô vằn từ nhẹ đến trung bình Nhiễm bạc lá trong vụ mùa

Giống TBR 225

+ Nguồn gốc xuất xứ: giống lúa TBR 225 do ThaiBinh Seed nghiên cứu,

chọn tạo từ năm 2006 Qua quá trình chọn lọc làm thuần, đến vụ xuân năm 2014, giống lúa có năng suất ổn định và được Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) công nhận chính thức tháng 6/2015

Trang 35

+ Đặc điểm của giống: Giống lúa TBR 225 có thời gian sinh trưởng

ngắn (đối với các tỉnh miền Bắc vụ xuân từ 125 - 130 ngày, vụ mùa từ 100 -

105 ngày) Lá đòng thẳng, cứng cây, trỗ bông tập trung, bông to dài, kháng sâu bệnh, năng suất cao, gạo trong, cơm dẻo, ngon, có mùi thơm nhẹ Đặc biệt giống lúa này có thể thích ứng với nhiều chất đất khác nhau Theo đánh giá của nông dân, giống lúa TBR 225 chống chịu với các loại sâu bệnh tương đối tốt, đặc biệt nhiễm rất nhẹ bệnh đạo ôn ở vụ xuân, riêng vụ xuân năm 2016 có tới

80 - 90% các hộ cấy giống TBR 225 chưa phải phun trừ bệnh đạo ôn Đến thời điểm này, giống lúa TBR 225 tại một số vùng đã cho thu hoạch, năng suất đạt

từ 70 - 80 tạ/ha

Giống lúa Khang dân 18

+ Nguồn gốc xuất xứ: Là giống lúa thuần Trung Quốc, có tiềm năng năng

suất cao, chất lượng tốt Do Công ty cổ phần Giống cây trồng Quảng Ninh nhập nội từ vụ mùa 1996, được nhiều địa phương khảo nghiệm, trồng thử Được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật theo Quyết định số 1659 QĐ/BNN-KHCN ngày

13 tháng 5 năm 1999

+ Đặc điểm của giống: Là giống lúa ngắn ngày, thời gian sinh trưởng vụ

xuân 130 - 135 ngày, vụ mùa sớm 105 -110 ngày Chiều cao cây từ 95 - 100 cm, phiến lá cứng, rộng, gọn khóm, màu xanh vàng, khả năng đẻ nhánh trung bình Năng suất trung bình 40 - 45 tạ/ha, thâm canh tốt 55 - 60 tạ/ha Hạt thon, nhỏ, màu vàng đẹp, khối lượng 1000 hạt 19,5 - 20 gram, chất lượng gạo tốt, cơm ngon Khả năng chống đổ trung bình, nhiễm khô vằn, đạo ôn từ nhẹ đến trung bình, phạm vi thích ứng rộng

Giống lúa T10

+ Nguồn gốc xuất xứ: Do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn

tạo và đã chuyển giao bản quyền tác giả cho Công ty TNHH Hưng Cúc

+ Đặc điểm của giống: Là giống cảm ôn nên gieo cấy được cả hai vụ

Thời gian sinh trưởng tương đương giống Bắc thơm số 7 Tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và trung du Bắc Bộ vụ Xuân 130 - 135 ngày, vụ mùa 105 - 110 ngày (nếu gieo sạ thời gian rút ngắn 3 - 5 ngày) Cây cao 95 - 100 cm, tán lá gọn Lá ngắn, màu xanh vàng, số bông nhiều hơn, bông to, nhiều hạt so với giống Bắc thơm số 7 Trung bình 180 - 250 hạt chắc/bông, hạt thon nhỏ, màu hạt nâu sẫm Dạng hình cây so với Bắc thơm số 7 cứng cây hơn, dai gốc hơn và chịu thâm

Trang 36

canh cao hơn Năng suất cao hơn Bắc thơm số 7 từ 10 - 13 %, trung bình đạt 55 -

60 tạ/ha, thâm canh cao đạt 70 - 75 tạ/ha Chất lượng gạo có nhiều cải tiến hơn Bắc thơm số 7: cơm không ướt, vị đậm hơn, hương thơm ít thăng hoa nên mùi thơm còn giữ lâu hơn, cơm mềm và ngon hơn Vì gạo T10 có nhiều dầu, không xát gạo quá trắng, không vo xóc gạo, chỉ nên đãi gạo, ăn sẽ ngon hơn Nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn, khô vằn nhiễm bạc lá mức trung bình, chống đổ và chịu rét khá

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu

Phân bón gốc:

* Ure Phú Mỹ (46% N)

* Supe lân (18% P2O5)

* Kaliclorua (60% K2O)

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Thời gian tiến hành: Vụ Xuân năm 2017

- Địa điểm nghiên cứu: huyện Bình Lục - tỉnh Hà Nam

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa trồng vụ Xuân 2017 tại Bình Lục - Hà Nam

- Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa giống Thiên ưu 8 trồng vụ Xuân 2017 tại Bình Lục - Hà Nam

3.3 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM

* Thí nghiệm 1: Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số

giống lúa trồng vụ Xuân 2017 tại Hà Nam

Thí nghiệm được bố trí theo 5 công thức (5 giống):

- Công thức 1: Thiên ưu 8

Trang 37

+ Khi cây mạ được 29 ngày bắt đầu cấy Thí nghiệm được cấy theo mật độ phổ biến ở địa phương: Hàng cách hàng: 30cm, cây cách cây: 20 cm, khoảng cách giữa các ô trong thí nghiệm: 50cm

+ Nền phân bón cho các công thức: 8 tấn phân chuồng + 420 kg vôi bột + 90Kg N + 90 Kg P2O5 + 60Kg K2O/ha

* Sơ đồ thí nghiệm 1:

- Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển

và năng suất lúa giống Thiên ưu 8 trồng vụ Xuân 2017 tại Hà Nam

Trang 38

+ Khi cây mạ được 29 ngày bắt đầu cấy Thí nghiệm được cấy theo mật độ phổ biến ở địa phương: Hàng cách hàng: 30cm, cây cách cây: 20 cm, khoảng cách giữa các ô trong thí nghiệm: 50cm

+ Làm cỏ kết hợp với bón thúc lần 1 và lần 2, tưới nước đầy đủ

+ Phòng trừ sâu bệnh kịp thời khi phát hiện sâu bệnh

3.5 CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI

Mỗi ô theo dõi 10 cây chọn ngẫu nhiên, 5 điểm theo phương pháp đường chéo góc Theo dõi định kỳ 10 ngày 1 lần

Giai đoạn từ cấy đến thu hoạch

Dải bảo vệ

Trang 39

a/ Các chỉ tiêu sinh trưởng

+ Ngày trổ hoàn toàn (90%)

- Thời kỳ chín: Chín sữa - Chín sáp - Chín hoàn toàn

- Động thái tăng trưởng chiều cao (cm/cây): Dùng phương pháp đo mút lá

Đo 5 điểm chọn trước (theo phương pháp đường chéo) đã được đánh dấu, mỗi điểm chọn 2 khóm để đo

Đo chiều cao cây tính từ gốc cho đến mút lá khi lúa chưa trổ, đầu bông kể

cả râu khi lúa đã trổ

- Động thái đẻ nhánh (nhánh/cây): Tiến hành đếm số nhánh trong một khóm lúa, 7 ngày 1 lần khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh

- Xác định nhánh hữu hiệu và vô hiệu

Lấy 5 điểm chọn trước (theo phương pháp đường chéo) đã được đánh dấu, mỗi điểm chọn 2 khóm để đếm số nhánh rồi lấy giá trị trung bình

b/ Các chỉ tiêu sinh lý

Tiến hành lấy mẫu ở 3 thời kỳ: Đẻ nhánh rộ - Làm đòng - Trỗ hoàn

toàn - Chín sáp Mỗi ô thí nghiệm lấy 3 khóm và theo dõi các chỉ tiêu sau:

c/ Khả năng chống chịu sâu bệnh

Theo dõi thời kỳ sâu, bệnh xuất hiện đến trước chín sau đó phân cấp cho điểm theo thang điểm của Viện lúa quốc tế (IRRI) năm 1996

Trang 40

TT Tên Điểm Cách đánh giá

d/ Các chỉ tiêu về năng suất

Mỗi ô thí nghiệm lấy 5 điểm, mỗi điểm hai khóm (những khóm đã theo dõi trước đó), tiến hành đo đếm các chỉ tiêu

+ Số bông trên khóm (chỉ tính những bông có từ 10 hạt trở lên)

+ Số bông/ m2

(A): Tính tất cả các bông có trong 1m2

+ Số hạt/ bông (B): Tính số hạt trên các bông của khóm

+ Tỷ lệ % hạt chắc / bông (C)

+ Khối lượng 1000 hạt (gam) (D)

+ Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ/ha) = A x B x C x D x 10-4

+ Năng suất thực thu (tạ/ha):

Ngày đăng: 23/03/2021, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm