1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát tình trạng hạn chế chức năng và mối liên quan với các bệnh lý đi kèm ở ngƣời cao tuổi trong cộng đồng xã vĩnh thành huyện chợ lách tỉnh bến tre

81 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu khác tại Nhật Bản, Brazil đánh giá tình trạng hoạt động chức năng và cho thấy các yếu tố: tuổi, thu nhập, dân tộc, số bệnh mãn tính liên quan có ý nghĩa với tình trạng này

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG HẠN CHẾ CHỨC NĂNG

VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC BỆNH LÝ ĐI KÈM

Ở NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CỘNG ĐỒNG

Trang 2

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG HẠN CHẾ CHỨC NĂNG

VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC BỆNH LÝ ĐI KÈM

Ở NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CỘNG ĐỒNG

Trang 3

Danh sách thành viên tham gia nghiên cứu

1 ThS Nguyễn Thị Lan Thanh

Trang 4

Mục Lục

Đặt vấn đề……… 1

Mục tiêu nghiên cứu……… 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7

1.1 Định nghĩa người cao tuổi: 7

1.2 Sự già hoá dân số: 7

1.2.1 Quá trình già hoá trên thế giới: 7

1.2.2 Quá trình già hoá tại Việt Nam: 8

1.3 Tình trạng chức năng 10

1.3.1 Hạn chế hoạt động hàng ngày ở người cao tuổi 12

1.3.2 Chỉ số đánh giá hoạt động hàng ngày 14

1.3.3 Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng hai chỉ số: ADL và IADL 16

1.4 Người chăm sóc: 22

1.5 Đa bệnh (Multimorbidity) 23

1.6 Đa thuốc (polypharmacy) 24

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 26

2.1.1 Dân số mục tiêu: 26

2.1.2 Dân số chọn mẫu: 26

2.1.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu: 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

Trang 5

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 26

2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 26

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 26

2.2.4 Phương pháp tiến hành ngiên cứu: 28

2.2.5 Công cụ thu thập số liệu: 28

2.2.6 Các biến được sử dụng trong nghiên cứu: 28

2.3 Xử lý số liệu: 30

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu: 30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 31

3.1 Đặc điểm dân số xã hội của mẫu khảo sát: 31

3.2 Tình trạng chức năng 33

3.2.1 Tỷ lệ hạn chế hoạt động chức năng hàng ngày: 33

3.2.2 Đặc điểm dân số xã hội của nhóm hạn chế chức năng: 38

3.3 Tình trạng đa bệnh, đa thuốc: 40

3.3.1 Tỷ lệ đa bệnh, đa thuốc 40

3.3.2 Đặc điểm dân số, xã hội của nhóm đa bệnh, đa thuốc 43

3.4 Khảo sát mối liên quan: 45

3.4.1 Phân tích đơn biến 45

3.4.2 Phân tích đa biến: 46

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 48

4.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu: 48

Trang 6

4.2 Tình trạng hạn chế chức năng ở người cao tuổi: 49

4.2.1 Hạn chế chức năng cơ bản hàng ngày: 49

4.2.2 Hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày: 52

4.2.3 Nhận xét đặc điểm của nhóm hạn chế: 54

4.3 Tình trạng đa bệnh, đa thuốc: 56

4.3.1 Đa bệnh: 56

4.3.2 Đa thuốc: 57

4.4 Mối liên quan giữa giảm chức năng và đa bệnh, đa thuốc 58

4.4.1 Phần phân tích đơn biến: 58

4.4.2 Phân tích đa biến: 60

4.5 Nhận xét: 61

4.5.1 Ưu điểm: 61

4.5.2 Khuyết điểm: 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận: 62

5.2 Kiến nghị: 63

Tài liệu tham khảo:……… 61

Phụ lục:………68

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1-1: Các hoạt động ADL (Katz) 16Hình 1-2: Các hoạt động IADL (Lawton) 16

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tỷ lệ phân nhóm NCT và dự đoán đến năm 2049 9

Bảng 1.2 Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam 9

Bảng 1.3: Tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam 10

Bảng 1.4: Tỷ lệ phần trăm bị hạn chế hoạt động hàng ngày 12

Bảng 1.5: Chỉ số Katz cho hoạt động cơ bản hàng ngày 17

Bảng 1.6: Thang điểm hoạt động sinh hoạt hàng ngày Lawton 19

Bảng 3.1: Đặc điểm dân số nghiên cứu 31

Bảng 3.2: Phân độ và phân loại ADL 34

Bảng 3.3: Phân loại các hoạt động IADL bị hạn chế 36

Bảng 3.4: Đặc điểm dân số xã hội của nhóm hạn chế ADL 38

Bảng 3.5: Đặc điểm dân số xã hội của nhóm hạn chế IADL 39

Bảng 3.6: Bảng phân bố số bệnh 41

Bảng 3.7: Phân bố số thuốc dùng hàng ngày 42

Bảng 3.8: Đặc điểm dân số xã hội của nhóm đa bệnh 43

Bảng 3.9: Đặc điểm dân số xã hội của nhóm đa thuốc 44

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa hạn chế chức năng và đa bệnh 45

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa hạn chế chức năng và đa thuốc 45

Bảng 3.12: Liên quan đa biến của nhóm hạn chế ADL 46

Bảng 3.13: Liên quan đa biến của nhóm hạn chế IADL 47

Bảng 4.1: So sánh tỷ lệ số hoạt động ADL bị hạn chế 51

Bảng 4.2: So sánh tỷ lệ số hoạt động IADL bị hạn chế 53

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Già hoá dân số thế giới 8

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ hạn chế ít nhất một hoạt động ADL 33

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ số ADL bị hạn chế 33

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ hạn chế ít nhất một hoạt động IADL 35

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ số hoạt động IADL bị hạn chế 36

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ bệnh 40

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ thuốc đang dùng 41

Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ đa thuốc trong nhóm đa bệnh 42

Trang 12

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Khảo sát tình trạng hạn chế chức năng và mối liên quan với các bệnh

lý đi kèm ở người cao tuổi trong cộng đồng xã vĩnh thành huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre

- Mã số: 60 72 01 40

- Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Lan Thanh, Nguyễn Văn Trí Điện thoại: 016732255445,0913718893.Email:marialanthanh@gmail.com,

tridrnguyenvan@gmail.com

- Đơn vị quản lý về chuyên môn (Khoa, Tổ bộ môn): Bộ môn Lão Khoa

- Thời gian thực hiện: 10/2014 - 3/2015

- Khảo sát tỷ lệ đa bệnh đi kèm và đa thuốc sử dụng hàng ngày

- Khảo sát mối liên quan giữa tình trạng hạn chế chức năng với yếu tố đa bệnh, đa thuốc

- Dân số chọn mẫu: Những người cao tuổi (≥60 tuổi) tại xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre

4 Kết quả chính đạt được (khoa học, đào tạo, kinh tế-xã hội, ứng dụng, ):

Trang 13

 Về đào tạo (số lượng, chuyên ngành: trình độ BS/DS/CN, ThS, NCS…): 1 Thạc sĩ y học chuyên ngành Lão Khoa

 Công bố trên tạp chí trong nước và quốc tế (tên bài báo, tên tạp chí, năm xuất bản): không

 Sách/chương sách (Tên quyển sách/chương sách, năm xuất bản): không

 Patent, Giải pháp hữu ích (tên; trình trạng nộp đơn đối với giải pháp chưa đăng

ký sở hữu trí tuệ; mã số, ngày cấp, thời gian bảo hộ đối với patent và giải pháp

đã đăng ký sở hữu trí tuệ): không

5 Hiệu quả kinh tế - xã hội do đề tài mang lại:

 Kết quả nghiên cứu được chuyển giao (Tên sản phẩm, tên đơn vị nhận chuyển giao, giá trị chuyển giao)

 Phạm vi và địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu (tên đơn vị ứng dụng kết quả nghiên cứu/tên bài giảng được trích dẫn kết quả NC sử dụng trong giảng dạy đại học và sau đại học): Bộ môn Lão Khoa Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong lâm sàng Lão Khoa, việc đánh giá toàn diện tình trạng sức khoẻ người cao tuổi là rất cần thiết, giúp cải thiện tỷ lệ tử vong và tạo cơ hội cho người cao tuổi sống có chất lượng tốt trong cộng đồng Nghiên cứu của tác giả Ellis và cộng sự, đánh giá 10.315 người cao tuổi tại sáu quốc gia, cho thấy kết cục có lợi của nhóm được đánh giá toàn diện là: được sống tại nhà (p = 0,003), ít khả năng sống trong nhà dưỡng lão (p

< 0,001), ít khả năng tử vong (p = 0,001)[22] Mục đích của đánh giá toàn diện là để xác định mục tiêu và mức độ điều trị Trong đó, tình trạng chức năng được xem là mục tiêu trung tâm của đánh giá toàn diện[14] Ngoài đánh giá tình trạng sức khoẻ truyền thống như: khám lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán để giải quyết các nguyên nhân nền tảng và phát hiện các tình trạng có thể điều trị được, đối với người cao tuổi còn cần phải đánh giá chức năng nhằm xác định sức khỏe tổng thể, xác định những nhu cầu về sức khoẻ cũng như các dịch vụ xã hội cần thiết[43]

Trong những năm qua, có sự gia tăng đáng kể số người cao tuổi và tỷ lệ những bệnh lý mãn tính trong nhóm này Cả hai đã góp phần làm cho hoạt động chức năng trở thành vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khoẻ cộng đồng toàn cầu[64] Các nghiên cứu trong khu vực Đông nam Á: Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Phillipine… đã báo cáo

tỷ lệ hạn chế hoạt động chức năng từ 5,6% đến 23%, một cảnh báo về gánh nặng chăm sóc dành cho xã hội nói chung và hệ thống chăm sóc sức khoẻ nói riêng[90] Về khảo sát những yếu tố liên quan đến hạn chế chức năng, nghiên cứu tại một đô thị Hy Lạp cho thấy hỗ trợ xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong tình trạng hoạt động chức năng[51] Tại Anh và Phần Lan tìm thấy mối liên quan giữa vị thế kinh tế xã hội và hạn chế chức năng ở nữ cao tuổi[73] Tổng quan hệ thống các nghiên cứu tại Brazil đã xác định các yếu tố nguy cơ đối với tình trạng hạn chế chức năng là: thất học, sống trong các nhà trọ, bệnh mãn tính, lối sống ít vận động, hạn chế trong quan hệ xã hội…[74]

Trang 15

Các nghiên cứu khác tại Nhật Bản, Brazil đánh giá tình trạng hoạt động chức năng và cho thấy các yếu tố: tuổi, thu nhập, dân tộc, số bệnh mãn tính liên quan có ý nghĩa với tình trạng này[39],[76]

Tại Việt Nam cũng có vài nghiên cứu báo cáo tỷ lệ hạn chế chức năng trong khoảng 7,6% - 21,7%, bằng thang điểm đánh giá hoạt động cơ bản hàng ngày (ADL)

và tìm thấy mối liên quan với các bệnh lý đang mắc ở người cao tuổi: tai biến mạch máu não, sa sút trí tuệ, bị giảm thị lực, bệnh cơ xương khớp[4],[6],[8] Nhưng trên thực

tế, đánh giá hoạt động chức năng vẫn còn là một khái niệm chưa được các bác sĩ tại Việt Nam quan tâm Nghiên cứu tại Tây Ban Nha cho thấy tình trạng hạn chế chức năng người cao tuổi cộng đồng có giá trị tiên đoán để các nhà hoạch định chính sách có thể tìm ra kế hoạch dịch vụ chăm sóc sức khoẻ[24] Sự hiện diện của tình trạng hạn chế chức năng cũng dự báo cho nhu cầu cần khám chữa bệnh ngoại trú hay nhập viện, nhu cầu đưa vào nhà dưỡng lão cũng như dự báo khả năng tử vong ở người cao tuổi trong cộng đồng[20] Cùng với tình trạng có nhiều bệnh đồng mắc và dùng nhiều thuốc là vấn đề phổ biến hiện nay ở người cao tuổi[50],[68],[82], chúng tôi muốn biết về tình trạng hạn chế hoạt động chức năng trong cộng đồng? Và có mối liên quan hay không giữa tình trạng hạn chế chức năng với yếu tố đa bệnh, đa thuốc ở người cao tuổi?

Do đó, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu khảo sát tình trạng hạn chế chức năng ở người cao tuổi và mối liên quan với các bệnh lý đi kèm ở cộng đồng bằng thang điểm đánh giá hoạt động cơ bản hàng ngày (ADL) và hoạt động sinh hoạt hàng ngày (IADL) Nhằm hưởng ứng Thông tư chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng của Bộ Y Tế, về việc khuyến khích tổ chức mạng lưới bác sĩ gia đình và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà cho người cao tuổi[2] Trước tiên là cung cấp số liệu ban đầu về tình trạng chức năng cho cộng đồng tại địa phương Tiếp theo là hướng đến kế hoạch quản lý chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi một cách thiết thực hơn, bằng các dịch vụ hỗ trợ chức năng người cao tuổi trong cộng đồng, hướng tới tổ chức chương trình huấn luyện cho người chăm sóc trong hệ thống y tế cũng như chăm sóc tại nhà

Trang 16

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu tổng quát:

Khảo sát tình trạng hạn chế chức năng ở người cao tuổi trong cộng đồng bằng các thang điểm đánh giá hoạt động cơ bản hàng ngày, hoạt động sinh hoạt hàng ngày và xét mối liên quan với yếu tố đa bệnh đa thuốc

2 Mục tiêu cụ thể:

- Khảo sát tỷ lệ hạn chế chức năng: hoạt động cơ bản hàng ngày, hoạt động sinh hoạt hàng ngày

- Khảo sát tỷ lệ đa bệnh đi kèm và đa thuốc sử dụng hàng ngày

- Khảo sát mối liên quan giữa tình trạng hạn chế chức năng với yếu tố đa bệnh, đa thuốc

Trang 17

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1:

1.1 Định nghĩa người cao tuổi:

Định nghĩa NCT (người cao tuổi) có sự khác nhau tuỳ theo giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội cũng như của các nền văn hoá Các nhà quản lý xã hội hiện nay dựa vào định nghĩa NCT để quy định tuổi hưu, nên tuỳ theo chính sách xã hội mà có những định nghĩa khác nhau về NCT

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO), 60 tuổi được lấy làm điểm cắt để định nghĩa NCT Trong khi tại các nước phương Tây, NCT được định nghĩa là người từ 65 tuổi trở lên[35]

Tại Việt Nam, NCT được định nghĩa là công dân Việt Nam hay người nước ngoài đang sống tại Việt Nam từ 60 tuổi trở lên[1]

1.2 Sự già hoá dân số:

Sự già hoá dân số, theo định nghĩa của các nhà nhân khẩu học, xảy ra khi dân số

từ 60 tuổi trở lên chạm ngưỡng 10% hoặc dân số từ 65 tuổi chạm ngưỡng 7% Một dân

số được gọi là già khi hai tỷ lệ trên tương ứng là 20% và 14% Một dân số được gọi là siêu già khi các tỷ lệ trên tương ứng là 30% và 25%[7]

1.2.1 Quá trình già hoá trên thế giới:

Theo công bố của WHO năm 1997, số người 60 tuổi trở lên trên toàn thế giới là

291 triệu (8% dân số thế giới) Năm 2005 số người từ 60 tuổi trở lên là 672 triệu Ước tính đến 2050, con số này sẽ tăng gấp 3 (đạt 1,9 tỷ người), trong đó 20% phân bố ở các nước đang phát triển[34].Mặc dù, ở các nước phát triển quá trình già hoá dân số diễn

ra từ từ, nhưng các nước này cũng vấp phải những thách thức nảy sinh từ số lượng NCT ngày càng tăng, nạn thất nghiệp cũng như khả năng chịu đựng của hệ thống trợ

Trang 18

cấp, trong khi đó các nước đang phát triển cùng một lúc phải đương đầu với hai thách thức: sự phát triển và già hoá dân số[87].

Biểu đồ 1.1: Già hoá dân số thế giới

Biểu đồ cho thấy già hoá dân số đã mang tính chất toàn cầu Tỷ lệ NCT liên tục tăng, không những đối với các nước phát triển mà còn tăng nhanh hơn ở các nước đang phát triển

1.2.2 Quá trình già hoá tại Việt Nam:

Tỷ lệ NCT tại Việt Nam, cũng theo xu hướng già hoá dân của thế giới, dần chiếm một tỷ trọng cao trong toàn bộ dân số Theo Tổng cục thống kê, dân số Việt Nam đến hết năm 2010 là 87,84 triệu người, NCT là 8,1 triệu người, chiếm tỷ lệ 9,2%,

và vượt hơn 9 triệu người trong 6 tháng đầu năm 2011 Ước tính đến 2029 tỷ lệ này xấp xỉ 17% Trong số này, nhóm rất già (≥ 80 tuổi) tăng từ 0,54% (1979) lên 0,93% (1999) và đến 1,47% (2009), dự kiến nhóm này sẽ chiếm 4,16% dân số vào năm 2049 Đây là nhóm người cần có sự quan tâm chăm sóc đặc biệt, do tình trạng sức khoẻ giảm[7]

Trang 19

Bảng 1.1 Tỷ lệ phân nhóm NCT và dự đoán đến năm 2049

Nhóm tuổi (% dân số)

Nguồn tổng điều tra dân số 1979, 1989, 1999, 2009

Tuổi thọ người Việt Nam dần dần được cải thiện theo thời gian Nếu vào giai đoạn 1990 - 1995 tuổi thọ người Việt Nam chỉ là 67,8 tuổi thì đến giai đoạn hiện nay

đã là 75,4 tuổi và dự kiến đến năm 2030, trẻ em mới sinh ra ở Việt Nam sẽ có kỳ vọng sống là 78 năm[7]

Bảng 1.2 Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam

Trang 20

Bảng 1.3: Tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam

Nguồn điều tra 2012

Như vậy theo định nghĩa dân số già thì năm 2012 Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hoá dân số, sẽ trở thành nước có dân số già vào năm 2035 Điều đáng quan tâm là quá trình già hoá của nước ta chỉ diễn ra trong 23 năm để đạt ngưỡng dân số già (2012 - 2035) Trong khi Pháp phải mất 115 năm, Thụy Điển mất 85 năm, Úc mất 73 năm, Mỹ mất 69 năm và Nhật Bản mất 26 năm để đạt được điều đó Theo nhận định của Liên hiệp quốc từ nay đến năm 2050, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm 10 nước có dân

số già nhất thế giới

1.3 Tình trạng chức năng

Tình trạng chức năng được định nghĩa là khả năng của một người có thể đảm nhiệm các công việc và hoàn thành các vai trò xã hội gắn liền với cuộc sống hàng ngày, qua phạm vi các hoạt động từ đơn giản đến phức tạp Đo lường tình trạng chức năng được sử dụng với nhiều mục đích Các bác sĩ áp dụng những công cụ này để thiết lập cơ sở đánh giá, theo dõi điều trị, hay cho mục đích chẩn đoán Thay đổi lão hoá thông thường, bệnh lý cấp tính, tiến triển xấu của bệnh mạn tính và sau nhập viện có thể góp phần làm suy giảm các khả năng cần thiết để sống độc lập trong cộng đồng Thông tin từ đánh giá chức năng có thể cung cấp dữ liệu khách quan để xác định mục tiêu phục hồi chức năng hoặc lên kế hoạch cho các dịch vụ cụ thể tại nhà như chuẩn bị

Năm Số dân (triệu người) Số NCT (triệu người) Tỷ lệ NCT (%)

Trang 21

bữa ăn, chăm sóc cơ thể, dịch vụ mua sắm, quản lý tài chính, thuốc men hoặc chăm sóc liên tục Việc đánh giá chức năng cũng có thể hướng dẫn các bác sĩ tập trung vào các khả năng cơ bản của con người, tạo điều kiện công nhận sớm các nhu cầu về y

tế[29],[31] Đánh giá về chức năng có thể được phân chia ba mức độ: ADL, IADL, và AADL

ADLs (basic Activity of daily living): hoạt động cơ bản hàng ngày, đề cập

đến những chức năng thiết yếu để tự chăm sóc bản thân, nhưng chưa đầy đủ để duy trì một cuộc sống độc lập Katz và cộng sự miêu tả những chức năng cơ bản đó là ăn uống, tiêu tiểu tự chủ, di chuyển, đi vệ sinh, mặc quần áo và tắm rửa Những cá nhân

có hạn chế chức năng ở cấp độ này đòi hỏi phải được hỗ trợ tại nhà 24/24h hay phải nhập vào nhà dưỡng lão

IADL (Instrument activity of daily living): hoạt động sinh hoạt hàng ngày,

gồm những hoạt động phức tạp hơn, chúng cần thiết để duy trì một cuộc sống độc lập trong cộng đồng Bao gồm những công việc: quản lý tiền bạc, lấy thuốc uống, đi mua sắm, làm việc nhà, di chuyển bằng các phương tiện giao thông và chuẩn bị bữa ăn Những người có hạn chế chức năng trong cấp độ này đòi hỏi một cuộc sống cần được

hỗ trợ tại nhà, hoặc các dịch vụ chăm sóc cộng đồng Ở mức độ này, thì cơ hội và động lực là yếu tố rất quan trọng để duy trì chức năng

Mức độ cao nhất của hoạt động được đại diện bởi AADL (Advance activity of

daily living): hoạt động chức năng cao cấp hàng ngày Chúng bao gồm: đi làm,

tham gia các hoạt động tôn giáo, hoạt động tình nguyện và theo đuổi sở thích Đây là những hoạt động phức tạp và ở cấp độ cao nhất, do đó rất nhạy cảm với sự thay đổi của tình trạng sức khoẻ

Đo lường dựa trên hoạt động chức năng cung cấp một thông tin dự đoán hữu ích Những công cụ này có thể báo trước tình trạng suy giảm chức năng, việc đưa vào nhà dưỡng lão hay tử vong[71]

Trang 22

1.3.1 Hạn chế hoạt động hàng ngày ở người cao tuổi

Han chế hoạt động hàng ngày (HĐHN) được định nghĩa là không tự làm ít nhất một hoạt động trong thang điểm đánh giá Hạn chế trong HĐHN do nhiều nguyên nhân gây ra, như bệnh tật, tuổi tác, hoàn cảnh xã hội…[39],[65],[76]

Bảng 1.4: Tỷ lệ phần trăm bị hạn chế hoạt động hàng ngày

Địa điểm, thời gian nghiên cứu Tỷ lệ hạn chế

ADL (%)

Tỷ lệ hạn chế IADL (%) Myanma (1989)

9

23 36,3 11,5 26,8

11,9 7,7 8,8 21,7

28,8 30,1

52,2

Có nhiều nghiên cứu tìm hiểu tỷ lệ bị hạn chế HĐHN trên các quốc gia khác nhau đánh giá bằng thang điểm ADL, và một số với IADL Theo số liệu này, hạn chế ADL vùng thành thị Tây Ban Nha có tỷ lệ hạn chế cao nhất, tiếp theo đó là Brazil, Campuchia Tuy nhiên, số liệu nghiên cứu ở Tây Ban Nha được thực hiện trên những người ở độ tuổi 65 trở lên, trong khi các nghiên cứu khác thực hiện ở trên nhóm người

Trang 23

60 tuổi trở lên Nghiên cứu về độc lập trong các HĐHN trên 365 người ở độ tuổi 65 trở lên tại vùng thành thị của Tây Ban Nha: có 36,3% bị hạn chế, 63,7% còn độc lập[75] Nghiên cứu ở 875 NCT Trung Quốc đã được sinh ra tại bệnh viện trường Đại học Y Bắc Kinh vào thời gian 1921 đến 1941 cho thấy, đến giai đoạn lão hoá tỷ lệ bị hạn chế HĐHN trong số họ là 11,5%[88] Nghiên cứu cắt ngang 598 NCT từ 60 tuổi tại khu đô thị Pelotas miền Nam Brazil cho kết quả hạn chế ADL là 26,8% và hạn chế IADL là 28,8%[11] Nghiên cứu khác với 2.143 người ≥ 60 tuổi vào năm 2000 tại khu đô thị São Paulo, Brazil báo cáo kết quả IADL là 30,1%[76]

Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Trần Trọng Đàm[4], về tình trạng hạn chế HĐHN ở NCT quận 8, thành phố Hồ Chí Minh năm 2001, tỷ lệ hạn chế được ghi nhận

là 11,9% Kết quả nghiên cứu tại Long An, năm 2004 của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Phụng[8] về mức độ hoạt động thể lực, hoạt động sinh hoạt hàng ngày cho thấy có 7,7% NCT bị hạn chế trong các HĐHN Một nghiên cứu khác được thực hiện với quy

mô rộng lớn hơn của tác giả Phạm Ngân Giang thực hiện nghiên cứu tại bốn tỉnh thành trong cả nước, kết quả ghi nhận NCT hạn chế trong HĐHN là 8,8%[6] Tại thành phố Vũng Tàu cũng báo cáo kết quả hạn chế ít nhất một hoạt động ADL là 21,7%, IADL là 52,2%[9] Cùng với việc báo cáo tỷ lệ hạn chế, các nghiên cứu này cũng đã tìm thấy tình trạng hạn chế có mối liên hệ với các yếu tố dân số xã hội như tuổi, giới, công việc, dân tộc, tình trạng hôn nhân, với vận động thể lực và một số bệnh mãn tính thường gặp Tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa đề cập đến mối liên quan với tình trạng đa bệnh đa thuốc phổ biến hiện nay ở NCT

Trong nghiên cứu về bệnh mãn tính và hạn chế chức năng ở NCT bằng thang điểm ADL - IADL, Menendez[65] và cộng sự đã mô tả mối liên quan giữa tình trạng hạn chế chức năng và các bệnh mạn tính không lây nhiễm ở NCT tại vùng Mỹ La tinh

và Caribbean Khó khăn trong việc thực hiện những hoạt động IADL là những xuất hiện đầu tiên Vì vậy cần phải thiết lập cơ sở theo dõi và phát hiện sớm các hạn chế này Trong một nghiên cứu khác của Keddie AM[49], cho thấy trình độ học vấn, nghề

Trang 24

nghiệp, giới tính có mối liên quan với tình trạng hạn chế trong HĐHN của NCT ở các mức độ khác nhau Nghiên cứu NCT trong cộng đồng tại California thì cho thấy hoạt động thể lực ở mức độ cao có thể làm giảm nguy cơ bị hạn chế các hoạt động chức năng trong tương lai[32]

1.3.2 Chỉ số đánh giá hoạt động hàng ngày

Công tác phục hồi chức năng nhằm mục tiêu tăng cường đến mức tối đa các chức năng và sự tham gia cuộc sống hàng ngày của người bệnh Lượng giá chức năng ghi lại các kết quả bằng các thang đo HĐHN, là phương pháp hay được sử dụng nhất Việc đánh giá các HĐHN có thể được dùng để:

- Cung cấp toàn diện về tình trạng chức năng

- Xác định các hạn chế hoạt động

- Lập kế hoạch sắp tới khi ra viện

- Xác định số liệu ban đầu cho can thiệp

- Cung cấp hướng dẫn cho lập kế hoạch can thiệp

- Đánh giá các chương trình can thiệp và quá trình theo dõi

- Đo lường kết quả đầu ra của phục hồi chức năng

- Cung cấp thông tin cho thực hành dựa vào bằng chứng

- Cung cấp hướng dẫn cho báo cáo và quản lý số liệu Chọn lựa phương pháp cho đánh giá hoạt động hàng ngày

Tìm hiểu các tài liệu về phương pháp đánh giá chức năng hiện tại cho thấy đang

có rất nhiều công cụ được sử dụng, một số trong đó đã được chuẩn hoá và một số ở dạng các bảng kiểm Điều quan trọng là các công cụ đánh giá được chọn đã hỗ trợ cho các nghiên cứu báo cáo về sự chuẩn hoá[21],[27],[56] Song song với việc chọn lựa một công cụ, cần phải có các nguyên tắc cơ bản để làm hướng dẫn[27],[57],[56] Sau đây là hướng dẫn vắn tắt rất có ích, được chỉnh sửa theo tài liệu của Wade[86]

Trang 25

- Công cụ có phù hợp không? Nó có đo lường đúng các khía cạnh mà ta muốn đánh giá không?

- Công cụ có phải là đo lường tin cậy đối với yếu tố cần đánh giá không?

- Độ tin cậy, độ đặc hiệu của công cụ?

- Công cụ có đủ nhạy để phát hiện các thay đổi/ khác biệt mong đợi không?

- Công cụ có đủ đơn giản để có thể sử dụng được không?

- Công cụ có các định nghĩa rõ ràng không?

- Đây có phải là một công cụ được nhiều người biết đến không?

- Còn có công cụ nào khác tốt hơn không?

Danh mục các công cụ đánh giá chức năng hoạt động của cơ thể đã được phát triển

- Chỉ số độc lập trong hoạt động cơ bản hằng ngày Katz (Index of independence in activities of Daily Living)[48]

- Chỉ số Barthel (The Barthel Index)[62]

- Thang điểm đánh giá hoạt động sinh hoạt hàng ngày Lawton[58]

- Công cụ PULSES (The PULSES Profile)[67]

- Đánh giá tự chăm sóc Kenny (The Kenny Self-care Evaluation) [78],[79]

- Thang tự duy trì chức năng cơ thể (The Physical Self - Maintenance Scale)[58]

- Đo lường chức năng cơ thể (The Medical Outcomes Study Physical Functioning Measure)[84]

- Chỉ số tình trạng chức năng (the Functionnal Status Index)[42]

- Thang tự đánh giá chức năng sống (The self - Evaluation of Life function scale)[60]

- Bộ câu hỏi các hoạt động chức năng (The Functional activities Questionnaire)[70]

Trang 26

1.3.3 Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng hai chỉ số: ADL và IADL

Hình 1-1: Các hoạt động ADL (Katz)

Hình 1-2: Các hoạt động IADL (Lawton)

Trang 27

1.3.3.1 Hoạt động cơ bản hàng ngày (ADL)

Chỉ số ADL do Katz xây dựng và phát triển đầu tiên vào năm 1963 để nghiên cứu kết quả điều trị và tiên lượng ở NCT và bệnh mãn tính[48] Nó bao gồm sáu chức năng

cơ bản của con người: tắm, mặc quần áo, đi vệ sinh, di chuyển, khả năng điều khiển cơ quan bài tiết và ăn uống Chỉ số này cung cấp một phương pháp khách quan để phân loại một quần thể hỗn hợp những người có bệnh tật mãn tính, tàn tật, suy yếu và mô tả nhu cầu sức khoẻ của họ[46]

Bảng 1.5: Chỉ số Katz cho hoạt động cơ bản hàng ngày

Tắm

Điểm:

Hoàn toàn tự tắm hoặc chỉ cần giúp một phần nhỏ trên cơ thể: đầu, vùng sinh dục hoặc chi yếu

Cần giúp tắm nhiều hơn một phần cơ thể, giúp vào hoặc ra bồn tắm hoặc tắt

mở vòi sen Cần giúp tắm hoàn toàn

Mặc quần áo

Điểm:

Lấy quần áo từ tủ hoặc ngăn kéo, mặc quần áo và áo khoác, tự cài nút

Có thể giúp xỏ dây giày

Cần giúp mặc quần áo hoặc giúp hoàn toàn

Đi vệ sinh

Điểm:

Tự đi đến toilet, đi vào và ra, mặc lại

quần áo, tự vệ sinh vùng sinh dục

Cần giúp di chuyển đến

toilet, rửa sạch hoặc dùng

bô hoặc ghế lổ

Di chuyển Điểm:

Tự di chuyển vào và ra khỏi giường

hoặc ghế Có thể chấp nhận dụng cụ

hỗ trợ cơ học

Cần giúp di chuyển từ

giường ra ghế hoặc cần giúp di chuyển hoàn toàn

Tiêu tiểu tự chủ Điểm:

Hoàn toàn kiểm soát việc đi tiểu

hoặc tiêu

Tiêu tiểu không tự chủ một

phần hoặc hoàn toàn

Ăn uống Điểm:

Tự lấy múc thức ăn Có thể người

khác chuẩn bị bữa ăn

Cần giúp một phần hoặc

hoàn toàn trong việc ăn uống hoặc cần nuôi ăn tĩnh mạch

Điểm: 6 = cao (độc lâp); 0 = thấp (rất phụ thuộc)

Đánh giá mức độ: Nhẹ: 5 - 6 điểm, vừa: 3 - 4 điểm, nặng: 1 - 2 điểm

Trang 28

Chỉ số này đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu để đánh giá mức độ hạn chế trong các hoạt động cơ bản hàng ngày của NCT ở nhiều quốc gia[13],[16],[19],[36],[77] Nó cung cấp thông tin cả định tính và định lượng về sự tàn phế ở những bệnh nhân tàn tật nghiêm trọng trong chăm sóc y tế dài hạn và ngắn hạn,

ở các nhà điều dưỡng, và cả ở chăm sóc tại gia đình Nhưng mức độ tàn phế ở những người bị nhẹ và những người vẫn còn độc lập trong cả sáu hoạt động, không được phân biệt bởi chỉ số này[13] Công cụ này sử dụng hiệu quả cho đối tượng NCT trong các hoàn cảnh khác nhau Có thể đo lường ở thời điểm bắt đầu khi còn khoẻ mạnh và so sánh với các giai đoạn về sau

Độ tin cậy: Guttman phân tích trên 100 bệnh nhân ở Thuỵ Điển và tìm ra độ chính xác của thang điểm là từ 0,74 đến 0,88, gợi ý chỉ số này đã tạo ra một thang tích luỹ tốt và thành công

Mức độ giá trị: Chỉ số ADL cho thấy các khả năng dự báo các diễn biến dài hạn

và sự thích nghi của bệnh nhân với xã hội trong một số tình trạng khác nhau, bao gồm

cả đột quỵ và gãy xương, và đã được dùng để đánh giá việc điều trị nội trú cho bệnh nhân viêm khớp mạn tính[44],[45],[47]

Khả năng đáp ứng: Thang đo được Asberg dùng để đo lường đầu ra (biến phụ thuộc) để dự báo thời gian phải nằm viện, khả năng được ra viện và tử vong (n = 129) Trong dự báo khả năng tử vong, độ nhạy là 73% và độ đặc hiệu là 80%; trong dự báo khả năng ra viện, độ nhạy là 90% và độ đặc hiệu là 63%[36]

Katz là công cụ đánh giá hoạt động cơ bản hàng ngày Nó không đánh giá mức

độ hoạt động hàng ngày ở mức cao hơn Mặc dù chỉ số Katz ADL rất nhạy với các thay đổi đi xuống của tình trạng sức khoẻ, công cụ này vẫn bị giới hạn khi đo lường các thay đổi nhỏ đi lên trong quá trình phục hồi chức năng cho NCT Lúc đó nên có một lượng giá toàn diện khác về Lão khoa kèm theo Chỉ số Katz rất có ích bởi vì nó tạo ra một ngôn ngữ chung về chức năng của NCT và người bệnh đối với những thầy thuốc lâm sàng tham gia vào việc lập và thực hiện kế hoạch chăm sóc sức khoẻ

Trang 29

1.3.3.2 Hoạt động sinh hoạt hàng ngày (IADL)

Bảng 1.6: Thang điểm hoạt động sinh hoạt hàng ngày Lawton

1 Mở điện thoại, tìm và bấm số

2 Bấm một vài số quen thuộc

3 Nghe điện thoại được nhưng không gọi được

4 Không sử dụng điện thoại được

3 Cần người đi theo khi mua sắm

4 Hoàn toàn không thể đi mua sắm

1

0

0

0

1 Tự lên kế hoạch, chuẩn bị và nấu ăn đầy đủ

2 Nấu đầy đủ các bữa ăn nếu có sẵn nguyên liệu

3 Hâm nóng thức ăn được làm sẵn hoặc chuẩn bị bữa ăn nhưng không đủ

4 Cần phải chuẩn bị sẵn và phục vụ các bữa ăn

3 Làm các công việc nhẹ hàng ngày nhưng không gọn gàng

4 Cần giúp đỡ trong tất cả các việc nhà

5 Không làm bất cứ công việc nhà nào

Trang 30

0 điểm: chức năng thấp, phụ thuộc; 8 điểm: chức năng cao, độc lập

IADL là một công cụ thích hợp để đánh giá kỹ năng sống độc lập[58] Những

kỹ năng này được coi là phức tạp hơn các hoạt động cơ bản của cuộc sống hàng ngày được đo bằng chỉ số Katz (ADL) Các công cụ này rất hữu ích trong việc xác định thế

1 Tự di chuyển trên các phương tiện công cộng hoặc tự lái xe

2 Tự đi lại bằng taxi

3 Đi lại bằng phương tiện cộng cộng khi được hỗ trợ hoặc

1 Tự uống thuốc đúng liều và đúng giờ

2 Tự uống thuốc đã được phân sẵn

3 Không thể tự uống thuốc

1

0

0

1 Tự quản lý các vấn đề tài chính (quỹ, viết séc, trả hóa đơn, đến ngân hàng), nhận và giữ các nguồn thu

2 Quản lý mua sắm hàng ngày nhưng cần giúp khi đến ngân hàng, mua các món đồ lớn,

3 Không có khả năng quản lý tiền

1

1

0

Trang 31

nào là hoạt động của một người ở thời điểm hiện tại và xác định sự cải thiện hoặc suy giảm theo thời gian Có tám lĩnh vực để đo lường chức năng với thang điểm IADL Trước đây, phụ nữ được đánh giá trên tám lĩnh vực chức năng, đàn ông thì không tính điểm ở các lĩnh vực, dọn dẹp, rửa Tuy nhiên, khuyến cáo hiện nay là đánh giá tất cả cho cả hai giới[59] Đánh giá điểm theo mức cao nhất của hoạt động trong lĩnh vực đó Đánh giá điểm dao động từ 0 (phụ thuộc) đến 8 (độc lập)

Dân số mục tiêu: Công cụ này được thiết kế để sử dụng cho NCT, có thể được

sử dụng trong môi trường cộng đồng, phòng khám hoặc bệnh viện Công cụ này không hữu ích cho NCT trong nhà dưỡng lão Nó được sử dụng như một công cụ đánh giá chức năng để so sánh chức năng định kỳ

Giá trị và độ tin cậy: Có vài nghiên cứu được thực hiện để kiểm tra thang điểm IADL Độ tin cậy được đánh giá là 85%[31] Giá trị của IADL Lawton đã được thử nghiệm bằng việc xác định mối tương quan của IADL với 4 thang đo các lĩnh vực của tình trạng chức năng Tổng cộng có 180 chủ đề nghiên cứu tham gia, tất cả các mối tương quan ở mức ý nghĩa 0,01 - 0,05 Công cụ đánh giá này đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu lẫn thực hành lâm sàng

Độ mạnh và giới hạn: IADL Lawton là một công cụ đánh giá dễ dàng để cung cấp thông tin tự báo cáo về khả năng cần thiết để sống trong cộng đồng Thời gian thực hiện 10 - 15 phút Xác định những khiếm khuyết một cách rõ ràng có thể giúp cho điều dưỡng và các chăm sóc chuyên khoa khác nhau lên kế hoạch xuất viện an toàn Giới hạn của công cụ bao gồm tự báo cáo hay báo cáo của người đại diện hơn là sự chứng minh về nhiệm vụ chức năng Điều này có thể dẫn đến một sự ước lượng trên hoặc dưới khả năng Ngoài ra thiết bị có thể sẽ không nhạy với sự thay đổi nhỏ trong chức năng

Theo dõi: việc xác định một hạn chế mới trong lĩnh vực chức năng để đảm bảo can thiệp hoặc đánh giá sớm để ngăn chặn sự suy giảm liên tục, và thúc đẩy điều kiện sống an toàn cho NCT Nếu sử dụng công cụ IADL cho một trường hợp nhập viện cấp

Trang 32

cứu điều dưỡng nên thông báo bất kỳ sự hạn chế nào được phát hiện cho các bác sĩ và nhân viên xã hội hoặc người quản lý bệnh, để có kế hoạch phù hợp khi xuất viện[31]

1.4 Người chăm sóc:

Khi tình trạng hạn chế chức năng xảy ra, NCT cần sự giúp đỡ của người khác để thực hiện các hoạt động của họ Những người này đảm nhận vai trò của người chăm sóc Người chăm sóc có thể được phân loại là chính thức và không chính thức Chăm sóc chính thức là người chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ có tính phí Người chăm sóc không chính thức là thành viên của gia đình hoặc những người trong cộng đồng, tình nguyện chăm sóc dựa theo nhu cầu của người bị hạn chế Nhưng họ cũng sẽ được xem như người chăm sóc chính khi đảm nhiệm hết vai trò trách nhiệm và công việc của việc chăm sóc Nhiều nghiên cứu đã cho thấy người chăm sóc chính trên thế giới chủ yếu là thành viên trong gia đình[28] Tại Việt Nam, NCT vốn là tài sản quý báu của gia đình

và xã hội NCT của nước ta chủ yếu là đang sống với người thân, người chăm sóc chính là thành viên trong gia đình, vợ chồng hay con cháu[4] Vậy chúng ta phải có kế hoạch chăm sóc NCT như thế nào? Đó trở thành mối lo chung của xã hội và riêng cho ngành y tế khi Việt Nam sắp được Liên hiệp Quốc công nhân là nước có dân số già Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan chặt chẽ giữa tình trạng chức năng và gánh nặng việc chăm sóc Mức độ hạn chế hoạt động càng cao thì gánh nặng chăm sóc càng lớn[28] Nghiên cứu tại Italy báo cáo rằng những người chăm sóc có rất ít trợ giúp xã hội và nguồn trợ giúp thì không chính thức, nguồn tài chính không đủ, quá nhiều giờ chăm sóc dễ dẫn đến gánh nặng Gánh nặng cũng có liên quan với mức độ hạn chế của NCT và sự kiệt sức của người chăm sóc[72] Các chính sách và chương trình nhằm giảm bớt gánh nặng như hỗ trợ xã hội và tài chính cho người chăm sóc là thành viên gia đình thì rất quan trọng cho cả người chăm sóc và người nhận sự chăm sóc[54] Hiện tại việc cung cấp chăm sóc y tế cho NCT nước ta còn rất hạn chế, nội dung chăm sóc sức khoẻ cho NCT tại cộng đồng chỉ mới nằm trong môi trường chính

Trang 33

sách và việc thực hiện còn nhiều khó khăn do thiếu sự hướng dẫn, thiếu nguồn lực kinh

tế và con người Đặc biệt chưa chú ý đến vai trò của người chăm sóc, chưa quan tâm đến việc huấn luyện kiến thức cho họ, cũng như những nhu cầu thiết yếu về kinh tế xã hội, sức khoẻ tinh thần và thể chất

1.5 Đa bệnh (Multimorbidity)

Các bệnh mãn tính là yếu tố dẫn tới tình trạng suy yếu về thể chất nói chung và tình trạng hạn chế HĐHN nói riêng ở NCT Đa bệnh là tình trạng có từ hai bệnh mạn tính trở lên trong một bệnh nhân[26] Đó là một tiêu chuẩn trong chăm sóc ban đầu[25]

và trở nên phổ biến hơn khi dân số già hoá Bệnh mãn tính được định nghĩa là bệnh tồn tại trong thời gian dài trên ba tháng, thường không thể ngăn ngừa bằng vắc-xin hoặc chữa khỏi hoàn toàn bằng thuốc[85]

Đa bệnh không chỉ là một tình trạng của tuổi già, mà đã bắt đầu diễn ra trong suốt cuộc đời Đa bệnh là một thách thức đặc biệt cho người làm việc trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ NCT, do các chăm sóc chuyên khoa trở nên rời rạc và chỉ có một chuyên khoa chung là chăm sóc NCT, mà dịch vụ của việc chăm sóc này dựa vào tuổi tác Nhóm này đặc biệt nhạy với tác động của yếu tố đa bệnh[66] Trong các mô hình nghiên cứu, sự phức tạp của tình trạng đa bệnh lý thường bị loại khỏi nghiên cứu Nhưng dù phức tạp và thiếu đại diện trong tài liệu nghiên cứu, đa bệnh lại phổ biến trong thực hành y khoa nói chung Việc nghiên cứu đa bệnh lý là để phản ánh, điều tra, thông tin và cải thiện các khía cạnh thực hành lâm sàng chung[83]

Một khía cạnh quan trọng của tình trạng đa bệnh lý ở NCT là có tỷ lệ cao hơn so với người trẻ, vì nguy cơ mắc bệnh tăng theo tuổi Trong một nghiên cứu quốc gia Hoa

Kỳ thấy rằng, bệnh kết hợp hiện diện khoảng 50% ở người từ 60 tuổi trở lên Trong số

đó nhóm tuổi từ 80 trở lên có 70% nữ và 53% nam có bệnh kết hợp Những bệnh lý kết hợp thì xảy ra với một tỷ lệ cao hơn so với tình trạng đơn độc, và nhiều bệnh kết hợp thì có tác dụng hiệp đồng trên sự suy giảm chức năng[61] Tại Canada nghiên cứu tỷ lệ

Trang 34

đa bệnh, khảo sát 16.357 NCT từ 65 tuổi trở lên ở cộng đồng cho kết quả đa bệnh 62%[82],[12]

Trong nước đã có nghiên cứu mang tính điều tra dịch tể học với quy mô lớn về tình hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc y tế ở nhóm NCT tại Việt Nam Nghiên cứu do viện Lão khoa quốc gia tiến hành khảo sát 1.035 NCT trên 3 xã, phường thuộc ba miền Bắc - Trung - Nam Đối tượng là NCT từ 60 – 97 tuổi, cho thấy trung bình một NCT

có khoảng 3 bệnh[10]

1.6 Đa thuốc (polypharmacy)

Tình trạng dân số già là một thách thức đáng kể cho các cơ quan y tế toàn cầu, bên cạnh sự gia tăng theo tuổi là sự gia tăng các bệnh mãn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạn, bệnh thận mạn Kết quả là làm cho NCT có xu hướng uống nhiều thuốc trong ngày, gọi là đa thuốc[17] Đa thuốc hay dùng nhiều thuốc thường định nghĩa là dùng đồng thời từ năm loại thuốc khác nhau trở lên, kể cả thuốc không kê toa[30],[69] Tuy nhiên không có một tiêu chuẩn nào để định nghĩa đa thuốc Nhiều nghiên cứu triên thế giới cho thấy trung bình NCT uống 2 - 9 loại thuốc mỗi ngày[33] Tỷ lệ dùng thuốc không thích hợp là 11,5 – 62,5%[52]

Đa thuốc ở NCT vì nhiều lý do Những lý do chính là tuổi thọ gia tăng, có bệnh đồng mắc và việc thực hiện các hướng dẫn thực hành lâm sàng dựa trên chứng cứ[80] Điều đáng quan tâm là NCT có nhiều nguy cơ bị tác dụng phụ của thuốc do sự thay đổi chuyển hoá và giảm độ thanh thải Nguy cơ này càng tăng lên khi uống nhiều thuốc, tương tác thuốc - thuốc cũng tăng lên Một nghiên cứu bệnh chứng được thực hiện ở NCT, cho thấy đa thuốc là yếu tố nguy cơ gây té ngã[55]

Bên cạnh chế độ đa thuốc, nhiều bệnh nhân cao tuổi lại dùng thêm thuốc không

kê đơn và sau đó lại sử dụng thêm thuốc để điều trị tác dụng phụ của những thuốc họ đang uống Điều này dẫn đến một vòng xoắn số lượng thuốc sử dụng và dẫn đến chế độ

đa thuốc, dùng thuốc không hợp lý[40] Đa thuốc dẫn đến tác dụng phụ chủ yếu do

Trang 35

thuốc không kê đơn, khi số thuốc tăng lên thì tác dụng phụ tăng lên theo cấp số nhân

Đa thuốc cũng có thể dẫn đến giảm tuân thủ, kém chất lượng cuộc sống, tăng các chi phí không cần thiết[38]

Vì thế, bệnh nhân cần được hướng dẫn mang tất cả thuốc đang dùng, kể cả thuốc kê đơn và không kê đơn cho mỗi lần tái khám Việc sử dụng bốn thuốc trở lên cần được xem xét lại vì mỗi loại thuốc được cho thêm sẽ càng làm gia tăng nguy cơ gây tác dụng phụ của thuốc[41] Đánh giá về đa thuốc là mối quan tâm hàng đầu đối với bệnh nhân cao tuổi để hạn chế tối đa các tác dụng phụ của thuốc Các nghiên cứu

đã chỉ ra rằng đánh giá toàn diện Lão Khoa rất có hiệu quả trong việc giảm thiểu đơn thuốc, liều lượng thuốc hàng ngày cho bệnh nhân, bằng cách tạo điều kiện ngưng dùng thuốc không cần thiết hoặc không phù hợp[80]

Số loại thuốc sử dụng trung bình hàng năm khảo sát ở NCT Hoa Kỳ là 4 - 5 loại thuốc kê toa và 2 thuốc không kê toa và nhận từ 12 - 17 toa thuốc mỗi năm Thuốc dùng trong điều trị nội trú thường nhiều hơn thuốc ngoại trú [63]

Một mẫu ngẫu nhiên gồm 2.590 NCT trong cộng đồng tại Hoa Kỳ năm 1998

-1999 thông tin về thuốc đang dùng, cả thuốc kê toa và không kê toa Nghiên cứu này cho thấy việc sử dụng thuốc gia tăng đáng kể theo tuổi, và tỷ lệ cao nhất là phụ nữ trên

65 tuổi Trong số này, 12% uống từ 10 thuốc trở lên và 23% uống ít nhất 5 thuốc được

kê đơn Việc sử dụng nhiều thuốc có liên quan đến việc dùng thuốc không thích hợp, tăng tác dụng phụ và các nguy cơ của các triệu chứng lão hoá như suy giảm nhận thức,

té ngã, gãy xương hông và tiểu không tự chủ Việc sử dụng rộng rãi thuốc không kê đơn cho thấy tầm quan trọng của việc hỏi về thuốc đang sử dụng khi đánh giá một phác

đồ điều trị Trong số những bệnh nhân cao tuổi đang nằm viện có tỷ lệ đa thuốc khoảng

20 - 60%, khảo sát 38 khoa nội tại Italy thì tỷ lệ đa thuốc là 52%[68] Nghiên cứu thống kê số thuốc trung bình của bệnh nhân nội trú tại Việt Nam là 6 - 7 thuốc[3],[5]

Trang 36

2.1.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu:

Người cao tuổi (≥ 60 tuổi, sinh từ tháng 1/ 1955 trở đi), đang sống tại tổ nhân dân tự quản được chọn vào cụm khảo sát của xã Vĩnh Thành

Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu cắt ngang, mô tả có phân tích

2.2.2 Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 10/2014 - 3/2015

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

Phương pháp: Chọn mẫu theo phương pháp xác suất tỷ lệ với kích cỡ dân

số, gọi tắt là PPS (Probability Proportionate to Size), số cụm được chọn là 60 Đơn vị cụm là: tổ nhân dân tự quản theo danh sách 12 ấp của xã

Trang 37

- Lập danh sách 227 tổ nhân dân tự quản theo thứ tự đơn vị hành chánh, lấy từ

dữ liệu dân số từng tổ, theo kết quả điều tra dân số ngày 18/12/2014 của xã Vĩnh Thành

- Lên bảng số liệu cộng dồn dân số (Bảng phụ lục 2)

- Khoảng cách mẫu: tổng dân số xã Vĩnh Thành chia cho 60 cụm,

K = 16637/60 = 277

- Chọn ngẫu nhiên số N = 102 (nằm trong khoảng từ 1 đến khoảng cách mẫu 277), bắt đầu là cụm số 0

- Các cụm kế tiếp sẽ được chọn theo công thức N+ Kx (với x= 1,2,3,4…59)

- Đơn vị khảo sát là người từ 60 tuổi trở lên, hiện đang sống ở xã Vĩnh Thành

- Cách chọn: theo phương pháp hộ liền hộ, bắt đầu từ một nhà ngẫu nhiên trong tổ nhân dân tự quản được chọn làm cụm, mỗi cụm chỉ khảo sát 10 người, khi đủ số thì ngưng Trường hợp tổ nhân dân tự quản có cỡ dân nhỏ thì chỉ chọn hết NCT trong tổ rồi ngưng

Cỡ mẫu: Công thức tính cỡ mẫu cho xác định/ước lượng một tỷ lệ (cỡ quần

600 người

Trang 38

2.2.4 Phương pháp tiến hành ngiên cứu:

Đến từng hộ gia đình được chọn vào nghiên cứu Thu thập thông tin cá nhân, đánh giá theo bộ câu hỏi soạn sẵn

Số liệu được xử lý mỗi ngày, để cung cấp lại thông tin ngay khi có phát hiện sai sót

2.2.5 Công cụ thu thập số liệu:

Phiếu thu thập số liệu soạn sẵn

Nội dung bộ câu hỏi soạn sẵn, không kể phần hành chính gồm có 22 câu (phụ lục 1)

- 4 câu về đặc điểm dân số xã hội

- 8 câu đánh giá về hoạt động sinh hoạt hàng ngày (IADL), dựa theo thang điểm Lawton[31]

- 6 câu về khả năng thực hiện các hoạt động cơ bản hàng ngày (ADL), được đánh giá theo chỉ số Katz[81]

- 4 câu đánh giá bệnh lý kèm theo qua thông tin về bệnh mãn tính hiện mắc và thuốc đang dùng hàng ngày

- Giới:

Giới tính là biến nhị giá: nam hoặc nữ

Trang 39

- Đa bệnh: ≥ 2 bệnh mãn tính

Số bệnh là biến định lƣợng, đƣợc mã hoá thành biến định tính, khi phân làm 2 nhóm: có hoặc không

Các bệnh mãn tính đƣợc ghi nhận dựa vào các chứng từ khám chữa bệnh của cơ

sở điều trị Trạm Y Tế xã trở lên Có thể ghi nhận từ sổ khám bệnh hoặc toa thuốc

- Đa thuốc: ≥ 5 thuốc

Số thuốc hiện bệnh nhân đang uống là biến định lƣợng, đƣợc mã hoá thành biến định tính, khi phân làm 2 nhóm: có hoặc không

Trang 40

Ghi nhận thuốc đang uống hàng ngày dựa vào toa thuốc và vỏ thuốc, bao gồm thuốc kê đơn và không kê đơn

2.3 Xử lý số liệu:

- Xử lý số liệu = phần mềm SPSS 16.0

- Kiểm tra bảng câu hỏi và kết quả từng đối tượng ngay trong ngày, nếu cần thiết trở lại gặp đối tượng khảo sát lần 2

- Biến định tính trình bày dưới dạng tỷ lệ (Mục tiêu 1 và 2)

- Dùng phép kiểm chi bình phương để so sánh 2 biến định tính (Mục tiêu 3)

- Dùng phép kiểm hồi quy đa biến để khử nhiễu (Mục tiêu 3)

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu:

- Nghiên cứu đã được Hội đồng y đức thông qua

- Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của chính quyền và nhân dân địa phương

- Khi thu thập thông tin có hỏi ý kiến và được sự đồng thuận của người tham gia nghiên cứu bằng văn bản

- Thông tin nhạy cảm về gia đình và người tham gia được giữ bí mật

- Mục tiêu của đề tài là muốn góp một phần số liệu ban đầu về tình trạng hạn chế chức năng, tình trạng đa bệnh, đa thuốc ở NCT trong cộng đồng, nhằm phục vụ cho kế hoạch chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi

- Kết quả nghiên cứu sau khi được nghiệm thu, đánh giá, sẽ thông báo lại cơ quan y tế địa phương để sử dụng vào việc đánh giá và lập kế hoạch chăm sóc sức khoẻ NCT trong khu vực

Ngày đăng: 20/03/2021, 10:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thông tư 16/2002/TT-BLĐTBXH (2002), "Hướng dẫn nghị định 30 về người cao tuổi". Bộ lao động thương binh xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn nghị định 30 về người cao tuổi
Tác giả: Thông tư 16/2002/TT-BLĐTBXH
Năm: 2002
2. Thông tư 35/2011/TT-BYT (2011), "Hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi". Bộ Y Tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi
Tác giả: Thông tư 35/2011/TT-BYT
Năm: 2011
3. Nguyễn Thành Danh (2013), "Chỉ định thuốc không thích hợp ở người cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi theo tiêu chuẩn STOPP", Luận án chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dƣợc Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ định thuốc không thích hợp ở người cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi theo tiêu chuẩn STOPP
Tác giả: Nguyễn Thành Danh
Năm: 2013
4. Trần Trọng Đàm (2001), "Tình trạng hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi quận 8, Tp Hồ Chí Minh 2001". Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, Tập 8 (Phụ bản số 1), tr. 9-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi quận 8, Tp Hồ Chí Minh 2001
Tác giả: Trần Trọng Đàm
Năm: 2001
5. Phùng Hoàng Đạo (2012), "Chỉ định thuốc không thích hợp ở người cao tuổi điều trị nội trú bệnh viện theo tiêu chuẩn STOPP", Luận án chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dƣợc Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ định thuốc không thích hợp ở người cao tuổi điều trị nội trú bệnh viện theo tiêu chuẩn STOPP
Tác giả: Phùng Hoàng Đạo
Năm: 2012
6. Phạm Ngân Giang (2008), "Tỷ lệ hạn chế sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng". Tạp chí nghiên cứu Y học, 6, tr. 88-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ hạn chế sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng
Tác giả: Phạm Ngân Giang
Năm: 2008
7. Giang Thanh Long (2010), "Già hoá dân số ở Việt Nam: Thách thức của một nước có thu nhập trung bình". Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hoá dân số ở Việt Nam: Thách thức của một nước có thu nhập trung bình
Tác giả: Giang Thanh Long
Năm: 2010
8. Nguyễn Thị Hoàng Phụng (2006), "Mức độ sinh hoạt thể lực, hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người cao tuổi ở xã Thanh Phú, Bến Lức, Long An". Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, Tập 10 (Phụ bản số 1), tr. 65-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ sinh hoạt thể lực, hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người cao tuổi ở xã Thanh Phú, Bến Lức, Long An
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Phụng
Năm: 2006
9. Võ Văn Tài (2013), "Tỷ lệ hạn chế hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của người cao tuổi tại Thành Phố Vũng Tàu năm 2013", Luận văn tốt nghiệp CKII, Đại học Y Dƣợc TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ hạn chế hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của người cao tuổi tại Thành Phố Vũng Tàu năm 2013
Tác giả: Võ Văn Tài
Năm: 2013
10. Phạm Thắng (2007), "Tình hình bệnh tật của người cao tuổi Việt Nam qua một số nghiên cứu dịch tễ học tại cộng đồng". Tạp chí Dân số &amp; Phát triển, 4 (73) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh tật của người cao tuổi Việt Nam qua một số nghiên cứu dịch tễ học tại cộng đồng
Tác giả: Phạm Thắng
Năm: 2007
11. Del Duca, Silva,Hallal, (2009), "Disability relating to basic and instrumental activities of daily living among elderly subjects". Rev Saude Publica, 43 (5), pp. 796-805 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disability relating to basic and instrumental activities of daily living among elderly subjects
Tác giả: Del Duca, Silva,Hallal
Năm: 2009
12. Agborsangaya Calypse B, Lau Darren, Lahtinen Markus, Cooke Tim, Johnson Jeffrey(2012), "Multimorbidity prevalence and patterns across socioeconomic determinants: a cross-sectional survey". BMC Public Health, 12 (1), pp. 201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multimorbidity prevalence and patterns across socioeconomic determinants: a cross-sectional survey
Tác giả: Agborsangaya Calypse B, Lau Darren, Lahtinen Markus, Cooke Tim, Johnson Jeffrey
Năm: 2012
13. Asberg K. H. (1988), "The common language of Katz's index of ADL in six studies of aged and disabled patients". Scand J Caring Sci, 2 (4), pp. 171-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The common language of Katz's index of ADL in six studies of aged and disabled patients
Tác giả: Asberg K. H
Năm: 1988
14. Avelino-Silva, Farfel, Curiati, Amaral, Campora, et al. (2014), "Comprehensive geriatric assessment predicts mortality and adverse outcomes in hospitalized older adults". BMC Geriatr, 14, pp. 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comprehensive geriatric assessment predicts mortality and adverse outcomes in hospitalized older adults
Tác giả: Avelino-Silva, Farfel, Curiati, Amaral, Campora, et al
Năm: 2014
15. Chan K. S, Kasper, Brandt, Pezzin (2012), "Measurement equivalence in ADL and IADL difficulty across international surveys of aging: findings from the HRS, SHARE, and ELSA". J Gerontol B Psychol Sci Soc Sci, 67 (1), pp. 121-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurement equivalence in ADL and IADL difficulty across international surveys of aging: findings from the HRS, SHARE, and ELSA
Tác giả: Chan K. S, Kasper, Brandt, Pezzin
Năm: 2012
16. Claesson L, Svensson E. (2001), "Measures of order consistency between paired ordinal data: application to the Functional Independence Measure and Sunnaas index of ADL". J Rehabil Med, 33 (3), pp. 137-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measures of order consistency between paired ordinal data: application to the Functional Independence Measure and Sunnaas index of ADL
Tác giả: Claesson L, Svensson E
Năm: 2001
17. Dagli R. J, Sharma A. (2014), "Polypharmacy: A Global Risk Factor for Elderly People". J Int Oral Health, 6 (6), pp. i-ii Sách, tạp chí
Tiêu đề: Polypharmacy: A Global Risk Factor for Elderly People
Tác giả: Dagli R. J, Sharma A
Năm: 2014
18. Den Ouden M. E., Schuurmans, Mueller-Schotte, Brand, van der Schouw (2013), "Domains contributing to disability in activities of daily living". J Am Med Dir Assoc, 14 (1), pp. 18-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Domains contributing to disability in activities of daily living
Tác giả: Den Ouden M. E., Schuurmans, Mueller-Schotte, Brand, van der Schouw
Năm: 2013
19. Dencker K, Gottfries C. G. (1995), "Activities of daily living ratings of elderly people using Katz' ADL Index and the GBS-M scale". Scand J Caring Sci, 9 (1), pp. 35-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Activities of daily living ratings of elderly people using Katz' ADL Index and the GBS-M scale
Tác giả: Dencker K, Gottfries C. G
Năm: 1995
20. Dunlop, Manheim, Sohn, Liu, Chang (2002), "Incidence of functional limitation in older adults: the impact of gender, race, and chronic conditions". Arch Phys Med Rehabil, 83 (7), pp. 964-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incidence of functional limitation in older adults: the impact of gender, race, and chronic conditions
Tác giả: Dunlop, Manheim, Sohn, Liu, Chang
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w