3.16 Thái độ của nhân viên y tế trong công việc 55 3.17 Thái độ với việc đào tạo người chăm sóc bệnh nhân HIV 56 3.18 Thực hành rửa tay và sử dụng phương tiện phòng hộ 57 3.19 Xử lý vết
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC THÁI NGUYÊN
LÊ PHƯƠNG LAN
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS NGHỀ NGHIỆP CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH YÊN BÁI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CAN THIỆP
LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Thái Nguyên - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC THÁI NGUYÊN
LÊ PHƯƠNG LAN
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS NGHỀ NGHIỆP CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH YÊN BÁI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CAN THIỆP
LUẬN ÁN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án tốt nghiệp tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các anh chị và các bạn đồng nghiệp
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, các thầy
cô giáo đã hết lòng giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư - Tiến sỹ Đoàn Huy Hậu, giảng viên Bộ môn Dịch tễ, Học viện Quân y Hà Nội đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y tế tỉnh Yên Bái, Ban Giám đốc và tập thể cán bộ Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Yên Bái, Ban Giám đốc và tập thể cán bộ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận án tốt nghiệp
Tôi vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè luôn dành cho tôi những điều kiện tinh thần, vật chất tốt nhất trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận án
Thái Nguyên, ngày 17 tháng 01 năm 2012
Tác giả
Lê Phương Lan
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Những thông tin cơ bản về HIV/AIDS 4
1.2 Phơi nhiễm HIV nghề nghiệp 14
1.3 Chính sách bảo vệ nhân viên y tế phòng lây nhiễm HIV 23
1.4 Thực trạng kiến thức, thực hành dự phòng phơi nhiễm HIV nghề nghiệp của sinh viên y, cán bộ y tế 24
1.5 Đặc điểm tình hình HIV/AIDS và công tác phòng chống HIV/AIDS của tỉnh Yên Bái 28
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2 Địa điểm nghiên cứu 35
2.3 Thời gian nghiên cứu 35
2.4 Phương pháp nghiên cứu 35
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 38
2.6 Những hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Một số thông tin của đối tượng nghiên cứu 39
Trang 53.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng lây nhiễm HIV nghề
nghiệp của nhân viên y tế Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái 433.3 Các yếu tố liên quan đến dự phòng lây nhiễm HIV nghề nghiệp
của nhân viên y tế 63
nghiệp cho nhân viên y tế 75
KẾT LUẬN 78 KHUYẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO aPhụ lục g
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADN Acid desoxyribonucleic
ARN Acid ribonucleic
AZT Zidovudine - Thuốc kháng retrovirus ARV Antiretroviral - Thuốc kháng retrovirus AIDS Acquired Immuno Deficiency Syndrome BKT Bơm kim tiêm
HIV Human Immunodeficiency Virus
HBV Hepatitis C virus (Vi rus viêm gan B) HCV Hepatitis B virus (Vi rus viêm gan C) GMD Gái mại dâm
KB/KTL Không biết/Không trả lời
NCMT Người có ma túy
NVYT Nhân viên y tế
STDs Sexually transmitted diseases (Bệnh lây
qua đường tình dục) TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
WHO ……… World Health Organisation
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
3.2 Thông tin về trình độ chuyên môn và thời gian công tác 40 3.3 Thông tin về đơn vị công tác và việc đào tạo về dự phòng lây
3.7 Kiến thức của NVYT về khả năng lây nhiễm cao của các giai
3.8 Kiến thức về hoàn cảnh xảy ra phơi nhiễm làm tăng nguy cơ
3.10 Kiến thức về giảm nguy cơ lây nhiễm HIV từ sản phụ sang
3.15 Lý do chỉ định dùng thuốc cho người bệnh 54
Trang 83.16 Thái độ của nhân viên y tế trong công việc 55 3.17 Thái độ với việc đào tạo người chăm sóc bệnh nhân HIV 56 3.18 Thực hành rửa tay và sử dụng phương tiện phòng hộ 57 3.19 Xử lý vết thương hở da của nhân viên y tế trước khi chăm sóc
người bệnh, xử lý tai nạn gây vết thương tại chỗ khi chăm sóc
3.23 Xử lý dịch thể người bệnh, mô/các cơ quan người bệnh và các
đồ vải bị dơ bẩn bởi máu, dịch thể của người bệnh 62 3.24 Thực trạng việc trang bị phương tiện phòng hộ cho nhân viên
3.25 Việc tổ chức kiểm tra nhân viên y tế thực hiện quy định dự
phòng lây nhiễm HIV nghề nghiệp và ý thức tự giác thực hiện
3.26 Nguyên nhân không thực hiện các quy định về phòng lây
3.27 Mối liên quan giữa đào tạo và kiến thức của nhân viên y tế 66 3.28 Sự khác biệt về kiến thức của NVYT giữa các khối lâm sàng 66 3.29 Mối liên quan giữa thâm niên công tác của nhân viên y tế với
3.30 Mối liên quan giữa đào tạo với thực hành phòng chống
3.31 Sự khác biệt về thực hành của NVYT giữa các khối lâm sàng 68
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.1 Thông tin về tuổi, dân tộc của nhân viên y tế 40 3.2 Trình độ chuyên môn và thời gian công tác 41 3.3 Đơn vị công tác và tỷ lệ nhân viên y tế được đào tạo về dự
3.4 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng/sai về xử lý sau phơi
3.5 Kiến thức đúng về giảm nguy cơ lây nhiễm HIV từ sản phụ
3.6 Kiến thức đúng về các trường hợp bắt buộc phải xét nghiệm
3.7 Kiến thức đúng về nguyên tắc của dự phòng phổ cập 51
3.11 Tỷ lệ nhân viên y tế trả lời về sự đáp ứng phương tiện phòng
3.12 Tổ chức kiểm tra nhân viên y tế thực hiện các quy định dự
phòng lây nhiễm HIV nghề nghiệp và ý thức tự giác thực hiện
các quy định phòng lây nhiễm HIV của nhân viên y tế 65
Trang 10và cấp độ toàn cầu, có thể thấy nhân loại chưa có khả năng ngăn chặn được tốc độ lây nhiễm HIV/AIDS Dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục gia tăng và tàn phá nặng nề đặc biệt là ở các khu vực ở châu Phi và tiếp theo là châu Á Một số nước châu Phi, vùng cận Sahara có tới hơn 50% bệnh nhân nhập viện là do HIV/AIDS, tuổi thọ bình quân ở khu vực đó chỉ còn 40 tuổi; Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đại dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục gia tăng và tàn phá nặng nề Ước tính mỗi năm sẽ có thêm khoảng 500.000 trường hợp nhiễm mới nếu các quốc gia không tăng cường các hoạt động nhằm ngăn chặn sự lây lan của loại vi rút này [39], [41]
Ở nước ta, theo thống kê của Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS, tính đến ngày 30/9/2010, cả nước có 108.312 trường hợp nhiễm HIV đang còn sống được báo cáo, trong đó có 42.339 bệnh nhân AIDS và tổng số người
chết do AIDS đã được báo cáo là 48.368 người [12]
Tỷ lệ nhiễm HIV gia tăng, tại các cơ sở y tế ngày càng có nhiều người nhiễm HIV/AIDS đến xét nghiệm, khám bệnh và điều trị Thực tế này đã trở thành gánh nặng cho ngành y tế trong công tác điều trị, chăm sóc, hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS Đồng thời, đối với nhân viên y tế, công tác phòng
Trang 11chống lây nhiễm HIV là nhu cầu hết sức chính đáng và bức thiết, khả năng lây nhiễm HIV nghề nghiệp sẽ lớn nếu không có sự tự bảo vệ và phòng hộ đúng Tại Hoa Kỳ đến tháng 6/1995, trong tổng số 143 trường hợp bị phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV được báo cáo thì có 46 trường hợp có huyết
thanh dương tính với HIV sau phơi nhiễm [16]
Ở nước ta, theo báo cáo của Cục phòng chống AIDS Việt Nam, tính đến cuối năm 2005, trên toàn quốc đã có gần 1.000 nhân viên y tế được báo
cáo bị phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV [16]
Chỉ riêng năm 2010, số liệu thống kê từ 46 tỉnh thành trong cả nước cho thấy: có 411 ca phơi nhiễm HIV Không có báo cáo đầy đủ của 63 tỉnh thành, do vậy con số phơi nhiễm HIV nghề nghiệp thực tế sẽ lớn hơn rất nhiều Các nhà chuyên môn cho biết, từ trước đến nay, tuy chưa có ca nào bị nhiễm HIV do phơi nhiễm nghề nghiệp, nhưng công tác phòng tránh phơi nhiễm vẫn phải được hết sức coi trọng [30]
Các hành vi gây phơi nhiễm HIV trong ngành y tế thường là do sơ ý trong tiêm truyền, trong lấy máu làm xét nghiệm, làm các thủ thuật Bởi vậy, đối tượng dễ bị phơi nhiễm HIV trong ngành y tế thường là điều dưỡng trực tiếp chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS, nhân viên trong kíp mổ, nhân viên y tế làm việc tại các khoa cấp cứu và điều trị tích cực, nhân viên khoa xét nghiệm, khoa giải phẫu bệnh hoặc bác sĩ nội khoa làm thủ thuật cho bệnh nhân HIV/AIDS (chọc dịch màng não, chọc dịch màng bụng, màng phổi ) [16]
Theo số liệu của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Yên Bái tính
từ năm 2005 đến nay có 61 trường hợp phơi nhiễm HIV nghề nghiệp được báo cáo Trong đó cán bộ ngành y tế bị phơi nhiễm là 29 người, thành phần gồm: Bác sỹ: 7; Y sỹ: 12; Hộ sinh và điều dưỡng: 10; Các trường hợp được báo cáo đều được tư vấn, điều trị dự phòng sau phơi nhiễm, không có trường
Trang 12hợp nào HIV (+) sau phơi nhiễm Tuy nhiên, phản ứng tâm lý của người bị phơi nhiễm là hết sức nặng nề và kéo dài trong suốt thời gian chờ xác định kết quả Nguyên nhân của những phản ứng bất lợi này là do cán bộ y tế chưa hiểu biết đầy đủ về phơi nhiễm nghề nghiệp và dự phòng lây nhiễm HIV sau phơi nhiễm
Khi xảy ra tai nạn nghề nghiệp, nhiều nhân viên y tế lúng túng trong việc xử lý vết thương tại chỗ cho chính bản thân mình, lúng túng trong việc thực hiện quy trình xử lý sau phơi nhiễm Vì vậy, trang bị cho nhân viên y tế kiến thức về dự phòng lây nhiễm và dự phòng sau phơi nhiễm HIV/AIDS nghề nghiệp là một vấn đề hết sức cần thiết Vấn đề phòng lây nhiễm HIV cho nhân viên y tế đã trở thành mối quan tâm của toàn ngành
Từ thực tiễn trên, một số câu hỏi được đặt ra là: Kiến thức, thái độ về
dự phòng lây nhiễm HIV (bao gồm cả dự phòng sau phơi nhiễm), việc thực hành các quy định về dự phòng lây nhiễm HIV của nhân viên y tế trong khi làm việc tại bệnh viện ra sao? Những yếu tố nào liên quan đến hành vi dự phòng lây nhiễm HIV của nhân viên y tế?
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm các mục tiêu sau đây:
Mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng lây nhiễm HIV nghề nghiệp của nhân viên y tế Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái năm 2011
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến phòng lây nhiễm HIV nghề nghiệp của nhân viên y tế Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái
3 Đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV nghề nghiệp của nhân viên y tế bệnh viện
Trang 13
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Những thông tin cơ bản về HIV/AIDS
1.1.1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam
HIV/AIDS đang là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu trên thế giới Kể từ khi 5 trường hợp suy giảm miễn dịch mắc phải được phát hiện lần đầu tiên tại thành phố Los Angeles (Mỹ) vào tháng 5 năm 1981, đến nay HIV/AIDS đã lan khắp toàn cầu và thực sự trở thành đại dịch với những diễn biến phức tạp, nghiêm trọng Nó sẽ trở thành hiểm họa của toàn nhân loại nếu không có giải pháp ngăn chặn và khống chế sự lây lan của căn bệnh này [16], [39], [43]
đó có khoảng 25 triệu người đã chết do các bệnh có liên quan đến AIDS [41] Theo phân tích của các chuyên gia, tổng số người nhiễm HIV còn sống vẫn đang tiếp tục gia tăng trong thời gian tới, sự gia tăng này là hệ quả của hai tác động chủ yếu:
Một là: Số người mới nhiễm HIV hàng năm trên toàn cầu vẫn ở
mức cao
Hai là: Do kết quả tích cực của các liệu pháp điều trị kháng vi rút bằng
ARV làm giảm số người tử vong, kéo dài sự sống cho người bệnh Nhiễm
Trang 14HIV/AIDS xảy ra chủ yếu ở những người trẻ, đang trong độ tuổi lao động và hoạt động tình dục mạnh Khoảng 1/2 số nhiễm HIV khi dưới 25 tuổi và chết
vì AIDS trước 35 tuổi Dịch HIV/AIDS đang tạm ổn định ở các nước công nghiệp phát triển như Tây Âu, Úc, New Zeland, Bắc Mỹ nhưng lại phát triển nhanh, mạnh trong nhóm NCMT ở Trung Đông Âu và Đông Nam Á Hầu hết ở các nước Châu Á, dịch HIV/AIDS đang ở giai đoạn tập trung trên phạm vi toàn quốc hoặc tối thiểu ở một số bang hay tỉnh lỵ như ở Trung Quốc, Ấn Độ, phần lớn bán đảo Đông Dương và Malaysia Ở các quốc gia Châu Á khác, dịch còn ở giai đoạn sơ khai, có nghĩa là tỷ lệ lây nhiễm trong những nhóm người có nguy cơ cao vẫn còn ở mức dưới 5% [39], [41]
HIV/AIDS đã bắt đầu chuyển trọng điểm từ Châu Phi sang Nam
Á và Đông Nam Á Đông Nam Á là khu vực mà hiện nay và trong những thập kỷ tiếp theo có tốc độ phát triển kinh tế, thương mại, du lịch nhanh Đồng thời quá trình đô thị hoá, phân hoá giàu nghèo, sự gia tăng tệ nạn
xã hội, nhất là tệ nạn mại dâm mà phụ nữ và trẻ em là hai đối tượng ít có khả năng tự bảo vệ thì HIV sẽ còn gia tăng Đặc biệt nghiêm trọng hơn, vùng Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á chịu ảnh hưởng nhiều của vị trí địa
lý bởi có nhiều nước nằm gần “Tam giác vàng”- nơi sản xuất ra Heroin Trong những năm đầu của thế kỷ 21 khu vực này sẽ phải đương đầu khốc liệt với nạn buôn bán, vận chuyển và sử dụng ma tuý, một nguyên nhân quan trọng góp phần làm lây truyền HIV/AIDS Tuy nhiên, ở các châu lục, dịch HIV/AIDS đang diễn biến phức tạp với hậu quả khó lường hết được [1], [39], [41]
Tại châu Phi
Đến năm 2009, tại vùng cận Sahara gần 22,4 triệu người chung sống với HIV, chiếm hơn 2/3 gánh nặng toàn cầu Hơn 11,5 triệu người chết vì AIDS chiếm 83% số chết liên quan đến HIV trên toàn Thế giới
Trang 15Phương thức lây truyền HIV chủ yếu ở Châu Phi là qua đường tình dục khác giới Các công trình nghiên cứu của WHO cho thấy việc ngăn HIV lan truyền theo con đường tình dục khác giới tại khu vực này khó khăn hơn nhiều
so với các vùng dịch khác Tỉ lệ lây truyền qua đường máu thấp (<10% trong tổng số ca nhiễm) do đẩy mạnh sàng lọc máu và truyền máu đúng chỉ định
Các số liệu giám sát huyết thanh học những năm gần đây cho thấy đại dịch này vẫn tiếp tục phát triển, đặc biệt ở vùng Tây và Nam Phi Ở Tây Phi, kết quả giám sát điểm tại Nigeria là nước có dân số bằng 1/5 dân số của vùng cận Sahara cho thấy HIV đã lan tràn khắp đất nước WHO dự đoán nếu không phòng chống HIV/AIDS tích cực thì trong vòng 10 năm tới một số nước
ở Châu Phi sẽ bị huỷ diệt hoàn toàn [1], [11]
Trang 16Tại Bắc Mỹ, Úc, Tây Âu
Dịch HIV xuất hiện và lan rộng từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước với phương thức lây chủ yếu qua đường tình dục đồng giới nam và tiêm chích
ma tuý Tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong đối tượng NCMT rất cao (Tây Ban Nha lên tới 51% ) Ở nhiều thành phố lớn, AIDS là nguyên nhân chủ yếu gây chết
ở người trẻ tuổi
WHO đánh giá trong những năm tới các nước ở khu vực này phải chi
ít nhất vài tỉ đô la hàng năm để chăm sóc y tế cho người nhiễm HIV [11]
Phương thức lây truyền chủ yếu ở khu vực này là qua đường quan
hệ tình dục đồng giới và khác giới, qua tiêm chích ma tuý, tập chung nhiều ở các thành phố lớn Gần đây lây qua đường tình dục khác giới tăng lên
và trở thành phương thức khá phổ biến
Nhu cầu về chăm sóc y tế cho người nhiễm HIV/AIDS ở các nước trong khu vực này là rất lớn, nhất là đối với những nước hệ thống y tế chưa phát triển, các chương trình giám sát và phòng chống HIV chưa tích cực [11], [41]
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/1990 Đến năm 1993, dịch bắt đầu bùng nổ trong nhóm NCMT tại một số tỉnh phía Nam và miền Trung như: Thành phố
Trang 17Hồ Chí Minh, Khánh Hoà từ đó lan ra toàn quốc với tốc độ khá nhanh Nhiễm HIV đã trở thành vấn đề bức xúc ở Việt Nam, HIV/AIDS đã xuất hiện
ở 64/64 tỉnh thành Nhiều địa phương, tất cả các quận/huyện, xã/phường đều
có người nhiễm HIV/AIDS [16]
Số liệu về HIV diễn biến theo thời gian như sau: Năm 1996 số trường hợp nhiễm HIV mới là 1.681; Năm 1997 là 2.811; Năm 1998 là 5.670; Năm
1999 là 7.956; Năm 2000 là 10.333; Năm 2001 là 14.536; Năm 2002 là 15.790… Những con số này cho thấy: Nhiễm HIV mới hàng năm có xu hướng gia tăng Những năm gần đây công tác phòng chống HIV/AIDS đã có tác động tích cực, bằng các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông về sự nguy nhiểm của căn bệnh HIV và cách phòng tránh cho cộng đồng, tăng cường các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu sự gia tăng HIV, thực hiện các giải pháp chuyên môn kỹ thuật, tăng cường sự tiếp cận của người nhiễm HIV với các dịch vụ chăm sóc số nhiễm mới đã giảm dần từng năm Tính riêng 9 tháng đầu năm 2010 số nhiễm mới là 9.128 người, số AIDS là 1.498 người, số tử vong là 1.498 người Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương
có số nhiễm cao nhất Phân tích hình thái lây nhiễm cho thấy, trong số người phát hiện nhiễm mới: 49% nhiễm qua đường máu, 38% nhiễm qua đường tình dục, 3% qua đường mẹ con, 10% không rõ đường lây Tỷ lệ người nhiễm ở là nam chiếm 70,8% và nữ chiếm 29,2% Phần lớn là ở nhóm tuổi 20 – 39 (80%), trẻ em dưới 15 tuổi chiếm gần 3% [8], [12], [13], [16], [31]
1.1.2 Ảnh hưởng của đại dịch HIV/AIDS đối với sức khỏe, kinh tế - xã hội và giống nòi
Tuy mới xuất hiện từ những năm 1980 nhưng dịch HIV/AIDS đã nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu HIV tấn công mọi đối tượng như: Phụ nữ, trẻ em, thanh niên, những người làm các nghề khác nhau, những người đồng tính luyến ái, nghiện chích ma tuý, mại dâm Dịch HIV/AIDS phát triển liên
Trang 18tục, hiện nay đã trở thành một đại dịch nguy hiểm Đại dịch này bao gồm nhiều vụ dịch xảy ra ở từng vùng của từng nước, từng châu lục, có phương thức lây truyền, biểu hiện lâm sàng, đặc trưng riêng tuỳ thuộc vào nguồn gốc
vi rút, đối tượng nhiễm, điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng nước, từng khu vực [46], [48]
Do thời gian ủ bệnh kéo dài (8 - 15 năm) nên khó phát hiện bệnh, trong khi phương thức lây truyền phức tạp bởi số người nhiễm chủ yếu ở độ tuổi trưởng thành, giao lưu rộng, sinh hoạt tình dục mạnh mẽ Do thiếu các biện pháp phòng chống hữu hiệu nên số người nhiễm HIV/AIDS và tử vong do AIDS có xu hướng gia tăng Đại dịch này không chỉ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ của con người mà còn gây tác hại lớn đến sự phát triển kinh
tế - xã hội, văn hoá, nòi giống và trở thành hiểm hoạ của loài người
Trong điều kiện đại dịch HIV/AIDS phát triển và lan tràn mạnh như hiện nay, ngân sách gia đình và ngân sách quốc gia sẽ phải dành ra một khoản chi rất lớn để chăm sóc, điều trị cho người bệnh Chỉ tính riêng chi phí trực tiếp cho điều trị bệnh nhân AIDS thì con số thiệt hại đã là rất lớn
Ví dụ: Ở Thái Lan, để điều trị bằng AZT cho bệnh nhân AIDS thì chi phí hàng năm khoảng 1.016 USD/ca Nếu bệnh nhân AIDS trung bình sống 1,5 năm kể từ khi khởi phát thì chi phí cho một bệnh nhân AIDS là 1.524 USD [41]
Về chi phí cho phòng nhiễm HIV: Ở các nước đang phát triển, để phòng nhiễm cho 10 triệu người (trong thời gian 1997 - 2000) cần đầu tư 2,5
tỷ USD/năm cho công tác phòng tránh cơ bản Đối với châu Á, để tránh nhiễm HIV cho 5 triệu người (1997 - 2000) cần đầu tư 1,5 tỷ USD/năm, tức là khoảng 0,03% tổng thu nhập của châu Á [41]
Rõ ràng, các quốc gia đang phải dành những khoản kinh phí không nhỏ
cho việc phòng và điều trị HIV/AIDS
Trang 191.1.3 Quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước về tăng cường công tác phòng chống HIV/AIDS
Xác định rõ HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khoẻ con người và tương lai nòi giống của dân tộc, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến công tác phòng, chống HIV/AIDS từ rất sớm Ngay sau khi Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 11/3/1995 về lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS; Ngày 31/5/1995, Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, ngành có liên quan đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS [24]
Pháp lệnh phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) của Việt nam đã chỉ rõ: “HIV/AIDS là đại
dịch nguy hiểm của thế kỷ, là mối hiểm họa đối với sức khỏe, tính mạng của con người và tương lai nòi giống của cả dân tộc, tác động nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội của mỗi Quốc gia Phòng, chống nhiễm HIV/AIDS là trách nhiệm của mọi người, của mọi gia đình và của toàn xã hội Nhà nước có chính sách và biện pháp kịp thời đảm bảo việc phòng, chống nhiễm HIV/AIDS có hiệu quả” [42]
Pháp lệnh cũng đã quy định rõ: “Cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức thành viên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mỗi công dân, tổ chức và cá nhân nước ngoài tại Việt Nam thực hiện việc phòng, chống nhiễm HIV/AIDS theo quy định của pháp luật” [42]
Trang 20Về các biện pháp phòng chống HIV/AIDS, Chương II, điều 7 Pháp
lệnh đã nêu rõ: “Thông tin, giáo dục, truyền thông là biện pháp chủ yếu để
mọi người hiểu và thực hiện các biện pháp phòng tránh lây truyền HIV/AIDS” [42]
Đối với cán bộ y tế, điều 13, pháp lệnh quy định: “Thầy thuốc và nhân
viên y tế tại cơ sở y tế có trách nhiệm thực hiện các quy định chuyên môn về
xử lý nhiễm HIV/AIDS trong công tác phòng bệnh, khám chữa bệnh và thực hiện các dịch vụ kỹ thuật y tế, dịch vụ kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình” [42]
Pháp lệnh về phòng, chống HIV/AIDS đã tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai có hiệu quả công tác phòng, chống HIV/AIDS trên các mặt: Thông tin - giáo dục - truyền thông; phòng, chống lây nhiễm HIV qua tiêm chích ma tuý, hoạt động mại dâm; giám sát dịch tễ học, an toàn truyền máu, điều trị, dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về dự phòng lây nhiễm HIV; bảo đảm được các chỉ tiêu về an toàn truyền máu, giám sát HIV/AIDS; ổn định và phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước và bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực
phòng, chống HIV/AIDS mà Việt Nam là thành viên
Pháp lệnh cũng là công cụ quản lý chủ yếu của Nhà nước, góp phần tích cực vào công tác phòng, chống HIV/AIDS Tuy nhiên, sau 10 năm tổ chức triển khai thi hành, Pháp lệnh này đã bộc lộ nhiều bất cập cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Cụ thể là:
Một số quy định về xét nghiệm phát hiện HIV khi khám sức khoẻ định kỳ; khai báo tình trạng nhiễm HIV của người nước ngoài khi nhập cảnh; chế
độ bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp cho người trực tiếp chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV; các ngành, nghề người nhiễm HIV không được làm.v.v đều không có tính khả thi trong thực tiễn nên cần phải được huỷ bỏ
Trang 21Những quy định như chống kỳ thị, phân biệt đối xử, bảo vệ bí mật riêng tư; xét nghiệm bắt buộc, xét nghiệm tự nguyện; thông báo kết quả xét nghiệm, điều trị cho người nhiễm HIV đều chưa cụ thể hoặc không còn phù hợp nên cần phải được sửa đổi
Nhiều vấn đề mới nảy sinh trong công tác phòng, chống HIV/AIDS mà Pháp lệnh hiện hành chưa quy định như tư vấn, giám sát HIV/AIDS; các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV; phòng chống HIV/AIDS trong gia đình, trường học, nơi làm việc; tiếp cận thuốc điều trị HIV/AIDS; quản lý, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV nên cần phải được bổ sung
HIV/AIDS được xác định là vấn đề xã hội, bên cạnh việc phòng, chống HIV/AIDS bằng các biện pháp chuyên môn kỹ thuật, thì việc áp dụng các biện pháp xã hội là hết sức quan trọng Đó là, việc áp dụng mạnh mẽ các biện pháp mang tính đột phá về can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV như sử dụng bao cao su, sử dụng bơm kim tiêm sạch…; các biện pháp về tăng cường sự phối hợp liên ngành một cách chặt chẽ, sự hưởng ứng tích cực tham gia của cộng đồng và nâng cao ý thức của mọi công dân về công tác phòng, chống HIV/AIDS
Để giải quyết những vấn đề bất cập trên, ngày 12/7/2006 “Luật Phòng,
chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)" đã ra đời nhằm thay thế Pháp lệnh năm 1995 Sự ra đời của luật
là hết sức cần thiết và cấp bách, làm nền tảng pháp lý quan trọng cho việc phòng ngừa và kiểm soát HIV/AIDS có hiệu quả ở Việt Nam, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới
Những nội dung trong luật đã thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng
về công tác phòng chống HIV/AIDS, đó là: “Đầu tư của Nhà nước cho
Trang 22phòng, chống HIV/AIDS phải phù hợp với khả năng và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn Huy động các nguồn lực của xã hội cho phòng, chống HIV/AIDS nhằm góp phần tạo ra sự phát triển bền vững của đất nước, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội trực tiếp và gián tiếp”[31] Luật về phòng, chống HIV/AIDS được coi là một trong những
công cụ chủ yếu, quan trọng trong công tác phòng, chống HIV/AIDS
Kể từ sau khi luật ra đời, đã có nhiều văn bản dưới luật được ban hành, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại địa phương
Chiến lược Quốc gia Phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 36/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 3 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ) cũng đã chỉ rõ tầm nhìn đến năm 2020 của công tác
phòng chống HIV/AIDS là: “Giai đoạn 2010 - 2020 nhà nước ta tiếp tục tăng
cường chỉ đạo, đầu tư và đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống HIV/AIDS nhằm giảm thiểu tác động của dịch HIV/AIDS đến
sự phát triển kinh tế - xã hội; Chương trình phòng, chống HIV/AIDS sẽ phải tập trung giải quyết hậu quả của HIV/AIDS; biện pháp dự phòng đặc hiệu bằng vắc xin, thuốc điều trị HIV/AIDS có thể sẽ được sử dụng rộng rãi”
Ưu tiên của công tác phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn 2010 - 2020 là:
“Dự phòng bằng các biện pháp kỹ thuật đặc hiệu; Chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS; Chăm sóc các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS” [23]
Năm 2009 Chính phủ ban hành Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 28/7/2009 về việc phê duyệt Đề án tăng cường năng lực hệ thống phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 và Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg ngày 04/6/2009
về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Các Bộ, Ngành, Cơ
Trang 23quan Trung ương đã ban hành các văn bản quản lý chỉ đạo và hướng dẫn triển khai các hoạt động phòng chống HIV/AIDS trên toàn quốc và đã tạo ra được phong trào sâu rộng về các hoạt động phòng chống HIV/AIDS
Bằng nhiều cố gắng trong việc ngăn chăn sự lây lan của căn bệnh nguy hiểm này, bước đầu chúng ta đã thu được những kết quả đáng phấn khởi, con
số nhiễm HIV mới hàng năm có xu hướng giảm dần [13]
1.2 Phơi nhiễm HIV nghề nghiệp
1.2.1 Các khái niệm
1.2.1.1 Lây nhiễm HIV
Một người bị nhiễm HIV, có thể qua truyền máu, qua quan hệ tình dục hoặc do tiếp xúc với máu và dịch thể có virus HIV, trẻ sơ sinh bị lây nhiễm HIV do mẹ truyền [14]
1.2.1.2 Phơi nhiễm HIV
Là thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch cơ thể dẫn đến nguy cơ lây nhiễm HIV [14]
1.2.1.3 Phơi nhiễm HIV do tai nạn nghề nghiệp
Là thuật ngữ mà ngành Y tế thường dùng để chỉ tình trạng nghi ngờ bị nhiễm HIV đối với những người làm việc trong môi trường có tiếp xúc với máu và dịch tiết của bệnh nhân [14]
Các dạng phơi nhiễm mà nhân viên y tế thường gặp là: Bị kim đâm vào khi lấy máu, khi tiêm truyền, chọc dò cho người bệnh Vết thương do dao mổ hay các dụng cụ sắc nhọn có dính máu hoặc chất dịch cơ thể người bệnh, tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc chất dịch của người bệnh bị vỡ đâm vào Máu, chất dịch của người bệnh bắn vào các vùng da bị tổn thương hoặc vào niêm mạc (mắt, mũi, họng) Bị người khác dùng kim tiêm có máu đâm vào Những trường hợp bị dính máu của nạn nhân khi trực tiếp cấp cứu người
bị nạn, chiến sĩ công an truy bắt tội phạm bị dính máu của tội phạm…
Trang 241.2.1.4 Dự phòng phơi nhiễm HIV do tai nạn nghề nghiệp
Là việc xử lý đúng và đủ các bước sau khi bị phơi nhiễm bao gồm cả điều trị dự phòng bằng ARV [14]
1.2.1.5 Dự phòng phổ cập
Nguyên tắc chung là: Nhân viên y tế phải coi mọi nguồn máu và dịch thể của người bệnh đều là nguồn lây nhiễm HIV Có như vậy mới luôn thực hiện đúng các quy định về bảo hộ trong khi tác nghiệp cũng như xử lý đúng quy trình với nguồn nhiễm Muốn thực hiện được điều này thì mọi cơ sở Y tế phải đáp ứng đủ găng tay, khẩu trang, mặt nạ, ủng ni lông, các dung dịch khử khuẩn và tiệt trùng [16]
1.2.1.6 Phòng ngừa chuẩn
Là tổng hợp các phương pháp “Dự phòng phổ cập”, bao gồm:
Rửa tay và sát khuẩn, sử dụng phương tiện phòng hộ thích hợp trong khi tác nghiệp, sử dụng phương tiện dùng một lần, không dùng tay trực tiếp nắm đồ vải mà phải đi găng cao su, thực hành chăm sóc an toàn, phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn và mũi kim đâm
Xử lý đúng cách với máu và dịch thể người bệnh bị đổ Thực hiện đúng các quy định của từng khoa phòng về phòng lây nhiễm HIV [16]
1.2.2 Tình hình phơi nhiễm HIV nghề nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.2.2.1 Phơi nhiễm HIV trên thế giới
Số người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ngày càng gia tăng và trở thành gánh nặng cho ngành Y tế Phơi nhiễm HIV là một trong ba phơi nhiễm thường gặp nhất (HIV, HBV, HCV) cho nhân viên y tế trong quá trình chăm sóc bệnh nhân [47]
Theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ ước tính mỗi năm tại Hoa
kỳ có khoảng 385.000 thương tích do kim tiêm hoặc vật sắc nhọn gây ra cho nhân viên y tế làm việc trong bệnh viện, tương đương với 1.000 thương tích
Trang 25mỗi ngày Số báo cáo thương tích đã tăng lên 800.000 trường hợp trong năm
1999 Tuy nhiên số thương tích xảy ra thực tế còn lớn hơn nhiều Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng có tới 40% các thương tích xảy ra mà không được báo cáo [16]
Tại Hoa Kỳ, trường hợp nhân viên y tế đầu tiên nhiễm HIV do bị kim tiêm đâm được phát hiện vào năm 1986 Đến tháng 6 năm 1995, trong tổng số
143 trường hợp bị phơi nhiễm với HIV được báo cáo có 46 nhân viên y tế có huyết thanh dương tính với HIV sau phơi nhiễm Cũng theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ, đến tháng 12 năm 2001 có 57 nhân viên y tế có huyết thanh dương tính với HIV được xác định là do phơi nhiễm nghề nghiệp và 138 trường hợp nghi ngờ có thể do phơi nhiễm nghề nghiệp [16]
Hoàn cảnh xảy ra phơi nhiễm: Tất cả nhân viên y tế đều có nguy cơ bị phơi nhiễm với HIV trong quá trình làm việc, tuy nhiên điều dưỡng là người
có nguy cơ cao nhất Hình thức phơi nhiễm được chia thành 2 nhóm:
Nhóm 1: Da bị đâm kim và tổn thương do vật sắc nhọn, trong đó 61%
là tổn thương liên quan đến kim tiêm, hay gặp nhất là khi mũi kim được tháo
ra bằng tay Khoảng 30% do kim khâu hoặc lưỡi dao trong khi phẫu thuật, 20% do dụng cụ sắc nhọn có dính máu hoặc dịch thể người bệnh [14], [16]
Nhóm 2: Phơi nhiễm qua da và niêm mạc, trong đó 76% là qua niêm
là nguồn phơi nhiễm có HIV dương tính Theo nghiên cứu của Bệnh viện Phụ
Trang 26nữ Đại học Y Harvard ở Boston thì khoảng 2% bệnh nhân của bệnh viện là nguồn phơi nhiễm [16]
1.2.2.2 Tình hình phơi nhiễm HIV nghề nghiệp tại Việt Nam
Tình hình dịch HIV của Việt Nam cho thấy nhân viên y tế có nguy cơ cao nhiễm HIV Tính đến tháng 6 năm 2005, toàn quốc có 975 trường hợp phơi nhiễm HIV nghề nghiệp, trong đó 764 trường hợp là nhân viên y tế Những cơ sở y tế có số phơi nhiễm cao là: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy [16]
Theo điều tra của bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh, trong số nhân viên y tế bị phơi nhiễm thì 34% là điều dưỡng, 13% là bác sĩ nội khoa, 53% là phẫu thuật viên Vật sắc nhọn gây ra tổn thương chủ yếu là kim tiêm (52%) Điều tra cũng cho biết, phơi nhiễm qua đường niêm mạc chủ yếu xảy
ra qua niêm mạc mắt [16]
Một điều tra tương tự ở Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội cho thấy: 67% số nhân viên y tế báo cáo đã từng có phơi nhiễm kể từ khi làm việc tại bệnh viện, trong đó 91,5% là phơi nhiễm qua da Điều tra này còn cho biết: Chỉ có 12%
số nhân viên y tế biết báo cáo với lãnh đạo bệnh viện về tình trạng phơi nhiễm của mình Số còn lại không biết rằng phải báo cáo (45%) hoặc không biết báo cáo thế nào (43%) [16]
Chỉ riêng năm 2010, số liệu thống kê từ 46 tỉnh, thành trong cả nước đã
có có 411 ca phơi nhiễm HIV Cho đến nay, việc báo cáo thống kê số phơi nhiễm HIV do nghề nghiệp trên toàn quốc vẫn chưa được báo cáo đầy đủ [30]
1.2.3 Nguy cơ phơi nhiễm HIV nghề nghiệp và xử lý sau phơi nhiễm
Khoa học đã chứng minh HIV có mặt trong máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, dịch tử cung, nước tiểu, phân, dịch tiết của vết thương, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, dịch não tủy, nước ối, hoạt dịch, dịch màng tim dịch màng
Trang 27phổi Nguyên tắc của dự phòng phổ cập là cán bộ y tế phải coi máu và dịch thể của mọi người bệnh đều là nguồn lây nhiễm, bất kỳ chất dịch nào của cơ thể đều có khả năng lây nhiễm HIV, tuy nhiên với mức độ khác nhau [16], [21]
1.2.3.1 Dịch cơ thể và nguy cơ lây nhiễm HIV [16], [20], [22]
Dịch được coi là có
nguy cơ cao
Dịch được coi là có nguy cơ thấp
Dịch được coi là có nguy cơ rất thấp (*) Máu, huyết thanh Dịch màng ối Chất nhầy tự nhiên cổ
tử cung
Dịch màng bụng Nước bọt
(*) Nếu các dịch này chứa máu – có thể nhìn thấy bằng mắt thường thì
không được coi là có nguy cơ thấp
Trang 281.2.3.2 Yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ lây nhiễm HIV [16], [20]
1 Kiểu phơi nhiễm
Bị dụng cụ sắc nhọn dính máu và dịch
thể của người bệnh xuyên qua da
Máu, dịch thể của người bệnh bắn vào
2 Số lượng máu/dịch thể và thời gian tiếp xúc
Thời gian tiếp xúc lâu Thời gian tiếp xúc nhanh
3 Loại dụng cụ có máu và dịch thể người bệnh gây tổn thương
4 Mức độ tổn thương
5 Giai đoạn lâm sàng của nguồn nhiễm
Giai đoạn sơ nhiễm và giai đoạn AIDS Giai đoạn tiến triển
1.2.4 Quy trình xử trí sau phơi nhiễm và điều trị dự phòng sau phơi
nhiễm [14]
1.2.4.1 Quy trình xử trí sau phơi nhiễm
Bước 1 Xử lý vết thương tại chỗ:
Tổn thương da chảy máu: Xối ngay vết thương dưới vòi nước Để vết thương tự chảy máu trong một thời gian ngắn, không nặn bóp vết thương Rửa
kỹ bằng xà phòng và nước sạch
Trang 29Phơi nhiễm qua niêm mạc mắt: Rửa mắt bằng nước cất hoặc nước muối NaCl 0,9% liên tục trong 5 phút
Phơi nhiễm qua miệng, mũi: Rửa, nhỏ mũi bằng nước cất hoặc dung dịch NaCl 0,9 % Xúc miệng bằng dung dịch NaCl 0,9 % nhiều lần
Bước 2 Báo cáo người phụ trách và làm biên bản: Nêu rõ ngày giờ,
hoàn cảnh xảy ra, đánh giá vết thương, mức độ nguy cơ của phơi nhiễm Lấy chữ ký của những người chứng kiến và chữ ký của người phụ trách
Bước 3 Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm:
Có nguy cơ:
Tổn thương do kim có chứa máu đâm xuyên qua da gây chảy máu: kim nòng rỗng cỡ to, chứa nhiều máu, đâm sâu nguy cơ cao hơn kim nòng nhỏ, chứa ít máu và đâm xuyên nông
Tổn thương da sâu do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải
Máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da, niêm mạc bị tổn thương viêm loét hoặc xây sát từ trước (thậm chí ngay cả khi không biết có bị viêm loét hay không): nếu viêm loét hoặc xây sát rộng thì nguy cơ cao hơn
Không có nguy cơ: máu và dịch cơ thể của người bệnh bắn vào vùng da lành
Bước 4 Xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm
Nếu người bệnh đã được xác định HIV (+): Tìm hiểu các thông tin về tiền sử và đáp ứng đối với thuốc ARV
Nếu chưa biết về tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm: Tư vấn và lấy máu xét nghiệm HIV
Bước 5 Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm
Tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV theo quy định:
Trang 30Nếu ngay sau khi bị phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm có HIV(+): đã bị nhiễm HIV từ trước, không phải do phơi nhiễm
Nếu HIV (-): kiểm tra lại sau 3 và 6 tháng
Bước 6 Tư vấn cho người bị phơi nhiễm: Người bị phơi nhiễm cần
được cung cấp các thông tin và được tư vấn thích hợp về dự phòng phơi nhiễm, lợi ích và nguy cơ:
Giới thiệu các tác dụng phụ của thuốc và triệu chứng của nhiễm trùng tiên phát: sốt, phát ban, buồn nôn hoặc nôn, thiếu máu, nổi hạch v.v
Tư vấn Phòng lây nhiễm cho người khác: người bị phơi nhiễm có thể làm lây truyền HIV cho người khác dù xét nghiệm HIV âm tính (thời kỳ cửa sổ), vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm
Tư vấn tuân thủ điều trị và hỗ trợ tâm lý
Bước 7 Điều trị dự phòng bằng ARV cho người bị phơi nhiễm:
Chỉ định: Tiến hành điều trị bằng thuốc ARV càng sớm càng tốt từ 2-6 giờ và trước 72 giờ sau khi bị phơi nhiễm cho tất cả các trường hợp phơi nhiễm có nguy cơ, đồng thời tiến hành đánh giá tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm và người bị phơi nhiễm
Nếu nguồn gây phơi nhiễm có xét nghiệm HIV (+): tiếp tục điều trị theo hướng dẫn
Nếu nguồn gây phơi nhiễm có xét nghiệm HIV (-): có thể xem xét dừng điều trị Nếu nghi ngờ nguồn gây phơi nhiễm có yếu tố nguy cơ lây nhiễm và đang ở trong giai đoạn cửa sổ thì tiếp tục tục điều trị theo hướng dẫn
Nếu người bị phơi nhiễm có xét nghiệm HIV (+): không điều trị dự phòng sau phơi nhiễm, chuyển đến các cơ sở chăm sóc và điều trị HIV/AIDS
để được theo dõi và điều trị như những người đã nhiễm HIV khác
Nếu người bị phơi nhiễm có nguy cơ và xét nghiệm HIV (-): tiếp tục điều trị theo hướng dẫn
Trang 31Phơi nhiễm không có nguy cơ: không cần điều trị
Trường hợp không xác định được tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm: xử trí như là trường hợp phơi nhiễm với nguồn HIV (+) [14]
Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV bằng thuốc ARV
Phác đồ điều trị Các thuốc sử dụng Chỉ định
2 thuốc
(Phác đồ cơ bản)
AZT + 3TC hoặc d4T + 3TC
Tất cả các trường hợp phơi nhiễm có nguy cơ
d4T + 3TC cộng với:
LPV/r
Trong trường hợp nguồn gây phơi nhiễm đã và đang điều trị ARV và nghi có kháng thuốc
Kế hoạch theo dõi trong thời gian điều trị dự phòng phơi nhiễm:
Theo dõi tác dụng phụ của ARV:
- Người được điều trị ARV dự phòng cần được tư vấn là có thể thuốc ARV gây ra các tác dụng phụ, không ngừng điều trị khi có tác dụng phụ nhẹ
và thoáng qua, và đến các cơ sở y tế ngay khi có các tác dụng phụ nặng
- Xét nghiệm công thức máu và chức năng gan khi bắt đầu điều trị và sau 4 tuần
- Xét nghiệm HIV sau 1, 3 và 6 tháng
- Hỗ trợ tâm lý nếu cần thiết
Nguy cơ lây nhiễm sau khi bị phơi nhiễm phụ thuộc vào việc xử trí ngay sau phơi nhiễm: Vết thương càng được xử lý sớm theo đúng quy trình thì nguy cơ lây nhiễm càng thấp Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm bằng thuốc kháng vi rút có tác dụng trong việc phòng ngừa HIV sau phơi nhiễm, tuy nhiên hiệu quả điều trị cũng không đạt 100% Vào thời điểm năm 2006, thế giới đã báo cáo 14 trường hợp thất bại trong điều trị dự phòng sau phơi nhiễm, có thể do những trường hợp này đã nhiễm phải chủng HIV kháng
Trang 32thuốc hoặc thời gian từ khi bị phơi nhiễm đến khi dùng liều kháng vi rút đầu tiên quá lâu [14]
1.2.4.2 Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm do tai nạn nghề nghiệp
Phải coi việc điều trị dự phòng cho người bị phơi nhiễm như là một điều trị cấp cứu, điều trị ARV càng sớm càng tốt (từ 2 - 6 giờ và trước 72 giờ) Đồng thời tiến hành đánh giá tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm
và người bị phơi nhiễm [14], [21]
1.3 Chính sách bảo vệ nhân viên y tế phòng lây nhiễm HIV
Pháp lệnh phòng, chống nhiễm vius gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người năm 1995 đã quy định rõ:
Về nghĩa vụ của cán bộ y tế, “Nghiêm cấm việc từ chối khám, chữa
bệnh cho người bị nhiễm HIV/AIDS”
Về trách nhiệm của cán bộ y tế: “Thầy thuốc và nhân viên y tế tại cơ sở
y tế có trách nhiệm thực hiện các quy định chuyên môn về xử lý nhiễm HIV/AIDS trong công tác phòng bệnh, khám chữa bệnh và thực hiện các dịch
vụ kỹ thuật y tế, dịch vụ kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình”
Về quyền lợi của cán bộ y tế:“Thầy thuốc, nhân viên y tế trực tiếp tư
vấn, làm xét nghiệm HIV, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV phải được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn” [42]
Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 10/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2005 hướng dẫn thực hiện Quyết định
số 265/2003/QĐ-TTG ngày 16/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với người bị phơi nhiễm hoặc bị nhiễm HIV do tai nạn rủi do nghề nghiệp Nội dung Thông tư quy định rõ:
Đối với người bị phơi nhiễm với HIV: “Được xét nghiệm chẩn đoán
nhiễm HIV và được điều trị miễn phí các thuốc dự phòng chống lây nhiễm HIV do bác sỹ chỉ định theo quy định của Bộ Y tế; Được nghỉ việc để điều trị
Trang 33dự phòng trong 20 ngày làm việc Trong thời gian nghỉ việc được hưởng nguyên lương và phụ cấp khác (nếu có) theo quy định của pháp luật” [15],
[36]
Đối với người bị nhiễm HIV: “Chế độ trợ cấp một lần ít nhất bằng 30
tháng lương và phụ cấp hiện hưởng (nếu có) ngay sau khi người lao động đã được xác định bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp; Được hưởng chế
độ hưu trí nếu đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời); không phải giám định khả năng lao động và không phải giảm tỷ
lệ hưởng lương hưu do nghỉ việc trước tuổi hoặc được hưởng chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của Điều lệ Bảo hiểm xã hội nếu chưa
đủ điều kiện nghỉ hưu; Nếu người nhiễm HIV bị chết thì gia đình hoặc người đại diện hợp pháp của họ được hưởng chế độ tử tuất và các chế độ khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội” [15], [36]
Đối với học sinh thực tập tại các cơ sở y tế bị nhiễm HIV: “Được điều
trị miễn phí các bệnh nhiễm trùng cơ hội do HIV gây nên, thuốc đặc hiệu, thuốc nâng cao thể trạng do bác sỹ chỉ định theo quy định của Bộ Y tế; chế độ trợ cấp một lần ít nhất bằng 30 tháng lương khởi điểm của chuyên ngành được đào tạo ngay sau khi được xác định bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp”[15], [36]
1.4 Thực trạng kiến thức, thực hành dự phòng phơi nhiễm HIV nghề nghiệp của sinh viên y, cán bộ y tế
Kết quả đánh giá tại 8 trường đại học y trên toàn quốc do Trường Đại học Y Hà Nội, Văn phòng CDC Việt Nam Chương trình AIDS toàn cầu, Văn phòng Dự án LIFE-GAP Bộ Y tế phối hợp thực hiện năm 2005 [25]:
Số cán bộ giảng dạy và sinh viên y đã từng bị phơi nhiễm trực tiếp với máu và dịch tiết mà lo lắng có nhiễm HIV chiếm tỷ lệ khá cao (37% đến 59,5%), phơi nhiễm thường xảy ra ở khoa sản, khoa truyền nhiễm, khoa huyết
Trang 34học, khoa ngoại Tuy nhiên số được báo cáo với lãnh đạo về tai nạn nghề nghiệp xảy ra chiếm tỷ lệ thấp (18%) Thực tế con số được báo cáo về các tai nạn nghề nghiệp với HIV thấp hơn con số thực tế rất nhiều lần [25]
Về kiến thức: 83,6% đến 98,8% sinh viên và cán bộ giảng dạy xác định
đúng các trường hợp phơi nhiễm Hầu hết các nhân viên y tế được điều tra chưa có kiến thức đầy đủ về nguồn phơi nhiễm HIV/AIDS: có tới 3,8% đến 16,8% cán bộ giảng dạy cho rằng nước bọt, nước tiểu, mồ hôi có nguy cơ lây nhiễm HIV cao Số người nêu đúng, đủ các giai đoạn lâm sàng phơi nhiễm HIV/AIDS cũng như các kiến thức về nhóm thuốc kháng vi rút chiếm tỷ lệ thấp [25]
Đối với việc điều trị dự phòng sau phơi nhiễm: Chỉ có 1/3 số người được điều tra biết rằng có thể dự phòng nhiễm HIV bằng cách uống thuốc kháng vi rút 35,7% sinh viên và 53,4% cán bộ giảng dạy nói đúng được thời gian uống liều ARV đầu tiên không quá 6 giờ và 1/3 cho rằng thời gian điều trị kéo dài 4 tuần Nhân viên y tế cũng chưa hiểu rõ các quy định chuyên môn
về quản lý người nhiễm HIV, dự phòng phổ cập [25]
Về thái độ: Số ít còn né tránh chăm sóc cho người bệnh nhiễm HIV
nhưng lại chủ quan trong chăm sóc người bệnh không rõ tình trạng nhiễm [25]
Về thực hành: 67,1% đến 80% cán bộ giảng dạy và sinh viên luôn đi
găng khi tiếp xúc với máu và dịch thể người bệnh; 70,1% đến 76,3% luôn sát trùng sau thủ thuật tiếp súc với máu [25]
Xử lý sau phơi nhiễm: 71,8% đến 88,9% rửa tay bằng xà phòng và nước sạch; 44,5% đến 53,4 % nặn máu tại vết thương
2/3 nhân viên y tế và sinh viên cho rằng không nên dùng tay đậy nắp bơm kim tiêm 50 % cán bộ giảng dạy và 30% sinh viên y chưa bao giờ dùng tay đậy nắp kim tiêm [25]
Trang 35Chỉ có khoảng 16% - 18% người đã từng đi xét nghiệm HIV vì tai nạn nghề nghiệp Số sinh viên y và cán bộ giảng dạy được điều trị dự phòng sau phơi nhiễm là rất ít (3,4% đến 10,2%) [25]
Kết quả nghiên cứu của nhóm Lê Đăng Hà, Nguyễn Đức Hiền, Cao Thị Thanh Thủy [28]:
Về kiến thức: 95,4% biết rằng máu và dịch thể của tất cả các bệnh nhân
đều có khả năng lây nhiễm [28]
Việc sử dụng khẩu trang: 84% nhân viên y tế đeo khẩu trang thường xuyên khi tiếp xúc với máu và dịch thể người bệnh Nhóm trực tiếp chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS có tỷ lệ đeo khẩu trang là 87,9%, nhóm không trực tiếp chăm sóc tỷ lệ đeo khẩu trang là 82,6%, sự khác biệt có nghĩa thống kê (p < 0,05) Nguyên nhân không đeo khẩu trang thường xuyên của nhóm không trực tiếp chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS thì 97,5% cho là bất tiện hoặc không cần thiết Nhóm trực tiếp chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS thì 98,9% cho là không cần thiết [28]
Việc sử dụng kính bảo vệ mắt: Phần lớn nhân viên y tế không đeo kính (52,3%) Phẫu thuật viên không đeo kính chiếm tỷ lệ 45,5% Nhân viên đỡ đẻ không đeo kính chiếm 30,8% Tỷ lệ đeo kính chung của nhóm phẫu thuật viên
và nhóm đỡ đẻ là 42,9%, cao hơn nhóm còn lại 32,6%, có nghĩa thống kê với
Trang 36p < 0,05 Về nguyên nhân: Nhóm phẫu thuật và đỡ đẻ trả lời là không đủ kính (82,8%), nhóm khác cho là không cần thiết (90,7%) [28]
Xử lý đúng khi máu của bệnh nhân dây ra bàn, sàn nhà: 99,2%
Sử dụng bơm kim tiêm: 99% nhân viên y tế cho rằng nên sử dụng bơm kim tiên dùng một lần
Tỷ lệ nhân viên y tế đã từng bị máu bệnh nhân bắn vào da tới 76% Việc xử lý khi bị máu và dịch thể của bệnh nhân bắn vào da của nhóm không trực tiếp chăm sóc bệnh nhân hầu hết là rửa, sát trùng cồn; Nhóm trực tiếp chăm sóc bệnh nhân chủ yếu là: rửa sạch, sát trùng cồn, ghi sổ, làm xét nghiện HIV [28]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành (Đại học Y tế Công cộng) [40]:
Về kiến thức: 99,9% nhân viên y tế biết tiếp xúc với máu của bệnh nhân
HIV là có nguy cơ lây nhiễm cao 78,6% nhân viên y tế biết đúng nơi để các dụng cụ sắc nhọn 75,1% nhân viên y tế trả lời: xử lý dụng cụ sắc nhọn là đem đốt; 92,1% biết là phải đeo găng tay dày khi rửa các dụng cụ sắc nhọn [40]
41,6% kiên quyết không truyền mẫu máu chưa được xét nghiệm HIV; 92,3% đồng tình với cách dùng các dung dịch thay thế máu
Về thái độ: 27,6% nhân viên y tế ngại tiếp xúc với người bệnh, 13,3%
từ chối chăm sóc người bệnh 82,6% ủng hộ chủ trương xét nghiệm HIV cho mọi người bệnh 87,9% đồng tình với việc đào tạo nhóm cán bộ chuyên chăm
sóc bệnh nhân HIV/AIDS [40]
Về thực hành:
Nhân viên y tế xử lý đúng vết thương hở da của mình trước khi chăm sóc người bệnh chiếm 89,2%; 98,3% nhân viên y tế mang găng thường xuyên khi tác nghiệp Lý do không mang găng chủ yếu là do không đủ găng (51,5%)
Trang 37Số nhân viên y tế mang kính khi phẫu thuật, đỡ đẻ, nhổ răng chiếm tỷ
lệ 89% Lý do của những người không mang kính chủ yếu là không đủ kính; 91,7% nhân viên y tế thực hiện kê đơn cho bệnh nhân HIV/AIDS để tránh lây nhiễm
Việc xử lý chất thải trong bệnh viện: 96% xử lý đúng các đồ vải của bệnh nhân; 89,8% xử lý đúng các chất thải rắn trong bệnh viện [40]
1.5 Đặc điểm tình hình HIV/AIDS và công tác phòng chống HIV/AIDS của tỉnh Yên Bái
1.5.1 Đặc điểm tình hình chung của tỉnh Yên Bái
Yên Bái là tỉnh miền núi nằm giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía đông giáp tỉnh Tuyên Quang, phía tây giáp tỉnh Sơn La Là một tỉnh miền núi nghèo, cơ
sở hạ tầng chậm phát triển, diện tích tự nhiên: 6.882,9 km2, dân số khoảng 760.000 người
Toàn tỉnh có 1 thành phố, 1 thị xã, 7 huyện, với 180 xã/phường Trong
đó có 70 xã vùng cao, 85 xã đặc biệt khó khăn Với địa hình phức tạp, mức sống và trình độ văn hoá của nhân dân thấp Tình hình phân bố dân cư không đồng đều, tập chung đông ở thành phố, thị xã là 1.300 - 1.600 người/km2
, ở 2 huyện vùng cao Trạm Tấu và Mù Căng Chải dân cư thưa thớt khoảng 30 người/km2
Yên Bái có gần 30 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Kinh (54,08%), sau đó đến người Tày (17,27%), người Dao (9,08%), người Mông (7,89%), người Thái (6,01%) và các dân tộc khác (4,97%) Các dân tộc thiểu
số Yên Bái có nhiều tín ngưỡng và tập tục lạc hậu đã ảnh hưởng không tốt tới công tác chăm sóc y tế nói chung và việc phòng chống lây nhiễm HIV nói riêng Ngoài ra, Yên Bái là tỉnh miền núi nghèo, kinh tế chậm phát triển, do kinh tế khó khăn, thiếu việc làm, trong năm số dân đi làm ăn ở các tỉnh khác
Trang 38nhiều, chủ yếu là người trưởng thành độ tuổi từ 18 đến 40 và là nam giới, sự giao lưu vùng niềm làm việc kiểm soát HIV càng khó khăn Diễn biến dịch HIV càng phức tạp
1.5.2 Tình hình HIV/AIDS tại Yên Bái
Từ trường hợp HIV đầu tiên được phát hiện tại tỉnh Yên Bái vào tháng
9 năm 1997, tính đến hết tháng 6 năm 2011, HIV/AIDS đã có mặt ở 9/9 huyện thị, thành phố; 148/180 xã phường của tỉnh (chiếm 82%) Luỹ tích số người nhiễm HIV được phát hiện toàn tỉnh: 4.608 người (số có hộ khẩu tại Yên Bái là 3.867) Số bệnh nhân AIDS 985 (có địa chỉ tại tỉnh Yên Bái 870)
Số bệnh nhân tử vong do AIDS là 430 người (có địa chỉ tại Yên Bái là 408)
Số người nhiễm HIV còn sống: 3.913 (có địa chỉ tại Yên Bái: 3.214 người)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV của tỉnh Yên Bái là 467/100.000 dân, đứng thứ 5 trên toàn quốc [34]
Các địa bàn có số người phát hiện nhiễm HIV nhiều nhất là: Thành phố Yên Bái, huyện Văn Chấn, huyện Trấn Yên, huyện Yên Bình Trong tổng số người nhiễm HIV được phát hiện có 20% là phụ nữ Tỷ lệ NCMT nhiễm HIV chiếm 38,65% Phân tích độ tuổi của những người nhiễm HIV thấy như sau:
< 13 tuổi chiếm 1,89% ; 13 - 49 tuổi chiếm 95,41%; > 49 tuổi là 2,7% [34]
Đối tượng nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở nhóm nguy cơ cao như người nghiện ma túy, gái mại dâm, người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục Trong đó, người nghiện chích ma túy chiếm tỷ lệ cao nhất 41,55% [34]
Nhận xét và dự báo: Số người nhiễm HIV liên tục tăng Độ tuổi chủ
yếu là nhóm tuổi lao động Người nhiễm HIV chủ yếu là nam giới, tuy nhiên
tỷ lệ nhiễm HIV là phụ nữ đang có xu hướng tăng do nguồn lây nhiễm từ chính chồng của họ [34] Những con số trên cho thấy HIV tại Yên Bái đang tập trung ở độ tuổi có sức lao động dồi dào nhất, sinh hoạt tình dục mạnh mẽ
Trang 39nhất Dịch HIV đang tiếp tục diễn biến phức tạp, tác động xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc nhiều gia đình
1.5.3 Tình hình phơi nhiễm HIV nghề nghiệp của NVYT tỉnh Yên Bái
Theo số liệu của Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Yên Bái, con
số phơi nhiễm HIV nghề nghiệp hàng năm giao động từ 1 đến 13 trường hợp Tính từ năm 2003 đến tháng 3 năm 2011, toàn tỉnh có 61 trường hợp được xác định là phơi nhiễm HIV nghề nghiệp, trong đó: Công an: 26 trường hợp; cán bộ y tế: 29 trường hợp; cán bộ các ngành khác: 06 trường hợp
Trong số 29 cán bộ y tế có: 7 trường hợp là bác sĩ; 12 trường hợp là y
sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật viên là 10 trường hợp Các trường hợp được báo cáo đều được tư vấn và điều trị kịp thời, không có trường hợp nào bị nhiễm HIV sau phơi nhiễm
1.5.4 Công tác phòng chống HIV của tỉnh Yên Bái
Sự lãnh đạo của Đảng: Ngày 27/2/2006 Tỉnh ủy Yên Bái đã có Thông tri 03/CT-TU về tăng cường vai trò lãnh đạo công tác phòng chống HIV/AIDS trong tình hình mới, giao cho Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy kiểm tra và giám sát thực hiện [38]
Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số
442/CT-UB ngày 12/4/2005 về thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010 [45]
Năm 2009, Ủy Ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã có Quyết định số 1591/QĐ-UB ngày 20/10/2009 về việc phê duyệt Đề án: Tăng cường công tác phòng, chống, kiềm chế sự gia tăng lây nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010 - 2015 Giao cho Sở Y tế là cơ quan chủ trì phối hợp với các
Sở, Ban, Ngành, đoàn thể tổ chức triển khai các hoạt động của đề án Các hoạt động chủ yếu của giai đoạn này là: Tăng cường công tác thông tin giáo dục truyền thông về phòng chống HIV/AIDS bằng nhiều hình thức Huy động
Trang 40sự tham gia của cộng đồng nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi HIV/AIDS Tăng cường các hoạt động chuyên môn kỹ thuật: Giám sát dịch và giám sát thường quy theo quy định, điều trị ca nhiễm, dự phòng lây nhiễm [44]
Ngành y tế đã phát huy được vai trò của cơ quan thường trực, tham mưu chủ động trong việc phối hợp liên ngành thực hiện công tác phòng chống HIV/AIDS Chủ động tích cực trong việc đào tạo cán bộ tuyến tỉnh và hỗ trợ chuyên môn cho cho cán bộ các tuyến
Tuy nhiên, với tỷ lệ nhiễm HIV đứng cao thứ 5 trong cả nước và diễn biến tình hình HIV/AIDS kể trên, đặt ra cho tỉnh Yên Bái những thách thức mới
1.5.5 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái và công tác phòng chống HIV/AIDS
1.5.5.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị của bệnh viện [35]
Số bệnh nhân HIV/AIDS được điều trị tại bệnh viện ngày càng tăng Số người HIV (+) chưa được phát hiện đến khám và điều trị bệnh tại bệnh viện ngày càng nhiều Trong khi cơ sở vật và nhân lực của bệnh viện còn gặp nhiều khó khăn
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái được xây dựng từ năm 1970, được cấp đất với diện tích: 32.775,0 m2
Đến năm 1995 bệnh viện được xây dựng lại, nâng cấp với quy mô 300 giường với tổng diện tích sàn là 11.400 m2, diện tích sử dụng là 8.588 m2 So với tiêu chuẩn thiết kế TCVN 4470-1995 cho Bệnh viện đa khoa tỉnh do Bộ Y tế ban hành ngày 30/11/2005 thì diện tích sử dụng của Bệnh viện Đa khoa tỉnh hiện nay chỉ đáp ứng đủ yêu cầu cho một bệnh viện 200 giường Nhưng hiện tại, bệnh viện đang được bố trí 15 khoa lâm sàng, 5 khoa cận lâm sàng và 5 phòng chức năng với tổng số 350 giường bệnh theo kế hoạch Trong khi số giường bệnh thực tế phải sử dụng năm 2010
là khoảng 400 giường, vượt quá khả năng cho phép, vì vậy bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải, cơ sở vật chất trở nên chật hẹp, thiếu diện tích để triển