Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh doanh HQKD, mặc dù các nhà nghiên cứu cũng như các nhà kinh doanh đều thống nhất nhìn nhận rằng “ Hiệu quả kinh doa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
-
HOÀNG CÔNG VIÊN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ SẢN XUẤT SƠN VÀ MỰC IN TẠI THÀNH PHỐ HỒ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS PHẠM XUÂN GIANG
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ
TP HCM ngày 01 tháng 02 năm 2013
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
1 TS Lưu Thanh Tâm Chủ tịch
2 TS Tạ Thị Kiều An Phản biện 1
3 TS Phạm Thị Hà Phản biện 2
4 TS Nguyễn Ngọc Dương Ủy viên
5 TS Nguyễn Hải Quang Thư ký
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 3TP HCM, ngày 29 tháng 12 năm 2012
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Hoàng Công Viên Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 12/10/1980 Nơi sinh: Thái Nguyên Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 1084012107
I- TÊN ĐỀ TÀI:
Nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất Sơn và Mực
In tại TP Hồ Chí Minh
II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Nhiệm vụ thực hiện luận văn thạc sĩ
Nội dung đề tài nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất Sơn và Mực In tại TP Hồ Chí Minh
III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 30/05/2012
IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 29/12/2012
V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
Tiến sĩ: Phạm Xuân Giang
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này trung thực, chưa được sử dụng và bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 12 năm 2012
Học viên thực hiện luận văn
Hoàng Công Viên
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu lý luận và tích luỹ kinh nghiệm thực tế của tác giả Những kiến thức mà các thày cô giáo truyền thụ đã làm sáng tỏ những tư duy của tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Để có được kết quả này, tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đối với TS – Phạm Xuân Giang người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng cảm tạ đối với các thày, cô giáo khoa Quản Trị Kinh Doanh trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM Xin cám ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm và các thầy cô giáo trung tâm Sau Đại học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và viết luận văn tốt nghiệp Có được kết quả này, tôi không thể không nói đến công lao và sự giúp đỡ của cán bộ lãnh đạo Sở Kế hoạch và đầu tư; Cục thuế TP HCM; Cục thống kê TP HCM
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Trung tâm hỗ trợ DNV&N TP HCM, cơ quan đã cung cấp số liệu, tư liệu về chính sách của tỉnh hỗ trợ DNV&N Cuối cùng tôi xin cảm ơn đồng nghiệp, gia đình, bạn bè, những người thân đã giúp đỡ chia sẻ những khó khăn và động viên tôi hoàn thành luận văn này
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 2012
Hoàng Công Viên
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại, duy trì và phát triển của mỗi doanh nghiệp Nghiên cứu hiệu quả kinh doanh là vấn đề bức thiết của tất cả mọi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực SXKD tạo ra của cải vật chất phục vụ đời sống con người Các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng và doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất Sơn và Mực In nói riêng vì vậy việc nghiên cứu hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp này là rất cần thiết
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ vai trò và bản chất kinh tế - xã hội của loại hình DNV&N của nước ta và hệ thống hoá các vấn đề lý luận về HQKD của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM Từ đó luận giải và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao HQKD của các doanh nghiệp này trong thời kỳ từ nay đến 2020
Kết cấu luận văn bao gồm: 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của DNV&N
Chương 2: Phân tích hiệu quả kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và
từ đó xác định khái niệm DNV&N; nhận định được những ưu thế và hạn chế của DNV&N để từ đó đưa ra giải pháp làm cho các DNV&N nói chung và DNV&N sản
Trang 7xuất Sơn, Mực In nói riêng phát huy được điểm mạnh và hạn chế được những điểm yếu
Trong chương 2 đề tài đã tập trung phân tích hiệu quả kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM sử dụng vốn, lao động và tình hình tiêu thụ là chủ yếu Qua đây ta thấy, DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM quy mô còn nhỏ, tình hình tiêu thụ sản phẩm bị giảm sút, hàng tồn kho tăng cao, tình trạng ứ đọng vốn các DNV&N này đang bị cạnh tranh bởi các hãng Sơn lớn, DNV&N sản xuất Sơn và Mực In luôn phải tăng giá bán sản phẩm vì vậy thị trường tiêu thụ đang bị thu hẹp Hiệu quả sử dụng vốn định, vốn lưu động và lao động không cao Chi phí sử vốn cao dẫn đến hàng loạt khó khăn cho các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM
Trong chương 3 đề tài tập trung đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề sau:
+ Giải pháp phát huy hiệu quả sử dụng vốn
+ Các giải pháp về đổi mới và phát triển công nghệ sản xuất Sơn và Mực In + Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực
+ Giải pháp về sản phẩm
+ Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
Trước đòi hỏi của thị trường, trước nhu cầu bức thiết của doanh nghiệp và chủ trương phát triển doanh nghiệp nói chung và DNV&N nói riêng của nhà nước và của
TP HCM Đề tài "Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM giai đoạn từ nay đến năm 2020", chừng mực nào đó đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp này và định hướng phát triển DNV&N của TP HCM theo yêu cầu đổi mới
Trang 8ABSTRACT
Improving business performance of the enterprise has a very important position during the existence, maintenance and development of every business Efficient business research the pressing problem of all business activities in the field of
business create wealth for human life Businesses have recognized the importance of improving business efficiency, especially the small and medium enterprises in
particular small and medium enterprises and paint and ink production in particular,
so the study of performance business results for these enterprises is very necessary Research purpose of the thesis is to clarify the role and nature of economic - social type of SME in our country and systematization of the theoretical issues about
HQKD of SME manufacturing Paint and Printing Ink area city HCM From that interpretation and propose solutions to improve HQKD of these enterprises in the period from now to 2020
Structural thesis include: three chapters
Chapter 1: General Theory of DNV's business efficiency & N
Chapter 2: Analysis of the SME business of manufacturing paint and ink on HCM City
Chapter 3: Solutions improving HQKD of the SME manufacturing paint and ink on HCM City in the period from now to 2020
In Chapter 1 the subject has systematized theories on business performance and business performance of the SME, given the formula for effective overview of your business, such as: target strength and profitability of assets (ROA) ; very lucrative targets equity (ROE); factors affecting business performance, factors which capital factors, technological factors and human factors most influential to effectively SME business and manufacturing paint and ink on HCM City Besides, the thesis has given criteria for SME in the world and in Vietnam, thereby determining concept DNV &N; identify the advantages and limitations of the SME in order to offer solutions to make SME in general and SME producing paint, ink in particular to promote the strengths and eliminate the weaknesses
In the second chapter the subject has focused on analyzing business performance of the SME manufacturing paint and ink on HCM City to use capital, labor and
Trang 9consumption situation is essential Now that we see, SME manufacturing Paint and Ink on HCM City sizes are small, the consumption is reduced, inventory increases, congestion which the SME is being competitive by large firms Son, SME
manufacturing paint and ink is always to increase the selling price so the market is shrinking Efficient use of capital, labor and capital is not high High cost of capital leads to a series of difficulties for SME paint and ink production in Ho Chi Minh City
In Chapter 3 topics focus provide solutions to address the following issues:
+ Solutions to promote efficient use of capital
+ The solution of technological innovation and development production of paint and ink
+ Solutions to human resource development
+ Product solutions
+ Solutions to improve competitiveness
To the demands of the market and the urgent needs of the business and enterprise development policy in general and SME in particular of the state and of the Ho Chi Minh City Topic "Solutions to improve business performance of the SME
manufacturing Paint and Ink on HCM City between now and 2020," to some extent
to meet the requirements of enterprises and the SME development innovation
demand of Ho Chi Minh City
Trang 10MỤC LỤC
Chương 1- Lý luận chung về HQKD của DNV& N………trang 4
1.1- Doanh nghiệp vừa và nhỏ……….trang 4 1.1.1- Khái niệm, bản chất kinh tế - xã hội và tiêu chí phân loại DNV&N………trang 4 1.1.2- Các loại hình DNV&N trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam……….trang 9 1.1.3- Đặc điểm của DNV&N nói chung và DNV&N sản xuất Sơn và Mực In nói
riêng… trang 11 1.1.4- Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế thị trường……… trang 13 1.1.5- Những ưu thế và hạn chế của DNV&N……… ……… ……trang 15 1.2- Cơ sở khoa học của nâng cao hiệu quả kinh doanh……… trang 151.2.1- Khái niệm về hiệu quả kinh doanh……….trang 151.2.2 -Nội dung, bản chất của hiệu quả kinh doanh ………trang 171.2.3- Tiêu chuẩn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh ………….………trang 201.2.4-Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh ………trang 281.3-Các nhân tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh của DN……….trang 291.3.1–Các nhân tố bên trong……….trang 291.3.2–Các nhân tố bên ngoài ………trang 321.4- Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của một số Cty sản xuất Sơn tại TP Hà Nội và TP Hải Phòng – Bài học cho các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM……….……… trang 351.5-Tóm lược……….trang 40
Chương 2- Phân tích HQKD của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM……… ……….…… trang 422.1-Giới thiệu khái quát đặc điểm kinh tế – xã hội TP HCM……… trang 422.2-Hoạt động của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM trang 452.2.1-Giới thiệu các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM……trang 452.2.2-Vị trí, vai trò của DNV&N sản xuất Sơn và mực in ở TP HCM………… trang 54 2.2.3- Đặc điểm hoạt động SXKD của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP
Trang 11HCM……….trang 55 2.2.4-Kết quả SXKD của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM……trang 582.2.5- Phân tích hiệu quả kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM……….trang 60 2.2.6- Đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn
TP HCM……… ……….trang 72 2.2.7- Thành tựu và hạn chế của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In TP HCM trang 732.3- Tóm lược ……… ……… trang 79
Chương 3- Giải pháp nâng cao HQKD của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP……….……… ………trang 80 3.1- Lợi thế và khó khăn của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM… trang 80 3.2- Phương hướng và mục tiêu phát triển kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In TP HCM……….……….trang 81 3.3- Một số giải pháp nâng cao HQKD của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM trong giai đoạn từ nay đến năm 2020……….……… trang 87 3.3.1- Nhóm giải pháp thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế……… trang 87 3.3.2- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh các DNV&N sản xuất Sơn và Mực
In tại TP HCM……….……… trang 89 3.4- Kiến nghị……… ……… ….………….trang 94 3.5- Tóm lược……… ……….trang 95
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- CT TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn
- CTCP : Công ty cổ phần
- DN : Doanh nghiệp
- DNV&N : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
- DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
- DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
- HQKD : Hiệu quả kinh doanh
- SXKD : Sản xuất kinh doanh
- { …} : Số danh mục tài liệu kham khảo
- TP HCM : Thành Phố Hồ Chí Minh
- ROA : Sức sinh tài sản
- ROE : Sức sinh lời vốn chủ sở hữu
- Tr/người : Triệu đồng/người
- VLĐ : Vốn lưu động
- VCĐ : Vốn cố định
- TSCĐ : Tài sản cố định
- TSLĐ : Tài sản lưu động
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 giới thiệu tiêu chí xác định DNV&N ở một số nước
Bảng 1.2 tiêu chí xác định DNV&N tại Việt Nam
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp mức tăng trưởng của thị trường Sơn TP HCM (1995 – 2008)
Bảng 2.2 Số lượng các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In ở TP HCM
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In ở TP HCM
Bảng 2.4 Quy mô doanh nghiệp trên địa bàn TP HCM
Bảng 2.5 Cơ cấu lao động theo trình độ
Bảng 2.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM Bảng 2.7 Tình hình tài chính của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM Bảng 2.8 Kết quả tiêu thụ sản phẩm của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM
Bảng 2.9 Doanh thu bán hàng của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM Bảng 2.10 Kết quả hoạt động kinh doanh của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In TP HCM
Bảng 2.11 Bảng tình hình tiêu thụ và tồn kho của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM
Bảng 2.12 Bảng tình hình tiêu thụ tính bằng tiền của DNV&N sản xuất Sơn và Mực
In tại TP HCM
Bảng 2.13 Hiệu quả kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In TP HCM Bảng 2.14 Hiệu quả sử dụng vốn cố định của các DNV&N sx Sơn và Mực In TP HCM
Bảng 2.15 Hiệu quả sử dụng VLĐ của các DNV&N sx Sơn và Mực In TP HCM Bảng 2.16 Hiệu quả sử dụng VLĐ của Cty CP Sơn Á Đông
Bảng 2.17 Hiệu quả sử dụng lao động của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại
TP HCM
Trang 14LỜI MỞ ĐẦU
1 Tích cấp thiết của đề tài
Thời gian qua cùng với sự hình thành và phát triển của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phát triển một cách mạnh mẽ, đóng góp một vai trò quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta Tuy nhiên hiện nay chúng ta chưa có một chính sách đồng bộ nhằm tạo
điều kiện cho loại hình doanh nghiệp này phát triển
Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại, duy trì và phát triển của mỗi doanh nghiệp Nghiên cứu hiệu quả kinh doanh là vấn đề bức thiết của tất cả mọi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực SXKD tạo ra của cải vật chất phục vụ đời sống con người Các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì vậy việc nghiên cứu hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp này là rất cần thiết
Song song với các nghành kinh tế trọng điểm được Chính phủ ưu tiên phát triển là các chương trình nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng cho các khu vực đô thị và nông thôn trong toàn quốc như: giao thông, điện, nước, bệnh viện, trường học… nhằm nâng cao điều kiện sống của nhân dân, thu hút đầu tư nước ngoài Như vậy đặt ra cho nghành sản xuất vật liệu xây dựng nói chung và nghành sản xuất Sơn và Mực In nói riêng những vai trò lớn lao nhằm tạo ra giá trị gia tăng ngày càng tăng góp phần tăng trưởng kinh tế của doanh nghiệp và GDP của Việt Nam
Chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Chính phủ đã mang lại kết quả to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh TP Hồ Chí Minh là một thành phố lớn có nhiều thuận lợi, tiềm năng về phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến Công nghiệp chế biến nói chung và công nghiệp sản xuất Sơn, Mực In là một trong những ngành chính, có lịch sử phát triển lâu dài của công nghiệp TP HCM Từ nhiều năm qua công nghiệp đã có những đóng góp đáng kể, góp phần giải quyết việc làm
và phát triển kinh tế – xã hội của thành phố, trong đó DNV&N góp phần không nhỏ Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và phát triển, ngành Sơn, Mực In của TP HCM vẫn còn những bất cập cần phải xem xét và điều chỉnh, trước hết là về hiệu quả kinh doanh (HQKD) và những tác động tiêu cực lên môi trường, cụ thể như:
Trang 15Chủng loại Sơn, Mực In đã được sản xuất chưa phong phú và đa dạng, công nghệ và quy mô sản xuất còn hạn chế, nguyên liệu chính phụ thuộc vào nhập khẩu, chưa có được sự quản lý chặt chẽ và tập trung, việc cung ứng các sản phẩm Sơn, Mực In mà
TP HCM không có điều kiện sản xuất hoặc chưa được đầu tư sản xuất còn chưa thông suốt và hiệu quả, nhiều sản phẩm Sơn, Mực In lưu thông trên thị trường chưa được quản lý chặt chẽ về chất lượng và giá cả … vì vậy, có thể nói ngành Sơn, Mực
In chưa phát triển tương xứng với tiền năng sẵn có và nhu cầu đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của TP HCM
Đặt trong điều kiện nêu trên, đề tài “ Nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In tại TP HCM” có ý nghĩa thiết thực trên nhiều mặt
2 Mục đích yêu cầu:
Làm rõ vai trò và bản chất kinh tế - xã hội của loại hình DNV&N của nước ta Luận văn hệ thống hoá các vấn đề lý luận về HQKD của DNV&N sản xuất Sơn, mực in trên địa bàn TP HCM Từ đó luận giải và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao HQKD của các doanh nghiệp này trong thời kỳ từ nay đến 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của các luận văn là các vấn đề về HQKD của DNV&N sản xuất Sơn và Mực In thời kỳ 2005-2012 Xác định những giải pháp đồng bộ nâng cao HQKD của các doanh nghiệp này trong thời kỳ từ nay đến 2020
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp quan sát:
Được sử dụng để nắm vững tình hình hoạt động kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và mực in trên địa bàn TP HCM
- Phương pháp điều tra
Theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài tiến hành điều tra, thu nhập số liệu liên quan đến tình hình hoạt động kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và mực in trên địa bàn TP HCM
- Điều tra khảo sát hệ thống
Trang 16Để xử lý v phân tích số liệu đã thu nhập được
- Phân tích tổng hợp
Để nghiên cứu và trình bày các nội dung của luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Xác định rõ vị trí của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM
- Khảo sát, phân tích và đánh giá đúng thực trạng HQKD của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực In trên địa bàn TP HCM
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao HQKD của các DNN&V sản xuất Sơn và Mực In địa bàn TP HCM trong giai đoạn từ nay đến năm 2020
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu kham khảo, phụ lục, luận văn hồm 3 phần:
Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của DNV&N
Chương 2: Phân tích hiệu quả kinh doanh của các DNV&N sản xuất Sơn và
Mực In trên địa bàn TP HCM
Chương 3: Giải pháp nâng cao HQKD của các DNV&N sản xuất Sơn và Mực
In trên địa bàn TP HCM trong giai đoạn từ nay đến 2020
Trang 17CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm, bản chất kinh tế - xã hội và tiêu chí phân loại DNV&N
1.1.1.1 Khái niệm
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động
từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình
Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi
là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa
1.1.1.2 Bản chất kinh tế - xã hội
Bản chất kinh tế - xã hội là bản chất của nền kinh tế thị trường
Bản chất kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại Là một kiểu tổ chức kinh tế, kinh tế thị trường vừa là vấn đề của lực lượng sản xuất, vừa là vấn đề của quan hệ sản xuất Phải đạt đến một trình độ phát triển nhất định, nền sản xuất xã hội mới thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp, mới có sản phẩm dư thừa để trao đổi Cũng phải trong những quan hệ xã hội như thế nào của sản xuất mới nảy sinh cái tất yếu kinh tế: người sản xuất hàng hóa phải mang sản phẩm dư thừa ra thị trường; kẻ mua và người bán trao đổi sản phẩm với nhau trên thị trường
Trang 18Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là bản chất của những thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ
ở Việt Nam Những thành phần kinh tế đó tạo thành cơ sở kinh tế của định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên nhiều hình thức sở hữu Khi lý giải mối quan hệ giữa các hình thức sở hữu đó, việc lý giải mối quan hệ giữa hình thức công hữu và hình thức tư hữu, đặc biệt là hình thức tư hữu tư bản chủ nghĩa, là phức tạp nhất về mặt lý luận và thực tiễn
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta khác kiểu với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thế giới, khác về trình độ phát triển; nền kinh
tế thị trường nước ta còn sơ khai, giản đơn, trong khi nền kinh tế thị trường thế giới
đã ở trình độ phát triển cao, hiện đại Chúng ta cần nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thị trường nước ta vào nền kinh tế thị trường thế giới, bởi vì càng hội nhập nhanh chóng bao nhiêu thì chúng ta càng sớm có chủ nghĩa xã hội bấy nhiêu
Ở đây, chúng ta gặp lại từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, nhưng theo tư duy mới, theo con đường kinh tế thị trường Chúng ta sẽ đi từ nền kinh tế hàng hóa nhỏ lên nền kinh tế hàng hóa lớn mang bản chất xã hội chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, học tập
và sử dụng tối đa các thành tựu của nền kinh tế hàng hóa lớn tư bản chủ nghĩa
Sản phẩm của các DNV&N còn kém về năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh… Vì sao vậy? Có nhiều lý do, nhưng có một lý do chính là, nền kinh tế hàng hóa nước ta chưa thật sự trở thành nền kinh tế hàng hóa lớn Không tiến lên trình độ sản xuất lớn, hiện đại thì nền kinh tế thị trường nước ta sẽ không thể khắc phục được
sự lạc hậu Chúng ta sẽ không đi lại con đường từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây Tuy rằng việc xây dựng những tổ hợp sản xuất, chế biến quy mô lớn nào đấy chuyên để xuất khẩu là cần thiết, nhưng sản xuất lớn không có nghĩa là quy mô mọi thứ phải lớn Con đường đi lên sản xuất lớn của chúng ta hiện nay là con đường thị trường, một con đường mà chúng ta phải tìm tòi, khai phá ra Vẫn là kinh tế gia đình, nhưng nếu biết biến các cơ
sở nhỏ lẻ của nó thành những mắt khâu của nền kinh tế thị trường lớn, một nền kinh
tế có sự liên kết các cơ sở sản xuất, khoa học và quản lý, các cơ sở sản xuất lớn, vừa
và nhỏ thành một hệ thống thống nhất để tạo ra những sản phẩm ổn định, có chất
Trang 19lượng và sức cạnh tranh cao, thì đó chính là cách sản xuất lớn của nền kinh tế thị
trường hiện đại
Nền kinh tế hàng hóa nhỏ Việt Nam trở thành nền kinh tế thị trường lớn, hiện
đại là một vấn đề của lực lượng sản xuất, đồng thời cũng là một vấn đề của quan hệ
sản xuất Hiện nay, chế độ công hữu được thực hiện ở kinh tế nhà nước, kinh tế tập
thể và một phần ở các thành phần kinh tế khác khi liên doanh với kinh tế nhà nước
Vậy trong nền kinh tế thị trường hiện đại Việt Nam định hướng xã hội chủ nghĩa, khi
có sự liên kết tất cả các cơ sở kinh tế, kể cả kinh tế gia đình, thành một hệ thống kinh
tế lớn; khi công nghệ thông tin làm cho việc lao động tại gia đình trở thành một hình
thức lao động hiện đại; khi sở hữu cá nhân của người lao động mà C Mác nói đến
không còn chỉ là những tư liệu tiêu dùng… thì liệu chúng ta có thể nghĩ đến những
hình thức mới của chế độ công hữu? Những người mác-xít cần đặt cho mình nhiệm
vụ đa dạng hóa chế độ công hữu Tư duy biện chứng không cho phép chúng ta dựng
một hàng rào siêu hình giữa chế độ công hữu và chế độ tư hữu, mà phải tìm tòi
những hình thức kinh tế quá độ giữa chế độ tư hữu và chế độ công hữu, làm cho chế
độ công hữu trở thành một hệ thống các hình thức quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
sinh động, sáng tạo trên con đường hoàn thiện chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
1.1.1.3 Tiêu chí phân loại DNV&N
Tiêu chí để xác định các DNV&N thường dựa vào một số căn cứ sau đây:
Các tiêu chí thường là: Vốn, lao động, doanh thu Có nước chỉ dùng một tiêu
chí, nhưng cũng có nước dùng một số tiêu chí để xác định DNV&N Một số nước
dùng tiêu chí chung cho tất cả các ngành, nhưng cũng có nước dùng tiêu chí riêng để
xác định DNV&N trong từng ngành
Tiêu chí để xác định các DNV&N của các nước khác nhau có khác nhau, tùy
thuộc vào điều kiện từng nước, cũng như quan điểm về chính sách của từng nước
Bảng 1.1 giới thiệu tiêu chí xác định DNV&N ở một số nước
Nước Loại doanh nghiệp
Các chỉ tiêu áp dụng
Số lao động (người)
Trang 20trong đó: DN nhỏ < 9 < 1 triệu DMác Ôxtrâylia
Riêng Canada <
20 triệu đô la Canada
Nhật
DNV&N trong CN < 300 < 100 triệu yên DNV&N trong buôn
bán < 100 < 30 triệu yên DNV&N trong bán lẻ < 50 < 10 triệu yên
Hồng Kông DNV&N trong CN
<0,5 triệu đô la Malaysia
Nguồn: Diễn đàn Châu Á
Trang 21Do chí để xác định các DNV&N phụ thuộc vào ý đồ chính sách, khả năng hỗ trợ (về vật chất) của chính phủ ở từng thời kỳ nên các tiêu chí xác định DNV&N ở một số nước cũng không phải là không thay đổi Trái lại, các tiêu chí này cũng thay đổi theo thời gian tuỳ thuộc vào ý đồ và chiến lược của Chính phủ muốn hỗ trợ ngành nào hoặc doanh nghiệp quy mô nào ở từng thời kỳ phát triển của nước đó Ngay trong cùng một nước, các tiêu chí để xác định DNV&N được nhận hỗ trợ của một tổ chức nào đó cũng không phải bao giờ cũng trùng với tiêu chí theo quy định trong luật của Chính Phủ (đối với những nước có luật về DNV&N) Tuy nhiên, nếu chính sách của nhà nươc thì tất nhiên chính sách đó phải tuân thủ pháp luật và phải lấy tiêu chí do luật định để xác định các đối tượng hưởng các chính sách đó Việt nam khi bước vào thiên niên kỷ thứ 3, do yêu cầu của thực tiễn một số tiêu thức phân loại doanh nghiệp đã được xây dựng bởi nhiều nhà nghiên cứu, tổ chức nhà nước và tổ chức phi chính phủ Đặc biệt, ngày 23 tháng 11 năm 2001 đã ban hành văn bản pháp lý ở mức độ cao để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển DNV&N Đó là nghị định số 90/2001 NĐ-CP về “ Trợ giúp phát triển DNV&N” Nghị định 90 quy định: “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” Theo định nghĩa này khu vực DNV&N ở Việt Nam bao gồm
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp
- Doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3 tháng 2 năm 2000 của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh
- Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính Phủ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Trang 22Bảng 1.2 tiêu chí xác định DNV&N tại Việt Nam
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm nghiệp và
thủy sản
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
II Công nghiệp và xây
dựng
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương mại và
dịch vụ
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính Phủ
1.1.2 Các loại hình DNV&N trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam
Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định bốn loại hình doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam Đó là: công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân
1.1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân
Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về mọi hoạt động của doanh nghiệp
1.1.2.2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn ( TNHH )
Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Hình thức sở hữu của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của các thành viên công ty
- Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên mỗi công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi
- Công ty không được quyền phát hành cổ phần
- Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
Trang 23Công ty TNHH một thành viên
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại doanh nghiệp, các tổ chức khác theo quy định của pháp luật
- Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điểu lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp
- Công ty không được phát hành cổ phần
- Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với kết quả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
1.1.2.3 Công ty cổ phần
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
1.1.2.4 Công ty hợp danh
- Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây;
- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh còn có thành viên góp vốn
Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty ( Trách nhiệm vô hạn )
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
- Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân
Trang 24- Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
Như vậy, công ty hợp danh có hai loại: Công ty hợp danh mà tất cả các thành viên đều là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn
1.1.3 Đặc điểm của DNV&N nói chung và DNV&N sản xuất Sơn và Mực In nói riêng
1.1.3.1 Nền tảng tri thức và các hệ thống quản lý tri thức trong doanh nghiệp
Trình độ văn hóa của chủ doanh nghiệp, nhà quản lý và nhân viên phản ánh nguồn tri thức cơ bản và tính sẵn sàng về mặt tri thức của doanh nghiệp để có thể tiếp nhận tri thức mới Số chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa có trình độ từ giáo dục phổ thông trở xuống khá lớn Có thể nói trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khá thấp Khi khởi nghiệp, phần lớn chủ doanh nghiệp đều dựa trên tri thức vận hành (kiến thức, kỹ năng sản xuất ra sản phẩm cụ thể) hình thành qua kinh nghiệm, rất thiếu tri thức chiến lược và khả năng quản lý Chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ đảm nhận luôn vai trò là người quản lý điều hành Phần lớn các doanh nghiệp đều không có sự phân biệt giữa chức năng lãnh đạo, xây dựng chiến lược của chủ doanh nghiệp và chức năng quản lý việc vận hành hàng ngày của người quản lý Điều này làm cho các chủ doanh nghiệp không đủ năng lực và thời gian dành cho việc xây dựng chiến lược phát triển Do vậy, phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động còn mang tính ứng phó với thị trường, chủ yếu thực hiện mục tiêu ngắn hạn, nhằm vào lợi nhuận trước mắt Điều này dẫn đến, khi thị trường thay đổi nhất là trong bối cảnh khủng khoảng tài chính như những năm trước đây hoặc có những bất ổn về kinh tế vĩ mô, thị trường có những biến động mạnh, doanh nghiệp sẽ rất khó ứng phó Bên cạnh đặc điểm là nền tảng tri thức thấp, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ còn rất ít quan tâm đến việc cập nhật thông tin để tăng tri thức Điều này do
có nguyên nhân từ chính trình độ của chủ doanh nghiệp và đặc biệt là tình trạng thiếu minh bạch, còn có sự phân biệt đối xử trong việc cung cấp thông tin của các cơ quan quản lý Nhìn chung nền tảng tri thức quản lý và chiến lược còn nhiều hạn chế; hoạt động chủ yếu dựa vào tri thức vận hành; nguồn bổ sung tri thức hạn hẹp; hệ thống quản lý tri thức chưa hình thành đang là đặc điểm nổi bật trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa của TP HCM hiện nay
Trang 251.1.3.2 Đặc điểm hệ thống quản trị chiến lược
Phần lớn các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân khi khởi nghiệp đều nhằm mục tiêu lợi nhuận dựa trên một cơ hội thị trường còn mang tính ước đoán, thiếu căn cứ rõ ràng, việc điều hành doanh nghiệp phần lớn đều nhằm mục tiêu cụ thể, ngắn hạn Các chủ doanh nghiệp không đủ kiến thức và năng lực, cũng như ít quan tâm đến hoạch định chiến lược dài hạn Hệ thống quản trị chiến lược của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP HCM hoặc là chưa có hoặc là rất mờ nhạt Phần lớn các DNV&N tại TP HCM mới chỉ có kế hoạch tác nghiệp rất ngắn hạn Lập kế hoạch vận hành ngắn hạn, chủ yếu là kế hoạch tháng
và tuần Một số doanh nghiệp có kế hoạch năm, tuy nhiên trong hoạt động thực tiễn lại ít quan tâm thực hiện Có thể nói, tư duy ngắn hạn, thiếu phương hướng hoạt động dài hạn đang là một đặc điểm lớn chi phối quá trình hoạt động của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân Do đặc điểm này chi phối dẫn đến rất nhiều doanh nghiệp gặp thất bại ngay sau giai đoạn hình thành, tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp khá thấp
1.1.3.3 Đặc điểm về cấu trúc tổ chức và các quy trình quản lý
Các DNV&N tại TP HCM đều bố trí cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến Đặc điểm chung là cơ cấu tổ chức chỉ nhằm thực hiện chức năng kế toán (thường có bộ phận riêng hoặc có nhân viên được chuyên môn hóa đảm nhận), các chức năng quản trị khác (tài chính, nhân sự, marketing, chiến lược, chất lượng…) không có bộ phận đảm nhận hoặc không được phân công rõ ràng Quyền quyết định mọi vấn đề tập trung ở chủ doanh nghiệp, cơ chế quản lý chủ yếu dựa trên sự thuận tiện, phụ thuộc lớn vào năng lực và kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp Trong một chừng mực nào đó, khi doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, hoạt động ít phức tạp, tính chất gọn nhẹ và thuận tiện của cơ cấu tổ chức thể hiện được ưu điểm, tuy nhiên nếu duy trì lâu sẽ trở thành nguyên nhân kìm hãm sự trưởng thành của doanh nghiệp Về việc thực hiện các chức năng quản lý, mặc dù chức năng kế toán được các doanh nghiệp chú trọng, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức kế toán thuế nhằm thực hiện yêu cầu của Nhà nước và nhằm mục tiêu hạn chế đến mức thấp nhất mức thuế phải nộp, việc thực hiện kế toán quản trị rất hạn hữu Hạn chế về tư duy quản trị tài chính làm cho doanh nghiệp không phân tích được một cách sâu sắc về nguồn lực sử dụng và hiệu quả hoạt động… Chủ doanh nghiệp không hiểu rõ tình hình tài chính và hiệu quả
Trang 26hoạt động thực sự của doanh nghiệp Sự thiếu hụt của tri thức quản lý tài chính cũng làm cho doanh nghiệp khó quản lý được các nguồn vốn vay từ bên ngoài để đạt hiệu quả mong muốn, làm cho chính doanh nghiệp rất ngần ngại khi huy động vốn từ bên ngoài, và chính điều này cũng làm cho ngân hàng và các định chế tài chính ngần ngại trong việc cho doanh nghiệp vay vốn do không nắm được một cách chắc chắn khả năng thu hồi vốn vay
1.1.3.4 Đặc điểm về nguồn nhân lực
Với việc bố trí cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến, phân quyền hẹp, quyền lực tập trung tuyệt đối vào chủ doanh nghiệp, trình độ của chủ doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển Đội ngũ doanh nhân của doanh nghiệp cho thấy: Phần đông doanh nhân có tuổi đời còn khá trẻ, tuy nhiên về trình độ được đào tạo còn khá thấp
1.1.4 Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế thị trường
Các tổ chức kinh doanh vừa và nhỏ ở bất cứ quốc gia nào đều giữ một vai trò rất quan trọng và hỗ trợ cho tiến trình phát triển kinh tế, không chỉ trong những giới hạn cho phép đáp ứng nhu cầu trong cả nước mà còn hỗ trợ các công ty đa quốc gia Chính phủ nhiều quốc gia đã công nhận vai trò các loại hình doanh nghiệp này được coi là nguồn động lực và sức mạnh kinh tế cho sự phát triển mới và phát triển các mối quan hệ kinh doanh
Vai trò của các DNV&N trước hết thể hiện cụ thể ở mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, thu hút lao động, vốn đầu tư, tạo ra giá trị gia tăng, góp phần tăng trưởng kinh tế, là tầng cơ sở trong cấu trúc của nền sản xuất xã hội Số liệu thống kê của các nước cho thấy, tỷ trọng thu hút lao động, tạo ra giá trị gia tăng của khu vực các doanh nghiệp DNV&N ở một số nước trong khu vực châu á
là đáng kể Bảng số liệu dưới đây cho biết tỷ trọng thu hút lao động và tạo ra giá trị gia tăng của DNV&N ở một số nước châu á
Trang 27Bảng 1.2: Tỷ trọng thu hút lao động và tạo ra giá trị gia tăng của các
DNV&N ở một số nước Châu á
Nước Thu hút lao động (%) Giá trị gia tăng (%)
Nguồn: Diễn đàn châu á
Từ số liệu của các nước cho thấy, các DNV&N chiếm từ 81% đến 98% số
doanh nghiệp, thu hút 30-60% lao động tạo ra 20%-40% giá trị gia tăng trong nền
kinh tế Như vậy, dù ở phát triển kinh tế cao hay thấp, DNV&N vẫn có vai trò rất
quan trọng trong nền kinh tế các nước
Ở Việt nam, nền kinh tế kém phát triển, chủ yếu là sản xuất nhỏ nên DNV&N
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp, cụ thể: Có khoảng 80% các DNV&N
thuộc các nhóm DNV&N (Theo tinh thần của Nghị định 90/2001 NĐ-CP, ngày 23
tháng 11 năm 2001), khu vực kinh tế tư nhân các DNV&N chiếm khoảng 97% về
vốn và khoảng 99% về lao động Vào thời điểm đầu năm 2002, nếu tính tất cả các
loại hình kinh doanh thì các DNV&N có trên 2 triệu đơn vị và có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thu hút vốn, làm cho nền
kinh tế năng động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều đó được thể hiện qua
các số liệu dưới đây:
a- Cung cấp một khối lượng lớn, đa dạng và phong phú về sản phẩm, đóng góp vào
kết quả hoạt động kinh tế
b- Các DNN&V là nơi tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho hàng triệu lao động,
góp phần ổn định xã hội
c Thu hút có hiệu quả nhất các nguồn vốn trong dân và tận dụng các nguồn lực xã
hội khác
d Góp phần quan trọng vào việc tăng nguồn hàng xuất khẩu
e Đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
nước ta
Trang 28g Làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn
h Nâng cao thu nhập của dân
1.1.5 Ưu thế và hạn chế của DNV&N
- Nhạy cảm với những thay đổi của thị trường
- Sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao
- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ
- Có thể sản xuất sản phẩm có chất lượng tốt ngay cả khi điều kiện sản xuất, kinh doanh có nhiều hạn chế
1.1.5.2 Hạn chế
Các DN này có quy mô nhỏ, vốn ít nên có những mặt bất lợi
- Khó khăn trong đầu tư công nghệ mới, đặc biệt công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư công nghệ lớn, chậm hoàn vốn
- Có nhiều hạn chế về đào tạo công nhân và chủ DN, đầu tư cho nghiên cứu, do đó khó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh
- Các DNV&N thường bị lệ thuộc vào các DN lớn, bị động trong các quan hệ thị trường; định giá, cung ứng hàng hoá
- Khó khăn trong việc thiết lập và mở rộng hợp tác với nước ngoài
1.2 Cơ sở khoa học của nâng cao hiệu quả kinh doanh
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh doanh (HQKD), mặc dù các nhà nghiên cứu cũng như các nhà kinh doanh đều thống nhất nhìn nhận rằng “ Hiệu quả kinh doanh” là thước đo về mặt chất lượng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh
là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ một quốc gia nào nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng, đặc biệt trong điều kiện nước ta hiện nay đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, từ nền kinh tế
Trang 29còn chịu nhiều ảnh hưởng của kinh tế kế hoạch hoá tập trung lại càng đòi hỏi cấp thiết hơn nữa
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: “ Hiệu quả kinh tế: Chỉ tiêu biểu hiện kết của hoạt động sản xuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính
Là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố sản xuất – kinh doanh, nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu” Tùy theo mục đánh giá, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhau như: năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu hồi vốn, … Chỉ tiêu thường dùng nhất là doanh lợi thu được so với tổng số vốn bỏ ra Hoạt động kinh doanh là một lĩnh vực của hoạt động kinh tế,
vì vậy khái niệm hiệu quả kinh tế trong kinh doanh có thể được hiểu là hiệu quả kinh doanh, trước hết là khía cạnh hiệu quả đó, là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng
sử dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả tối đa với chi phí tối thiểu, với các chỉ tiêu đánh giá tương ứng …
Như vậy, có thể hiểu “ hiệu quả kinh doanh” là một phạm trù phản ánh về mặt chất lượng trình độ quản lý, khai thác, sử dụng và huy động các nguồn lực của doanh nghiệp Nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận cao nhất với chi phí nhỏ nhất Tỷ lệ chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao Vì vậy, khái niệm này chỉ dùng để đánh giá chất lượng của các doanh nghiệp kinh doanh Cũng với sự nhìn nhận này, đối với 1 doanh nghiệp đời sống của một sản phẩm thì cũng cần đánh giá, phân tích cả trong quan điểm ngắn hạn lẫn dài hạn để có sự nhìn nhận đúng đắn về quan hệ sản xuất kinh doanh của 1 sản phẩm đó
Có thể biểu thị hiệu quả bằng công thức sau:
H = K (1.1)
C Trong đó: H: Hiệu quả kinh doanh
K: Kết quả đạt được C: Chi phí nguồn lực gắn với kết quả
Với khái niệm này, xét trên góc độ từng doanh nghiệp thì một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả lý tưởng là 1 doanh nghiệp hoạt động trên đường giới hạn
Trang 30năng lực sản xuất của doanh nghiệp, và tương tự có thể suy rộng ra cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng vậy Đây là trường hợp lý tưởng, nhưng trong thực tế nhà doanh nghiệp thường gặp phổ biến các trường hợp: “Được cái này, mất cái kia” Ví
dụ, khi đầu tư công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất, hạ giá thành – một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh (xét về mặt lý thuyết), thì doanh nghiệp cần phải bỏ chi phí lớn, cần thời gian đầu tư dài và có lúc còn làm mất chỗ làm của công nhân Vì vậy cũng phải chấp nhận những rủi ro có thể có đi theo nó và
vì đó mà kinh doanh không hiệu quả
1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh
Mục tiêu hiệu quả luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nền sản xuất Nhưng hiệu quả là gì? Như thế nào là hoạt động kinh doanh có hiệu quả? Không phải là một vấn đề đã được giải quyết triệt để và có quan niệm thống nhất trong lý luận và trong công tác thực tiễn Dưới góc độ nghiên cứu khác nhau, phạm trù hiệu quả kinh tế sẽ được hiểu và xem xét khác nhau Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự chỉ đạo và quản lý của nhà nước thì việc xác định rõ bản chất, phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế trở thành một đòi hỏi cấp bách Thật khó đánh giá mức độ hiệu quả kinh tế đạt được
mà khi bản thân phạm trù này chưa được xác định rõ về bản chất những biểu hiện của nó Do vậy hiểu đúng hơn bản chất và có những quan niệm thống nhất về hiệu quả kinh tế là vấn đề không những có ý nghĩa quan trọng về lý luận mà còn rất cần thiết trong hoạt động thực tiễn Nó sẽ cho phép xác định đúng đắn mục tiêu và biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế trước đây khi nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch tập trung, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được đánh giá bằng mức độ hoàn thành các chỉ tiêu pháp lệnh do Nhà nước giao như: Giá trị tổng sản lượng hàng hoá thực hiện, khối lượng sản phẩm chủ yếu như chỉ tiêu nộp ngân sách … về thực chất đây là các chỉ tiêu phản ánh kết quả, không thể hiện được mối quan hệ so sánh với những gì mà doanh nghiệp bỏ ra và nhà nước đầu tư Mặt khác trong thời kỳ này giá cả mang tính hình thức, theo sự chỉ đạo chung nên việc tính toán các chỉ tiêu thống kê và hạch toán mang tính hình thức không phản ánh đúng thực chất trình độ quản lý của doanh nghiệp
Trang 31Khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, Nhà nước thực hiện chức năng quản ký kinh tế bằng các chính sách định hướng vĩ mô thông qua các công cụ là hệ thống luật pháp hành chính và luật pháp kinh tế nhằm đạt được mục tiêu chung của xã hội Các doanh nghiệp là các chủ thể sản xuất, tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật cho phép, các doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đường đi cho mình và bình đẳng trước pháp luật Chính vì vậy mà hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và hiệu quả xã hội không đồng nhất với nhau
Để đánh giá kết quả đạt được của các loại hình doanh nghiệp thì Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và xác định cho mỗi loại hình doanh nghiệp các mục tiêu khác nhau Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: “ Lấy suất sinh lời tiền vốn là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh Lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích” Đây là một quan điểm có ý nghĩa rất quan trọng về cả mặt lý luận và thực tiễn trong việc làm rõ bản chất của hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn để xác định, đánh giá hiệu quả kinh tế
Từ thực tiễn nêu trên ta thấy, “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh trình
độ năng lực quản lý bảo đảm thực hiện có kinh tế cao những mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí nhỏ nhất” Chúng ta cần đánh giá hiệu quả kinh tế toàn diện trên cả hai mặt đó là mặt định tính và mặt định lượng
Thứ nhất: Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm
vụ kinh tế, xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Nếu xét về tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn, hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Thứ hai: Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự
cố gắng, nỗ lực, trình độ quản lý ở mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp và
sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu
và mục tiêu chính trị – xã hội
Hai mặt định lượng và định tính của phạm trù hiệu quả kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong những biểu hiện về định lượng phải nhằm đạt được những mục tiêu chính trị – xã hội nhất định Ngược lại, việc quản lý kinh tế, dù ở giai đoạn nào, cũng không chấp nhận việc thực hiện những yêu cầu, mục tiêu chính trị, xã hội với
Trang 32bất kỳ giá nào, cần phân biệt sự khác nhau và hiệu quả mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và kết quả kinh tế Về mặt hình thức, hiệu quả kinh tế luôn là một phạm trù
so sánh thể hiện mối tương quan giữa cái phải bỏ ra và cái thu về được Kết quả chỉ
là yếu tố cần thiết để tính toán và phân tích hiệu quả Từ bản thân mình, kết quả chưa thể hiện nó tạo ra ở mức và phải chi phí nào
Trong quản lý sản xuất kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở những dạng khác nhau Việc phân loại hiệu quả kinh tế là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phân tích hiệu quả kinh tế và xác định những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế Có mấy cách phân loại chủ yếu sau đây:
Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động của từng doanh nghiệp công nghiệp, biểu hiện trực tiếp của hiệu quả này là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp phải thu được và chất lượng thực hiện những yêu cầu do xã hội đặt ra cho nó Hiệu quả kinh tế quốc dân được tính cho toàn nền kinh tế quốc dân Về cơ bản đó là lượng sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dân hoặc tổng sản phẩm xã hội, mà đất nước và tài nguyên đã hao phí
Trong việc thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, không những cần tính toán và đạt được hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, mà còn cần phải đạt được hiệu quả toàn bộ hệ thống kinh tế quốc dân, mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ thuộc vào mức hiệu quả cá biệt Nghĩa là phụ thuộc và sự cố gắng của mỗi người lao động và mỗi doanh nghiệp Đồng thời, xã hội qua hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước cũng có tác động trực tiếp đến hiệu quả cá biệt Một cơ chế quản lý đúng tạo tiền đề thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả cá biệt Ngược lại, một chính sách lạc hậu, sai lầm lại trở thành lực cản kìm hãm việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Hiệu quả của những chi phí bộ phận và hiệu quả của chi phí tổng hợp
Hiệu quả của chi phí tổng hợp thể hiện mỗi tương quan giữa kết quả thu được
và tổng chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Còn hiệu quả chi phí bộ phận lại thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với lượng chi phí từng yếu tố cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy (lao động, thiết bị, nguyên vật liệu …)
Trang 33Việc tính toán hiệu quả chi phí tổng hợp cho thấy hiệu quả chung của doanh nghiệp, hay nền kinh tế quốc dân Việc tính toán và phân tích hiệu quả của các chi phí bộ phận cho thấy sự tác động của những nhân tố nội bộ sản xuất kinh doanh đến hiệu quả kinh tế nói chung Về nguyên tắc, hiệu quả chi phí tổng hợp phụ thuộc vào hiệu quả của các chi phí bộ phận
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Trong công tác quản lý công nghiệp, việc xác định và phân tích hiệu quả kinh
xã hội, về mặt lượng, hiệu quả này được biểu hiện ở các chỉ tiêu khác nhau, như năng suất lao động, thời gian hoàn vốn, tỷ suất vốn, lợi nhuận …
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối, hoặc so sánh tương quan các đại lượng thể hiện chi phí, hoặc kết quả của các phương án khác nhau Các chỉ tiêu hiệu quả so sánh được sử dụng để đánh giá mức
độ hiệu quả của các phương án, để chọn phương án có lợi nhất
1.2.3 Tiêu chuẩn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
1.2.3.1 Tiêu chuẩn về hiệu quả kinh doanh
Nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế- xã hội là yêu cầu khách quan Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là cơ sở để đánh giá mức độ hiệu quả của phương án khác nhau và chọn phương án có hiệu quả kinh tế Trong thực tế thiếu một tiêu chuẩn thống nhất, không thể có căn cứ xác định để đưa ra những quyết định quản lý hợp lý, nhất là trong điều kiện giải quyết một nhiệm vụ đòi hỏi thực hiện tổng hợp các biện pháp, mà ảnh hưởng của chúng đến kết quả cuối cùng không đồng nhất hoặc không đồng hướng nhau Chẳng hạn việc áp dụng kỹ thuật mới có tác động tích cực đến các chỉ tiêu khối lượng sản phẩm, năng suất lao động, nhưng lại đòi hỏi chi phí đầu tư
Trang 34Một cách tổng quát, khi thực hiện một nhiệm vụ nào đó mà nhà kinh doanh có thể gặp trường hợp lý tưởng “được tất cả”, nhưng thông thường họ gặp trường hợp “ được cái này, mất cái khác” vì vậy, cần thống nhất, không thể có cơ sở để đưa ra quyết định tối ưu, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế phải thể hiện được mối tương quan giữa thu và chi theo hướng cực đại cái thu được và cực tiểu phải chi ra Tiêu chuẩn
ấy, nhất thiết phải thể hiện mục đích của sản xuất trong điều kiện nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong từng giai đoạn cụ thể Mục đích của chủ nghĩa xã hội, suy đến cùng,
là nâng cao mức sống vật chất, tinh thần và sự phát triển toàn diện của mọi công dân trong xã hội Để thực hiện mục đích đó, phải sử dụng hợp lý tất cả các chi phí và dự trữ sản xuất để tạo nên kết quả cao nhất Nghĩa là phải tăng năng suất lao động xã hội
Như vậy, theo nghĩa tổng quát có thể coi tăng năng suất lao động xã hội như tiêu chuẩn chung của hiệu quả kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội
Theo ý nghĩa trực tiếp, tăng năng suất lao động là giảm hao phí lao động xã hội cần thiết để tạo ra sản phẩm hoặc tăng sản lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn
vị thời gian, theo ý nghĩa rộng hơn, tăng năng suất lao động dưới chủ nghĩa xã hội còn là việc phát triển sản xuất mở mang ngành nghề, trên cơ sở đó thu hút thêm lao động vào sản xuất của cải vật chất, tạo thêm việc làm cho người lao động vào sản xuất của cải vật chất, tạo thêm việc làm cho người lao động Tăng năng suất lao động
xã hội tạo ra điều kiện vật chất để tăng thu nhập quốc dân, quỹ tích luỹ tiêu dùng xã hội Đó là điều kiện không thể thiếu để cải thiện mức sống vật chất, tinh thần và sự phát triển toàn diện của một công dân trong xã hội
Trước hết, đó là sự gắn bó và ước định lẫn nhau giữa giá trị và giá trị sử dụng: Một mặt giảm chi phí lao động xã hội sản xuất hàng hoá; mặt khác, đảm bảo chất lượng sản phẩm và không ngừng mở rộng mặt hàng đáp ứng những nhu cầu đa dạng của xã hội Thứ hai, sự toàn diện của tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế quốc dân đòi hỏi phải vừa giải quyết những vấn đề kinh tế kinh doanh, vừa phải giải quyết những vấn
đề xã hội của đất nước Thứ ba, sự toàn diện của tiêu chuẩn hiệu quả cũng đòi hỏi xem xét mỗi giải pháp, mỗi phương án một cách toàn diện về không gian và thời gian, làm sao phải bảo đảm hiệu quả của từng phần tử, từng phần khi có tác động tích
Trang 35cực đến việc nâng cao hiệu quả của toàn bộ hệ thống nhất, nâng cao hiệu quả hiện tại
và lâu dài của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mỗi doanh nghiệp cần chú trọng đến việc tạo ra và không ngừng tăng lợi nhuận Nhưng cũng không nên đơn giản coi lợi nhuận như tiêu chuẩn duy nhất đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Điều quan trọng là xem xét lợi nhuận đạt được bằng cách nào và được phân phối sử dụng như thế nào Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của hệ thống kinh tế quốc dân, sự vận động của nó phải trong quỹ đạo chung và góp phần thực hiện mục tiêu của hệ thống Bởi vậy mà lợi nhuận mỗi doanh nghiệp thu được trong hoạt động kinh doanh vừa phải thể hiện sự gắn bó của doanh nghiệp với sự vận động của thị trường, vừa phải đảm bảo sự tôn trọng pháp luật kỷ cương của nhà nước, góp phần vào chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hoá Đồng thời, nói cũng phải được phân phối theo cách kết hợp hài hoà giữa các lợi ích khác nhau: Lợi ích cá nhân của người lao động, lợi ích người chủ sở hữu, lợi ích tập thể doanh nghiệp và lợi ích xã hội
Cuối cùng, cũng phải cần chú ý rằng một phương án không sinh lời ngay khi bắt đầu thực hiện mà chỉ có thể tạo được lợi nhuận sau thời gian nhất định, bởi vậy, phải có tầm nhìn chiến lược, kết hợp trước mắt và lâu dài khi xem xét vấn đề này
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế là biểu hiện đặc trưng về lượng tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế Trong thực tế, việc phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu, vì:
Thứ nhất: Để tính được mức tăng năng suất lao động xã hội, phải tính được hao phí lao động xã hội để sản xuất hàng hoá nghĩa là phải tính được giá trị hàng hoá Tuy nhiên, điều đó chưa thực hiện được trong thực tế Việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu
là nhằm phản ánh giá trị ở những mức độ và khía cạnh khác nhau
Thư hai: Bản thân mỗi chỉ tiêu có những nhược điểm nhất định trong nội dung
và phương pháp tính toán Việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu cho phép thấy được mối tương quan thu – chi một cách đầy đủ và toàn diện hơn
Cũng cần phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ giữa 3 loại chỉ tiêu sau đây:
- Các chỉ tiêu dùng để tính toán hiệu quả kinh tế
Trang 36- Các chỉ tiêu dùng để phản ánh hiệu quả kinh tế
- Các chỉ tiêu dùng để so sánh hiệu quả kinh tế
Các chỉ tiêu dùng để tính toán hiệu quả kinh tế chỉ phản ánh từng mặt của mối tương quan thu – chi, nó được dùng để so sánh mối tương quan ấy, chẳng hạn: Chỉ tiêu khối lượng sản phẩm hàng hoá, vốn đầu tư cơ bản, giá thành sản phẩm, …
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trực tiếp phản ánh từng mặt của mối tương quan thu – chi trực tiếp biểu hiện qua hiệu quả kinh tế, chẳng hạn: Năng suất lao động, thời gian thu hồi vốn, tỷ suất vốn, lợi nhuận …
Các chỉ tiêu dùng để so so sánh hiệu quả kinh tế được tính toán dùng để thực hiện sự tương quan ở các phương án khác nhau, nhằm chọn lấy phương án có hiệu quả nhất Sự so sánh này có thể thực hiện giữa các chỉ tiêu dùng để tính toán hiệu quả kinh tế với nhau, giữa các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế với nhau
HQKD được xét trên một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
a-Hiệu quả kinh doanh qua các chỉ tiêu tổng hợp
Các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ bao gồm:
Chỉ tiêu sản phẩm tiêu thụ là số lượng sản phẩm tiêu thụ hàng kỳ bán ra
Chỉ tiêu doanh thu = Số lượng SP tiêu thụ x Giá bán
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn/Hàng tồn kho
Chỉ tiêu lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
b- Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
(Return on Assets – ROA)
Để xem xét sự kết hợp tác động giữ hệ số lãi ròng với số vòng quay tài sản, ta tính tỷ suất sinh lời của tài sản như sau:
Suất sinh lời của tài sản (ROA) = LN ròng
Tài sản
Doanh thu Tài sản
Trang 37Hệ số lãi ròng = LN ròng (1.3)
Doanh thu
Hệ số vòng quay tài sản = Doanh thu (1.4)
Tài sản Suất sinh lời tài sản = Hệ số lãi ròng x số vòng vay tài sản (1.5)
ROA là công cụ đo lường cơ bản tính hiệu quả của việc phân phối và quản lý các nguồn lực ở doanh nghiệp Có nghĩa là 1 đồng tài sản tham gia thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó cho biết tỷ lệ lợi nhuận mang lại cho chủ sở hữu và cả chủ
nợ
Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE):
Từ trước đến nay, tiêu chuẩn phổ biến nhất mà người ta thường dùng để đánh giá tình hình tài chính của các nhà đầu tư và các nhà quản lý cao cấp là suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Nó được định nghĩa như sau:
Suất sinh lời vốn chủ sở
LN ròng
(1.6) Vốn chủ sở hữu
= LN ròng x Doanh thu x Tài sản
Doanh thu Tài sản Vốn chủ sở hữu Gọi ba hệ số trên lần lượt là hệ số lãi ròng, số vòng quay tài sản và đòn cân tài chính (đòn cân nợ), công thức trên có thể viết lại như sau:
Suất sinh lời vốn
Suất sinh lời vốn chủ sở hữu đo lường tính hiệu quả của đồng vốn của các chủ
sở hữu của doanh nghiệp Nó xem xét lợi nhuận trên mỗi đồng tiền của vốn chủ sở hữu mang đi đầu tư, hay nói cách khác, đó là phần trăm lợi nhuận thu được của chủ
sở hữu trên vốn đầu tư của mình
Trang 38c- Hiệu quả sử dụng lao động
Lao động là nguồn lực sống quý giá nhất của doanh nghiệp và của nền kinh tế,
vì vậy sử dụng yếu tố lao động có hiệu quả góp phần quan trọng tăng HQKD của doanh nghiệp Chỉ tiêu biểu thị trực tiếp, bao trùm cho hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp là chỉ tiêu năng suất lao động, nó được biểu thị bằng công thức sau
T Trong đó: W : Năng suất lao động bình quân (BQ) trong kỳ
Q : Khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ
T : Số lượng lao động bình quân hoặc thời gian công tác trong kỳ Năng suất lao động phản ánh lượng sản phẩm mà một lao động tạo ra trong một đơn vị thời gian (giờ, ngày, tháng, năm) Nghịch đảo của nó là suất hao phí lao động (HLĐ) biểu thị bằng công thức:
Q
HLĐ phản ánh lượng lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Lượng hao phí này cần tính đầy đủ cho tất cả các khâu để hoàn thành 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh (SXKD) 1 sản phẩm hay dịch vụ Về nguyên tắc, suất hao phí càng thấp thì hiệu quả càng cao và ở đây mức chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động là năng suất lao động bình quân của ngành
d- Chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của lao động
Chỉ tiêu này cho chiết mỗi lao động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong
1 chu kỳ tính toán xác định, nó được xác định bởi công thức sau:
BQ = R
(1.10)
L
BQ : Lợi nhuận bình quân/1 lao động trong kỳ tính toán
R : Lợi nhuận ròng của kỳ tính toán
L : Tổng số lao động bình quân của kỳ tính toán
e- Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn kinh doanh
Trang 39Vốn được ví như là “máu” của doanh nghiệp Vì vậy vốn luân chuyển càng tốt, càng điều hoà càng có lợi và là điều kiện tốt để nâng cao HQKD cho doanh nghiệp Chỉ tiêu này được xác định bởi công thức:
Số vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh =
Doanh thu
(1.11) Vốn kinh doanh
Số vòng quay vốn cố định = Doanh thu (1.12)
Vốn cố định
Số vòng quay vốn lưu động = Doanh thu (1.13)
Vốn lưu động
g- Hiệu quả sử dụng nguyên liệu
Trong sản xuất công nghiệp có nhiều trường hợp nguyên liệu chiếm tới 70-80% giá thành sản phẩm, trong đó có những nguyên liệu đặc chủng, đắt giá Vì vậy quản
lý, sử dụng nguyên liệu có hiệu quả luôn là đòi hỏi đối với mọi doanh nghiệp để giảm giá thành, nâng cao HQKD Một trong các chỉ tiêu dễ nhận biết của hiệu quả sử dụng nguyên liệu là tiêu hao nguyên vật liệu trên đơn vị sản phẩm
Ngoài những chỉ tiêu có thể định lượng chi tiết như trên, HQKD của doanh nghiệp còn được biểu hiện ở mặt định tính như về uy tín Vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, danh tiếng thương hiệu của doanh nghiệp đã diễn biến tăng hay giảm theo thời gian, ngày nay người ta có thể định lượng được các giá trị này của doanh nghiệp, tuy nhiên không phải dễ dàng tính được cho tất cả, nên các chỉ tiêu này vẫn còn mang định tính nhưng có rất có ý nghĩa trong chiến lược dài hạn của doanh nghiệp và trong từng thời kỳ cụ thể nó có tác động lên các chỉ tiêu hiệu quả định lượng của doanh nghiệp, thông qua việc tác động lên tâm lý của người tiêu dùng về
uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp
Tùy theo từng điều kiện của không gian, thời gian và tính chất đặc thù của các nhân tố để chúng có vị trí quan trọng và tác động khác nhau lên hoạt động và HQKD của doanh nghiệp Nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ hữu cơ giữa những nhân
tố trong một hệ thống nhân tố tương tác lẫn nhau mà kết quả mang lại có ý nghĩa như: tác dụng của một hợp lực hiểu theo nghĩa vật lý lên kết quả và hiệu quả của doanh nghiệp
Trang 40h- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội
Dưới góc độ nền kinh tế quốc dân, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều
có tác động đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển của nền kinh tế, nghĩa là phải xem xét các lợi ích kinh tế xã hội mà doanh nghiệp mang lại Lợi ích kinh tế xã hội thu được so với chi phí mà nền kinh tế xã hội phải bỏ qua hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của doanh nghiệp đối với thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế sự đáp ứng này có thể đem lại tính tính chất kinh doanh của doanh nghiệp
Các chỉ tiêu định lượng đánh giá lợi ích kinh tế, xã hội của doanh nghiệp thể hiện như sau:
Mức đóng góp vào ngân sách Nhà nước từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (như thuế doanh thu, thuế thu nhập, thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu, …)
Số lao động có việc làm ở đây bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp ở doanh nghiệp và số lao động có việc làm gián tiếp của doanh nghiệp liên đới về phía đầu vào và đầu ra
Các chỉ tiêu tiết kiệm ngoại tệ: Đây là chỉ tiêu thể hiện tác động của doanh nghiệp đến cán cân thanh toán quốc tế của đất nước
Những tác động định tính từ hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện ở các mặt như sau:
Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất, trình độ nghề nghiệp của người lao động, trình độ quản lý của các quản trị viên Điều này góp phần vào việc nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực cho đất nước
Tác động tới môi trường: Những yếu tố đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp có ảnh hưởng tới môi trường sinh thái tự nhiên Những ảnh hưởng này có tác động tích cực và tiêu cực, … nếu có tác động tiêu cực thì cần phải có chi phí cho các giải pháp khắc khục hiệu quả Nếu chi phí này lớn hơn lợi ích mà xã hội nhận thức được thì sự tồn tại của doanh nghiệp là không thể chấp nhận được
Những tác động đến mặt xã hội, chính trị và kinh tế khác như tận dụng và khai thác các nguồn tài nguyên chưa được quan tâm, tiếp nhận các công nghệ và ngành nghề mới tham gia vào phân công lao động quốc tế