Ngay từ thời sơ khai, con người đã có những tín ngưỡngtôn giáo riêng của cá nhân, những tín ngưỡng đó giúp con người nương tựa về mặt đời sống tinh thần. Người theo thiên chúa sẽ luôn tin tưởng và một lòng thờ kính Đức Jesu, người theo đạo Hindu sẽ tôn thờ thần Vishnu, người theo đạo Phật sẽ học tập theo các giáo pháp mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng và truyền lại… Tuy mỗi một tôn giáo tín ngưỡng khác nhau thờ một vị giáo chủ riêng của mình, nhưng tất cả các tôn giáo đều hướng tới giáo dục con người sống hành thiện, biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho mỗi cá nhân trong xã hội. Albert Einstein, một nhà bác học nổi tiếng của thế kỉ 20 từng nói: “khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng, tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng”1. Đúng như vậy, sự phát triển nhanh chóng và tốc độ vượt bậc của xã hội loài người về kinh tế, văn hóa, nhất là khoa học kĩ thuật đã tạo ra một cuộc khủng hoảng xã hội, hệ cân bằng sinh thái, về văn hóa, tâm lý, đạo đức… Cho nên tôn giáo về cốt lõi cơ bản chính là tình yêu, lòng từ bi và mong muốn co người hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, nhan ái hơn, và tôn giáo trở thành điểm tựa vững bền của sự phát triển khoa học kĩ thuật trong bất cứ xã hội nào. Không ai khác con người chính là cơ sở cho những phát minh tốt đẹp của khoa học ra đời. Bên cạnh đó khoa học cũng phải là kim chỉ nam, là một “ngọn đuốc” để soi sáng cho tôn giáo không đi vào những con đường mù quáng, duy ý chí và mê tín ; nếu không đảm nhiệm được những vai trò trên thì những phát minh sáng tạo dù có vĩ đại đến đâu cũng trở thành vô nghĩa. Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa mang tinh thần chính trịxã hội và là một trường phái triết học lâu đời có những ảnh hưởng to lớn, sâu sắc tới lịch sử xã hội. Ngoài ra Phật giáo còn chứa đựng những triết lý nhân sinh quan về các quan điểm giáo dục lối sống của con người trong mọi thời đại khác nhau, sự biến đổi đầy linh hoạt, mềm dẻo và phù hợp với từng thời đại lịch sử. Đặc biệt là Phật giáo nguyên thủy, cái nôi của nền Phật giáo Đại thừa hiện đại đã lấy con người và nhân cách sống của con người làm trung tâm của lý luận phật giáo. Cho dù đã trải qua biết bao thăng trầm, biến đổi cùng với sự đổi thay của lịch sử nhân loại thì Phật giáo vẫn đại diện cho quan điểm nhân sinh mang tính nhân văn: “gieo nhân nàogặt quả ấy” giáo dục con người về quy luật vô thường của tạo hóa, qua đó truyền bá một thông điệp ý nghĩa về quy luật nhân quả để con người chúng ta biết sống thiện lành, cách thực hành vận dụng quy luật nhân quả vào đời sống thực tế của xã hội. Chính sứ mệnh cao cả đó đã giúp Phật giáo ngày càng lớn mạnh, trở thành ngọn đèn chính pháp thắp sáng và lưu truyền mãi mãi trong nhân loại.
Trang 1Học viên: Hà Bích Hảo
Lớp Triết 9-cao học k22
Mã học viên: k220428
Chuyên ngành: Quan hệ công chúng
Trường: Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Đề tài tiểu luận:
Nội dung của quy luật nhân quả trong Phật giáo nguyên thủy và ý
nghĩa của nó trong đời sống con người.
Lý do chọn đề tài.
Ngay từ thời sơ khai, con người đã có những tín ngưỡng-tôn giáo riêng
của cá nhân, những tín ngưỡng đó giúp con người nương tựa về mặt đời
sống tinh thần Người theo thiên chúa sẽ luôn tin tưởng và một lòng thờ
kính Đức Je-su, người theo đạo Hindu sẽ tôn thờ thần Vishnu, người
theo đạo Phật sẽ học tập theo các giáo pháp mà đức Phật Thích Ca Mâu
Ni thuyết giảng và truyền lại… Tuy mỗi một tôn giáo tín ngưỡng khác
nhau thờ một vị giáo chủ riêng của mình, nhưng tất cả các tôn giáo đều
hướng tới giáo dục con người sống hành thiện, biết yêu thương đùm bọc
lẫn nhau, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho mỗi cá nhân trong xã hội
Albert Einstein, một nhà bác học nổi tiếng của thế kỉ 20 từng nói: “khoa
học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng, tôn giáo mà không có khoa học thì
mù quáng”[1] Đúng như vậy, sự phát triển nhanh chóng và tốc độ vượt
bậc của xã hội loài người về kinh tế, văn hóa, nhất là khoa học kĩ thuật
đã tạo ra một cuộc khủng hoảng xã hội, hệ cân bằng sinh thái, về văn
hóa, tâm lý, đạo đức… Cho nên tôn giáo về cốt lõi cơ bản chính là tình
yêu, lòng từ bi và mong muốn co người hướng tới một cuộc sống tốt đẹp
hơn, nhan ái hơn, và tôn giáo trở thành điểm tựa vững bền của sự phát
triển khoa học kĩ thuật trong bất cứ xã hội nào Không ai khác con người
chính là cơ sở cho những phát minh tốt đẹp của khoa học ra đời Bên
cạnh đó khoa học cũng phải là kim chỉ nam, là một “ngọn đuốc” để soi
Trang 2sáng cho tôn giáo không đi vào những con đường mù quáng, duy ý chí
và mê tín ; nếu không đảm nhiệm được những vai trò trên thì những phát
minh sáng tạo dù có vĩ đại đến đâu cũng trở thành vô nghĩa
Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa mang tinh thần chính trị-xã hội và là
một trường phái triết học lâu đời có những ảnh hưởng to lớn, sâu sắc tới
lịch sử xã hội Ngoài ra Phật giáo còn chứa đựng những triết lý nhân
sinh quan về các quan điểm giáo dục lối sống của con người trong mọi
thời đại khác nhau, sự biến đổi đầy linh hoạt, mềm dẻo và phù hợp với
từng thời đại lịch sử Đặc biệt là Phật giáo nguyên thủy, cái nôi của nền
Phật giáo Đại thừa hiện đại đã lấy con người và nhân cách sống của con
người làm trung tâm của lý luận phật giáo Cho dù đã trải qua biết bao
thăng trầm, biến đổi cùng với sự đổi thay của lịch sử nhân loại thì Phật
giáo vẫn đại diện cho quan điểm nhân sinh mang tính nhân văn: “gieo
nhân nào-gặt quả ấy” giáo dục con người về quy luật vô thường của tạo
hóa, qua đó truyền bá một thông điệp ý nghĩa về quy luật nhân quả để
con người chúng ta biết sống thiện lành, cách thực hành vận dụng quy
luật nhân quả vào đời sống thực tế của xã hội Chính sứ mệnh cao cả đó
đã giúp Phật giáo ngày càng lớn mạnh, trở thành ngọn đèn chính pháp
thắp sáng và lưu truyền mãi mãi trong nhân loại
Trang 3CHƯƠNG I:
SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ QUY LUẬT
NHÂN QUẢ THEO GIÁO LÝ CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
1 Nguyên nhân sự ra đời của Phật giáo Nguyên Thủy
- Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo Ấn Độ
Ấn Độ là một quốc gia Nam Á, chiếm hầu hết bán đảo Ấn Độ Ấn Độ
có nền văn minh sông Ấn (Indus) phát triển rực rỡ cách đây 5 nghìn
năm Ấn Độ là nơi sinh trưởng của bốn tôn giáo quan trọng trên thế giới:
Ấn Độ giáo (Hindu), Phật giáo, đạo Jaini và đạo Sikh Đất nước Ấn Độ
có một vị thế địa lý rất đặc biệt Đó là lưng dựa vào dãy Hymalaya hùng
vĩ nhất thế giới, mặt nhìn ra Ấn Độ Dương biển cả mênh mông, lại còn
có 2 con sông lớn là Ấn Hà và Hằng Hà như hai dòng sữa tươi nuôi một
bình nguyên bao la và cũng là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp
định cư vào thời cổ đại Chính ở chốn địa linh nhân kiệt đó nhiều vĩ
nhân ra đời như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Thánh Mahatma Gandhi,
hiền triết Jiddu Krishnamurti, thi hào Rabindranath Tagore, v.v… và các
tôn giáo, trường phái triết học lớn và lâu đời nhất thế giới được hình
thành như Vệ Đà, Áo Nghĩa Thư, Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, Kỳ Na Giáo,
Đạo Sikh, v.v…[2]
Vào thế kỷ thứ VI TCN, thời điểm này khắp trên thế giới có sự khủng
hoảng về niềm tin tôn giáo, lúc này thì trăm hoa đua nở xuất hiện nhiều
bậc triết gia, giáo chủ như: “Trung Hoa thì có Lão Tử, Khổng Tử, ở Hy
Lạp có Pythagoras, Parmanides…, Iran có Zathathu-sta, ở Ấn Độ có đức
Phật và 6 vị đạo sư lớn khác” … Những vị này đã đặt nền móng cho tư
tưởng triết học cả Đông lẫn Tây phương Lúc này tôn giáo nào cũng đưa
ra những học thuyết thu phục lòng người nhằm mục đích níu kéo tín đồ
và cổ súy tôn giáo của mình Đây là phát triển về triết học, tư tưởng tri
thức của nhân loại và lúc này con người phân vân không biết phải tin
theo tín ngưỡng tôn giáo nào cho đúng Tôn giáo nào cũng đưa ra những
Trang 4triết lý bắt buộc con người phải tuân thủ, phải nên làm cái này không
nên làm cái kia Chính vì lý do đó nên vì sao con người thời đại cần có
tôn giáo, con người cần đưa ra nền triết học mới để thay thế những tư
tưởng triết học cũ, được cho là lạc hậu, bảo thủ, phân biệt đẳng cấp, bóc
lộc nô lệ…và khát khao đó đã sinh ra một nền triết học mới đáp ứng nhu
cầu cấp thiết của con người xã hội Ấn đương thời “Xã hội Ấn Độ cho ra
đời các dòng tư tưởng phi Bà-la-môn, bao gồm Phật giáo được xem là
động lực chống đối hệ thống triết học Samshita và Brashma đang thống
trị, bảo thủ, lạc hậu như tín ngưỡng cúng tế sinh vật, sự bất công trong
xã hội, sự phân biệt chủng tộc, đẳng cấp, kỳ thị giới tính”[3] Lúc này
phi Bà-la-môn cho ra đời dòng tư tưởng triết học được cho là cởi mở,
vượt ra ngoài những gì mà Bà-la-môn đã áp đặt thống trị từ nhiều năm
qua, nhưng cũng không đáp ứng nhu cầu của con người xã hội đương
thời
Và sau thời gian này thì các trường phái phi Bà-la-môn ra đời được chia
thành 3 nhóm chính “Nhóm thứ nhất tin rằng mọi sự vật trong đời xảy
ra đều ngang ước muốn của đấng sáng tạo, thường đế, được gọi là Thần
Ý Luận Nhóm thứ hai: Mọi việc đều do nghiệp quá khứ quyết định:
Định Mệnh Luận Nhóm thứ ba: mọi việc xả ra đều do tình cờ: Ngẫu
Nhiên Luận”[4] Ba nhóm này cho rằng mình tu tập thiền định có thể an
tịnh tâm hồn và họ còn quan niệm tu tập khổ hạnh ép xác nhằm chấm
dứt khổ đâu, chế ngự cấu uế nhằm để kiểm soát tâm…trong khi đó đức
Phật đưa ra con đường trung đạo, ngài không khuyến khích con người tu
khổ hạnh ép xác và hưởng thọ dục lạc, ngài khuyên con người hãy từ bỏ
hai cực đoan này, ngài ví như sợi dây đàn nếu căn quá thì âm thanh hay
nhưng sẽ đứt, trùng quá thì âm thanh không hay Cũng vậy hai chủ nghĩa
cực đoan tiêu cực không đưa con người đến an lạc giải thoát mà ngược
lại làm cho con người đâu khổ, chấp chặc để rồi đọa lạc trong luân hồi
Do đó, ở đây chúng ta có thể khẳng định rằng: Đức Phật là một người
đại giác ngộ và ngài đi ngược chiều với phần đông các tôn giáo khác
trong hiện tại lúc bấy giờ, khi khai quang con đường trung đạo và truyền
bá giáo lý lấy nhân bản làm trung tâm, thay vì giáo điều lấy thần linh
Trang 5làm trụ cột Ngài chú trọng hướng nội và đặt con người làm trung tâm
nhằm vào sự giải thoát từng cá nhân, giáo pháp phải được tự mình
chứng ngộ, con người có quyền làm chủ bản thân, không ai có quyền áp
đặt bất cứ điều gì hay thay đổi số phận
Như vậy, ở đây con người không có quyền làm chủ bản thân mà
phải dựa vào thần thánh nếu muốn giải thoát cứu cánh trong tương lai thì
phải thực hành và tuân thủ theo những quy định của Bà-la-môn Có thể
nói tổ chức xã hội theo hệ thống Bà-la-môn do trí tuệ, kỹ năng lãnh đạo
quyền lực đã ổn định đời sống, nâng cao sản xuất, tạo một bước tiến dài,
một bước ngoặt mới trong lịch sử Ấn Độ cổ đại Nhưng khi đất nước đã
lớn mạnh cơ sở hạ tầng đã phát triển cao thì cái kiến trúc thượng tầng đã
có dấu hiệu không kham nổi vai trò lãnh đạo của mình Như thế sinh khí
của đất nước bấy giờ hầu như đã suy giảm Các tế lễ, nghi thức tôn
giáo… sự lệ thuộc về thánh thần sinh hoạt hằng ngày của người dân vào
Bà-la-môn giáo quá nhiều, tất cả thành ra bó buộc, đơn điệu, buồn tẻ Đã
đến lúc các quốc gia muốn tiến hơn nữa, phải đón nhận một tư tưởng
lãnh đạo khác, hoặc đã đến lúc Bà-la-môn giáo muốn tiếp tục đảm
nhiệm vai trò lãnh đạo, phải chuyển biến thành một hệ thống mới, thực
tiễn mang tính chất nhân bản nhân văn hơn và vị ấy không ai ngoài đức
Phật
- Cuộc đời và thân thế của Đức Phật Thích Ca
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha), người khai sáng
ra Phật Giáo, sinh vào năm 624 trước công nguyên tại Thành Phố Lâm
Tỳ Ni (Lumbini) mà ngày nay là nước Nepal, phía bắc Ấn Độ Ngài
nguyên là Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Siddhartha) của dòng họ Cồ Đàm
(Gautama) thuộc nước Ca Tỳ La Vệ (Capilavastu) Phụ vương của Thái
Tử là Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và mẫu hậu là Hoàng Hậu Maya
Năm 16 tuổi Thái Tử kết hôn với Công Chúa Da Du Đà La (Yasodhara)
Năm 29 tuổi Thái Tử vào Hy Mã Lạp Sơn để xuất gia tầm đạo tìm con
đường giải thoát khổ đau cho mình và chúng sinh Trải qua 6 năm tầm
sư học đạo, nhưng Thái Tử Sĩ Đạt Ta vẫn không thỏa mãn với những
Trang 6giáo thuyết và pháp môn tu của những vị đạo sư mà Ngài theo học Cuối
cùng vì tu theo khổ hạnh ép xác, Ngài đã kiệt sức và ngã quỵ bên dòng
sông Ni Liên Thiền (Nairanjana) và nhờ bác sữa của nữ thí chủ Tu Xà
Đa (Sujata) mà Ngài hồi phục Sau Đó Thái Tử quyết định từ bỏ lối tu
khổ hạnh và bắt đầu pháp môn riêng của Ngài Ngài đến dưới gốc cây
Bồ Đề (Bodhi Tree) ngồi thiền định Sau 49 ngày đêm thiền tọa, cuối
cùng Thái Tử đã đạt được sự giác ngộ hoàn toàn và trở thành vị Phật có
tên là Phật Thích Ca Mâu Ni, vào năm Ngài 35 tuổi Sau khi giác ngộ,
đức Phật đến Vườn Lộc Uyển gặp lại 5 người bạn đồng tu lúc trước và
dạy cho họ pháp môn giác ngộ mà Ngài đã thành tựu để họ được chứng
đạo Bài pháp đầu tiên mà đức Phật giảng cũng gọi là chuyển Pháp
luân tức lăn bánh xe Chánh Pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như nghe
và tu tập là Tứ Diệu Đế, bốn chân lý mầu nhiệm (Khổ, Tập, Diệt và Đạo
Đế) Và đó cũng là lần đầu tiên đức Phật thiết lập Tăng Đoàn với 3 ngôi
báu là Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng Đức Phật đã tuần tự đi bộ khắp lưu
vực Sông Hằng để giảng dạy về pháp môn giác ngộ và giải thoát từ đó
cho đến khi Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi tức là vào năm 544 trước
công nguyên[5]
Như thế, ngoài các vị Thần đầy quyền năng được chấp nhận theo truyền
thống tín ngưỡng, chưa có một con người lịch sử nào cao cả mà gần gũi
với mọi người Người ấy là đấng đại giác ngộ chân lý có khả năng đặt lại
vấn đề để giải quyết và từ đó giải quyết mọi thắc mắc, hoài nghi của tư
tưởng lúc bấy giờ Vị ấy không phải là đấng sáng tạo, không độc quyền
giữ chân lý, không mang lại cái gì mới lạ với thực tại, không đặt thêm tư
tưởng, học thuyết Vị ấy chỉ dung nạp, giáo hóa, hòa hợp các đệ tử của
mình bằng giáo lý chân thực để từ đó con người tự tìm ra chân lý của tu
tập và đạt tới sự giác ngộ hoàn[6] Vị ấy bắt đầu bằng thực tại, thực hiện
và thành tựu trong thực tại bằng một sự việc rất thực là cứu khổ, giải
thoát cho con người Đó là tôn giáo thật sự mà con người đương thời
đang tìm kiếm lúc bấy giờ và trở thành tôn giáo được lưu truyền mãi mãi
không bao giờ mai một
Trang 7Dựa vào nội dung giáo nghĩa và lịch sử phát triển, người ta chia
Phật Giáo ra làm 3 truyền thống: Nguyên Thủy, Tiểu Thừa Bộ Phái và
Đại Thừa Nguyên Thủy Phật Giáo là thời kỳ đức Phật còn tại thế hàng
đệ tử Phật nương oai đức và lời dạy trực tiếp của đức Phật làm kim chỉ
nam cho sự tu tập, thời kỳ này nội dung giáo nghĩa của Phật vẫn còn ở
dạng thức truyền khẩu, nghĩa là học thuộc lòng chứ chưa viết thành văn
tự[7] Tiểu Thừa Bộ Phái là thời kỳ sau khi đức Phật nhập Niết Bàn
khoảng 100 năm với sự giải thích dị biệt về giới luật và giáo nghĩa đưa
tới sự phân chia làm nhiều bộ phái có ít nhất trên 20 bộ phái được biết
tới – trong thời kỳ này, những lời dạy của đức Phật đã được kết tập và
viết thành văn tự trong 4 bộ Nikaya hay 5 bộ Kinh A Hàm mà sau này
được dịch sang Hán văn Phật Giáo Đại Thừa bắt đầu với phong trào vận
động để đưa đạo Phật phổ cập vào xã hội với bộ phái Đại Chúng Bộ
thuộc thành phần đại đa số và cấp tiến Tuy nhiên, Phật Giáo Đại Thừa
được khởi phát rõ rệt vào khoảng 600 năm sau Phật nhập diệt từc đầu
công nguyên nhờ cuộc vận động của chư Bồ Tát Mã Minh (Asvaghosa),
Long Thọ (Nagarjuna), Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu)
với sự xuất hiện của Kinh Điển Đại Thừa và các bộ Luận xiển dương
Đại Thừa như các bộ Kinh Bát Nhã, Pháp Hoa, Duy Ma Cật, v.v…, và
các bộ Luận Đại Thừa Khởi Tín, Trung Luận, Đại Trí Độ Luận, Duy
Thức,[7] v.v…
2 Quy luật nhân quả của Phật giáo nguyên thủy
Theo các nhà duy vật siêu hình coi nguyên nhân là đối tượng sinh
ra đối tượng khác, còn kết quả là đối tượng được sinh ra Vậy nguyên
nhân không nằm trong chính đối tượng mà nằm trong đối tượng khác,
tức là bên ngoài nó Dĩ nhiên, có nguyên nhân bên ngoài nhưng nó
không xác định bản chất của đối tượng Bản chất của đối tượng do các
nguyên nhân bên trong xác định
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên nhân là sự tương tác
giữa các đối tượng hay các yếu tố cấu thành đối tượng Còn kết quả là sự
biến đổi của các đối tượng, hay các yếu tố tương tác lẫn nhau Nguyên
Trang 8nhân không phải là sự tác động một chiều của đối tượng này tới đối
tượng khác, mà là sự tương tác của ít nhất hai đối tượng Ăngghen viết:
“Tất cả những quá trình tự nhiên đều có hai mặt: Chúng đều dựa vào sự
quan hệ ít nhất cảu hai bộ phận đang tác động, là tác động và phản động
[8]”
Từ chủ nghĩa duy vật biện chứng, đạo Phật nguyên thủy đã nhận ra một
quy luật nhân-quả rất tất yếu và thực tế trong đời sống Mọi biến đổi của
vạn vật trong vũ trụ này đều nằm trong một quy luật chung và quy luật
này là sự giải tỏa mọi sự ưu tư, thắc mắc cho tất cả những điều kiện hiện
sinh trong cuộc sống của chúng ta Vì thấy chúng sinh còn đang lặn hụp
trong vòng mê muội, Đức Phật đã răn giảng, phát huy luật nhân quả để
chỉ cho chúng ta hiểu rõ từ căn cơ, ngọn nguồn sự tuần hoàn, biến dịch
của vạn vật và vũ trụ Vậy thế nào là nhân quả theo triết lý nhà Phật?
Nhân là nguyên nhân, còn quả là kết quả Nhân là cái mầm, Quả là cái
trái mà phát sinh ra bởi từ cái mầm Bởi thế, Nhân và Quả gắn liền với
nhau như hình với bóng Hay có nhân là có quả và ngược lại nếu có quả
thì phải có nhân Vì có sự tương đồng giữa nhân và quả, nên chúng ta
thấy rằng nhân như thế nào thì quả như thế ấy Nếu ta gieo đậu thì chúng
ta sẽ gặt đậu, còn nếu ta trồng xoài thì chắc chắn ta sẽ được xoài, chứ
không bao giờ chúng ta trồng mía mà đạt được khoai Nói một cách
khác, nhân và quả bao giờ cũng cùng một loại với nhau, nhưng hể nhân
đổi thì quả cũng đổi theo Bây giờ chúng ta tự hỏi là hạt lúa tự nó có thể
sinh ra cây lúa không? Lý do hạt lúa có thể phát triển để trở thánh cây
lúa là vì hạt lúa được sự cấp dưỡng và hấp thụ bởi những điều kiện
chung quanh như không khí, ánh sáng, đất nước chứ tự nó không thể
phát triển thành cây lúa được Điều này cho thấy một nhân không thể
nào sinh ra quả nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác Do đó
mọi sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên Khi
ta gọi một vật là nhân, có nghĩa là nó chưa biến chuyển hình thành ra cái
quả còn một vật mà ta gọi là quả thì nó đã biến chuyển hình thành ra
trạng thái mà ta mong muốn Do đó, chính trong cái nhân hiện tại đã có
Trang 9hàm chứa cái quả tương lai, và cũng trong cái quả hiện tại đã có hình
bóng của nhân quá khứ Nếu như vậy thì sự biến chuyển từ nhân đến quả
mau chậm như thế nào?
Đây là một điểm tối quan trọng khi nói đến luật nhân quả bởi vì sự biến
chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh khi chậm, không bao giờ diễn biến
trong cùng một thời gian đồng nhất Có khi từ nhân đến quả cách nhau
như một cái chớp mắt Chẳng hạn như khi ta đưa tay nhéo người kế bên
(nhân), thì họ la làng ngay (quả) Có khi từ nhân đến quả cách nhau mấy
tháng, như khi ta gieo lúa (nhân) cho đến mùa gặt (quả) thì phải trải qua
bốn năm tháng Có khi đòi hỏi đến một vài năm, hay dài hơn nữa Như
khi ta lo thủ tục đi định cư đoàn tụ gia đình (nhân) cho đến khi họ đến
Hoa Kỳ (quả) phải mất khoảng từ hai, ba hoặc năm, sáu năm Có khi đòi
hỏi đến vài trăm năm thì nhân quả mới xuất hiện
Tuy mỗi nguyên nhân đều tất yếu sinh ra kết quả xác định, chắc chắn
gắn với kết quả nhưng không có nghĩa là mỗi kết quả đều do một
nguyên nhân sinh ra Cùng một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân
khác nhau, từng trong số các nguyên nhân ở các điều kiện tương ứng
đều có khả năng sinh ra kết quả đó liên hệ với nó một cách tất yếu Vì
thế, trong quá trình nhận thức bất kì nguyên nhân nào cũng có thể giải
thích cho kết quả Tuy nhiên, có những kết quả lại do nhiều nguyên nhân
cùng tác động gây nên Vậy nhân quả ảnh hưởng về tư tưởng và hành
động của cuộc sống chúng ta như thế nào? Lý do mà triết lý Đạo Phật
quá cao chân thực bởi vì Đức Phật đã tìm ra nguồn gốc của sự đau khổ
rồi tìm phương pháp tận diệt nỗi đau khổ này Sau đó Ngài cho ta thấy
đâu là lẽ sống chân thật, một hạnh phúc viên mãn, và cuối cùng là dùng
phương pháp nào để đạt đến sự hạnh phúc thật sự này Trong những
nguyên nhân chính tạo ra sự đau khổ và mang lại trong Tâm ta rất nhiều
điều phiền não, đó chính là tam độc (Tham, Sân, si) đóng một vai trò tối
quan trọng trong việc tạo tác những Nhân xấu Những nhân xấu nấy đã
đưa cái thân Tứ đại của chúng ta đến những hậu quả vô cùng thê thảm,
mà trong đó bao gồm hi vọng và niềm tin thoát ra khỏi cái vòng luân hồi
Trang 10luẩn quẩn[9] Do đó chúng ta càng tạo nhiều nhân tốt thì tương lai chúng
ta sẽ gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp Đó chính là cứu cánh cho cuộc sống
hiện tại của chúng ta được an vui tự tại cũng như vun trồng bồi đắp cho
mảnh vườn công đức được đơm hoa kết trái
Khi đã hiểu luật nhân quả thì chúng ta biết rằng cuộc đời của chúng ta là
do nghiệp nhân của mình tạo ra Chính mình là người thợ tự xây dựng
cuộc đời của mình, chính mình là kẻ sáng tạo ra cái ta, thì mình phải cố
gắng làm điều tốt, càng nhiều thì càng phúc lợi Đó là những cái nhân
quý báu để đem lại những cái quả tốt đẹp về sau Có người lại than phiền
rằng: tại sao lại có người cả đời ăn hiền ở lành mà lúc nào cũng gặp toàn
cảnh đắng cay, đau khổ còn kẻ gian ác thì tại sao lại được sung sướng
giàu sang? Như chúng ta đã biết, thời gian biến chuyển từ nhân đến quả
có khi nhanh khi chậm Có cái nhân dẫn đến quả ngay cũng có cái nhân
từ đời này đến đời sau mới thành quả Theo thuyết sách của Đức Phật có
nói tới luật nhân-quả ba đời, trong đó có viết “muốn biết nhân đời trước
hãy xem quả đời này, muốn biết quả đời sau hãy nhìn nhân đời này”
[10]chính vì tế chúng ta có thể một phần nào trả lời được những lý do vì
sao trong hiện tại chúng ta lại có cuộc sống vô cùng hạnh phúc hay tận
cùng đau khổ không thôi Ví như ở kiếp trước họ đã tạo quá nhiều nhân
xấu, nên kiếp này họ phải chịu quả đã tạo tác từ kiếp trước Còn những
kẻ gian ác kia, mặc dầu hiện tại họ có phần sung sướng, bởi vì tiền kiếp
họ là người tốt, nhưng với những ác nghiệp hoặc nhân xấu mà họ đang
tạo ra, họ cũng sẽ nhanh chóng phải trả những nhân xấu ác đã gây nên
khi phước báo của quả tốt trong quá khứ đã hết Như một cách khác
chúng ta có thể liên hệ với cuộc sống hiện tại, chúng ta đi vay ngân hàng
quá nhiều mà không thể trả hết thì chúng ta bắt buộc phải trả lãi hàng
tháng cho tới khi có thể trả hết cả lãi lẫn gốc cho ngân hàng Người có
nhiều tiền đi gửi vào ngân hàng, họ càng gửi vào thì số lãi của họ nhận
về càng lớn Số lãi ấy không dùng hết họ có thể gửi lại và cho người
khác vay… thì nhân và quả cũng giống như người đi vay-gửi ngân hàng
vậy