--- LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG CẦU TRÊN ĐỊA BÀN THÁI NGUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG Người hướn
Trang 1-
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG CẦU
TRÊN ĐỊA BÀN THÁI NGUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Huỳnh Trung Hải
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường Người thực hiện: Nguyễn Thị Khánh Bình
HÀ NỘI 2007
Trang 2Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Huỳnh Trung Hải - Viện Khoa học và Công nghệ môi trường,Đại học Bách Khoa Hà Nội Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới cán bộ hướng dẫn
Tôi cũng gửi lời cảm ơn tập thể cán bộ Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, Đại học Bách Khoa Hà Nội; Trung tâm Quan trắc và Thông tin môi trường, Cục Bảo vệ môi trường; Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường Thái Nguyên, Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên và toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Trang 3Mở đầu
Chương I Tổng quan các lưu vực sông
I.1 Tổng quan các lưu vực sông ở Việt Nam
I.2 Lưu vực sông Cầu
I.2.1.Điều kiện tự nhiên
I.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
I.3 Lưu vực sông Cầu trên địa bàn Thái Nguyên
Chương II Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội Thái Nguyên
II.1 Điều kiện tự nhiên
II.1.1 Vị trí địa lý
II.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
II.2 Kinh tế - xã hội
II.2.1 Dân số
II.2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
II.2.2.1 Cơ cấu kinh tế
II.2.2.2 Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
II.2.3 Cơ sở hạ tầng
II.3 Định hướng phát triển kinh tế đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020
II.3.1 Các mục tiêu phát triển
II.3.2 Lựa chọn cơ cấu kinh tế
II.3.3 Phương hướng phát triển
Trang 4lưu vực sông Cầu trên địa bàn Thái Nguyên
III.1 Các nguồn nước thải công nghiệp
III.1.1 Công nghiệp luyện kim, cán thép, chế tạo thiết bị máy móc
III.1.2 Công nghiệp khai thác và tuyển quặng
III.1.3 Công nghiệp giấy
III.1.4 Công nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm
III.2 Nguồn thải sinh hoạt và các cơ sở y tế
III.2.1 Các cơ sở y tế
III.2.2 Nước thải sinh hoạt
III.3 Dự báo tải lượng ô nhiễm môi trường nước
III.3.1 Nước thải sinh hoạt
III.3.2 Nước thải công nghiệp
III.4 Chất lượng nước mặt LVS Cầu trên địa bàn Thái Nguyên
III.4.2 Hiện trạng ô nhiễm nước mặt lưu vực sông Cầu
Chương IV
Đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Cầu
trên địa bàn Thái Nguyên
IV.1 Giải pháp về quản lý
IV.1.1 Giảm thiểu và ngăn chặn mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường lưu vực
do các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
IV.1.2 Giữ gìn, tái tạo và phát triển môi trường tự nhiên trong sạch, trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn
IV.1.3 Tổ chức quản lý bảo vệ môi trường, cảnh quan trên toàn lưu vực sông Cầu
IV.2 Các giải pháp về kỹ thuật
Kết luận
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC LƯU VỰC SÔNG I.1 Tổng quan các lưu vực sông ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm, lượng mưa trung bình nhiều năm khoảng 1.940 mm So với các nước trong cùng khu vực, nước ta có mạng lưới sông ngòi khá dày, trong đó có 13 hệ
lãnh thổ, 10 trong số 13 hệ thống sông trên là sông liên quốc gia Các hệ thống sông chính bao gồm 9 lưu vực: Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ
tổng diện tích lưu vực sông trên toàn quốc, phần trong nước chiếm xấp xỉ 77% diện tích quốc gia
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu cơ bản của 9 hệ thống sông chính ở Việt Nam
Trang 6Các sông lớn như Cửu Long (sông Tiền và sông Hậu), Hồng, Cả - La đều bắt nguồn từ nước ngoài Một số nhánh của hệ thống sông Mê Kông bắt nguồn từ lãnh thổ Việt Nam như sông Sê San, SrêPok chảy qua Lào, Campuchia rồi nhập lại vào sông Mê Kông, cuối cùng chảy vào lãnh thổ Việt Nam rồi đổ ra biển qua 9 cửa (sông Cửu Long) Sông Kỳ Cùng - Bằng Giang bắt nguồn chính ở Việt Nam và là một phần của sông Châu Giang (Trung Quốc)
Mỗi LVS đều có đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên và tài nguyên nước Các điều kiện kinh tế, xã hội, tình hình sử dụng đất, đặc điểm môi trường, giá trị của mỗi LVS cũng rất khác nhau giữa các lưu vực
Khí hậu Việt Nam được chia làm hai mùa, mùa mưa và mùa khô, tuỳ thuộc vào từng khu vực mà hai mùa xuất hiện có sự chênh lệch về thời gian Lượng mưa phân bố không đều trên toàn lãnh thổ, biến đổi mạnh theo thời gian Mùa mưa thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10, riêng ở các khu vực ven biển miền Trung từ tháng 7 đến tháng 12 Lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 75 – 85% tổng lượng mưa hàng năm Mùa khô thường kéo dài 7 – 8 tháng với lượng mưa rất nhỏ, chỉ chiếm 15- 25% tổng lượng mưa năm, có nơi
có năm tới 3 – 4 tháng không có mưa hay rất ít mưa Tương ứng với mùa mưa
và mùa khô trên lãnh thổ, dòng chảy trên sông ngòi cũng có hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt Thời gian lệch pha giữa mùa mưa và mùa lũ trên các hệ thống sông lớn thường khoảng một tháng Thời điểm xuất hiện và kết thúc mùa lũ, mùa kiệt cũng khác nhau theo không gian, có xu hướng chậm dần từ Bắc vào Nam
Phần lớn lượng dòng chảy mặt của các sông được sinh ra từ mưa, tổng
bình nhiều năm của toàn bộ các sông trong lãnh thổ đạt khoảng 830 – 840 tỷ
Trang 7tổng lượng dòng chảy năm của cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng chiếm 14,9%, hệ thống sông Đồng Nai 4,3% Các hệ thống sông Mã, Cả-La,
còn các hệ thống sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, Thái Bình và Ba xấp xỉ
lượng dòng chảy các sông trên thế giới
Trữ lượng nước trên các hệ thống sông ở Việt Nam dồi dào, phong phú, tuy nhiên, nếu không tính lượng nước từ hệ thống sông Mê Kông vào hệ thống sông Quốc gia thì đến năm 2025, Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt nguồn nước
Khả năng cung cấp nước cũng khác nhau đối với từng LVS Đối với LVS Đồng Nai – Sài Gòn, khả năng cung cấp nước hiện tại đạt 2.350
vào năm 2025 nếu như dân số vẫn tiếp tục tăng trưởng theo xu hướng hiện nay Đối với LVS Nhuệ - Đáy, khả năng cung cấp nước hiện nay là 2.830
Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm tại các LVS đang ở mức báo động LVS Đồng Nai – Sài Gòn chịu tác động bởi các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là sản xuất công nghiệp trên lưu vực, trong đó sông Thị Vải là một trong những vùng bị suy thoái môi trường nghiêm trọng, thậm chí không có sinh vật nào có thể tồn tại được LVS Nhuệ - Đáy cũng chịu tác động mạnh mẽ do nước thải và chất thải sinh hoạt của người dân sống quanh lưu vực, trong đó Hà Nội đóng góp 54% lượng nước thải sinh hoạt của toàn lưu vực Tình hình này có khả quan hơn so với LVS Cầu, hiện nay, tuy mức độ ô nhiễm chưa có dấu hiệu báo động nhưng nếu không có biện quản lý và xử lý kịp thời thì LVS Cầu cũng không tránh khỏi bị suy thoái trong tương lai
Trang 8Hình 1.1 Bản đồ một số LVS lớn tại Việt Nam
(Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường)
Trang 9I.2 Lưu vực sông Cầu
I.2.1.Điều kiện tự nhiên
LVS Cầu là một phần của LVS Hồng – Thái Bình, có diện tích
Việt Nam) Lưu vực bao gồm gần như toàn bộ các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên và một phần các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương
và Hà Nội (huyện Đông Anh, Sóc Sơn)
LVS Cầu là vùng địa lý với 3 dạng địa hình: đồng bằng, trung du và miền núi Địa hình chung của lưu vực theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Nhìn chung, địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích lưu vực
Hệ thống sông Cầu có khá nhiều phụ lưu và các dòng suối cung cấp nước cho hệ thống Các nhánh sông chính của LVS Cầu bao gồm Sông Cầu, sông Công, sông Cà Lồ, sông Ngũ Huyện Khê, sông Nghinh Tường, sông Đu, sông Chợ Chu Mật độ sông suối trong lưu vực sông Cầu thuộc loại cao:
sông thuộc lưu vực sông Cầu được phân biệt thành hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt Mùa lũ thường bắt đầu từ tháng VI đến tháng X, lượng dòng chảy
đến 8 tháng, chiếm khoảng 18 – 20% lượng dòng chảy cả năm Ba tháng kiệt nhất là I, II, III, dòng chảy chỉ chiếm 5,6 – 7,8 %
LVS Cầu khá giầu tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng đa dạng, tài nguyên khoáng sản phong phú tập trung ở Bắc Kạn và Thái Nguyên Độ che phủ của rừng trong lưu vực sông Cầu thuộc loại trung bình, đạt khoảng 45% Tuy nhiên, rừng đang bị phá huỷ mạnh do các hoạt động phát triển kinh tế -
xã hội như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khai thác mỏ, sản xuất nông nghiệp
Trang 10Lưu vực sông Cầu có vườn quốc gia Ba Bể, Vườn quốc gia Tam Đảo, khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ và các khu sinh thái có giá trị cao Hệ động thực vật trong lưu vực phong phú, đa dạng bao gồm nhiều chủng loại cây gỗ quý, các loài động vật hoang dã Tuy nhiên nếu không biết khai thác hợp lý
và phát triển một cách bền vững thì các nguồn tài nguyên này sẽ bị cạn kiệt nhanh chóng, phá huỷ môi trường sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người và cản trở sự phát triển trong lưu vực
I.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
LVS Cầu chiếm khoảng 47% diện tích của 6 tỉnh Tổng dân số 6 tỉnh thuộc lưu vực năm 2005 khoảng 6,9 triệu người Trong đó, dân số nông thôn khoảng 5,9 triệu người; dân số thành thị khoảng 0,9 triệu người Mật độ dân
bình quốc gia
Vùng núi thấp và trung du là khu vực có mật độ dân cư thấp nhất trong lưu vực, chiếm khoảng 63% diện tích toàn lưu vực nhưng dân số chỉ chiếm khoảng 15% dân số lưu vực Mật độ dân số tăng ở vùng trung tâm và khu vực đồng bằng
Thành phần dân cư trong lưu vực có sự đan xen của 8 dân tộc anh em:
chiếm đa số
Trong lưu vực sông Cầu có 74 bệnh viện như bệnh viện đa khoa Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Yên Nước thải từ các bệnh viện này không qua xử lý, chứa các chất thải nguy hại, đổ trực tiếp ra môi trường làm ảnh hưởng đến nguồn nước
Cơ cấu kinh tế dựa trên công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp; thủy sản đóng góp không đáng kể vào cơ cấu này GDP tăng trưởng mạnh, tăng gần
Trang 11gấp đôi trong vòng 5 năm tại hầu hết các tỉnh; Hải Dương có GDP tăng cao nhất
Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp cao hơn tỉ lệ trung bình quốc gia Sản phẩm từ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chiếm khoảng 26% và có
xu hướng giảm Các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc tăng trưởng nhanh về công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
0,0 2000,0 4000,0 6000,0 8000,0 10000,0 12000,0 14000,0 16000,0
B¾c K¹ n Th¸ i Nguyª n B¾c Giang VÜ nh Phóc B¾c Ninh H¶i D- ¬ng
Tỷ đồng
2001 2002 2003 2004 Sơ bộ 2005
Hình 1.2 GDP một số tỉnh thuộc LVS Cầu
( Nguồn: Niên giám thống kê, 2005)
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng 800 cơ sở có nguồn thải ra lưu vực sông Cầu Công nghiệp khai khoáng và tuyển quặng tập trung phát triển ở 2 tỉnh thượng nguồn LVS Cầu là Bắc Kạn và Thái Nguyên Nằm trên lưu vực có khoảng 200 làng nghề các loại tập trung chủ yếu ở Bắc Ninh
và Bắc Giang Nước thải từ các khu công nghiệp, khu khai thác mỏ, làng nghề
và khu đô thị phần lớn không được xử lý, được thải thẳng vào nguồn tiếp nhận
Hoạt động khai thác cát, sỏi dọc bờ sông Cầu với khối lượng ngày càng tăng, gây sạt lở bờ, làm biến đổi dòng chảy
Nhìn chung, các ho ạt động kinh tế – xã hội tại các tỉnh thuộc LVS Cầu ngày càng phát tri ển và tác động không nhỏ tới môi trường xung quanh Trong đó, Thái Nguyên là tỉnh có các ho ạt động sản xuất công nghiệp mạnh nhất và chất thải từ các quá trình sản xuất đã ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực trung lưu của LVS Cầu
Trang 12Hình 1.3 Bản đồ các tỉnh có liên quan LVS Cầu
(Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường)
Trang 13I.3 Lưu vực sông Cầu trên địa bàn Thái Nguyên
Tại Thái Nguyên, sông Cầu bắt nguồn từ xã Vân Lăng, huyện Đồng Hỷ qua địa phận các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương, thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình với chiều dài trên 100km Điểm cuối cùng sông Cầu qua tỉnh Thái Nguyên là xã Long Phú, huyện Phú Bình Đây là đoạn sông tiếp nhận hầu hết nước thải sản xuất và sinh hoạt của tỉnh Thái Nguyên Ngoài dòng chính sông Cầu, một số phụ lưu thuộc địa bàn Thái Nguyên như sông Nghinh Tường, Đu và sông Công Các phụ lưu này cũng đang chịu tác động của các hoạt động khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp hai bên bờ sông
Sông Công là phụ lưu cấp I của sông Cầu, bắt nguồn từ núi Hồng phía đông Bắc dãy Tam Đảo và nằm trọn trên địa phận tỉnh Thái Nguyên Diện
Sông Nghinh Tường bắt nguồn từ xã Cư Phú Bình, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đến xã Cúc Đường, Võ Nhai rồi chuyển hướng Đông Nam – Tây Bắc đổ vào sông Cầu từ bờ trái tại thượng lưu Lang Hinh Diện
Sông Đu bắt nguồn từ vùng Lương Can chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và nhập vào sông Cầu ở Sơn Cẩm, Phú Lương, Thái Nguyên
Nằm trên lưu vực là các khu công nghiệp lớn như khu công nghiệp Gang thép Thái Nguyên, khu công nghiệp Sông Công và hàng loạt các nhà máy, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp không tập trung, các cơ sở chế biến
và khai thác khoáng sản đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng nước lưu vực sông Cầu
vực sông Cầu là một trong 3 LVS đang bị ô nhiễm vào loại nặng nhất so với
Trang 14các lưu vực khác trong cả nước Trên 3 lưu vực này có 2 vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời là nơi tập trung đông dân cư nhất Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, gồm một phần lưu vực sông Cầu, Nhuệ - Đáy, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm trọn trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai, là hai vùng
có tốc độ phát triển kinh tế cao, đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển chung của cả nước Hiện nay, đạt được sự cân bằng giữa những vấn đề môi trường và phát triển kinh tế, đồng thời tiến tới sự tăng trưởng bền vững đang
là vấn đề nóng đối với 3 LVS này
Hình 1.4 Bản đồ LVS Cầu trên địa bàn Thái Nguyên
(Nguồn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường Thái Nguyên)
Trang 15CHƯƠNG II
II.1 Điều kiện tự nhiên
II.1.1 Vị trí địa lý
Thái Nguyên là tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du và miền núi Bắc
mặt hành chính, Thái Nguyên có 7 huyện, một thành phố và một thị xã, với tổng số 180 xã, phường và thị trấn
Tỉnh Thái Nguyên giáp Bắc Kạn ở phía Bắc; Vĩnh Phúc và Tuyên Quang ở phía Tây; Lạng Sơn, Bắc Giang ở phía Đông và Hà Nội ở phía Nam Thái Nguyên là một trong những cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du và miền núi Bắc Bộ với vùng đồng bằng Bắc Bộ Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông đi lại giữa các tỉnh thuận tiện Đường quốc lộ số 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên Các đường quốc lộ 37, 1B cùng hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch giao thông quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh Tuyến đường sắt Hà Nội – Quán Triều, Lưu Xá – Kép – Đông Triều nối với khu công nghiệp Sông Công, khu Gang thép và thành phố Thái Nguyên Vị trí này
đã và đang tạo điều kiện cho Thái Nguyên trở thành trung tâm kinh tế vùng miền núi Bắc Bộ, nhất là sau khi tuyến đường cao tốc Thái Nguyên – Hà Nội được xây dựng xong [5,7]
II.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Đặc điểm khí hậu - thuỷ văn
Khí hậu của tỉnh Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 – 2.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Lượng mưa cũng phân bố không đều theo không gian,
Trang 16tập trung nhiều ở Thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, trong khi đó tại huyện Võ Nhai, Phú Lương lượng mua tập trung ít hơn
Do địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam nên khí hậu của tỉnh vào mùa đông được chia thành ba vùng:
*Vùng lạnh nhiều nằm ở phía Bắc huyện Võ Nhai
*Vùng lạnh vừa gồm huyện Định Hoá, Phú Lương, Nam Võ Nhai
*Vùng ấm gồm các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình, Thị xã Sông Công và thành phố Thái Nguyên
Nhìn chung, điều kiện khí hậu - thuỷ văn của tỉnh Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho phát triển các hệ sinh thái, các ngành sản xuất Tuy nhiên, vào mùa mưa với lượng mưa lớn thường xảy ra tai biến về sụt lở, trượt đất, lũ quét ở một số triền đồi núi và lũ lụt ở khu vực dọc theo lưu vực sông Cầu và sông Công
Địa hình
Thái Nguyên có bốn nhóm địa hình với các đặc trưng khác nhau:
chủ yếu thuộc hai huyện Phú Bình, Phổ Yên với độ cao địa hình 10 – 15m
Bình, Phổ Yên
phân bố ở phía Bắc của tỉnh, kéo dài từ Đại Từ đến Định Hoá
Bắc của tỉnh, từ Đồng Hỷ, Phú Lương đến Định Hoá
của tỉnh Nhóm địa hình đồi núi thấp phân bố dọc ranh giới Thái
Trang 17Nguyên với các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc
tạo, trong đó các hồ lớn bao gồm hồ Núi Cốc, Khe Lạnh, Bảo Linh, Cây Si, Ghềnh Chè…Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 200 hồ chứa các loại Các hồ lớn ngoài chức năng nuôi trồng thuỷ sản còn là những địa điểm phát triển du lịch sinh thái hấp dẫn
Như vậy, địa hình Thái Nguyên khá phong phú, đa dạng, đáp ứng đầy
đủ nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của con người
Tài nguyên nước
Tài nguyên nước mặt: Thái Nguyên có hệ thống sông suối dày đặc,
trong đó hai sông chính là Sông Cầu và sông Công
*Sông Cầu: Sông Cầu thuộc hệ thống sông Thái Bình có diện tích lưu vực
sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thái Nguyên và sản xuất nông nghiệp cho các tỉnh phía hạ lưu
Ba Lá, huyện Định Hoá chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng mưa lớn nhất của Tỉnh Thái Nguyên Dòng sông được ngăn lại ở huyện Đại
cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công
Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên còn có các hệ thống sông suối nhỏ thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng và hệ thống sông Lô Các dòng sông nhánh chảy trên địa bàn Thái Nguyên có tiềm năng thuỷ điện và thuỷ lợi với quy mô nhỏ
Trang 18Tài nguyên nước ngầm: Trữ lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Thái
nguồn nước ngầm còn hạn chế
Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Thái Nguyên phong phú và đa dạng, tập trung ở các huyện Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai…, được chia thành thành bốn nhóm:
Nhó m nguyên liệu cháy gồm than đá, than mỡ với tổng trữ lượng
khoảng 64 triệu tấn, chất lượng tương đối tốt, trong đó mỏ Khánh Hoà có trữ lượng lớn nhất (khoảng 46 triệu tấn) Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, đủ đáp ứng các nhu cầu về luyện kim, sản xuất nhiệt điện và các nhu cầu sử dụng khác
Nhóm khoáng sản kim loại gồm kim loại đen như sắt, mangan, titan và
kim loại màu như chì, kẽm, đồng, niken, nhôm, thiếc, vonfram, altimoan, thuỷ ngân, vàng….Khoáng sản kim loại là một trong những ưu thế của Thái Nguyên và có ý nghĩa đối với cả nước Ngoài ra, một số nơi trên địa bàn tỉnh còn có vàng, bạc, đồng, niken, thuỷ ngân…Trữ lượng các loại khoáng sản này không lớn nhưng có ý nghĩa về mặt kinh tế
Nhóm khoáng sản phi kim loại gồm pyrit, barit, photphorit, graphit…,
trong đó đáng lưu ý nhất là photphorit với tổng trữ lượn khoảng 89.500 tấn
Khoáng sản vật liệu xây dựng gồm đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát
sỏi…trong đó sét ximăng có trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn Đáng chú ý nhất
Giang, La Hiên có trữ lượng 195 triệu tấn
Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên đa dạng về chủng loại, trong đó nhiều loại được khai thác và sử dụng nhiều trên toàn quốc như quặng sắt, than mỡ Đây là lợi thế rất lớn của tỉnh trong quá trình phát triển
Trang 19các ngành công nghiệp như luyện kim, khai khoáng, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng…
Đa dạng sinh học
Thái Nguyên có trên 155 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng tự nhiên khoảng 105 nghìn ha và rừng trồng là 50 nghìn ha Trong những năm gần đây, do khai thác và sử dụng không hợp lý, diện tích rừng bị suy giảm Các loài gỗ quý có đường kính lớn không còn, chủ yếu là các loại
và tuyệt chủng
Tài nguyên du lịch
Thái Nguyên có nhêìu danh lam thắng cảnh tự nhiên và nhân tạo như
hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng, núi Văn, núi Võ; các bảo tàng văn hoá, lịch
sử và các di tích đền, chùa, hang động như đình Phương Độ, hang Thần Sa, đền thờ Đội Cấn, ATK Việt Bắc
Nhìn chung, Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, đồng thời Thái Nguyên nằm sát Hà Nội nên thuận lợi nằm trong các tuyến du lịch quốc gia
II.2 Kinh tế - xã hội
II.2.1 Dân số
Quy mô v à cơ cấu dân số
Trang 20Dân số của Thái Nguyên tăng bình quân 0,71%/năm (giai đoạn từ năm
khoảng 1.106 triệu người trong năm 2005, [nien giam TK] Thái Nguyên có nhiều dân tộc anh em, trong đó chủ yếu là người Kinh, chiếm 75,5% tổng dân
số của vùng Tỷ lệ dân số nam và nữ tương đối bằng nhau, năm 2004 dân số
nữ của tỉnh chiếm 50,1%
Dân cư Thái Nguyên phân bố không đồng đều, ở vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở vùng thành thị, đồng bằng dân cư lại dày
miền núi Bắc Bộ
Nguồn nhân lực
Tính đến 7/2004, dân số trong độ tuổi lao động của Thái Nguyên là 631.500 nghìn người, chiếm gần 58% tổng dân số Trong đó, dân số hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn, khoảng 70% tổng dân số tỉnh (năm 2005) (quy hoạch)
Lao động nông nghiệp tuy có giảm qua các năm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn Lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên trong toàn tỉnh chiếm 24,2% tổng lực lượng lao động (gần bằng mức bình quân cả nước
là 24,8%) Trình độ lao động giữa khu vực nông thôn và thành thị có sự chênh lệch lớn: trong khi lao động có nghề từ sơ cấp trở lên ở khu vực nông thôn chỉ chiếm 14,5% thì ở thành thị con số này là 62,6%
Thời gian lao động ở nông thôn vẫn chưa cao tuy có tăng lên trong những năm gần đây, năm 2004 đạt khoảng 78% và năm 2005 đạt 80% Tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn cao, 6,5% năm 2004 và 6% năm 2005
Trang 21Chỉ số phát triển con người (HDI) ở Thái Nguyên đạt 0,66 (đứng thứ 32/64 tỉnh/thành phố); chỉ ssó giáo dục đạt 0,86 (đứng thứ 11/64 tỉnh, thành phố) Đây là thế mạnh của Thái Nguyên so với nhiều tỉnh khác
Dự báo dân số và nguồn nhân lực
Trong thời kỳ đến năm 2020 dự kiến tỷ lệ tăng dân số trung bình của Thái Nguyên cao hơn mức tăng trong giai đoạn 1997 – 2005: tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 0,8 – 0,9%/năm và tỷ lệ tăng cơ học dự kiến khoảng 0,1 – 0,2%/năm (hầu hết số dân tăng cơ học nằm trong độ tuổi lao động) Như vậy, daâ số của tinmhr năm 2010 sẽ vào khoảng 1.157 nghìn người và năm 2020 là 1.281 nghìn người (tăng bình quân hàng năm 0,98% trong cả thời kỳ 2006 – 2020) Dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh dự kiến tăng bình quân 1,35%/năm trong cả thời kỳ 2006 – 2020, trong đó giai đoạn 2006 – 2010 tăng nhanh hơn (bình quân 2,14%/năm) [7]
Bảng 2.1 Dự báo tổng dân số và số dân trong độ tuổi lao động của tỉnh Thái Nguyên
( Nguồn: Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020)
Với dự báo dân số như trên, dự kiến số dân trong độ tuổi lao động của Thái Nguyên năm 2010 vào khoảng 717 nghìn người và năm 2020 khoảng 785,2 nghìn người Nguồn lao động này đủ đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong những năm tới Cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng thay đổi theo hướng phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ Lao động trong các ngành dịch
vụ tăng từ 18,6% năm 2004 lên gần 23% năm 2010 và gần 31% năm 2020 (bình quân tăng 4,82% năm cả thời kỳ 2006 – 2020) Lao động trong ngành
Trang 22công nghiệp - xây dựng tăng nhanh hơn tốc độ tăng lao động dịch vụ, dự kiến tăng từ 13,6% năm 2004 lên 20,1% năm 2010 và 26,9% năm 2020 (bình quân tăng 6%/năm cả thời kỳ 2006 - 2020) Tỷ lệ lao động trong ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản sẽ giảm mạnh từ 67,8% năm 2004 xuống 57% năm 2010 và trên 42% năm 2020
Bảng 2.2 Tỷ lệ lao động trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh Thái Nguyên
II.2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
II.2.2.1 Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế theo nghành của tỉnh Thái Nguyên có sự chuyển dịch theo hướng gia tăng nhanh các ngành công nhiệp và dịch vụ, nông nghiệp hàng hoá mà tỉnh co lợi thế phát triển (công nghiệp khai thác, chế biến, thương mại, du lịch – khách sạn, các sản phẩm cây công nghiệp)
Ngành công nghiệp – xây dựng được tỉnh đầu tư nhiều nhất trong những năm qua và cho tới nay vẫn là ngành có đóng góp lớn nhất cho GDP tỉnh
Tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP tăng nhanh trong giai đoạn
1996 – 2000 nhưng hầu như không cải thiện trong giai đoạn 2001 – 2005 Xu
Trang 23thế này tương đối giống với xu thế phát triển ngành dịch vụ cả nước trong giai đoạn này Nguyên nhân chủ yếu là do các ngành dịch vụ tỉnh chưa có đủ các điều kiện cần thiết để phát triển (vốn, trang thiết bị, tổ chức kinh doanh, cơ chế chính sách, thị trường…)
Phần đóng góp của ngành nông – lâm - thuỷ sản cho GDP tỉnh giảm nhanh qua các năm, phù hợp với đường lối chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh
Cơ cấu theo thành phần kinh kế đang chuyển dịch theo đúng quy luật của nền kinh tế thị trường với sự tăng trưởng rất nhanh và gia tăng dần tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, nhất là trong các lĩnh vực thương mại, du lịch, khách sạn, giao thông vận tải Tuy nhiên, hoạt động của các loại hình kinh tế tư nhân vẫn mang tính tự phát, quy mô còn nhỏ bé, vốn và lao động ít, doanh thu thấp so với mức bình quân chung của cả nước, hiệu quả kinh doanh chưa cao Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cũng có đóng góp cho GDP tỉnh nhưng tỷ trọng còn nhỏ và chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp Năm 2004, khu vực này đóng góp 6,2% giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh
Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ cũng đang có sự chuyển dịch theo hướng
và vùng nông thôn
II.2.2.2 Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp – xây dựng Trong thời kỳ 1996 – 2005, GDP ngành tăng bình quân hàng năm gần 10% (trong đó giai đoạn 2001 – 2005 tăng nhanh hơn, gần 13%/năm)
Năm 2004, toàn tỉnh có 6.992 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó khoảng 1.006 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hợp pháp, một số đơn vị chủ
Trang 24chốt như Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty vật liệu xây dựng, Điện lực Thái Nguyên, Công ty phụ tùng máy số 1…
Các ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh bao gồm:
lắp ráp, sản xuất phụ tùng sửa chữa và cung cấp phụ tùng thay thế, tập trung chủ yếu ở khu công nhiệp Sông Công và các nhà máy quốc phòng trong tỉnh Các sản phẩm chủ yếu là các loại máy nông nghiệp, động cơ diezen, các loại phụ tùng, hộp số… công cụ, dụng cụ cơ khí, dụng cụ y
tế, băng chuyền
kẽm, thiếc, đôlômít, pirit, titan, đá xây dựng, sét…phân bố ở các huyện phía Bắc thành phố Thái Nguyên Công nghiệp khai khoáng của địa phương chủ yếu là tận thu Trừ thiếc được chế biến tinh, các loại quặng khác sau khi khai thác đều được bán thô
đá xẻ, gạch…tập trung ở Đồng Hỷ, Võ Nhai, thành phố Thái Nguyên, Phú Lương, Phổ yên Ngành khai thác cát sỏi xây dựng tập trung ở khu vực sông Cầu, sông Công
giấy, bao bì, thực phẩm Nhìn chung các ngành sản xuất thuộc nhóm này chưa phát triển mạnh ở Thái Nguyên
của ngành là chè, trái cây, bia, thực phẩm đông lạnh, nước khoáng…Sản xuất chè là một trong những ngành sản xuất mũi nhọn không những ở Thái Nguyên mà còn đặc trưng trong cả nước
Trang 25• Công nghiệp điện tử, tin học: bao gồm lắp ráp điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin, dịch vụ cung cấp, sửa chữa lắp đặt, bảo trì các thiết bị điện tử tin học
Từ năm 2000 – 2004, một số sản phẩm công nghiệp truyền thống của tỉnh phát triển khá Năm 2004, sản lượng khai thác than sạch đạt 617 nghìn tấn, thiếc thỏi 649 nghìn tấn, xi măng 455 nghìn tấn, thép cán kéo
505 nghìn tấn Nhiều sản phẩm hàng hoá mới như giấy, đồ uống, hàng may mặc, vật liệu xây dựng đã được thị trường chấp nhận
Hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp của Thái Nguyên còn nhỏ, tập trung chủ yếu ở Thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, huyện Đồng
Hỷ và huyện Phổ Yên Nhìn chung, quy mô sản xuất nhỏ, chủ yếu là lao động thủ công Một số cơ sở gia công, sửa chữa cơ khí, sản xuất công cụ, dụng cụ có trang bị thiết bị máy móc nhưung đã lạc hậu Tại các cơ sở cán, kéo thép, thiết bị đầu tư chưa đồng bộ, chất lượng sản phẩm thấp, sản lượng chiếm khoảng 1% tổng sản lượng trên địa bàn
Hoạt động của làng nghề còn yếu, một số nghề truyền thống đang bị mai một trong khi các nghề mới chưa được phát triển rộng rãi Trong những năm gần đây, một số lĩnh vực sản xuất và một số nghề đã từng bước được khôi phục và có chiều hướng phát triển như: đan lát (cót, rổ rá…); sản xuất mía đường; chế biến mì, bún bánh và thêu ren
Mặc dù tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp tuy cao hơn so với mức bình quân trung của cả vùng nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và với vai trò trung tâm công nghiệp của vùng trung du miền bắc Bắc
Bộ Sự phát triển công nghiệp của Thái Nguyên trong thời gian qua dựa trên những tiềm năng nguyên nhiên liệu sẵn có của tỉnh Tình trạng sản xuất chưa khắc phục được tính chất manh mún, tản mạn và mang nặng tính
Trang 26bao cấp, thiếu vốn, trình độ công nghệ lạc hậu, thiết bị ít được đổi mới Trang thiết bị trong ngành công nghiệp có tới trên 60% là thiết bị, công nghệ cũ từ thập kỷ 70 Tốc độ đổi mới công nghệ chỉ ở mức 6%/năm Năng lực sản xuất công nghiệp chưa vượt quá 50% công suất thiết kế với mức cơ giới hoá 45% Mức tiêu hao năng lượng, nguyên liệu cao hơn gấp nhiều lần mức trung bình của thế giới Sản phẩm đạt chất lượng thấp: chỉ đạt khoảng 70% tiêu chuẩn nội địa, 15% tiêu chuẩn xuất khẩu Do vậy, năng suất và hiệu quả sản xuất còn thấp, tính cạnh tranh sản phẩm còn yếu Nhìn chung, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, đáp ứng nhu cầu trong tỉnh
và mở rộng thị trường ra ngoài tỉnh đối với một số sản phẩm Sự phát triển tiểu thủ công nghiệp đã thúc đẩy tiến trình đô thị hoá nông thôn, hình thành thêm các thị trấn trên cơ sở hình thành những ngành nghề mới tại các xã và cụm xã, nâng cao dân trí, thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn [7]
Nhìn chung, tỷ lệ mặt đường được rải nhựa, đổ bê tông còn thấp, mới đạt 20,4%, riêng hệ thống đường quốc lộ được rải nhựa 100% Đối với đường
xã, phường thì tỷ lệ này chỉ đạt 11%, còn lại là đường đá hoặc đường đất,
Trang 27trong đó đường đất chiếm tới 67% Tỷ lệ mặt đường xấu cao, chiếm khoảng 55%
Hiện tỉnh đã có đường ô tô đến 180 xã, phường của tỉnh Tuy nhiên, khả năng tiếp nhận bằng đường bộ với một số xã miền núi trong tỉnh còn nhiều khó khăn do địa hình dốc, chất lượng đường kém Một số đoạn đường quốc lộ, một số đường huyện và cầu đang bị xuống cấp, ảnh hưởng đến lưu thông vận tải nội tỉnh và các tỉnh khác [7]
Giao thông thuỷ là một lợi thế của tỉnh nhưng cho đến nay chưa được khai thác nhiều Trong thời gian tới, khi quan hệ giao lưu kinh tế và thương mại của tỉnh phát triển thì laọi hình giao thông này sẽ được khai thác hiệu quả hơn [7]
Đường sắt
Hệ thống đường sắt của Thái Nguyên bao gồm ba tuyến chính với tổng chiều dài trên địa bàn tỉnh khoảng 99 km
km và được Công ty gang thép Thái Nguyên tận dụng để vận chuyển quặng phục vụ Khu gang thép
Trang 28• Tuyến Quán Triều – Núi Hồng qua Đại Từ dài 39 km chủ yếu phục vụ vận tải than
Điện năng
Nguồn điện cấp cho tỉnh Thái Nguyên là điện lưới quốc gia Tính tới năm 2003, toàn bộ các xã phường trong tỉnh đã có điện, có khoảng 83% hộ dân được sử dụng điện Mức tiêu thụ điện năng của tỉnh tăng rất nhanh qua các năm, bình quân 18,6% trong giai đoạn từ năm 2001 – 2004 Ngành công nghiệp – xây dựng tiêu thụ điện lớn nhất, chiếm tới gần 73% tổng lượng điện tiêu thụ (năm 2004) [7]
Cấp thoát nước
Thái Nguyên chủ yếu khai thác nước ngầm và nước mặt từ sông, hồ để cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất Thành phố Thái Nguyên sử dụng nguồn
Cho đến nay, mới có khoảng 71% dân số đô thị và 66% dân số nông thôn trong tỉnh được sử dụng nước sạch
Hệ thống thoát nước trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư đồng bộ nên hoạt động kém hiệu quả Nước thải và nước mưa cùng chung hệ thống thoát nước nên có nhiều điểm bị úng ngập Hệ thống thoát nước ở thành phố Thái Nguyên chưa đáp ứng được yêu cầu đối với một đô thị loại II
Hệ thống thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp khá hoàn chỉnh với tổng chiều dài 949 km và 2.070 công trình thuỷ lợi (năm 2004) nhưng hiện mới cung cấp
đủ nước tưới cho khoảng 76% diện tích đất canh tác nông nghiệp [7]
Trang 29Thông tin, văn hóa - giáo dục, y tế
Năm 2004, toàn tỉnh có 206 trường học mẫu giáo và 433 trường học phổ thông Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo đạt 90%, tỷ lệ học sinh tiểu học đến trường đạt 100%, tỷ lệ học sinh cấp trung học cơ sở đạt 80% [7]
Giáo dục đại học, trung học và dạy nghề
Thái Nguyên là trung tâm nghiên cứu khoa học và giáo dục – đào tạo của vùng trung du, miền núi Bắc Bộ với 5 trường đại học, 7 trường trung học chuyên nghiệp và cao đẳng, 6 trường công nhân kỹ thuật Chất lượng giảng dạy của giáo viên ngày càng được nâng cao Trong năm 2004, tỷ lệ giáo viên cao đẳng sư phạm đạt tiêu chuẩn khoảng 95%
Hiện nay, tỉnh mới có trung tâm dạy nghề nên nhu cầu đào tạo nghề cho người lao động vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ Hệ thống đào tạo nghề nhỏ bé, mất cân đối giữa đào tạo đại học và đào tạo nghề Số lượng công nhân
kỹ thuật hàng năm còn ít, chất lượng chưa cao nên gây tình trạng thiếu lao động trong xã hội
Trang 30Y tế
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 212 cơ sở y tế với 3420 giường bệnh Trong số này có 16 bệnh viện và 14 phòng khám đa khoa khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng, 1 trại phong, 2 nhà hộ sinh và 180 trạm y tế xã, phường Hầu hết các chỉ tiêu y tế của tỉnh được cải thiện rõ rệt trong những năm qua
và cao hơn mức bình quân của toàn vùng và cả nước Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và thành thị trong tỉnh về các chỉ tiêu y tế Các huyện Phổ Yên, Phú Lương, Đại Từ, Phú Bình có số lượng bác sỹ và cán bộ y tế tính bình quân trên một vạn dân thấp hơn nhiều so với các huyện khác
Công tác dân số - Kế hoạch hoá gia đình và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em được thực hiện tương đối tốt Từ năm 2000 trở lại đây, tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên thường xuyên không vượt quá 0,7%, tỷ lệ người sinh con thứ ba giảm Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng theo chương trình tiêm chủng mở rộng đạt 100% Các mục tiêu chương trình quốc gia về chăm sóc bảo vệ trẻ em được thực hiện tốt [7]
II.3 Định hướng phát triển kinh tế đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
II.3.1 Các mục tiêu phát triển
Hoà nhập chung với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, đồng thời theo Nghị quyết số 37
hình trong nước và quốc tế, từ các tiềm năng, lợi thế, hạn chế và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm qua, Thái Nguyên đã đưa
ra các định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 và tầm nhìn đến
2020 như sau:
Trang 31Mục tiêu kinh tế
Tăng trưởng GDP là mục tiêu hàng đầu trong phát triển kinh tế của tỉnh GDP/người tính theo USD giá sinh hoạt đạt trên 800USD vào năm 2010, bằng khoảng 77% mức bình quân của cả nước (1.050 USD) và khoảng 2.200-
2.300 USD vào năm 2020, bằng mức bình quân của cả nước (theo dự báo của
Viện chiến lược phát triển, Bộ kế hoạch và đầu tư) Tốc độ tăng trưởng kinh
tế (GDP) đạt bình quân 12-13%/năm trong giai đoạn 2006-2010 và khoảng 11-12% trong giai đoạn 2011-2020 Trong đó nông- lâm- thủy sản tăng trưởng khoảng 5-5,5%, công nghiệp- xây dựng (luyện kim, chế tạo máy và gia công kim loại, khai thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng) khoảng
Cơ cấu kinh tế được hình thành theo hướng tăng các ngành phi nông nghiệp, đặc biệt khu vực dịch vụ tăng trưởng nhanh hơn hẳn trong giai đoạn sau 2010 Năm 2010, tỷ trọng công nghiệp- xây dựng trong GDP đạt 44-45%, dịch vụ 38-39% và nông- lâm nghiệp- thuỷ sản khoảng 16-17% Năm 2020 tỷ trọng các ngành tương ứng là 47-48%, 42-43%, và 9-10%
Phát triển kinh tế đối ngoại được tỉnh chú trọng, hình thành một số ngành, sản phẩm xuất khẩu chủ lực Phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu năm
2010 đạt khoảng 65-66 triệu USD, năm 2020 khoảng 240-250 triệu USD Đảm bảo tăng tốc độ tăng xuất khẩu bình quân hàng năm khoảng 14-16% trong cả thời kỳ 2006-2020
Bên cạnh đó, tỉnh sẽ xây dựng chính sách, cơ chế thu ngân sách trên địa bàn, đảm bảo mức tăng bình quân hàng năm khoảng 20% trong cả thời kỳ
10 nghìn tỷ đồng (theo giá hiện hành)
Trang 32Mục tiêu về xã hội
Xã hội là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến tăng
trưởng kinh tế của tỉnh Trong những năm tới, Thái Nguyên sẽ tập trung vào các vấn đề như: gia tăng dân số, việc làm, xóa đói giảm nghèo, giáo dục… Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm trong cả giai đoạn quy hoạch là 0,9%, trong đó tốc độ tăng dân số tự nhiên là 0,8-0,82% và tăng cơ học là 0,08-1% Việc gia tăng dân số liên quan đến việc sử dụng lao động trong các ngành nghề kinh tế Hàng năm, tỉnh sẽ giải quyết việc làm cho khoảng 15.000 lao động trong giai đoạn 2006-2010 và 12.000-13.000 lao động trong 10 năm tiếp
lệ lao động qua đào tạo đạt 38-40% năm 2010 và tăng lên 68-70% năm 2020
Gia tăng dân số là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tăng tỷ
lệ các hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Để đảm bảo tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm xuống dưới 15% vào các năm 2010 và còn khoảng 2,5% vào năm 2020, thu hẹp sự chênh lệch giữa các vùng, các tầng lớp dân cư trong việc thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, Thái Nguyên cần có các chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế, giáo dục cân bằng với tỷ lệ gia tăng dân số, hỗ trợ kinh tế, giáo dục các hộ gia đình khó khăn, các hộ gia đình ở vùng sâu vùng xa Thái Nguyên cũng sẽ tiến tới nâng chỉ số chung về phát triển nguồn nhân lực (HDI) lên trên 0,7 vào năm 2010 và trên 0,8 vào năm 2020
II.3.2 Lựa chọn cơ cấu kinh tế
Để đi tới phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, Thái Nguyên đã xác định hướng phát triển cho một số ngành chủ chốt như sau:
hình 2.2
Trang 33• Đến năm 2020: Công nghiệp, xây dựng 47,5%, dịch vụ 42,15%, nông- lâm- thuỷ sản 10,35% được thể hiện trên hình 2.3
Công nghiệp, Xây dựng (45%)
Nông - lâm - thuỷ sản (16,5%) Dịch vụ (38,5%)
Hình 2.1 Định hướng cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2010
Công nghiệp, Xây dựng (47,5%) Nông - lâm -
thuỷ sản (10,35%)
Dịch vụ (42,15%)
Hình 2.2 Định hướng cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020
Trang 34II.3.3 Phương hướng phát triển
Phương hướng phát triển kinh tế của tỉnh được thể hiện thông qua tăng trưởng GDP và một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản như sau:
Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản phát triển kinh tế
2006-2010
Giai đoạn 2011-2020
(Nguồn: Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020)
Đầu tư vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh
tế Để đảm bảo đạt mức độ tăng trưởng như trên, tổng nhu cầu vốn đầu tư thời
kỳ 2006-2020 cần khoảng 205.000 tỷ đồng, trong đó năm 2006-2010 là 25.000 tỷ đồng, giai đoạn 2011-2020 là 180.000 tỷ đồng
Như vậy, tăng trưởng kinh tế - xã hội theo mục tiêu đã đặt ra trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng ít ảnh hưởng đến môi trường sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức đối với tỉnh Thái Nguyên
Trang 35CHƯƠNG III
NƯỚC LƯU VỰC SÔNG CẦU TRÊN ĐỊA BÀN THÁI NGUYÊN
Đoạn Sông Cầu trên địa bàn Thái Nguyên chịu tác động mạnh bởi các hoạt động khai thác khoáng sản và sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Môi trường nước sông Cầu đã và đang tiếp tục bị ô nhiễm do tiếp nhận chất thải từ các hoạt động này, tập trung vào các ngành sản xuất sau:
III.1 Các nguồn nước thải công nghiệp
III.1.1 Công nghiệp luyện kim, cán thép, chế tạo thiết bị máy móc
Luyện kim, cán thép, chế tạo thiết bị máy móc là lĩnh vực công nghiệp thế mạnh của tỉnh Thái Nguyên Hiện nay, trên địa bàn tỉnh tập trung rất nhiều các nhà máy, cơ sở sản xuất thép, cơ khí gia dụng có quy mô từ nhỏ đến lớn Hoạt động sản xuất của loại hình công nghiệp này đã ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường nước mặt của tỉnh Thái Nguyên Trong đó Công ty gang thép Thái
Nguyên là một trong những cơ sở sản xuất thép điển hình, cung cấp sản phẩm thép các loại với sản lượng lớn cho toàn quốc
trang thiết bị được trang bị từ những năm 60 của thế kỷ 20 Hầu hết các dây chuyền công nghệ sản xuất đã quá cũ, cơ sở hạ tầng xuống cấp trầm trọng, gây
rò rỉ ô nhiễm môi trường Nước thải của KCN bao gồm nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt, nước mưa chảy tràn đều tập trung vào hệ thống cống chung đổ vào suối Cam Giá, từ đó chảy ra sông Cầu với lưu lượng ước tính 1,3 triệu
hữu cơ gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các hợp chất hữu cơ mạch vòng như
của Nhà máy kốc hoá là nguồn gây ô nhiễm môi trường nước chính của Công ty Gang thép Thái Nguyên Tổng lượng nước thải tại cống chung nhà máy kốc hoá
Trang 36lớn hơn 7.000 m3/ngày Trong đó lượng nước dùng để dập kốc khoảng 62 m3/ ngày, còn lại các nguồn nước thải khác phát sinh trong quá trình làm lạnh gián tiếp khí than ở thiết bị làm lạnh sơ, làm lạnh trong quá trình chưng luyện các sản phẩm phụ khác…Sơ đồ dây chuyền sản xuất kèm theo một số dòng thải
lỏng chính được mô tả trên hình 3.1
hàng ngày lượng phenol theo dòng thải ra môi trường khoảng 22,4 kg
phenol/ngày Ngoài phenol còn có nhiều chất ô nhiễm độc hại khác như xyanua, amoniac, asen… làm suy giảm chất lượng nước mặt và lâu dài ảnh hưởng đến chất lượng nước dưới đất Hiện tại, nguồn thải này chưa được xử lý, vẫn thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung
thải lượng nước thải KCN gang thép Thái Nguyên lớn nhất và có ảnh hưởng lớn
nhất tới chất lượng nước sông (Báo cáo hiện trạng môi trường chuyên đề 3 LVS
2006) Đặc trưng ô nhiễm nguồn nước thải của một số cơ sở thuộc nhóm ngành này được thể hiện trên bảng 3.1
Trang 37Bảng 3.1 Đặc trưng ô nhiễm nguồn nước thải của một số cơ sở Công
nghiệp luyện kim, cán thép, chế tạo thiết bị máy móc
(Nguồn: Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường Thái Nguyên, 2007)
Nơi tiếp nhận nước thải
Lượng thải
(m3/ngày)
Mô tả nước thải
180 Độ đục cao
COD: 76; BOD: 39 TSS: 127; Hg: 0.0041 Pb: 0.014; As: 0 Cd: 0.005;
2 Nhà máy kốc hoá Suối Cam Giá 7000 Màu đen, mùi
hôi do than cốc
COD: 48; BOD: 43 TSS: 116; Hg: 0.0005 Pb: kph; As: 0.0327 Cd: 0.0008
3 Nhà máy Cơ khí gang
thép Thái Nguyên Sông Cầu 2.600 nước đen, hắc,
khá ô nhiễm
COD: 1103; BOD: 65 SS: 125
4 Nhà máy luyện thép Lưu
Xá-Công ty GTTN Sông Cầu 300
Gây ô nhiễm nhẹ tới nguồn tiếp nhận
COD: 59; BOD: 34 SS: 83
5 Nhà máy luyện
gang-Công ty GTTN Sông Cầu
Gây ô nhiễm nhẹ tới nguồn tiếp nhận
COD: 71; BOD: 31 SS: 87
6 Công ty cổ Phần Cơ khí
Phổ Yên Suối Rẽo 3
COD: 27; BOD: 9 TSS: 110 pH: 6,4
7 Nhà máy Cơ Khí mỏ Bắc
Thái Suối Phục Linh 350
Có nhiều váng dầu & cặn lơ lửng
COD: 75; BOD: 43 TSS: 173 Pb: 0.0002 Cd: 0.0005
8 Công ty cơ khí 3-2 Khu dân cư tổ 12
phường Quán Triều 8
không mùi, mầu đỏ
COD: 29; BOD: 22 TSS: 179; Pb: 0,005; pH: 7,6
9 Công ty liên doanh thép
Nasteelvina Suối Cam Giá 3.500
COD: 19; BOD: 16 TSS: 53; Hg: 0.0002 Pb: 0.0034; As: 0.0064 Cd: 0.0003
Trang 38Nhìn chung, các chỉ tiêu gây ô nhiễm nước mặt COD, BOD5, SS, hàm
mùi, một số nguồn thải có dầu mỡ thải vào nguồn tiếp nhận tạo váng dầu trên bề mặt nước sông, suối Chỉ tiêu pH dao động từ 6,4 – 7,6 Một số nguồn thải mang tính kiềm cao như nguồn thải của Công ty Cơ Điện Luyện Kim - Xí
Trang 39
Bụi than phát tán, nước mưa chảy tràn chứa than Lấy liệu, phối liệu
Hút sắt, nghiền cám
Ồn, bụi than phát tán
NH 3
Tầng đỉnh tháp than
Bộ gom dầu cốc
Chưng, phân giải NH 3
Khí đuôi phân giải Trạm xử lý nước phế xyanogen-phenol
Nước thải: phenol, CN _ , NH 3 ,
Trang 40KCN lớn thứ hai của Thái Nguyên là KCN Sông Công nằm trên thị xã sông Công với các nhà máy sản xuất cơ khí, chế tạo máy động lực KCN này đi vào hoạt động từ năm 2001 nhưng đến nay vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, hầu hết các nhà máy trong KCN cũng chưa có hệ thống xử lý nước thải, hoặc chỉ có hệ thống xử lý sơ bộ như lắng trướcthải thẳng ra sông Công Nước thải của KCN này chứa nhiều dầu mỡ, kim loại nặng do tính đặc thù của ngành sản xuất cơ khí Một trong những cơ sở sản xuất cơ khí điển hình nằm trong KCN Sông Công là Công ty Diesel Sông Công – là công ty được thiết kế xây dựng theo hình thức của một Công ty công nghiệp chế tạo máy của Liên Xô cũ từ những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX Dây chuyền sản xuất của Công ty Diesel Sông Công kèm theo một số dòng thải lỏng chính được thể hiện trên hình 3.2