1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và ứng dụng mô hình quản lý và kiểm soát năng lượng trong ngành sản xuất hàng dệt may ở Việt Nam

88 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu và ứng dụng mô hình quản lý và kiểm soát năng lượng trong ngành sản xuất hàng dệt may ở Việt Nam Nghiên cứu và ứng dụng mô hình quản lý và kiểm soát năng lượng trong ngành sản xuất hàng dệt may ở Việt Nam luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

-***** -

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ

VÀ KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG TRONG NGÀNH SẢN XUẤT HÀNG DỆT MAY Ở VIỆT NAM

PHẦN THUYẾT MINH

CHUYÊN NGÀNH : CÔNG NGHỆ NHIỆT – LẠNH

HOÀNG VĂN TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.PHẠM HOÀNG LƯƠNG

Trang 2

CHƯƠNG 3 – QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG VÀ KIỂM TOÁNNĂNG

LƯỢNG TRONG CÔNG NGHIỆP 18

CHƯƠNG 5 - ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ TIẾT KIỆM

5.3.1 Phân tích hiện trạng tiêu thụ và tiềm năng tiết kiệm năng lượng 42

5.3.2 Phân tích tính khả thi của các cơ hội tiết kiệm năng lượng 53

5.3.3 Kết luận

5.4 Tính toán cân bằng năng lượng

57

57

Trang 3

5.4.1 Tổng hợp các loại năng lượng sử dụng 57

5.4.2 Quy đổi các đơn vị đo lường và hoàn thành bảng thống kê cân

5.5.1 Phân tích lựa chọn các thiết bị, tiềm năng TKNL 63

CHƯƠNG 6 – TÍNH TOÁN TIỀM NĂNG TIẾT KIỆM NĂNG

6.2.1 Tính năng lượng tiết kiệm cho máy sợI con hai tốc độ 75

6.4.1 Tính toán lượng điện tiết kiêm trong một năm 77

6.6.2 Tính toán cho bơm làm mát tháp 22 kW 79

Trang 4

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Cấu trúc của một quy trình quản lý năng lượng toàn bộ

Hình 3.2 Mô hình kiểm toán năng lượng sơ bộ

Hình 3.3 Mô hình kiểm toán chi tiết

Hình 4.1: Mô hình công nghệ phân xưởng sợi

Hình 4.2: Mô hingf công nghệ phân xưởng dệt

Hình 4.3: Mô hình công nghệ hệ thong cung bong

Hình 4.4: Sơ đồ hệ thống phân phối khí nén

Hình 4.5: Sơ đồ nguyên lý của hệ thống khí nén

Hình 5.1: Biểu đồ phụ tải theo thời điểm tiêu thụ năm 2006

Hình 5.2: Biểu đồ sản lượng điện tiêu thụ năm 2006

Hình 5.3: Biểu đồ sản lượng điện tiêu thụ năm 2006 dạng line

Hình 5.4: Sơ đồ đấu nốI HT đèn huỳnh quang

Hình 5.5: Sơ đồ đấu ghép hệ thống khí nén bằng ro le áp suất

Hình 5.6: Đồ thị tải của hệ thống khí nén

Hình 5.7: Chu trình bơm nước lạnh của HT điều hòa không khí

Hình 5.8: Sơ đồ lắp biến tần cho bơm nước làm mát và quạt điều

không

Hình 5.9: Chu trình làm mát của hệ thống điều hòa

Hình 5.10: Sơ đồ lắp biến tần cho hệ thống làm mát của hệ thống

điều hòa

Hình 5.11: Sơ đồ lắp bộ tiết kiệm điện năng cho động cơ non tải

Hình 5.12: Sơ đồ lắp biến tần cho động cơ

Hình 5.13: Sơ đồ lắp biến tần cho bơm nước lạnh

Hình 5.14: Sơ đồ quạt làm mát

Hình 5.15: Đồ thị phụ tảI của động cơ

Hình 5.16: Biểu đồ phân phốI năng lượng của công ty dệt 19/5

Hình 5.17: Sơ đồ mạch lực lắp POWER BOSS 30kW cho động cơ

se sợI

Hình 5.18: Sơ đồ đấu nối điều khiển có tích hợp khả năng hãm

Hình 5.19: Biểu đồ dòng khởi động của động cơ

Hình 5.20: Sơ đồ mạch lực khi lắp biến tần cho động cơ 2 tốc độ

Hình 5.21: Hình ảnh thực tế của bộ biến tần

Hình 5.22: Sơ đồ mạch lực của máy kéo sợi OE

Hình 5.23: Sơ đồ hệ thống van 3 ngả của HT điều hòa

Hình 5.24: Sơ đồ phương án xử lý hệ thống van 3 ngả

Hình 5.25: Sơ đồ mạch lực của hệ thong bơm dung môi lạnh

Hình 5.26: Sơ đồ thiết kế cho mạch chiếu sang

Hình 5.27: Sơ đồ thiết kế cho động cơ máy may

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số doanh nghiệp nghành dệt phân theo loại hình kinh doanh

Bảng 2.2 Số và cơ cấu doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc dệt cuối năm

2000 phân theo qui mô lao động và theo quy mô vốn

Bảng 2.3 Sản lượng một số sản phẩm dệt may theo khu vực kinh tế

Bảng 2.4 Doanh thu thuần của nghành dệt năm 2000 phân theo thành

phần kinh tế

Bảng 2.5 Tổng giá trị và cơ cấu giá trị của nghành dệt so với toàn

nghành công nghiệp những năm gần đây

Bảng 2.6 Chỉ tiêu phấn đấu của nghành dệt may việt nam giai đoạn 13

2000 - 2010

Bảng 2.7 Mục tiêu nghành dệt may đến năm 2005 – 2010

Bảng 5.1 Giá mua điện của công ty dệt 19/5 trong giai đoạn 2004 – 2007

Bảng 5.2 So sánh chi phí năng lượng với tổng chi phí sản xuất trong các

năm 2994 – 2007

Bảng 5.3 Lượng điện tiêu thu của công ty dệt 19/5 trong năm 2006

Bảng 5.4 Biểu đồ sản lượng điện tiêu thụ năm 2006 dạng line

Bảng 5.5 Các thiết bị chính phục vụ sản xuất của công ty dệt 19/5

Bảng 5.6 Liệt kê thiết bị tiêu thụ năng lượng nhà máy dệt hà nội

Bảng 5.7 Liệt kê thiết bị tiêu thụ năng lượng nhà máy May - thêu

Bảng 5.8 Liệt kê thiết bị tiêu thụ năng lượng nhà máy Sợi Hà nội

Bảng 5.9 Thống kê các thiết bị của hệ thống điều hòa không khí

Bảng 5.10 Thông số của hệ thống khí nén

Bảng 5.11 So sánh công suất HT chiếu sang

Bảng 5.12 Liệt kê các thiết bị khảo sát của hệ thống máy sản xuất

Bảng 5.13 Các thiết bị của hệ thống chiếu sang

Bảng 5.14 Các thiết bị của hệ thống điều hòa không khí

Bảng 5.15 Thống kê các thiết bị tiêu thụ điện năng của hệ thống khí nén

Bảng 5.16 Thống kê các thiết bị tiêu thụ điện năng của hệ thống máy sản

xuất

Bảng 5.17 Một số thiết bị tiêu thụ điện năng khác

Bảng 5.18 Thống kê các thiết bị tiêu thụ điện năng nhóm thiết bị sx

Bảng 5.19 Thống kê các thiết bị tiêu thụ điện năng HT chiếu sang

Bảng 5.20 Thống kê các thiết bị tiêu thụ điện năng HT điều hòa

Bảng 5.21 Thống kê các thiết bị tiêu thụ điện năng nhóm quạt

Bảng 5.22 Tính toán năng lượng tiêu thụ của nhà máy theo nhóm các

thiết bị tiêu thụ chính

Bảng 5.23 Thông số kỹ thuật của thiết bị chiếu sáng

Bảng 6.1 Tiêu thụ điện theo thờI điểm (Áp dụng 3 giá)

Bảng 6.2 Đánh giá mức tiết kiệm điện của biến tần

Bảng 6.3 So sánh tiêu thụ năng lượng của thiết bị chiếu sáng

Bảng 6.4 Bảng tổng hợp tính toán

Trang 6

CH ƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Cơ sở đề tài

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, năng lượng là

yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt, đảm bảo cho hoạt động bình thường và

phát triển sản xuất, là nhu cầu thiết yếu để nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần của nhân dân, là nguồn động lực cho phát triển kinh tế - xã hội Sự thiếu

hụt năng lượng trong một thời gian dài sẽ là nhân tố kìm hãm sự phát triển

liên tục của nền kinh tế quốc dân, gây hiệu ứng xấu đối với tăng trưởng kinh

tế và phát triển xã hội Biểu thị tăng trưởng kinh tế thông qua chỉ số tăng

trưởng tổng giá trị sản phẩm xã hội (GDP) và thu nhập GDP trên đầu người

luôn có quan hệ khăng khít với mức tăng trưởng nhu cầu sử dụng năng lượng

Trong khi đó, nguồn năng lượng truyền thống có thể khai thác để cung cấp

cho nhu cầu của xã hội không phải là vô tận Theo dự báo của Tổ chức Năng

lượng thế giới, với tốc độ gia tăng mức khai thác năng lượng như hiện nay,

đến cuối thế kỷ này, nguồn than đá của thế giới sẽ trở thành rất khan hiếm,

các mỏ dầu và khí đốt sẽ cạn kiệt trong vòng từ 40 đến 60 năm tới

Trong sản xuất công nghiệp của nước ta, do nhiều nguyên nhân khác

nhau như trình độ công nghệ lạc hậu của thiết bị, chưa chú ý đúng mức đến

việc quản lý năng lượng trong từng doanh nghiệp, việc sử dụng năng lượng

chưa hợp lý, tổn thất cao nên cường độ năng lượng (mức tiêu hao năng

lượng để sản xuất ra một đơn vị giá trị kinh tế – kgOE/đồng; kWh/đồng )

còn quá cao so với nhiều nước trong khu vực Cường độ năng lượng trong

công nghiệp của Việt Nam cao hơn Thái Lan và Malaysia khoảng 1,5 - 1,7

lần Điều đó có nghĩa là để làm ra cùng một giá trị sản phẩm như nhau, sản

xuất công nghiệp của nước ta phải tiêu tốn năng lượng gấp 1,5 – 1,7 lần nhiều

hơn các nước nói trên

Sử dụng năng lượng trong dịch vụ, sinh hoạt đời sống còn nhiều lãng

phí Nước ta đang ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, cơ giới hóa; trong

hơn một thập kỷ qua đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng

7,5%, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao Tình hình

đó, đòi hỏi phải đầu tư lớn cho phát triển các nguồn năng lượng và hệ thống

cung ứng năng lượng để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày một tăng cao Tỷ

Trang 7

lệ so sánh giữa mức tăng trưởng nhu cầu năng lượng so với tăng trưởng GDP

của nước ta đang ở mức trên 1,4 lần; trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ này

là dưới 1 Các nghiên cứu, khảo sát trong một số xí nghiệp được lựa chọn

trong sản xuất xi măng, thép, sành sứ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng

cho thấy tiềm năng tiết kiệm năng lượng có thể đạt đến trên dưới 20% Nếu

tính với mức sử dụng năng lượng trong công nghiệp chiếm khoảng 40% so

với tổng nhu cầu năng lượng thương mại hiện nay (dự báo đạt xấp xỉ 19 triệu

tấn dầu quy đổi vào năm 2005), có thể ước tính tiềm năng tiết kiệm năng

lượng trong sản xuất công nghiệp đã lên đến khoảng (19 triệu tấn x 0.4 x 0.2)

~ 1,5 triệu tấn dầu tương đương (~13,5 ngàn tỷ đồng, tính thô theo giá dầu

trong nước hiện nay) Đây là một giá trị không nhỏ, chưa tính đến tiềm năng

tiết kiệm trong sinh hoạt và hoạt động dịch vụ

Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đã được đa số các nước trên

thế giới đánh giá là một trong những lựa chọn ưu tiên thực hiện chiến lược

phát triển bền vững trong Thế kỷ 21 Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu

quả đã được chứng minh là biện pháp rẻ hơn trong nhiều trường hợp, chi phí

bỏ ra để tiết kiệm được 1 kWh điện năng hay nhiệt năng của nhiên liệu sẽ ít

hơn nhiều so với chi phí đầu tư để sản xuất ra 1 kWh trong các nhà máy điện,

mặc dù đều có chung ý nghĩa là cung cấp thêm cho lưới điện 1 kWh Trong

Chương trình Quản lý nhu cầu điện ở Thái Lan người ta đã tính ra rằng, để

“sản xuất“ thêm 1 kWh điện do tiết kiệm được bằng việc nâng cao hiệu suất

sử dụng đưa lại phải đầu tư 2 cents USD, trong khi các nhà máy điện đốt than,

dầu, khí để sản xuất ra 1 kWh điện phải tiêu tốn trung bình từ 4-6 cents

Sử dụng năng lượng với hiệu suất cao là phần không thể tách rời của

chiến lược hài hòa giữa phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng và bảo

vệ môi trường Chương trình Hành động Hà Nội được nguyên thủ quốc gia

các nước ASEAN thông qua năm 1998; Chương trình hành động Hợp tác

năng lượng ASEAN được các Bộ trưởng năng lượng ASEAN thông qua, triển

khai cho các giai đoạn 1999-2004, 2004-2009 đều xác định hoạt động sử

dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong 06 lĩnh vực được các

nước ASEAN đồng thuận đưa vào chương trình hợp tác khu vực

Trang 8

Trong công nghiệp hiện nay có rất nhiều tiềm năng, cơ hội tiết kiệm

và sử dụng hiệu quả năng lượng, nhưng do điều kiện thời gian có hạn nên

trong luận văn này tôi trình bày phần thuyết minh nghiên cứu mô hình quản lý

và kiểm toán năng lượng trong công nghiệp, ứng dụng cho ngành sản xuất

hàng dệt may ở Việt nam điển hình là một cơ sở dệt may tại Hà nội đó là

công ty dệt 19/5

1.2 Mục tiêu đề tài

Với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tăng khả năng cạnh

tranh nghành hàng dệt may của Việt nam, luận văn này có 4 nhiệm vụ cụ thể

sau đây:

• Tổng quan về công nghiệp sản xuất hàng dệt may ở Việt nam

• Nghiên cứu mô hình quản lý năng lượng trong công nghiệp, ứng dụng

mô hình trong ngành sản xuất hàng dệt may

• Kiểm toán năng lượng tại 1 cơ sở sản xuất hàng dệt may

• Nhận dạng và phân tích tính khả thi về kỹ thuật, kinh tế, môi trường

của các cơ hội tiết kiệm hiệu quả năng lượng tại cơ sở kiểm toán

1.3 Giới hạn nghiên cứu

• Cơ sở kiểm toán được lựa chọn là Công ty dệt 19/5;

• Các cơ hộI tiết kiệm năng lượng được nhận dạng và phân tích tạI công

ty dệt 19/5 dựa trên chế độ vận hành định mức của công ty

1.4 Trình tự luận văn

Luận văn gồm 7 chương được trình bày theo trình tự sau:

Chương 1 trình bày cơ sở - mục tiêu và giới hạn nghiên cứu

Chương 2 trình bày Tổng quan, hiện trạng và định hướng sản xuất của ngành

dệt may ở Việt nam được trình bày trong

Chương 3 trình bày Quản lý năng lượng và kiểm toán năng lượng trong công

nghiệp Chương 4 tóm lược về Quy trình sản xuất của ngành dệt may

Chương 5 đề cặp đến việc Ứng dụng mô hình quản lý tiết kiệm năng lượng tại

công ty dệt 19/5 Chương 6 tập trung Tính toán tiềm năng tiết kiệm năng

lượng tại công ty dệt 19/5 Cuối cùng, các kết luân thu nhận được từ việc

thực hiện đề tài và các đề xuất cho các hướng nghiên cứu tiếp theo được trình

bày ở chương 7

Trang 9

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÔNG NGHIỆP DỆT MAY

Do những đặc điểm riêng của mình, ngành dệt may có những đóng góp

cho nền kinh tế ở những thế mạnh sau:

• Là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhất: hiện nay, ước tính

có gần 1.200 doanh nghiệp dệt may trong toàn ngành và hàng chục

ngàn cơ sở nhỏ khác, thu hút một lực lượng lao động gần 1.600.000

người Theo chiến lược tăng tốc phát triển ngành dệt may, đến năm

2005 và 2010 lực lượng lao động ngành dệt may sẽ tăng lên tương ứng

là 3.000.000 và 4.000.000 người chưa kể đến một lực lượng lao động

khá lớn thu hút vào lĩnh vực phát triển cây bông và trồng dâu nuôi tằm

(ước tính lượng lao động này hiện nay khoảng 70.000 người, năm 2005

khoảng 180.000 người và đến năm 2010 khoảng 450.000 người)

• Là ngành công nghiệp mang lại kim ngạch xuất khẩu cao nhất: năm

2000, ước tính kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam đạt

2.000 triệu USD, năm 2005 ước tính đạt 4.000 ÷ 5.000 triệu USD và

năm 2010 đạt khoảng 7.000 ÷ 8.000 triệu USD Thông qua việc xuất

khẩu, nền kinh tế Việt Nam mới có thể hội nhập vào nền kinh tế thế

giới và kinh tế khu vực Đồng thời với xuất khẩu là góp phần tích lũy

tư bản cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất

nước

• Chiếm 8,58 % giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, và chiếm

khoảng 15 % tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Theo con số thống kê mới đây của Tổng công ty dệt may Việt nam, cơ cấu

ngành dệt may của Việt nam gồm các thành phần sau [1]:

• Doanh nghiệp nhà nước: gồm 187 doanh nghiệp trong đó có 70 doanh

nghiệp dệt (32 doanh nghiệp trung ương và 38 doanh nghiệp địa

phương) và 117 doanh nghiệp may

• Doanh nghiệp ngoài nhà nước: khoảng 800 công ty trách nhiệm hữu

hạn, cổ phần, tư nhân trong đó gần 600 đơn vị may và gần 200 đơn vị

dệt

• Doanh nghiệp liên doanh: gồm khoảng 178 dự án đầu tư liên doanh và

100 % vốn nước ngoài đang triển khai hoạt động trên các lĩnh vực sợi,

dệt, may, nhuộm và phụ tùng may với số vốn đăng ký là 1.804 triệu

USD

Bảng 2.1 sau đây cho thấy số lượng các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh

ngành dệt may nằm trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vẫn chiếm đa

Trang 10

phần sau đó là đến các doanh nghiệp thuộc nhà nước Tuy nhiên trong số các

doanh nghiệp nhà nước đó thì đa phần các doanh nghiệp lại thuộc quyền quản

lý của địa phương, các doanh nghiệp ngành dệt may nhà nước do trung ương

quản lý chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn

Bảng 2.1- Số doanh nghiệp ngành dệt phân theo loại hình kinh doanh [2]

Chú thích: DNNN: Doanh nghiệp nhà nước; DN NQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trong số các doanh nghiệp dệt nêu trên thì số lượng các doanh nghiệp

thuộc quy mô DNVVN được thể hiện ở trong bảng 2.2 sau đây:

Bảng 2.2- Số và cơ cấu doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc dệt cuối năm 2000 phân theo quy mô

lao động và theo quy mô vốn[3]

34 (9,4%)

124 (34,3%)

128 (35,4%)

72 (19,8%)

51 (18,8%)

104 (38,2%)

29 (10,6%)

Đơn vị: Doanh nghiệp

Qua bảng số liệu này ta cũng có thể dễ dàng nhận ra được quy mô

lao động và quy mô vốn của các doanh nghiệp ngành dệt phân bố chủ yếu

vào khu vực các doanh nghiệp có số lao động trong khoảng từ trên 10 cho

đến dưới 499 người hoặc có nguồn vốn trong vùng từ 1 - 5 tỷ đồng Đặc

biệt là số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành dệt có nguồn vốn dưới

0,5 tỷ đồng lại chiếm một lượng khá đông, đó cũng là do đặc điểm kinh

doanh của ngành

Sản phẩm chính của ngành dệt may chủ yếu vẫn là sợi, vải dệt thoi

và dệt kim và các sản phẩm may sẵn Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ yếu

là jackét chiếm khoảng trên 50 % giá trị xuất khẩu, tiếp theo là áo sơ mi và

sản phẩm dệt kim

Trang 11

Sản xuất sợi tập trung ở miền Bắc, chiếm 35,26 % (Hà Nội, Nam

Định, Nghệ An), miền Trung chiếm 18,61 % (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng,

Khánh Hòa) và miền Nam chiếm 46,13 % (tập trung chủ yếu ở thành phố

Hồ Chí Minh)

Vải thành phẩm lớn nhất tập trung tại vùng Đông Nam bộ chiếm 50

%, vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 25 %, vùng Trung bộ và Duyên Hải

miền Trung chiếm 10 % và 15 % còn lại phân bố ở các vùng khác

Sản phẩm dệt kim chủ yếu ở vùng Đông Nam bộ chiếm 50 %, vùng đồng

bằng Bắc bộ chiếm 40 % và vùng Trung bộ chiếm 10 %

Về sản phẩm may vùng Đông Nam bộ chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 50 %,

tiếp theo là vùng đồng bằng Bắc bộ chiếm 18 %, sau đó là vùng Trung bộ

chiếm khoảng 8 % và còn lại là các vùng khác

Theo số liệu của Tổng Công ty Dệt Việt Nam [1] hiện nay sản lượng sợi là

72.000 tấn/năm, trong đó có 22 % sợi bông chải kỹ, 40 % sợi bông chải thô

và OE, 36 % sợi Pe/Co và 2 % sợi khác

Trong toàn ngành Dệt may, số máy dệt mới chiếm 15 %, số lượng có

khả năng cải tạo được chiếm 45 %, số còn lại cần thanh lý hoặc chuyển cho

khu vực hợp tác xã và tư nhân Trong số 7.973 máy dệt thuộc Tổng Công

ty Dệt-May Việt Nam, số máy dệt thoi cũ, khổ hẹp chiếm 88 %, máy dệt

không thoi 873 chiếc chiếm 12 % chỉ đáp ứng 30 % công suất vải mộc có

chất lượng cao, lại tập trung ở một số nhà máy lớn Mức độ đầu tư cho

khâu chuẩn bị dệt mà quan trọng là các thiết bị hồ mắc rất thấp (mới chỉ

đáp ứng được 30 % yêu cầu), có ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng vải

mộc nhất là đối với các loại vải mỏng

Về công nghệ nhuộm, các thiết bị tẩy, nhuộm, in hoa và hoàn tất chủ

yếu nằm ở các xí nghiệp quốc doanh trung ương, địa phương, các xí nghiệp

có liên doanh với nước ngoài và hầu hết đều được nhập ngoại: thuốc

nhuộm chất trợ nhập 100 %, hóa chất nhập khoảng 80 %

Từ những năm 1991 đến nay, ngành dệt may liên tục tiến hành đầu tư mở

rộng sản xuất và đổi mới thiết bị để đáp ứng yêu cầu chất lượng trên thị

trường thế giới ngày một nâng cao Sản lượng của một số sản phẩm trong

giai đoạn 1995-2001 được đưa ra trong bảng 2.3

Bảng 2.3- Sản lượng một số sản phẩm dệt may theo khu vực kinh tế[2]

Trang 12

Ghi chú: NN: Doanh nghiệp nhà nước; NQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh; ĐTNN:

Doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài

Trang 13

Chi tiết hơn, ước tính toàn ngành dệt may Việt Nam đến năm 2000 có

khoảng 1.050.000 cọc sợi trong đó 100.000 cọc là đầu tư mới Sản phẩm

được sản xuất ra từ những cọc sợi này là 85.000 tấn sợi/năm toàn ngành có

khoảng 14000 máy dệt các loại trong đó 2000 máy dệt khổ rộng không

thoi, sản xuất được 380 triệu mét vải /năm Công xuất nhuộm và hoàn tấn

toàn ngành là 380 triệu mét /năm, trong đó chỉ có 15% đạt tiêu chuẩn xuất

khẩu

Theo số liệu của tổng cục thống kê, hàng năm ngành dệt Việt Nam

sản xuất được 35 triệu sản phẩm dệt kim các loại Theo ý kiến các chuyên

gia, sau 10 năm đầu tư, hiện nay ngành dệt kim có khoảng 450 máy dệt

kim, sản xuất khoảng 90 triệu sản phẩm T - shirt qui chuẩn Các sản phẩm

khác hàng năm của ngành bao gồm 25000 tấn bông, 400 triệu sản phẩm

may

Bảng 2.4 sau đây liệt kê doanh thu thuần của các doanh nghiệp ngành dệt

phân theo các vùng kinh doanh khác nhau Qua đó ta thấy khu vực doanh

nghiệp nhà nước do trung ương quản lý và khu vực doanh nghiệp có 100%

vốn đầu tư nước ngoài là có tổng doanh thu lớn nhất Các doanh nghiệp

nhà nước do địa phương quản lý và các doanh nghiệp liên doanh thì lại yếu

Chú thích : DNNN: Doanh nghiệp nhà nước; DN: Doanh nghiệp

Bảng 2.5- Tổng giá trị và cơ cấu giá trị của ngành dệt so với toàn ngành công nghiệp những

11.313,5 (5,42%)

11.197,3 (4,59%)

13.627,2 (4,54%)

Căn cứ theo số liệu ở bảng trên thì tỷ trọng của ngành dệt may đóng góp

vào nền công nghiệp có cao hơn ngành giấy tuy nhiên vẫn ở mức dưới 5%

Tốc độ tăng giá trị thu nhập so với toàn ngành công nghiệp mấy năm lại

đây lại giảm đi một chút

Trang 14

Một khó khăn lớn của ngành dệt may Việt Nam là tình trạng công

nghệ và thiết bị nói chung còn rất kém, trừ trường hợp một số cơ sở liên

doanh và đầu tư nước ngoài Thiết bị ngành dệt cho đến nay chủ yếu vẫn là

thiết bị cũ được sản xuất tại Trung Quốc hoặc các nước Châu Âu

Thiết bị và công nghệ lạc hậu dẫn đến hiện trạng là năng suất sản

xuất kém và có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao Theo đánh giá của

đoàn chuyên gia ngành Dệt của Bộ Công nghiệp và JICA Nhật bản năm

2000, năng suất lao động ngành Dệt ở Việt Nam thấp hơn 5 lần năng suất

lao động của ngành dệt Nhật bản

Vấn đề môi trường lớn nhất của ngành dệt may là nước thải, đặc biệt

là nước thải phát sinh từ các phân xưởng nhuộm, là phân xưởng sử dụng

nhiều hoá chất để nhuộm và tẩy vải, sợi Với thiết bị và công nghệ lạc hậu,

sự thất thoát các hoá chất càng lớn Thêm vào đó, ít có cơ sở dệt nào có hệ

thống nước thải hoàn chỉnh, hoạt động tốt Trong số 19 cơ sở dệt được

khảo sát bởi các chuyên gia của Bộ Công nghiệp và JICA năm 2000, chỉ có

4 cơ sở có hệ thống sử lý nước thải, các cơ sở còn lại thải nước thải độc hại

từ nơi sản xuất ra thẳng môi trường

Ngoài vấn đề môi trường liên quan đến các công ty lớn, ngành dệt nhuộm

còn có số lượng đáng kể các cơ sở dệt nhuộm nhỏ có khi chỉ là một gia

đình nằm xen kẽ các khu dân cư của các thành phố lớn có lượng nước thải

tuy không nhiều nhưng có độ ô nhiễm khá cao

Hiệu quả sử dụng năng lượng của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam có

thể được đánh giá sơ bộ như sau [4]

• Ngành kéo sợi đạt hiệu quả khoảng 80 %

• Ngành dệt vải khoảng 70 ÷ 80 %

• Ngành nhuộm và hoàn tất đạt dưới 60 %

• Ngành may đạt cao hơn, trên 90 %

Chi phí năng lượng trong giá thành sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam

cao hơn nhiều so với các nưóc tiên tiến, thậm chí so với các nước trong khu

vực Ví dụ công nghiệp dệt Việt Nam có chi phí năng lượng trong giá

thành sản phẩm chiếm 10 ÷ 12 % trong khi đó ở Thái Lan chỉ khoảng 7 ÷ 8

%

Mục tiêu chiến lược phát triển ngành dệt may trong giai đoạn 2000-2010

được tóm tắt trong bảng 2.6

Trang 15

Bảng 2.6- Chỉ tiêu phấn đấu của ngành dệt may Việt nam giai đoạn 2000-2010 [5]

230 1.200

Tỷ lệ nội địa hóa trên

Với chiến lược tăng tốc phát triển dệt may, mục tiêu đạt được thể hiện sự

tăng trưởng khá nhanh của ngành dệt may Việt Nam, cụ thể tốc độ tăng

trưởng trung bình như sau:

• Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2006 ÷ 2010 là 9,2 %

• Sử dụng lao động giai đoạn 2006 ÷ 2010 là 5,7 %

• Sản lượng bông xơ giai đoạn 2006 ÷ 2010 là 20,8 %

• Vải lụa giai đoạn 2006 ÷ 2010 là 8 %

Hiện nay cung cấp bông xơ nội địa chỉ chiếm khoảng 10 ÷ 15 %, sẽ cần

tăng lên tới 70 % vào năm 2010 Sản xuất vải cũng cần tăng nhanh để cung

cấp nguyên liệu chính cho ngành may, đặc biệt lượng vải chất lượng xuất

khẩu sẽ phải tăng thêm ở năm 2005 là 496 triệu m2, đến năm 2010 là 960

triệu m2 nhằm tăng tỷ trọng xuất FOB từ 25 % hiện nay lên tới 75 % vào

năm 2010

Dựa trên định hướng của chính phủ về tăng cường đầu tư cho các

ngành có tiềm năng suất khẩu, ngành dệt may Việt Nam, với tư cách là một

trong những ngành xuất khẩu chủ đạo, đã xây dựng được chiến lược đầu tư

tăng tốc với tiêu chí đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao tính cạnh tranh trong

bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Trong quan

điểm tăng tốc của ngành có nhấn mạnh vấn đề đa dạng hoá các thành phần

kinh tế, phát triển mở rộng đi đôi với củng cố chiều sâu, thay thế các thiết

bị lỗi thời, tập trung phát triển các vùng nguyên liệu như bông, tơ tằm, xơ

sợi tổng hợp, tăng tốc đầu tư các công nghệ mới nhất để tạo bước nhảy vọt

về chất lượng và sản lượng, đầu tư phát triển ngành theo hướng chuyên

môn hoá cao theo loại công nghệ

Trang 16

Từ định hướng phát triển của ngành, mục tiêu cụ thể được đề ra trong

chiến lược tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010 đưọc

trình bày trong bảng 2.7 dưới đây

Bảng 2.7 Mục tiêu ngành dệt may đến năm 2005 và 2010 [6]

triệu SP triệu SP

Để đạt được mục tiêu này, ngành dệt may đã đề ra một chương trình tăng

tốc, dựa trên hai quan điểm sau đây:

• Quan hệ khách hàng - thị trường: tập trung vào đáp ứng nhu cầu của

thị trường

• Quan điểm phát triển: bao ngồm phát triển nguyên liệu phụ liệu cho

ngành may, phát triển rộng khắp ngành may, phát triển theo cụm

công nghiệp dệt, đầu tư trồng bông nguyên liệu, đổi mới phương

pháp kéo sợi, dệt, thiết bị nhuộm hiện đại và đầu tư cho vấn đề môi

trường

Quan điểm tăng tốc của ngành dệt may bao gồm:

• Đa dạng hoá các thành phần kinh tế, huy động mọi nguồn lực trong

nước và quốc tế, coi trọng nguồn lực từ nhân dân lao động, đẩy

mạnh đầu tư nước ngoài để có thể tạo được những bước phát triển

đột biến trong thời gian gắn nhất

• Coi trọng phát triển chiều rộng đi đôi với phát triển chiều sâu Đây là

bước đi quyết định trong giai đoạn 2010 Công nghiệp dẹt cần phát

triển thành từng cụm, nằm trong các khu công nghiệp để tiết kiệm

đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo cơ hội phát triển công nghệ cao

Ngoài ra việc thay thế các thiết bị nỗi thời cần được tiếp tục Đầu tư

thay đổi công nghệ thiết bị lạc hậuđược khuyến khích để tự các

doanh nghiệp thực hiện và hoàn tất vào năm 2005

• Tập trung phát triển các vùng nguyên liệu như bông, tơ tằm, tơ sợi

tổng hợp Cho đến nay Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 90% nhu cầu

Trang 17

nguyên liệu ban đầu cho ngành dệt may Nâng cao tỷ lệ giá trị xuất

xứ nội địa trên sản phẩm dệt may là một yêu cầu bắt buộc của thị

trường nhập khẩu, cũng là mục tiêu của chiến lược tăng tốc nhằm

nâng cao lợi nhuận cho ngành và cho đất nước

• Tăng tốc phát triển bằng việc đầu tư các công nghệ mới nhất, với

thiết bị hiện đại nhằm tạo ra một bước nhảy vọt về chất lượng và sản

lượng Mặt khác cần coi trọng các thiết bị đã qua sử dụng thế hệ từ

năm 1990 trở lại đây

• Đầu tư phát triển dệt may theo hướng chuyên môn hoá cao theo loại

công nghệ Mỗi doanh nghiệp cần thiết phải đi chuyên sâu và làm

chủ một vài công nghệ để tạo ra các mặt hàng mới chất lượng cao

Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp dệt may từ nay đến năm 2010 là

hướng ra xuất khẩu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ, đảm bảo cân đối trả nợ

và tái sản xuất mở rộng các cơ sở sản xuất của ngành, thoả mãn nhu cầu

tiêu dùng trong nước về số lượng, chất lượng, chủng loại và giá cả; từng

bước đưa ngành công nghiệp dệt may Việt Nam trở thành ngành xuất khẩu

mũi nhọn; góp phần tăng trưởng nền kinh tế; giải quyết việc làm; thực hiện

đường lối công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; nâng cao khả năng cạnh

tranh; hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới

Các định hướng cụ thể trên phạm vi cả nước được tóm tắt như sau [5] :

• Đối với ngành dệt bao gồm cả sản xuất nguyên liệu, sợi, dệt, in,

nhuộm hoàn tất:

o Kinh tế nhà nước làm nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo, khuyến

khích các thành phần kinh tế khác tham gia phát triển lĩnh vực

này

o Đầu tư phát triển phải gắn với bảo vệ môi trường

o Tập trung đầu tư trang bị hiện đại, có công nghệ cao, kỹ thuật

tiên tiến, trình độ chuyên môn hóa cao

o Tổ chức lại hệ thống quản lý chất lượng, tạo bước nhảy vọt về

chất lượng

• Đối với ngành may

o Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành

may, nhất là ở các khu vực đông dân cư, nhiều lao động

o Cải tiến hệ thống quản lý sản xuất, quản lý chất lượng, áp dụng

các biện pháp tiết kiệm nhằm tăng nhanh năng suất lao động,

Trang 18

giảm giá thành sản xuất và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm may Việt Nam trên thị trường quốc tế

• Đối với toàn ngành dệt-nhuộm may

o Đẩy mạnh đầu tư nhằm tiến tới tự túc phần lớn nguyên liệu,

vật liệu và phụ liệu thay thế nhập khẩu

o Khuyến khích mọi hình thức đầu tư kể cả đầu tư nước ngoài để

phát triển cơ khí dệt may, tiến tới cung cấp phụ tùng, lắp ráp, chế tạo thiết bị dệt may trong nước

Trang 19

CHƯƠNG 3 QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG VÀ KIỂM TOÁN

NĂNG LƯỢNG TRONG CÔNG NGHIỆP

3.1 Giới thiệu chung

Quản lý năng lượng là một hoạt động có tổ chức, được thiết kế theo một

cấu trúc hợp lý nhằm hướng tới việc sử dụng năng lượng hiệu quả hơn mà

không làm giảm năng suất lao động hoặc ảnh hưởng đến các tiêu chí môi

trường và an toàn lao động Nguyên tắc mấu chốt của công tác quản lý

năng lượng là hiệu quả kinh tế (cost effectiveness): sử dụng năng lượng

hiệu quả chỉ có thể được thực hiện trong giới hạn khi các hoạt động này

được đánh giá theo góc độ thương phẩm và tài chính thông thường, giống

như bất kỳ một hoạt động đầu tư nào Quản lý năng lượng do vậy đòi hỏi

phải được đánh giá khả thi về cả kỹ thuật lẫn kinh tế [7]

Việc xác định chính xác và thực hiện thành công một chương trình quản lý

năng lượng trong công nghiệp đòi hỏi phải có một khuôn khổ hợp lý để

nhận dạng và đánh giá các cơ hội tiết kiệm năng lượng Năng lượng sẽ

không thể được tiết kiệm chừng nào ta chưa biết năng lượng được sử dụng

ở đâu và được sử dụng như thế nào, và ở tại khâu nào và vào thời điểm nào

hiệu suất năng lượng cụ thể được cải thiện Trong hầu hết các trường hợp,

việc xác lập khuôn khổ này đòi hỏi phải tiến hành công tác điều tra đầy đủ

và chi tiết các nguồn sử dụng và tổn hao năng lượng Và việc điều tra thăm

dò này thường được hiểu là hoạt động kiểm toán năng lượng Tuy nhiên,

việc thực hiện kiểm toán năng lượng một cách đơn phương không thể được

xem là một chương trình tiết kiệm năng lượng Một loạt các điều kiện khác

phải được thỏa mãn Đầu tiên, cần phải có ý thức, nhu cầu và mong muốn

tiết kiệm năng lượng Sau đó, các đề xuất / dự án TKHQNL khả thi cần

phải được đánh giá tuân theo các chỉ dẫn tài chính của công ty Tiếp theo là

hoạt động cấp vốn cho việc thực hiện các dự án TKHQNL Và cuối cùng,

cần phải có sự cam kết của các cấp quản lý nhà máy và nhân viên về việc

tiếp tục thực hiện các cố gắng sử dụng năng lượng hiệu quả khi các dự án

kết thúc, bởi vì lợi nhuận kinh tế từ các dự án này có thể sẽ suy giảm rất

nhanh chóng nếu công tác quản lý và vận hành thiết bị hợp lý không được

duy trì liên tục

Do vậy, cần phải được xác định ngay từ đầu ý nghĩa của công tác quản lý

năng lượng trong công nghiệp Mục đích của hoạt động này là nhằm giảm

thiểu lượng năng lượng tiêu thụ trong quá trình sản xuất một số lượng sản

phẩm hoặc cung cấp một dịch vụ đặc biệt được ấn định từ đầu Tiết kiệm

Trang 20

trình sản xuất hoặc cắt bỏ những dịch vụ cung cấp trước đó: nó có nghĩa là

sử dụng các nguồn năng lượng sẵn có một cách hiệu quả hơn

Dưới đây là một vài nguyên lý thường được áp dụng trong công tác quản lý

năng lượng công nghiệp:

• Phương thức và mức độ sử dụng tất cả các dạng năng lượng cần phải

được kiểm tra, xem xét, bao gồm cả tính phù hợp / hợp lý của các quá

trình được sử dụng, kích cỡ của nhà máy và các thiết bị Việc kiểm tra

này cần phải được thực hiện thật chi tiết và được phân định bởi chi phí

năng lượng được sử dụng trong các giai đoạn của một quá trình Đầu

tiên, cần tập trung vào những khối tổ máy vận hành sử dụng nhiều năng

lượng nhất

• Một khâu rất quan trọng trong hoạt động tiết kiệm năng lượng là việc đo

đạc một cách hệ thống / tổng hợp các dòng năng lượng và vật chất trong

phạm vi nhà máy

• Nhằm thực hiện việc đo đạc các dòng năng lượng và vật chất một cách

chính xác, việc sử dụng các thiết bị đo kiểm (xách tay hoặc lắp cố định

tại nhà máy) được chuẩn định và bảo dưỡng thường xuyên là rất cần

thiết Việc đo kiểm chính xác luôn được đòi hỏi trong cả hai trường

hợp: kiểm toán năng lượng và điều khiển tối ưu việc sử dụng năng

lượng trong quá trình vận hành thông thường của nhà máy

• Việc tận dụng các nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất cần phải

được quan tâm, đặc biệt là những nguyên vật liệu có hàm lượng năng

lượng cao như kim loại, kính, giấy, nhựa và các vật liệu chịu nhiệt

• Hoạt động tiết kiệm năng lượng thường được quan tâm đến khía cạnh

cố gắng đạt được công một quá trình biến đổi năng lượng với việc giảm

thấp năng lượng tiêu thụ tại đầu vào, hoặc cố gắng gia tăng công năng

tại đầu ra được thực hiện với một mức năng lượng tiêu thụ cho trước tại

đầu vào Ví dụ, đối với một lò hơi, công năng có ích tối đa sẽ đạt được

tại các thời điểm tại đó nhiệt độ khói lò là thấp nhất, năng lượng thất

thoát dưới dạng nhiệt thải do vậy ở mức tối thiểu

• Mỗi một dự án tiết kiệm năng lượng tiềm năng cần phải được thẩm định

kỹ lưỡng để xác định ảnh hưởng của nó tới tiêu thụ năng lượng và khả

thi về vận hành trong một quá trình sản xuất

• Trong trường hợp sử dụng điện, thời gian tiêu thụ năng lượng có ảnh

hưởng rõ rệt đến giá sản xuất điện năng và lượng năng lượng sơ cấp

được sử dụng

• Tiết kiệm năng lượng có thể đạt được bởi một loạt các cố gắng của tất

cả các cải thiện hiệu suất của các khâu thành phần Đôi khi việc kiểm

tra thật chi tiết và các cải thiện của nhiều khâu / thiết bị sản xuất nhỏ sẽ

Trang 21

góp phần đặc biệt quan trọng vào việc tiết kiệm năng lượng được sử

dụng trong toàn nhà máy

3.2 Quản lý năng lượng toàn bộ (QLNLTB)

Nhằm xếp đặt các hoạt động quản lý năng lượng trong công nghiệp trong

một khuôn khổ có cấu trúc hợp lý, phương pháp tiếp cận QLNLTB luôn

được đề xuất cho tất cả các nhà máy, cơ sở công nghiệp Cấu trúc của một

quá trình quản lý năng lượng toàn bộ được biểu diễn trên hình 3.1

Hình 3.1 Cấu trúc của một quá trình quản lý năng lượng toàn bộ [8]

Như đã trình bày ở trên, nhận thức về TKHQNL có một ý nghĩa đặc biệt

quan trọng trong công tác quản lý năng lượng Trong hầu hết các xí nghiệp

công nghiệp, các nhân viên kỹ thuật và công nhân vận hành thường chỉ

quan tâm đến các hệ thống, thiết bị năng lượng do mình quản lý, vận hành

có hoạt động hay không (ON-OFF status), để đảm bảo quy trình sản xuất

của xí nghiệp mà không biết chính xác đặc tính vận hành của hệ thống,

thiết bị cũng như các chi phí nguyên vật liệu và nhiên liệu cho từng hệ

thống thiết bị đó Thực tế này xuất phát từ 2 nguyên nhân sau đây:

- Hiện trạng phân cấp quản lý trong xí nghiệp: Các số liệu về chi phí năng

lượng (than, dầu, khí, điện, nước, v.v) thường do bộ phận kế toán – tài

vụ của xí nghiệp lưu trữ, và chỉ được thông báo đến cấp lãnh đạo cao

nhất của xí nghiệp;

Nhận thức về TKNL Cam kết của lãnh đạo Kiểm toán năng lượng sơ bộ Kiểm toán năng lượng chi tiết:

Thực hiện các giải pháp TKNL không chi phí, chi phí thấp

Theo dõi,

đánh giá

Tiến hành nghiên cứu khả thi các dự

án đầu tư lớn chính Tài Mua sắm thiết bị dựng Xây nghiệm thu Chạy thử,

Đặt các mức

chuẩn mới

(benchmark)

Trang 22

- Hiện trạng sản xuất trong xí nghiệp: hầu hết các thiết bị-hệ thống năng

lượng (đặc biệt là hệ thống thiết bị nhiệt) thường không được trang bị

đầy đủ các đồng hồ đo kiểm tại chỗ hoặc các thiết bị đo kiểm này không

được kiểm định định kỳ hoặc không hoạt động

Cam kết của lãnh đạo về việc thực hiện các hoạt động TKHQNL có thể

được cụ thể hóa bằng các bước cụ thể sau đây:

• Lựa chọn và xác lập một tiểu ban tiết kiệm năng lượng tại cơ sở sản

xuất và chỉ định một điều phối viên hoặc lãnh đạo của tiểu ban, chịu

trách nhiệm về chương trình QLNLTB

• Xác lập các tiêu chí tiết kiệm năng lượng cho công ty hoặc cho từng

phân xưởng sản xuất (ví dụ, cần phải tiết kiệm hàng năm 5% năng

lượng sử dụng cho 3-5 năm tới)

• Cam kết tài trợ (nhân lực, tiền) cho chương trình QLNLTB

• Thông báo chương trình QLNLTB trong và ngoài phạm vi nhà máy/xí

nghiệp, kêu gọi và tập hợp quần chúng tham gia và thúc đẩy các kết quả

thành công của chương trình

Thực tế cho thấy, nếu không có quan tâm tích cực tới công tác quản lý

năng lượng, khó có thể đạt được các lợi nhuận từ các hoạt động tiết kiệm

năng lượng, và việc hỗ trợ tài chính cho các hoạt động trong tương lai do

vậy là không khả thi

Đào tạo về hiệu quả năng lượng đóng vai trò quan trọng đối với hầu hết các

xí nghiệp công nghiệp tại đó các nhân viên-nguồn nhân lực của nhà máy,

thường không ý thức được chi phí do tổn hao năng lượng Chương trình

đào tạo có thể bao trùm các lĩnh vực-nội dung sau đây:

• Đào tạo kỹ sư về kỹ năng nhận dạng và phân tích các công nghệ

TKHQNL

• Đào tạo nhân viên bảo dưỡng về lịch trình và kỹ năng bảo dưỡng thiết

bị định kỳ

• Đào tạo nhân viên vận hành để vận hành tối ưu các thiết bị về phương

diện hiệu quả năng lượng và năng suất sản xuất

• Đào tạo các nhân viên của nhà máy nhằm nâng cao nhận thức tiết kiệm

năng lượng, ví dụ tắt đèn và hệ thống – thiết bị điều hòa không khí khi

hết giờ làm việc và khi không cần thiết

3.3 Kiểm toán năng lượng

Trang 23

a) Mục đích của kiểm toán năng lượng

Một quá trình quản lý năng lượng hữu hiệu / hiệu quả phải được dựa trên

các mục tiêu được thể hiện bằng con số và cần phải nhận dạng một cách

chi tiết các hoạt động cần thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đề ra Để

xây dựng một chương trình quản lý năng lượng tại một nhà máy, ban đầu

cần thiết phải xác định một cách chính xác các dạng năng lượng và định

lượng được chúng trong mỗi một giai đoạn của quá trình sản xuất Cũng

cần thiết phải xác lập các thủ tục ghi chép các chỉ số tiêu thụ năng lượng

một cách hệ thống và liên tục Việc thu thập số liệu sẽ được thực hiện, theo

sau đó là việc phân tích thông tin và nhận dạng các hoạt động tiết kiệm

năng lượng mà nhà máy cần thực hiện Tổ hợp các bước thu thập và phân

tích số liệu, xác định các cơ hội TKNL được gọi là kiểm toán năng lượng

(energy audit)

Hoạt động kiểm toán năng lượng tại một xí nghiệp sản xuất là một cơ hội

tốt nhằm nâng cao ý thức tiết kiệm năng lượng của các nhân viên tại nhà

máy và được coi là bước khởi điểm của chương trình đào tạo tiết kiệm

năng lượng được thiết kế một cách chính tắc / hợp pháp

b) Phân loại kiểm toán năng lượng

Như đã nêu ở phần trên, kiểm toán năng lượng có thể chỉ đơn giản là thu

thập số liệu hoặc có thể là một hoạt động kiểm tra đánh giá rất chi tiết các

số liệu hiện tại cùng với các kết quả thử nghiệm đặc thù được thiết lập để

cung cấp các số liệu mới Thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán năng

lượng phụ thuộc vào i) kích cỡ và kiểu loại các hệ thống thiết bị đang được

sử dụng tại nhà máy và, ii) mục tiêu của công tác kiểm toán

Kiểm toán năng lượng sơ bộ (KTSB)

Bước điều tra ban đầu hay còn gọi là kiểm toỏn năng lượng sơ bộ (KTSB)

có thể được thực hiện với khoảng thời gian ngắn (khoảng 1-2 ngày cho một

nhà máy đơn giản) Đối với các nhà máy phức tạp, thời gian để thực hiện

KTSB có thể dài hơn nhiều Như được biểu diễn trên hình 3.2, KTSB cung

cấp cho công tác quản lý năng lượng tổng quan về các kiểu mẫu sử dụng

năng lượng và chi phí năng lượng Nó cung cấp chỉ dẫn cho việc thiết lập

một hệ thống tính toán năng lượng, cung cấp thông tin cho các nhân viên

của nhà máy những triển vọng tiết kiệm năng lượng về thiết bị và vận hành

của nhà máy Trong quá trình thực hiện KTSB, một vài biện pháp TKNL

có thể được nhận dạng

Trang 24

KTSB bao gồm 2 phần: i) điều tra về quản lý năng lượng trong đó kiểm

toán viên có nhiệm vụ tìm hiểu các hoạt động quản lý năng lượng hiện

hành và các tiêu chuẩn quyết định đầu tư có ảnh hưởng tới các dự án

TKNL và, ii) điều tra về kỹ thuật năng lượng

Hình 3 2 Mô hình kiểm toán năng lượng sơ bộ (KTSB) [8,9]

Phần kỹ thuật của KTSB sẽ tóm tắt ngắn gọn điều kiện và chế độ vận hành

của các thiết bị sử dụng năng lượng chính (lò hơi, hệ thống cung cấp hơi,

động cơ điện, v.v) và hệ thống đo kiểm có liên quan đến hiệu suất năng

lượng KTSB sẽ được thực hiện với một số lượng tối thiểu các thiết bị đo

cầm tay và kiểm toán viên sẽ dựa vào kinh nghiệm của mình để thu thập

các số liệu cần thiết hoặc quan sát để có thể kiểm tra một cách nhanh chóng

tình trạng sử dụng năng lượng tại nhà máy KTSB do vậy rất cần thiết để

nhận dạng các nguồn tiêu phí năng lượng dễ cảm nhận được đồng thời cho

phép đề xuất tức thời các biện pháp đơn giản sẽ được thực hiện nhằm cải

thiện hiệu suất năng lượng trong giai đoạn trước mắt / ngắn hạn Ví dụ về

các biện pháp dễ nhận dạng là không có hoặc hỏng bảo ôn, rò rỉ hơi hoặc

khí nén, hệ thống/thiết bị đo kiểm không làm việc, không có hệ thống/cơ

cấu điều chỉnh tỷ lệ nhiên liệu/không khí cháy trong các thiết bị nung đốt

KTSB cũng chỉ ra những khiếm khuyết trong công tác thu thập và xử lý số

liệu, và những khu vực tại đó công tác quản lý cần phải được tăng cường

Kết quả của KTSB là một tập các nhận xét / đề xuất thực hiện các giải pháp

trước mắt, có chi phí thấp và, thông thường, luôn kèm theo đề xuất về một

Chuẩn bị và tổ chức kiểm toán

Trang 25

hoạt động kiểm toán đầy đủ và cẩn thận hơn đối với một vài khu vực được

lựa chọn của nhà máy

Kiểm toán năng lượng chi tiết (KTCT)

Kiểm toán năng lượng chi tiết thường được thực hiện tiếp sau KTSB và các

hoạt động cần được tiến hành chủ yếu dựa vào các kết quả ban đầu thu

nhận được từ KTSB KTCT bao gồm các bước đo kiểm với một số lượng

lớn các thông số vận hành của nhà máy và hiệu suất của các thiết bị, và bao

gồm cả việc tính toán cân bằng năng lượng tại những khu vực khác nhau

của nhà máy, như được trình bày trên hình 3.3 Kết quả của KTCT thường

là những đề xuất rất đặc trưng và chi tiết nhằm tiết kiệm năng lượng, kèm

theo các phân tích tài chính biểu thị mức độ hiệu quả về chi phí sản xuất

Trong những điều kiện thích hợp, đề xuất thay đổi quy trình vận hành và

các thủ tục bảo dưỡng có thể được thực hiện, vì thông thường những đề

xuất này thường không đòi hỏi hoặc đòi hỏi đầu tư ít để thực hiện

Hình 3.3 Mô hình kiểm toán năng lượng chi tiết [8,9]

Phân tích cặn kẽ mọi khía

cạnh năng lượng

Thực hiện các đợt đo

cụ thể

Cân bằng năng lượng chi tiết

Xây dựng đường cơ sở – base line

Nhận dạng và đề xuất các giải phỏp TKHQNL

Xây dựng phương án thay thế - Alternative

Chương trình hành động

hiện

Trang 26

Phụ thuộc vào bản chất và tính phức tạp của nhà máy, KTCT có thể mất

vài tuần lễ Ngoài việc thu thập các số liệu hiện có của nhà máy, có thể

phải sử dụng các thiết bị đo cầm tay để xác định một vài thông số vận hành

quan trọng và để trợ giúp cho nhóm kiểm toán trong việc thực hiện các cân

bằng năng lượng và vật chất của hầu hết các thiết bị chính có trong nhà

máy Các kiểm tra thực tế được thực hiện và các thiết bị đo cần thiết phụ

thuộc vào dạng của thiết bị, máy móc được xem xét và nghiên cứu và mục

đích, phạm vi, cấp độ tài trợ cho chương trình quản lý năng lượng Các

dạng chạy thử (test) được thực hiện trong KTCT bao gồm kiểm tra hiệu

suất cháy và đo kiểm nhiệt độ và lưu lượng không khí của các thiết bị

chính sử dụng nhiên liệu, xác định sự suy giảm của hệ số công suất gây ra

bởi các thiết bị điện được lấp đặt riêng rẽ, và kiểm tra các hệ thống sản

xuất vận hành trong dải vận hành thực tế

Sau khi nhận được các kết quả kiểm tra, kiểm toán viên sẽ xây dựng các

cân bằng năng lượng, vật chất, đầu tiên cho mỗi một thiết bị cần kiểm tra,

sau đó là cho toàn bộ nhà máy Với những cân bằng này, kiểm toán viên có

thể xác định được i) mức độ vận hành hiệu quả của từng thiết bị và ii) các

khu vực tại đó tồn tại cơ hội giảm tiêu thụ năng lượng Tiếp theo, kiểm

toán viên sẽ kiểm tra từng cơ hội một cách chi tiết, xác định các chi phí và

lợi nhuận đối với các giải pháp lựa chọn Trong một vài trường hợp, kiểm

toán viên không thể đề xuất một đầu tư cụ thể vì :i) mức độ đầu tư có thể

quá lớn và ii) không thể xét hết những rủi ro có liên quan Trong trường

hợp này, kiểm toán viên sẽ đề xuất các nghiên cứu khả thi cụ thể (ví dụ

thay thế lò hơi, cải tạo buồng đốt, thay thế hệ thống cung cấp-phân phối

hơi, thay đổi quá trình công nghệ, v.v) KTCT sẽ dừng lại ở điểm này Kết

quả cuối cùng của KTCT là một báo cáo chi tiết trình bày các đề xuất cùng

với các chi phí lợi nhuận có liên quan, và hiển nhiên, là chương trình hành

động

Khó mà có thể tổng quát hoá kích cỡ tiềm năng tiết kiệm nếu chỉ thông qua

công tác kiểm toán năng lượng Dù sao, việc tiết kiệm bao giờ cũng có

tiềm năng đáng kể, dù chỉ từ công tác kiểm toán đơn giản nhất Thông

thường, KTSB có thể nhận dạng được các biện pháp tiết kiệm được 10%

tổng năng lượng tiêu thụ chủ yếu thông qua các biện pháp quản lý nội vi

trong một nhà máy điển hình, hoặc từ các giải pháp đòi hỏi vốn đầu tư

thấp KTCT thường dẫn đến các giải pháp TKHQNL cho phộp tiết kiệm

khoảng 20% hoặc hơn nữa trong khuôn khổ trung và dài hạn

c) Quy trình kiểm toán năng lượng

Trang 27

Quy trình kiểm toán năng lượng được áp dụng thường thay đổi phụ thuộc

vào phạm vi của công tác kiểm toán được đề xuất, kích cỡ và kiểu loại của

các thiết bị cần kiểm toán Thông thường, công tác kiểm toán được thực

hiện theo các bước sau đây, với điều tra sơ bộ được tiến hành đối vời

KTSB

Bước 1: Lập kế hoạch cho toàn bộ dự án, bao gồm việc xác lập cấc mục

đích kiểm toán, phân chia nhà máy thành các phòng ban / bộ phận hoạt

động hoặc các trung tâm hạch toán riêng, (nếu thấy phù hợp), lựa chọn các

thành viên cho đội kiểm toán, giao nhiệm vụ, liệt kê và liên kết / kết nối

các thiết bị đo kiểm cần thiết

Bước 2: Thu thập các số liệu cơ bản về sản xuất và tiêu thụ năng lượng từ

các phòng ban / trung tâm hạch toán, sử dụng các bảng ghi chép (form,

worksheet) chuẩn

Bước 3: Thực hiện các vận hành thử nghiệm để thu thập thêm các thông tin

/ số liệu về đặc tính vận hành của các thiết bị chuyên dụng, các phân xưởng

riêng Tại một vài cơ sở, có thể cần thiết phải bố trí thêm các điểm lấy mẫu

hoặc các vị trí đo

Bước 4: Tính toán cân bằng năng lượng và hiệu suất

Bước 5: Nhận dạng các thủ tục quản lý năng lượng cần được cải thiện, xác

định tiềm năng tiết kiệm nếu thấy phù hợp

Bước 6: Nhận dạng các thủ tục vận hành và bảo dưỡng cần được cải thiện,

xác định tiết kiệm năng lượng có thể nhận được, phân công trách nhiệm

cho từng cá nhân cụ thể để thực hiện các biện pháp có giá trị

Bước 7: Nhận dạng các cải thiện có chi phí nhỏ, xác định chi phí thực hiện,

tính toán tiềm năng tiết kiệm năng lượng, chuẩn bị các bước thực hiện các

đầu tư tài chính hấp dẫn (cần phải nhận dạng rõ ai sẽ làm cái gì và khi nào

làm)

Bước 8: Nhận dạng các cải thiện có chi phí lớn, xác định chi phí, tính toán

tiềm năng tiết kiệm năng lượng, chuẩn bị các bước thực hiện chi tiết đối

với các giải pháp có thời gian hoàn vốn hấp dẫn (như đối với bước 7)

Bước 9: Chuẩn bị báo cáo cho ban quản lý nhà máy, tóm tắt lại những thực

tế và những đề xuất của công tác kiểm toán, bao gồm tất cả các số liệu thu

Trang 28

thập được, và những thông tin về thủ tục phương pháp được sử dụng trong

các mục lục kỹ thuật Báo cáo còn có thể có cả những đề xuất cho các đích

/ tiêu chí cải thiện hiệu suất năng lượng, trên cơ sở các số liệu thu thập

được trong quá trình kiểm toán và phân tích, và cần phải nhận dạng một

chương trình hành động rõ ràng để thực hiện

Trong việc thực hiện các bước nêu trên, cần lưu ý các điểm dưới đây:

• Lập kế hoạch cho dự án về bản chất là xác lập khuôn khổ thực hiện cho

các hoạt động kiểm toán năng lượng, và không thể xem nhẹ tầm quan

trọng của bước này Một điều kiện bắt buộc là các kế hoạch cụ thể phải

được chuẩn bị để giao nhiệm vụ và quy định các yêu cầu và thời gian

thực hiện công việc đối với tất cả các cá nhân và các bên liên quan

Công tác lập kế hoạch bao gồm:

 Xác định mục đích và giới hạn phạm vi của công việc (kiểm toán năng

lượng có thể là KTSB, KTCT hoặc là công việc kiểm toán định kỳ hàng

năm, nó có thể được thực hiện nhằm nhận dạng các nguồn phế thải dễ

nhận biết hoặc để phân tích các cải tạo hệ thống cụ thể, nó có thể được

thực hiện để xây dựng các tiêu chuẩn hoặc đề ra các tiêu chí tiết kiệm)

 Phân chia nhà máy thành các phân xưởng / bộ phận nhỏ (thông thường,

ta luôn mong muốn thiết lập một hệ thống tính toán chi phí năng lượng

và cỏc tiêu chuẩn năng lượng trên cơ sở các trung tâm tự trả tiền tiêu

thụ năng lượng, chúng là những phần tử nhỏ bé nhất của nhà máy như

một phân xưởng, một quá trình chế biến, một tòa nhà, v.v, mà ta có thể

đo đếm được các nguồn năng lượng cung cấp đầu vào và năng lượng

hữu ích hoặc tiêu phí tại từng phần tử đó

 Giao nhiệm vụ điều tra và phân tích : các thành viên của đội kiểm toán

sẽ có nhiệm vụ thu thập và phân tích các số liệu thông tin hiện có tại

nhà máy, tham quan nhà máy để thực hiện các thử nghiệm với các thiết

bị cầm tay, để tính toán cân bằng năng lượng và hiệu suất, để nhận dạng

và phân tích các cơ hội tiết kiệm năng lượng, và để chuẩn bị báo cáo

cuối cùng

• Kiểm toán năng lượng thường đòi hỏi việc thu thập các số liệu năng

lượng khác nhau và các số liệu sản xuất liên quan Mục đích cơ bản của

việc thu thập số liệu là để xác định lượng năng lượng cung cấp cho nhà

máy và sau đó năng lượng hữu ích sẽ được cấp đến đâu Các số liệu cơ

sở thường được thu thập là:

Trang 29

 Sơ đồ khối quy trình sản xuất

 Tiêu thụ năng lượng theo loại năng lượng, theo phân xưởng, theo các

thiết bị chính của máy sản xuất, và theo hộ tiêu thụ cuối cùng (ví dụ

chiếu sáng, nhiệt quá trình, v.v)

 Số liệu về cân bằng vật chất (vật liệu thụ, sản phẩm trung gian và cuối

cùng, tận dụng các sản phẩm phế thải, sản xuất các sản phẩm phụ để sử

dụng lại)

 Chi phí năng lượng và các thông số về giá năng lượng

 Số liệu về việc cung cấp các dịch vụ phụ / ngoại vi như nước làm mát,

khí nén, hơi,v.v

 Các nguồn cung cấp năng lượng (điện từ lưới điện, hoặc tự sản xuất

thông qua hệ thống đồng phát – cogeneration)

 Các bước quản lý năng lượng và chương trình đào tạo về nhận thức

năng lượng trong phạm vi nhà máy

• Các thông tin nêu trên thông thường có thể thu nhận được thông qua các

cuộc phỏng vấn các giới chức quản lý, cán bộ quản lý năng lượng của

nhà máy, các kỹ sư tại nhà máy, cán bộ tài vụ, và những người quản lý

vận hành và bảo dưỡng thiết bị sản xuất

Việc thu thập các số liệu được thực hiện nhờ các form và bảng câu hỏi

chuẩn Các form được sử dụng để thu thập số liệu sẽ phụ thuộc vào bản

chất của công tác kiểm toán năng lượng, bản chất của cơ sở công

nghiệp, mức độ đo kiểm trong từng phân xưởng, v.v

• Cần đặc biệt lưu ý khi nhà máy tự sản xuất điện năng: lượng điện năng

sản xuất được từ nhà máy cần phải được phân biệt rõ rệt từ lượng điện

năng mua từ lưới điện (để tránh khả năng tính hai lần năng lượng tiêu

thụ)

• Các giá trị vận hành của nhà máy thường được ghi chép hàng tháng

Mặc dù hầu hết các phân tích ban đầu có thể phải dựa trên số liệu hàng

năm, cần phải lưu ý đến sự thay đổi về sử dụng năng lượng theo mùa

trên 1 đơn vị sản phẩm đầu ra, hoặc sự thay đổi về sử dụng năng lượng

theo lượng sản phẩm đầu ra của nhà máy Cả hai loại phân tích này đều

yêu cầu phải thu thập số liệu trên cơ sở hàng tháng, thậm chí hàng tuần,

hàng ngày

d) Các cơ hội – biện pháp tiết kiệm năng lượng

Trang 30

Theo quan điểm tiết kiệm năng lượng, có thể phân chia thành 3 loại hình

chính:

i) Các biện pháp quản lý nội vi

Những biện pháp này còn được xem là các biện pháp không chi phí hoặc

chi phí thấp, cho phép cải thiện hiệu suất vận hành của các quá trình và

thiết bị hiện đang sử dụng mà không cần phải đầu tư hoặc đầu tư nhỏ Các

biện pháp này thường hiệu quả trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng

nếu thiếu sự quan tâm lưu ý tới những biện pháp thậm chí là rất đơn giản

này có thể dẫn tới tổn hao năng lượng rất lớn Ví dụ cho những biện pháp

này là : công tác theo dõi tiêu thụ năng lượng, điều chỉnh khống chế hợp lý

nhiệt độ vận hành, bảo dưỡng thường xuyên và cải thiện lịch trình vận

hành, loại bỏ các rò rỉ, thất thoát năng lượng, vật liệu

ii) Các biện pháp đòi hỏi có đầu tư nhỏ

Có thể có những thay đổi khá đơn giản đối với nhà máy hoặc thiết bị thông

qua đó có thể tiết kiệm được năng lượng trong điều kiện ngắn hạn và trung

hạn Ví dụ về các biện pháp thuộc loại này là bảo ôn thích hợp các đường

ống, cải thiện các hệ thống đo kiểm và điều khiển, thu hồi nước ngưng, lẵp

đặt thêm các thiết bị trao đổi nhiệt, gia nhiệt không khí cháy, cải thiện hệ

số phụ tải, sử dụng hệ thống chiếu sáng hiệu suất cao

iii) Các biện pháp cần đầu tư lớn

Các biện pháp này bao gồm các hoạt động thay thế biến đổi đáng kể tại nhà

máy bằng cách sử dụng các công nghệ hiệu suất cao tiên tiến, với tiết kiệm

năng lượng có thể đạt được theo thang độ trung hạn và dài hạn, ví dụ như

thay thế lò hơi, thay thế các thiết bị sản xuất, thay đổi quá trình sản xuất

trong nhà máy

Dựa trên các kết quả thu nhận được từ KTSB và KTCT, công tác quản lý

năng lượng tại nhà máy cần thiết phải đặt ra các tiêu chí định lượng rõ rệt

cho việc cải thiện hiệu suất năng lượng Đây có thể là những thách thức

nhưng có thể đạt được Thông thường, các nhân viên của nhà máy có thể

tham gia vào quá trình thiết lập các tiêu chí Các tiêu chí này có thể thay

đổi theo thời gian Quá trình quan trắc, theo dõi luôn hướng tới tiêu chí

mới cần phải được thực hiện thông qua các thủ tục tính toán và báo cáo

thường xuyên, định kỳ được thiết lập như là một bộ phận của quá trình

QLNLTB

Trang 31

Ngay sau khi thực hiện các biện pháp không chi phí hoặc có chi phí đầu tư

thấp, cần phải lưu ý đến các biện pháp đòi hỏi vốn đầu tư Khi đòi hỏi đầu

tư là lớn hoặc cần phải kiểm tra một cách chi tiết các điều kiện vận hành

trong một khoảng thời gian dài, thông thường phải tiến hành nghiên cứu

khả thi

Theo quan điểm QLNLTB, ta cũng cần phải nhận dạng và tính đến các lợi

nhuận có thể đạt được từ việc đầu tư trong tình trạng thực tại của nhà máy

sau khi thực hiện các biện pháp không chi phí hoặc có chi phí thấp Ví dụ,

lợi nhuận do điều chỉnh tự động hàm lượng ô-xy trong lò hơi cần phải dựa

trên những cải thiện ở mức cao hơn so với chế độ vận hành tốt nhất có thể

đạt được từ việc khống chế hàm lượng ô-xy bằng tay, và việc kiểm tra mẫu

khói luôn phải được thực hiện hàng ngày Lợi nhuận không thể dựa trên

điều kiện vận hành hiện tại tại đó việc khống chế hệ số không khí thừa là

không được quan tâm Do vậy, nghiên cứu khả thi cần phải nhìn nhận rõ

một điều là : một vài biện pháp cần phải được chấp nhận trước khi thực

hiện một biện pháp đặc thù đang được quan tâm và những lợi nhuận này có

thể được tính toán dựa trên một đường biên giả định hoặc đường biên biểu

thị điều kiện vận hành trong tương lai Do vậy, việc đánh giá ảnh hưởng

của biện pháp được đề xuất sau khi thực hiện sẽ trở nên không hiện thực

nếu không thực hiện các biện pháp không chi phí hoặc có chi phí thấp

Khi đã thuyết phục được các nhà quản lý về các biện pháp cần đầu tư, hỗ

trợ tài chính cần phải nhận được, thiết bị cần phải được mua và dự án sẽ

được thực hiện-triển khai tại nhà máy

Bước cuối cùng là theo dõi và đánh giá ảnh hưởng của chương trình tiết

kiệm năng lượng cần phải được thực hiện thông qua hệ thống tính toán

năng lượng tại nhà máy Nếu cần thiết, các thủ tục theo dõi đánh giá có thể

phải được điều chỉnh để có thể phân tích tốt hơn ảnh hưởng của một vài

biện pháp tiết kiệm nào đó Kết quả nhận được từ chương trình quản lý nội

vi và từ các hoạt động đầu tư vốn cần phải được đánh giá và đối với các dự

án đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn thực cần phải được so sánh với thời gian

hoàn vốn tính toán ban đầu Công tác theo dõi đánh giá do vậy cho phộp

đánh giá đúng đắn chương trình QLNLTB và chỉ ra những khu vực cần

phải được tiếp tục quan tâm Cuối cùng, việc giám sát sẽ chỉ ra cho các nhà

quản lý khi nào thì tiến hành KTSB hoặc một phần của KTCT tại một khu

vực / bộ phận sản xuất nào đó, và nhận dạng những cơ hội tiết kiệm năng

lượng hoặc cập nhật các cơ hội đã được nhận dạng từ trước và có thể được

thực hiện với hiệu quả kinh tế hiện tại tốt hơn

Trang 32

Một cách vắn tắt, hoạt động theo dõi, đánh giá bao gồm:

• Theo dõi / ghi chép chi phí năng lượng và các số liệu tiêu thụ năng

lượng từ một hệ thống tính toán năng lượng

• Giám sát chi phí và lợi nhuận của các giải pháp đã được thực hiện

• Giám sát xu hướng ngắn và trung hạn trong các kiểu / khuôn mẫu sử

dụng cường độ năng lượng

• Đánh giá tiến độ của chương trình QLNLTB so với các tiêu chí đã được

đặt ra

• Đánh giá nhu cầu, đặt lại hoặc xác định các tiêu chí mới (benchmark)

• Kiểm tra xem chương trình vẫn được tiếp tục thực hiện hoặc đú bắt đầu

có dấu hiệu ngừng trệ

Định kỳ, các hoạt động kiểm toán lại được lặp lại, và quá trình nhận dạng

các giải pháp tiết kiệm năng lượng và thực hiện giải pháp có hiệu quả kinh

tế được lặp đi lặp lại Điều này có thể xảy ra định kỳ hàng năm Do vậy,

các tiêu chí tiết kiệm năng lượng cho một nhà máy có thể được đề xuất /

đặt lại cho từng năm nhằm thúc đẩy tốc độ cải thiện một cách ổn định bởi

vì khi các hoạt động đầu tư được thực thi, ngày càng có nhiều nhân viên

được đào tạo và trở nên có ý thức hơn về nhu cầu cắt giảm chi phí năng

lượng

Trên cơ sở mô hình chung đã nêu, các hoạt động kiểm toán năng lượng

( Sơ bộ, chi tiết ) được ứng dụng cụ thể trong ngành dệt may và tại một cơ

sở điển hình được trình bày trong chương 5 và chương 6

Trang 33

CHƯƠNG 4 QUY TRÌNH SẢN XUẤT CỦA NGÀNH DỆT MAY

Mô tả công nghệ các quá trình sản xuất

4.1 Phân xưởng kéo sợi

Phân xưởng sợi là một trong hai phân xưởng chính của các công ty

dệt Nguyên liệu đầu vào của phân xưởng là bông, được mua từ 2

nguồn : trong nước và nhập từ nước ngoài

Lưu đồ công nghệ của phân xưởng được thể hiện bằng hình sau:

` Hình 4.1: Mô hình công nghệ phân xưởng sợi

Các thiết bị chính:

- Máy chải

- Máy ghép

- Máy kéo sợi thô

- Máy kéo sợi con

- Máy đánh ống

- Đóng gói

Hệ thống cung bông

Tại phân xưởng sợi có lắp đặt hệ thống cung bông mà cơ đồ công nghệ

của nó được thể hiện trong hình vẽ dưới đây:

Hình 4.2: Mô hình công nghệ của hệ thống cung bông

Bông Cung bông Chải Ghép

Trang 34

Trong quá trình kiểm toán tại hệ thống này, chúng ta cần chú ý đến máy

lọc bụi cung bông ( ở công ty dệt 19-5 có ký hiệu là FU032020/34) Máy

lọc bụi này được thiết kế để sử dụng cho một hệ thống lọc bụi của tất cả

các máy Tuy nhiên tại một thời điểm ít khi tất cả các máy đều hoạt động,

do đó nhiều lúc động cơ của máy lọc bụi cung bông chạy non tải

4.2 Phân xưởng dệt vải

Phân xưởng dệt có nguyên liệu đầu vào là sợi, chính là thành phẩm của

phân xưởng sợi

Để dệt được vảI thì từ sợi đơn phảI qua khâu đậu, sau đó qua se ngang và

se dọc để tạo nên hai loại sợi : Sợi ngang và sợi dọc Lưu đồ công nghệ

được thẻ hiên ở hình sau:

Hình 4.3: Mô hình công nghệ phân xưởng dệt

Khí nén cấp cho toàn bộ nhà máy từ một trạm nén khí Tại công ty dệt

19/5 được trang bị một trạm khí nén có 3 máy nén khí Khí nén từ trạm

đến các phân xưởng thông qua hệ thống đường ống áp lực

Sơ đồ hệ thống được thể hiện ở hình vẽ sau :

Đậu sợi Se dọc Đánh ống Mắc sợi

Trang 35

Hình 4.4: Sơ đồ hệ thống phân phối khí nén

Máy nén 1 Máy nén 2 Máy nén 3

Rơ le

áp suất

Hình 4.5 Sơ đồ nguyên lý của hệ thống khí nén

4.4 Hệ thống chiếu sáng

- Hệ thống chiếu sáng cho các phân xưởng dệt, may thêu

- Hệ thống chiếu sáng cho văn phòng

Nhà máy dệt sử dụng chủ yếu đèn huỳnh quang, gồm hai loại : Loại công

suất 40W và loại 36W để chiếu sáng Như tại nhà máy dệt 19/5 có tổng

số 900 bóng, thời gian sử dụng đèn ở các phân xưởng tương đối lớn

P= 4 – 6 bar

Trang 36

4.5 Hệ thống điều hòa không khí

- Hệ thống điều hòa không khí cho phân xưởng dệt

- Hệ thống điều hòa không khí cho phân xưởng may thêu

Trang 37

CHƯƠNG 5 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ TIẾT KIỆM

NĂNG LƯỢNG TẠI CTY DỆT 19/5

5.1 PHÂN TÍCH CUNG CẤP VÀ TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG

Giá mua điện của Công ty được áp dụng theo hình thức ba giá tính

theo thời gian trong ngày: giá thông thường, cao điểm và thấp điểm Bảng

5.1 trình bày giá điện và thời điểm áp dụng các biểu giá điện cho công ty

trong giai đoạn 2004-2007:

Bảng B 5.1: Giá mua điện của Công ty Dệt 19/5 trong giai đoạn 2004-2007

dụng theo giờ

Với cơ cấu giá điện như vậy , cùng với việc sản lượng tiêu thụ điện

tăng lên qua các năm, nên chi phí chi trả cho điện năng của Công ty Dệt

19/5 chiếm một tỉ lệ đáng kể và ngày càng tăng thêm Dự kiến trong năm

2007 và các năm tiếp theo chỉ phí tiền điện sẽ còn tăng thêm Như vậy việc

tiết kiệm năng lượng là một vấn đề đang cần phải tìm phương án giải quyết

Trang 38

Bảng B 5.3: Lượng điện tiêu thụ của Công ty Dệt 19/5 trong năm 2006

Như vậy, một năm Công ty Dệt 19/5 phải chi trả hơn 6 tỷ đồng tiền

điện phục vụ cho sản xuất tại các dây chuyền đặt tại Hà Nội Tại thời điểm

thông thường, các thiết bị của công ty tiêu thụ khoảng 58.38% tổng số điện

tiêu thụ trong năm Trong giờ cao điểm, tỷ lệ điện tiêu thụ chiếm 16.42%

và giờ thấp điểm là 25.20% Như vậy, tại thời điểm thông thường, năng

lượng điện tiêu thụ tại công ty là lớn Do giá điện cao và sản lượng tiêu thụ

ngày càng tăng, nên công ty đã áp dụng nhiều biện pháp để chuyển sử dụng

điện vào giờ thấp điểm nhiều hơn

Trang 39

Biểu đồ tiêu thụ điện tại các thời điểm

Từ biểu đồ trên ta thấy lượng điện năng tiêu thụ vào giờ cao điểm vẫn

còn là con số có thể tiết kiệm được đề nghị công ty xem xét nhằm có thể

tiết kiệm hơn nữa

Biểu đồ phụ tải các thời điểm Dệt 19/5 năm 2006

50.000

g 3 Thán

g 5 Thán

g 7 Thán

g 9 Thán

Hình H5.1: Biểu đồ phụ tải điện theo các thời điểm tiêu thụ năm 2006

Kwh tiêu thụ các tháng của Dệt 19/5 năm 2006

100.000

g 3 Thán

g 5 Thán

g 7 Thán

g 9 Thán

Trang 40

Qua đồ thị trên, ta nhận thấy sản lượng điện tiêu thụ các tháng trong

năm không đều nhau: trong các tháng 9, 10 và 11 thường tăng cao dẫn đến

chi phí năng lượng vào các tháng này có thể lên tới 618 triệu đồng cho

riêng địa điểm tại 203 Nguyễn Huy Tưởng - Thanh Xuân - Hà Nội Đó là

do cơ cấu sản phẩm thay đổi theo mùa, nhu cầu về các mặt hàng như: sợi,

vải cho mùa đông tăng nên công ty sản xuất nhiều hơn vào các tháng

này Ngoài ra, điện năng cung cấp cho các hệ thống điều hòa và chiếu sáng

thay đổi theo nhiệt độ, theo mùa và độ sáng của môi trường, cho nên tiền

điện các tháng là không đều nhau Vào mùa đông, thời tiết lạnh nên hệ

thống điều hòa hoạt động với tần suất thấp hoặc không hoạt động, tiêu thụ

ít năng lượng điện hơn, vì thế lượng tiêu thường giảm vào các tháng 12 tới

tháng 2 Biểu đồ tổng hợp lượng điện các tháng và các thời điểm năm 2006

dưới đây cho thấy sản lượng tiêu thụ điện vào các giờ có nhiệt độ cao (từ 4

đến 18h) thường tăng cao trong các tháng mùa hè:

Biểu đồ phụ tải dạng line Dệt 19/5 năm 2006

Hình H5.3: Biểu đồ sản lượng điện tiêu thụ năm 2006 dạng line

Kết luận: Công ty Dệt 19/5 qua quá trình hình thành và phát triển có

nhiều bước thăng trầm Từ một xí nghiệp chỉ có sản xuất một mặt hàng đến

nay công ty đã trở thành một công ty lớn mạnh với nhiều nhà máy có công

suất lớn sản xuất nhiều mặt hàng hơn ở Hà Nội và Hà Nam Do quy mô sản

xuất tăng và đa dạng hóa sản phẩm sản xuất nên ngày nay đời sống của

toàn bộ cán bộ trong công ty đã bớt khó khăn hơn Năm 2006 thu nhập

bình quân đầu người của công nhân đạt trên 2 triệu đồng/người/tháng Số

lượng sản phẩm tăng nên doanh thu và chi phí cho sản xuất cũng tăng lên

Chi phí sản xuất tăng cũng đồng nghĩa với việc tất cả các thành phần trong

Ngày đăng: 25/02/2021, 20:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w