1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH NN MỘT THÀNH VIÊN KIM LOẠI MÀU NGHỆ TĨNH

15 210 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH NN Một Thành Viên Kim Loại Màu Nghệ Tĩnh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 27,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, Công ty đã được những thành tích đáng kể trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoàn thành tốt các chỉ tiêu mà cấp trên giao phó và không ngừng nâng cao đời sống cho cán bộ công

Trang 1

HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH

GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH NN MỘT THÀNH VIÊN KIM LOẠI MÀU NGHỆ TĨNH.

2.1 Đánh giá thực trạng

2.1.1 Ưu điểm và những thành quả đạt được

Cùng với nhịp độ phát triển của đất nước, của thời đại, hoà nhập trong cơ chế thị trường, Công ty TNHH NN một thành viên Kim Loại Màu Nghệ Tĩnh qua 25 năm xây dựng và phát triển đã không ngừng vươn lên tự khẳng định mình, là một doanh nghiệp sản xuất luôn đạt lợi nhuận cao Cùng với sự lớn mạnh về cơ sở vật chất kỷ thuật, trình

độ quản lý của Công ty củng ngày càng được nâng cao và không ngừng hoàn thiện Hiện nay, Công ty đã được những thành tích đáng kể trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoàn thành tốt các chỉ tiêu mà cấp trên giao phó và không ngừng nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên chức trong toàn công ty, tạo công an việc làm cho hàng trăm lao động Có được thành quả này là do Công ty đã vận dụng sang tạo các quy luật kinh tế thị trường, đồng thời thực hiện đúng các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.Công ty luôn nghiên cứu tìm ra những biện pháp quản lý chi phí sản xuất, quản lý con người … phù hợp với điều kiện kinh tế của Công ty, phù hợp với yêu cầu của chế độ quản lý kinh tế hiện nay sao cho tối thiểu được chi phi sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng vị thế cạnh tranh trên thị trường Ngày càng nâng cao vị thê của mình trên thị trường, là đơn vị có tầm quan trọng trong Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam

Nhận thức được vai trò quản lý của hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty đã tổ chức công tác kế toán một cách khoa học và hợp lý đảm bảo cho kế toán thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình Đặc biệt được sự quan tâm của Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty đã hổ trợ phần mềm kê toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh của Công ty Để người quản lý có những quyết định đúng đắn thì trợ

lý đắc lực tham mưu là kế toán trưởng Kế toán trưởng là người đứng đầu bộ máy kế toán của Công ty Để làm tròn nhiệm vụ của mình, kế toán trưởng phải luôn xác định

Trang 2

được các biện pháp để làm thế nào mà chi phí sản xuất là tối thiểu Việc tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm là cơ sở để ban lãnh đạo phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, khách quan tình hình hoạt động của Công ty Ở Công ty đã nắm rõ tầm quan trọng của việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm nên việc tập hợp chi phí

và tính giá thành sản phẩm luôn được quan tâm hàng đầu

Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức vừa tập trung vừa phân tán, việc tổ chức bộ máy như vậy là phù hợp với đặc điểm loại hình kinh doanh của Công ty, đảm bảo được sự phân công phân nhiệm trong bộ máy kế toán, nâng cao được chất lượng công việc Loại hình này kết hợp được ưu điểm của cả hai hình thức là tập trung và phân tán nên trong quá trình tập hợp chi phí sản xuất được đầy đủ, kịp thời… đáp ứng được yêu cầu của việc tính giá thành sản phẩm đúng thời hạn được giao

Sự kiểm tra, kiểm sát, quản lý nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ rất được quan tâm, chú trọng Đã thường xuyên tiến hành kiểm kê, đánh giá chất lượng.của nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ Những mất mát, hao hụt ngoài định mức được Công ty điều tra làm rõ nguyên nhân mất mát, hao hụt

Được sự hổ trợ của Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam về phần mềm kế toán, phần mềm kế toán đã được triển khai thực hiện toàn diện ở các đơn vi trực thuộc Công

ty nên khối lượng công việc được giảm đi đáng kể, độ chính xác lại cao, tránh được nhiều sai sót trong ghi chép như trước đây Điều này giúp việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm đáp ứng được nhu cầu quản lý hơn

Những trường hợp, cá nhân gian lận như mua hoá đơn giả để khai tăng chi phí ở phân xưởng mình khi được phát hiện thì xử phạt nghiêm đã làm giảm tình trạng gian lân đáng kể, điều này đã giúp kế toán chi phí và tính giá thành phản ánh trung thực hơn

về giá thực tế của sản phẩm

Công ty luôn xây dựng bổ sung, hoàn thiện quy chế tài chính, hướng dẫn các đơn

vị, cán bộ công nhân viên thực hiện tiết kiệm chi phí trên cơ sở kế hoặch được giao đây củng là thuận lợi cho việc tập hợp chi phí dể dàng Trong quá trình tập hợp chi phí

có thể một số loại chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán mà chưa được tập hợp vì chưa

Trang 3

đánh giá được, như khoản công nợ, để khách hàng nợ lâu tức là Công ty đang bị chiếm dụng vốn, chi phí cơ hội của Công ty là lớn hơn, và cón có một số khoản nợ khó thu hồi thì Công ty củng đã đánh giá để phân bổ chi phí cho từng kỳ kinh doanh, do đó công tác đòi nợ phải thực hiện tôt để mức bị chiếm dụng vốn là tối thiểu, kỳ kinh doanh phản ánh đúng chi phí sản xuất trong kỳ để tránh được tình trạng lãi giả

Hàng tháng, phòng kế toán đã lập kế hoạch tài chính và tiến hành phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của tháng trước giúp Giám đốc nắm được tình hình để định hướng cho tháng tới Ví dụ như, vào thời điểm mà giá thiếc trên thị trường thấp thì sản xuất nhập kho, mua của các cơ sở tư nhân để trích trữ, khi giá tăng thì xuất bán Đây là biện pháp mang lại hiệu quả nhưng yêu cầu người quản lý phải có trình độ để thẩm định giá trong thời gian gần đó nế trích trữ quá lâu sẽ tăng nhiều khoản chi phí khác như; chi phí bảo vệ, chi phí kho bãi…Nhưng thực tế đã cho thấy thời gian gần đây Công ty đã thực hiện tốt được điều này, mang lại hiệu quả cao, tuy biện pháp này không làm biến động nhiều tới việc tập hợp chi phí nhưng đây là biện pháp nâng cao doanh thu tương đương với việc hạ giá thành vì đảm bảo được tăng lợi nhuận

Trên địa bàn có nhiều đơn vị tư nhân khai thác quặng, Công ty đã thu mua với giá cao hơn giá thành sản xuất nhưng đây là một biện pháp tiết kiệm thời gian và để đáp ứng được đủ khối lượng cho xưởng tuyển tinh luyện thiếc hoạt động liên tục để giảm chi phí khấu hao phân bổ cho từng đơn vị sản phẩm

Trong công tác quản trị của doanh, chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý quan tâm vì đó là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, thông qua những thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm do bộ phận kế toán cung cấp, các nhà quản lý nắm được các chie tiêu thực tế của từng hoạt động, của từng loại sản phẩm củng như của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, để phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của sản phảm để các quyết định quản lý thích hợp, kịp thời Việc hạ giá thành và năng cao chất lượng sản phẩm là nhân tố quyết định năng cao hiệu quả kinh doanh và nâng cao thu nhập

Trang 4

cho người lao động Do đó hạch toán chi phí snả xuất và tính giá thành sản phẩm có một vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp không riêng gì Công ty TNHH NN một thành viên Kim Loại Màu Nghệ Tĩnh Kế toán chính xác chi phí và tính giá thành sản phẩm sẽ phản ánh được chính xác, kịp thời, đầy đủ thông tin về mặt lượng hao phí

Có một số loại chi phí khoán cho từng đơn vị, phòng ban như chi phí điện thoại, chi phí lễ tân, chi phí giao dịch, chi phí tiếp thị, công tác phí….đã khống chế được sự lãng phí khi sử dụng và sự lợi dụng đi công tác để khai báo chi phí quá mức,…

2.1.2 Hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những ưu điểm và thành quả đạt được trong hạch toán kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm thì còn nhiều hạn chế cần khắc phục

Công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất, phân tích giá thành cho từng đơn vị chưa chỉ ra được các yếu tố làm tăng giá thành, chủ yếu mới tổng hợp chi phí đơn vị nhận từ Công ty hoặc mua về để thanh toán Trên thực tế đưa ra dùng còn thừa, thiếu,

…yếu tố làm tăng chi phí chưa phân tích kỹ, nguyên nhân là chưa được phân tích, chưa lập ra đội phân tích các yếu tố chi phí ở các đơn vị

Trong cách hạch toán chi phí nguyên vật liệu chưa chi tiết cụ thể, đang hạch toán chi phí nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ vào một tài khoản 621, cần phải chi tiết nguyên vật liệu chính là TK 6211, nguyên vật liệu phụ là TK 6212: Và trong chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ dùng chung cho sản xuất củng chỉ hạch toán trên tài khoản 6273, nên cần tách ra nguyên vật liệu là TK 6271, Chi phí công cụ dụng

cụ là TK 6273 Có tách ra như thế thì trong công tác phân tích yếu tố làm tăng giá thành là do nguyên nhân ở đâu, do chi phí nào mà giá thành vẫn còn cao để từ đó quản

lý chặt chẽ loại chi phí đó

Hiện tại Công ty hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Trang 5

Nợ TK 621 – Chi tiết từng phân xưởng

Có TK 1521, 1522 – Chi tiết loại vật liệu

Ta thấy như thế sẽ gặp khó khăn khi phân tích yếu tố chi phí của nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ, khó xác định trong tổng chi phí nguyên vật liệu gồm bao nhiêu phần trăm chi phí nguyên vật liệu chính, bao nhiêu phần trăm nguyên vật liệu phụ

Hạch toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ dùng chung cho sản xuất :

Nợ TK 6273 – Chi tiết từng phân xưởng

Có TK 152, 153

Hạn chế của cách hạch toán này củng giống như cách hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Nguyên nhân là do sự hạn chế về khả năng chuyên môn

2.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm không chỉ là của riêng doanh nghiệp nào mà là của tất cả các doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất Để hiểu rõ sự cần thiết đó ta phải hiểu rõ bản chất và vai trò của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, mối quan hệ của chúng như thế nào với hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp

Quá trình sản xuất sản phẩm cần có yếu tố đầu vào, đó là nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, con người,… như vậy để tiến hành sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải

bỏ ra chi phí về thù lao tả cho người lao động, về tư liệu sản xuất, về đối tượng lao động Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm là yếu tố khách quan Nói tóm lại, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dung trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Thực chất chi phí chỉ là sự dịch chuyển vốn - chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào đối tượng tính giá sản phẩm Nhưng chi phí sản xuất mới chỉ biểu hiện được một mặt sự hao phí, để biết được thực chất sản xuất ra sản phẩm phải bỏ ra bao nhiêu hao phí thì chỉ tiêu giá thành sản phẩm ra đời Giá thành là biểu hiện băng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến

Trang 6

khối lượng sản phẩm Như vậy, giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa, phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn chi phí lao động sống Mọi cách tính toán chủ quan đều không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đề có thể dẫn đến việc phá vỡ mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng

Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm Chi phí biểu hiện mặt hao phí còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất Đây là hai mặt thống nhất của một quá trình Giá thành được tính trên cơ sở chi phí sản xuất đã được tập hợp và số lượng sản phẩm đã được hoàn thành, nội dung giá thành của sản phẩm chính là chi phí sản xuất được tính cho sản phẩm đó, cả chi phí sản xuất và giá thành sản phảm đề có nội dung cơ bản là biểu hiện bằng tiền của những chi phí doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động sản xuất Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất đề ảnh hưởng trực tiếp đến giảm hay tăng giá thành sản phẩm.Dó đó việc quản lý giá thành phải gắn liền với việc quản lý chi phí sản xuất Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện qua công thức:

Tổng giá thành Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất = +

sản phẩm dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ Như vậy giá thành sản phản phẩm chỉ bằng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ khi chi phí sản xuât dơ dang đầu kỳ bằng chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

Trang 7

Mặt khác thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bằng khoản chênh lêch giữa doanh thu thu được và chi phí bỏ ra, nghĩa là lợi nhuận với chi phí có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Chi phí tăng (giá thành tăng) thì lợi nhuận giảm và chi phí giảm (giá thành giảm) thì lợi nhuận tăng vì giá cả do thị trường quyết định Mà lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Để tối đa hoá lợi nhuận thì phải tìm cách tới thiểu hoá chi phí, giảm giá thành tới mức tối thiểu, điều đó không có nghĩa là làm cho chất lượng sản phẩm không tốt, giảm chi phí là cách tối thiểu hoá chi phí nhưng phải đảm bảo chất lượng sản phẩm không đổi hoặc phải được cải thiện hơn vì chất lượng sản phẩm là điều kiện để sản phẩm của doanh nghiệp có mặt trên thị trường

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, kết hợp việc nghiên cứu bản chất và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và kết quả hoạt động của doanh nghiệp ta thấy vai trò vô cùng quan trọng của việc hạch toán chi phí và tính giá thành, là công việc hàng đầu trong công tác kế toán của mỗi doanh nghiệp

2.3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

2.3.1 Phương hướng hoàn thiện

Để hoàn thiện hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm thì cần khắc phục những mặt còn hạn chế và phát huy mặt tích cực trong cách hạch toán

kế toán Tìm cách để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành tới mức tối ưu mà vẫn không làm giảm chất lượng sản phẩm Vì vậy cần hoàn thiện cách quản lý và cách hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Phải cập nhật kịp thời, đầy đủ mọi thông tin của Nhà nước, Chính phủ, kết hợp việc rà soát thực tiễn để đưa ra quy định thực hiện Mạnh giạn giao nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trên mọi phương diện quả lý sản xuất kinh doanh

Đối với cách hạch toán thì cần hoàn thiện hệ thống tài khoản, hệ thống sổ sách, kịp thời nắm bắt những thay đổi của chế độ, cần có những báo cáo phân tích chi phí, giá thành sử dụng nội bộ nhiều hơn Hơn nữa mọi việc hạch toán gần như thực hiện

Trang 8

bằng máy tính nên việc sẽ thiếu một số ít đặc trưng của loại hình sản xuất, địa bàn sản xuất…là không tránh khỏi

Công ty tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng theo thời gian hữu dụng ước tính, việc ước tính thời gian hữu dụng của TSCĐ còn nhiều hạn chế vì thực tế có nhiều TSCĐ đã hết khấu hao mà vẫn còn sử dụng

Công ty cần phân giá thành chi tiết theo công đoạn sản xuất, chất lượng sản phẩm, loại được những chi phí bất hợp lý , tiềm ẩn trong giá thành sản phẩm

2.3.2 Giải pháp hoàn thiện

Như đã phân tích việc hoàn thiện cách hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm là rất quan trọng, góp phần lớn trong sự tồn tại và phát triển của Công ty Giải pháp hoàn thiện được dựa trên hướng hoàn thiện nêu trên

Thứ nhất: hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán Cần mở chi tiết cho tài khoản

621 “ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” là TK 6211 “Chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp” và TK 6212 “Chi phí nguyên vật liệu phụ”; TK 6273 “Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ” cần mở chia ra hai tài khoản 6272 “Chi phí nguyên vật liệu”,

6273 “Chi phí công cụ dụng cụ” để thuận lợi trong quá trình phân tích nhân tố làm ảnh hưởng tới sự biến động của chi phí, trên cơ sở đó tìm ra biện pháp khắc phục, tiết kiệm chi phí đó như thế nào

Thứ hai: Phần mềm kế toán Công ty sử dụng là do Tổng Công ty cung cấp nên

việc sử dụng phần mềm củng có một số hạn chế như không đặc trưng được loại hình sản xuất, địa bàn sản xuất và trình độ của nhân viên Công ty cần mở thêm một số tài khoản, biểu mẫu phân tích sử dụng nội bộ, phân tích sát thực hơn quá trình hoạt động của Công ty, góp phần ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, kịp thời Mặt khác phần mềm kế toán thì được áp dụng theo quy định hiện hành nên khi có sự thay đổi của chế

độ thì ít linh động, vì vậy mà Công ty có thể thuê chuyên gia phần mềm máy tính riêng

Thứ ba: Phân giá thành chi tiết, đánh giá chất lượng sản phẩm theo công đoạn sản

xuất, loại những khoản chi bất hợp lý, tiềm ẩn trong giá thành

Trang 9

Thư tư: Cần phải đánh giá thời gian hữu dụng cho các TSCĐ Thời gian hữu dụng

của TSCĐ lâu hay ngắn làm ảnh hưởng đến chi phí khấu hao trong kỳ ít hay nhiều, làm giảm hay tăng giá thành sản phẩm trong kỳ Điều đó sẽ làm ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ tăng hay giảm, như thế thì Công ty phải chịu một khoản chi phí thuế thu nhập cao hay thấp Như ta biết, giá trị của TSCĐ dần dần được chuyển vào giá trị sản phẩm cho đến khi khấu hao hết hoặc đến khi thanh lý nên nếu xác định thời gian hữu dụng ít hơn thời gian thực tế sử dụng sẽ không phản ánh đúng giá thành thực tế của sản phẩm,

mà ngược lại thời gian hữu dụng ước tính mà lớn hơn thời gian thực tê sử dụng thì Công ty sẽ phải chịu một khoản chi phí đó là phần chênh lệch tăng chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp Đó là khoản mà Công ty bị chiếm dụng vốn Vì vậy việc đánh giá thời gian hữu dụng ước tính cần phải được thực hiện Để xác định thời gian hữu dụng của TSCĐ Công ty phải dựa vào những căn cứ chủ yếu sau:

+ Tuổi thọ kỹ thuật của tài sản theo thiết kế

+ Hiện trạng của tài sản cố định thế hệ TSCĐ, Thời gian TSCĐ đã qua sử dụng, tình trạng thực tế của TSCĐ…)

+ Tuổi thọ kinh tế của TSCĐ: được quyết định bởi thời gian kiểm soát TSCĐ hoặc yếu tố hao mòn vô hình do sự tiến độ của kỹ thuật

Và việc phân bổ khấu hao cho từng công đoạn sản xuất củng cần thiết để việc tính giá thành theo công đoạn sản xuất được chính xác

2.3.3 Giải pháp tiết kiệm chi phí sản xuất và hướng hoàn thiện

Việc tiết kiệm chi phí sản xuất là một việc làm quan trọng để hạ giá thành, nâng cao lợi nhuận nên tiết kiệm chi phí sản xuất luôn được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu Tại Công ty TNHH NN một thành viên Kim Loại Màu Nghệ Tĩnh hiện nay luôn tìm mọi cách để tiết kiệm chi phí nhưng không làm giảm chất lượng sản phẩm Qua thời gian thực tập tại Công ty em thấy có một số giải pháp tiết kiệm chi phí sản xuất như sau:

- Nâng cao năng suất lao động: Để nâng cao năng suất lao động Công ty cần có một số chính sách và biện pháp phù hợp, thứ nhất là phải đào tạo và tái đào tạo cả cán

Trang 10

bộ quản lý và công nhân lao động trực tiếp Đào tạo công nhân có tay nghề cao hơn, đặc biệt là trong các xưởng luyện Xưởng luyện thiếc là môi trường làm việc hết sức khó, nếu tay nghề không vững thì sẽ dẫn đến tai nạn lao động, làm giảm tiến độ của công việc Hơn nữa nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý các cấp là điều hết sức cần thiết, bởi họ là người lãnh đạo, là người đề ra đường lối, biện pháp làm viêc, tầm quan trong của họ trong quá trình sản xuất là rất lớn Nhà quản lý có giỏi thì mới có được những chính sách quản lý phù hợp, nhất là trong quản lý con người Nhà quản lý phải giám sát, kiểm tra công nhân và nhân viên làm việc chặt chẽ và kịp thời xử lý những trường hợp vi phạm quy chế, và biện pháp không thể thiếu để nâng cao năng suất lao động đó là quan tâm đến cuộc sống của họ bằng cách thưởng, hàng tháng sẽ bầu người lao động chăm chỉ, chấm thêm công và có mức thưởng thích đácg để họ cảm thấy được trả công xứng đáng nên trong công việc họ sẽ cố gắng hơn

Mặt khác Công ty địa bàn hoạt động của Công ty là miền núi nên nhân tài thường không ở lại Công ty Công ty cần phải có những chính sách về lương, thưởng để thu hút và giữ chân nhân tài

- Cải tiến máy móc thiết bị, hiện nay tại Công ty có nhiều tài sản hết khấu hao nhưng vẫn dùng làm giảm năng xuất, cần phải cải tiến để tăng năng suất lao động, làm giảm chi phí sản xuất Mặc dù đầu tư cho tài sản cố định là rất lớn nhưng có đầu tư thì mới có hiệu quả Công ty cần xem xét lại hệ thống tài sản cố định của mình để biết được nên đầu tư vào tài sản nào trước (vì nguồn vốn có hạn) Hiện nay các xe máy đã hết khấu hao nhưng vẫn sử dụng, làm tăng chi phí sữa chữa, xe chở quặng thì đã quá cũ nên trong quá trình chở quặng còn bị rơi vãi gây hao hụt lớn

- Hiện nay hệ thống máy tính của Công ty cũng đã tương đối, giảm được rất nhiều lao động, nên Công ty cần phải tổ chức lại bộ máy quản lý, không để bộ máy quá cồng kềnh

- Lực lượng bảo vệ mỏ và kho của Công ty còn quá ít dẫn đến việc bị mất trộm quặng, thiếc Công ty cần củng cố thêm lực lượng bảo vệ

Ngày đăng: 31/10/2013, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w