BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ Tên đề tài: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH VÀ MỨC ĐỘ NGHIỆN ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH CỦA SINH V
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH VÀ MỨC
ĐỘ NGHIỆN ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH CỦA SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG TẠI 3 TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI NĂM
Trang 2BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: Thực trạng sử dụng Điện thoại thông minh và mức độ nghiện Điện thoại thông minh của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường đại học
tại Hà Nội năm 2017
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thảo Ngân
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế Công cộng
Thời gian thực hiện: Tháng 05/2017 đến tháng 12/1017
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 5,9 triệu đồng
Trong đó: Kinh phí SNKH 5 triệu đồng
Nguồn khác (nếu có): 900.000 đồng
Năm 2017
Trang 3Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở
1 Tên đề tài: Thực trạng sử dụng Điện thoại thông minh và mức độ nghiện Điện thoại thông minh của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường đại học tại Hà Nội năm 2017
2 Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thảo Ngân
3 Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế Công cộng
4 Cơ quan quản lý đề tài: Trường Đại học Y tế Công cộng
5 Thư ký đề tài: Trần Thu Phương
6 Phó chủ nhiệm đề tài: Quách Hà Linh
7 Danh sách những người thực hiện chính:
- Nguyễn Thị Thảo Ngân
- Quách Hà Linh
- Trần Thu Phương
- Trần Thị Thanh Huyền
- Hoàng Thị Hảo
8 Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Thu Thủy
9 Thời gian thực hiện đề tài: Từ 15/05/2017 đến 31/12/2017
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, chúng em xin gửi tới trường Đại học Y tế Công cộng và Phòng Nghiên cứu Khoa học của trường – Đơn vị tổ chức triển khai các đề tài NCKH sinh viên lời chào trân trọng, lời chức sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc Nhà trường đã tạo cơ hội NCKH giúp sinh viên chúng em được trải nghiệm, ứng dụng những kiến thức được học trong thực tế và qua đó tích lũy dần thêm những kinh nghiệm quý giá
Đặc biệt, chúng em xin được gửi lời biết ơn chân thành nhất đến cô giáo – ThS Trần Thị Thu Thủy, người đã quan tâm giúp đỡ chúng em hoàn thành tốt NCKH trong thời gian quan
Không thể không nhắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình từ các bạn sinh viên YTCC năm thứ 3 tại các trường Đại học Y tế Công cộng, Đại học Y Hà Nội, Đại học Thăng Long
đã tạo điều kiện giúp nhóm hoàn thành nghiên cứu
Với điều kiện thời gian cũng như một số hạn chế trong kinh nghiệm triển khai NCKH thực tế, báo cáo này không thể tránh được những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để chúng em có thể hoàn thiện hơn nữa, tích lũy kinh nghiệm phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2017
Đại diện nhóm nghiên cứu (Chủ nhiệm đề tài)
Nguyễn Thị Thảo Ngân
Trang 5Danh mục chữ viết tắt
ĐHYTCC Đại học Y tế Công cộng
ĐTTM Điện thoại thông minh
SAS Smartphone Addiction Scale
Trang 6Danh mục bảng
Bảng 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 2: Thời gian sử dụng ĐTTM trong một tuần trong một tháng trở lại
Bảng 3: Thời gian sử dụng ĐTTM trong một ngày trong một tháng trở lại Bảng 4: Thời gian sử dụng ĐTTM trong một tuần trong một tháng trở lại
Bảng 5: Tần suất sử dụng ĐTTM trong một ngày điển hình
Bảng 6: Thời gian sử dụng ĐTTM ngay khi tỉnh dậy
Bảng 7: Tần suất rời giường muộn do sử dụng ĐTTM
Bảng 8: Thời gian sử dụng ĐTTM trước khi đi ngủ
Bảng 9: Mục đích khi sử dụng ĐTTM
Bảng 10: Yêu cầu sử dụng ĐTTM trong bài tập ở trường
Bảng 11: Tỷ lệ bạn bè sử dụng ĐTTM và tần suất liên hệ
Bảng 12: Tỷ lệ người thân sử dụng ĐTTM và tần suất liên hệ
Bảng 13: Số lượng tin nhắn, cuộc gọi, thông báo trung bình trong một ngày Bảng 14: Cảm giác khi sử dụng ĐTTM
Bảng 15: Mục đích sử dụng khác
Bảng 16: Nhận định về ảnh hưởng của ĐTTM đến đối thoại trực tiếp
Bảng 17: Nhận định về ảnh hưởng của ĐTTM đến đời sống xã hội
Bảng 18: Nhận định về ảnh hưởng của ĐTTM đến học tập
Bảng 19: Kết quả thang đo SAS
Bảng 20: Mức độ nghiện ĐTTM giữa 2 nhóm giới tính
Bảng 21: Mức độ nghiện ĐTTM giữa 3 trường Đại học
Bảng 22: Thời gian sử dụng ĐTTM trung bình trong một ngày trong nhóm nam Bảng 23: Thời gian sử dụng ĐTTM trung bình trong một ngày trong nhóm nữ Bảng 24: Tần suất sử dụng ĐTTM trung bình trong một ngày trong nhóm nam Bảng 25: Tần suất sử dụng ĐTTM trung bình trong một ngày trong nhóm nữ Bảng 26: Số tin nhắn trung bình trong một ngày trong nhóm nam
Bảng 27: Số tin nhắn trung bình trong một ngày trong nhóm nữ
Trang 7Bảng 28: Số cuộc gọi trung bình trong một ngày trong nhóm nam
Bảng 29: Số cuộc gọi trung bình trong một ngày trong nhóm nữ
Bảng 30: Số thông báo trung bình trong một ngày trong nhóm nam
Bảng 31: Số thông báo trung bình trong một ngày trong nhóm nữ
Bảng 32: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để học tập với nhóm giới tính nam Bảng 33: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để học tập với nhóm giới tính nữ Bảng 34: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để giao tiếp với nhóm giới tính nam Bảng 35: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để giao tiếp với nhóm giới tính nữ Bảng 36: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để lên mạng xã hội với nhóm giới tính nam
Bảng 37: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để lên mạng xã hội với nhóm giới tính nữ
Bảng 38: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để tìm kiếm thông tin với nhóm giới tính nam
Bảng 39: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để tìm kiếm thông tin với nhóm giới tính nữ
Bảng 40: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để chơi games với nhóm giới tính nam
Bảng 41: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để chơi games với nhóm giới tính
nữ
Bảng 42: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để chụp ảnh với nhóm giới tính nam Bảng 43: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để chụp ảnh với nhóm giới tính nữ Bảng 44: Mối liên quan giữa việc Sử dụng ĐTTM để xem phim với nhóm giới tính nam
Trang 8Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 1: Tần suất rời giường muộn do sử dụng ĐTTM
Biểu đồ 2: Tần suất ngủ muộn do sử dụng ĐTTM
Biểu đồ 3: Nhu cầu sử dụng ĐTTM trong bài tập ở trường
Biểu đồ 4: Nhu cầu sử dụng ĐTTM trong công việc
Biểu đồ 5: Hình thức liên lạc với bạn bè
Biểu đồ 6: Hình thức liên lạc với gia đình
Biểu đồ 7: Tỷ lệ sử dụng song song ĐTTM cùng các hoạt động
Biểu đồ 8: Tỷ lệ các mạng xã hội được sử dụng
Biểu đồ 9: Nhận định về mức độ sử dụng ĐTTM của bản thân
Biểu đồ 10: Nhận định về mức độ lạm dụng ĐTTM của bản thân
Trang 9Mục lục
Phần A: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu 1
Phần B: Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài 9
Phần C: Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở 11
ĐẶT VẤN ĐỀ 11
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 13
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
BÀN LUẬN 19
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 30
PHỤ LỤC 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 10Phần A: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH VÀ MỨC ĐỘ NGHIỆN ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH CỦA SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG TẠI 3 TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI
NĂM 2017
SV Nguyễn Thị Thảo Ngân (Lớp K13D trường ĐH Y tế Công cộng)
SV Quách Hà Linh (Lớp K13D trường ĐH Y tế Công cộng)
SV Trần Thu Phương (Lớp K13D trường ĐH Y tế Công cộng)
SV Trần Thị Thanh Huyền (Lớp K13D trường ĐH Y tế Công cộng)
SV Hoàng Thị Hảo (Lớp K13D trường ĐH Y tế Công cộng)
*Tóm tắt tiếng Việt
1 Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
Xã hội ngày càng phát triển, điện thoại thông minh (ĐTTM) dần trở thành một sản phẩm công nghệ quan trọng Nó cho phép người sử dụng dễ dàng liên lạc với nhau, truy cập internet, chơi game cũng như rất nhiều tiện ích khác
Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở các trường cao đẳng, đại học để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ sự tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Sinh viên sử dụng điện ĐTTM ngày càng nhiều bởi các lợi ích mà nó đem lại đối với học tập cũng như cuộc sống hàng ngày
Tại Mỹ, vào năm 2015 có 64% người Mỹ trưởng thành sở hữu ĐTTM, tăng từ 35% kể từ năm 2011, tỷ lệ đặc biệt cao giữa những người trẻ tuổi, những người có
Trang 11mức thu nhập và trình độ học vấn cao Theo số liệu công bố từ nghiên cứu hành vi trực tuyến của “Người tiêu dùng Việt Nam 2014”, tỷ lệ người trên 16 tuổi sử dụng điện thoại thông minh tại Việt Nam tăng hơn 70% so với năm 2013, tương đương từ
14 lên 24 triệu người Nhóm tuổi từ 16-24 có tỉ lệ sử dụng điện thoại thông minh cao nhất là 58% Điều này cho thấy những người trong độ tuổi đi học (học sinh, sinh viên) là đối tượng sử dụng điện thoại thông minh lớn nhất Việt Nam
Có một sự thật không thể phủ nhận rằng internet đã mang lại rất nhiều lợi ích cho cuộc sống của con người Tuy nhiên, các bằng chứng cho thấy các hậu quả tiêu cực khác nhau do việc lạm dụng internet hay điện thoại quá mức có thể dẫn đến những hậu quả về mặt tâm lý bao gồm: ám ảnh về internet hoặc những trò chơi trực tuyến, sự mất cân bằng trong các mối quan hệ xã hội, sự rối loạn về giấc ngủ, ảnh hưởng đến công việc và học tập, gia tăng căng thẳng, ảnh hưởng đến trí nhớ và sự nhận thức
Hiện tại ở Việt Nam cũng đã có một số các công trình nghiên cứu về sự tác động của internet, mạng xã hội đối với sinh viên Nhiều bài viết đề cập đến sự lệ thuộc của giới trẻ vào ĐTTM mà bỏ qua các giá trị sống Tuy nhiên các nghiên cứu chưa đề cập rõ về việc lạm dụng ĐTTM cho các mục đích khác nhau do đó nhóm
quyết định thực hiện nghiên cứu “Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh và mức độ nghiện điện thoại thông minh của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường Đại học tại Hà Nội năm 2017” với 2 mục tiêu chính:
1 Mô tả thực trạng sử dụng điện thoại thông minh của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường Đại học: Đại học Y tế Công cộng, Đại Học Y Hà Nội, Đại học Thăng Long năm 2017
2 Mô tả mức độ nghiện sử dụng điện thoại thông minh của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường Đại học: Đại học Y tế công cộng, Đại Học Y
Hà Nội, Đại học Thăng Long năm 2017
Trang 122 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang có phân tích, sử dụng phương pháp định lượng Cỡ mẫu được tính theo công thức cắt ngang 1 tỷ lệ và có tổng 170 học sinh tham gia nghiên cứu Nghiên cứu lựa chọn toàn bộ sinh viên đang học năm thứ
ba tại 3 trường ĐH trên địa bàn Hà Nội, gồm: ĐH Y tế Công cộng (ĐHYTCC), ĐH
Y Hà Nội (ĐHYHN), ĐH Thăng Long (ĐHTL) Nghiên cứu tiến hành phát vấn bộ câu hỏi định lượng về thực trạng sử dụng Điện thoại thông minh (ĐTTM) Bên cạnh
bộ câu hỏi nhằm tìm hiểu về một số thói quen sử dụng ĐTTM, bộ công cụ còn bao gồm bộ câu hỏi với thang đo độ lạm dụng ĐTTM (SAS – Smartphone Addiction Scale) để tìm hiểu mức độ và nguy cơ nghiện ĐTTM
3 Kết quả và phát hiện chính
Đa số sinh viên sử dụng ĐTTM vào tất cả các ngày trong tuần, phần lớn vào buổi tối và trước khi đi ngủ Trong đó, sử dụng mạng xã hội là mục đích chiếm tỷ lệ lớn nhất (87,1%) Ngoài ra, sinh viên còn sử dụng ĐTTM vào một số mục đích khác (tránh tương tác với người khác, tránh sự nhàm chán ở lớp/ các sự kiện…) Phần lớn sinh viên liên lạc với bạn bè qua mạng xã hội và liên lạc với gia đình bằng việc gọi điện trực tiếp Sinh viên vừa sử dụng ĐTTM vừa ăn uống chiếm tỷ lệ lớn nhất (58,2%) Trong số những mục đích được sử dụng trên ĐTTM, những sinh viên sử dụng điện thoại cho mục đích xem phim online có mức điểm SAS-SV cao nhất Nhóm sinh viên chia làm 3 nhóm: Không nghiện ĐTTM, có nguy cơ nghiện ĐTTM và nghiện ĐTTM; tỷ lệ tương ứng với mỗi nhóm lần lượt chiếm 11,2%, 50%
và 38,8% 21,8% sinh viên lúc nào cũng cần sử dụng ĐTTM 37,1% cho rằng họ
“Có thể không sử dụng điện thoại vào lúc cần tập trung cao độ” và 27,6% cho rằng
“Có thể không sử dụng ĐTTM nhiều giờ trong ngày” Phần lớn sinh viên cho rằng ĐTTM gây ảnh hưởng tiêu cực đến các cuộc đối thoại trực tiếp (52.5%) nhưng lại khá có ích đối với đời sống xã hội (51%) Những sinh viên tự đánh giá mình nghiện ĐTTM có điểm SAS-SV lớn hơn nhóm đánh giá mình không nghiện hay không
Trang 13biết; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Điểm SAS-SV cao hơn ở sinh viên đồng ý với ý kiến sẽ không bao giờ ngừng sử dụng ĐTTM, thường xuyên kiểm tra ĐTTM
để không bị lỡ mất thông báo hoặc cuộc trò chuyện trên mạng xã hội, đã từng cảm thấy đau ở cổ tay hoặc sau gáy khi sử dụng ĐTTM (Sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê)
4 Kết luận và kiến nghị
Các hoạt động sinh viên thực hiện đồng thời khi sử dụng ĐTTM đều ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏe, có thể gây nghiện ĐTTM nếu không được điều chỉnh hợp lý Đa số sinh viên đang thuộc mức có nguy cơ nghiện (chiếm một nửa số sinh viên) và đang nghiện ĐTTM, trong đó nhóm nam có tỷ lệ cao hơn Nhận định mức độ nghiện ĐTTM và sự gắn kết với ĐTTM với điểm SAS-SV đã được chứng minh Nhìn chung, tuy đa số sinh viên có thiện cảm với tính năng của ĐTTM, nhiều sinh viên đã nhận ra ảnh hưởng tiêu cực của ĐTTM với các cuộc đối thoại trực tiếp
và học tập, nhưng chưa tìm ra sự cân bằng để giảm nguy cơ cuộc sống bị ảnh hưởng Nhóm nghiên cứu khuyến nghị cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn về thực trạng nghiện ĐTTM và can thiệp phù hợp cho các nhóm nguy cơ, nhóm nghiện ĐTTM
Trang 14*Tóm tắt tiếng Anh (Abstract)
1 Background
The society is developing more and more and Smartphones is becoming one of important technical devices It help the users contact with others easily, using internet, playing games and a lot of benefits
Student is a special group of people who achieve new knowledge and specialized skills at colleges, universities to make a preparation for the future jobs after graduation One of the most vital psychology at adolescent is the self-development
of mantality[9] Because of the self-development of mantality, students can get the good attitude, evaluate by themselves to fit the social trends The popularity of using Smartphones at students is because of its advantages not only in study but also in daily life
In the USA, there was 64% of adults own their Smartphones in 2015, increase from 35% since 2011, the highest rate is young people, people with the high level of salary and education According to data released by the online consumer behavior survey of "Vietnam Consumer 2014", the percentage of people over 16 using smartphones in Vietnam has increased by 70% over 2013, equivalent to 14 to 24 million people The age group of 16-24 has the highest rate of smartphone usage at 58% This indicates that the school-age population is the largest user of smartphones
in Vietnam
There is an undeniable truth that the internet has brought so many benefits to human life However, evidences show the various negative consequences of using excessive internet or telephone can lead to psychological consequences include: obsessive about the internet or games online, unbalance in social relationships, sleep disorders, work and study stress, bad effects on memory and cognitive
At present, there are a number of researches about the impact of internet and social networking on students Many articles indicate the young people's dependence on
Trang 15smartphones that ignores values of life However, the study did not mention clearly the using too much of smartphones for different purposes, so the team decided to
carry out the study "Status of using smartphones and the level of smartphone addiction to Public Health students at 3 Universities in Hanoi in 2017 "with two
main objectives:
1 Discribe the status of smartphone using in Public Health student at 3 universities in Hanoi, including Hanoi University of Public Health, Hanoi Medical University and Thang Long University in 2017
2 Discribe the status of smartphone addiction in Public Health student at 3 universities in Hanoi, including Hanoi University of Public Health, Hanoi Medical University and Thang Long University in 2017
2 Materials and method
Research use analytical cross-sectional study with the quantitative method The sample size is calculated by using a cross-sectional formula and a total of 170 students enrolled Research choose all students who are in the third year at 3 universities in Hanoi, including: Hanoi Unversity of Public Health, Ha Noi Medical University, Thang Long University Research use quantitative questionnaire on the status of using Smartphones In addition to the questionnaire to find out about some
of the habits of using the smartphones, the toolkit also includes the Smartphone Addiction Scale (SAS) questionnaire to explore the level and risk of Smartphones addiction
3 Results
According to the research, the majority of students use their smartphone at night and before bedtime, this figure is similar to the research in Vietnam, 2014 on smartphone using behavior (using time from 6pm-10pm everyday) and the US 2016 research (using time from 2pm-10pm everyday) The number of students reported using smartphone within 5 minutes after waking up is higher than the figure in Haug
Trang 16S.’s research in 2015 Moreover, all students in the research reported checking their smartphone before going to sleep, this result can also be found in Sakari Lemonla’s
2015 research on US adolescences
Only 10% students usually stay up late because of smartphone, which is not similar to the figure in researchs of Sakari L et al., and Shigekazu H et al., showing close relation between smartphone using and late sleep time
According to the result, social networking is the most common purpose of smartphone The differences between male and female’s preferent purpose of using smartphone in the research can be explained by characteristic, needs and interest between two sexes in S Lard (2012) and Osman M.A (2012) research
For most students using smartphone without any real purpose such as avoid boredom, contact with others…, Pew Research Center in 2015 also had a similar results and stated this is a prove for an arising engagement between notifications on smartphone and unhealthy smartphone using pattern
Results showed that 55.3% students using smartphone to contact their friends and 44.1% contact their family by this device The smartphone addiction result in this research shows great differences with similar research (using SAS-SV tool) in Spain, Belgium; Switzerland and Germany
This research also showed similarity to Switzerland’s 2015 research on relation of SAS-SV scores between different purposes of using smartphone such as for social media, looking up information, watching online movie and taking pictures
The relation of SAS-SV score between the group indicated themselves as addicted with the other group that don’t or don’t know is also similar to Kwon M (2013)’s research; which he concluded the realization of self-addiction problem state
the higher the SAS-SV scores
4 Conclusions
In conclusion, the present study showed the relationship and correlation between some certain purposes of smartphone (social media, communication,
Trang 17watching movies, taking/editing photos), self-assessed level of smartphone addiction, the demand of smartphone availability with the level and risk of smartphone addiction, especially when the most prevalent symptoms are
“cyberspace oriented” and “daily life disturbance” Besides, student’s time management is not organized appropriately as they usually use smartphone right after wake up, long time before go to sleep, along with other activities and even with
no purpose
All these activities are suggested to be deeply affected students’ life style and probably lead to smartphone addiction if not adjusted correctly and soon In general, although students knew about the benefits of smartphone, many are able to realize the significant drawback on face to face communication and study result, but still struggle to find the balance in daily life usage of smartphone Future studies should extend this knowledge in order to draw clearer conclusions regarding this ever-
increasing behavior with appropriate interventions
Trang 18Phần B: Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài
1 Kết quả nổi bật của đề tài
(a) Đóng góp mới của đề tài: Đề tài là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam thực
hiện về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng ĐTTM ở đối tượng sinh
viên năm 3 tại Hà Nội năm 2017
(b) Kết quả cụ thể: Báo cáo kết quả nghiên cứu được Hội đồng khoa học
trường Đại học Y tế Công cộng thông qua
(c) Hiệu quả về đào tạo: Thực hiện đề tài giúp nhóm sinh viên nâng cao thêm
kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học của nhà trường
(d) Hiệu quả về xã hội: Đề tài sẽ là cơ sở khoa học giúp sinh viên biết được
mức độ sử dụng ĐTTM hiện tại và có các biện pháp khắc phục, sửa đổi nếu có nguy
cơ nghiện ĐTTM
2 Áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội
3 Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt
(a) Tiến độ: Nghiên cứu đạt đúng tiến độ thực hiện theo thời gian được phê
duyệt, từ tháng 05 năm 2017 tới tháng 12 năm 2017
(b) Thực hiện mục tiêu nghiên cứu: Đề tài thực hiện đủ 02 mục tiêu nghiên
cứu đã đề ra, bao gồm:
- Mô tả thực trạng sử dụng điện thoại thông minh của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường Đại học: Đại học Y tế Công cộng, Đại Học Y Hà Nội, Đại học Thăng Long năm 2017
- Mô tả một số yếu tố liên quan đến thực trạng sử dụng điện thoại thông minh của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường Đại học: Đại học Y tế công cộng, Đại Học Y Hà Nội, Đại học Thăng
Long năm 2017
Trang 19(c) Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương: Báo cáo kết quả
nghiên cứu được Hội đồng khoa học trường Đại học Y tế Công cộng thông qua
(d) Đánh giá việc sử dụng kinh phí: Tổng kinh phí thực hiện đề tài là 5,9 triệu
đồng Trong đó, nhóm nghiên cứu sử dụng kinh phí NSNN là 5,000,000 đồng; kinh
phí nhóm tự chi là 900,000 đồng
4 Các ý kiến đề xuất
Nhóm nghiên cứu xin có ý kiến đề xuất về thời gian triển khai đề tài trong các năm tới nên thực hiện sớm hơn, để giúp các nhóm nghiên cứu kịp đạt tiến độ thực hiện theo đề cương đã đề ra
Trang 20Phần C: Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc sử dụng điện thoại thông minh (ĐTTM) ngày càng phổ biến bởi các lợi ích mà nó đem lại đối với cuộc sống hàng ngày Tại Mỹ, vào năm 2015 có 64% người Mỹ trưởng thành sở hữu ĐTTM, tăng từ 35% kể từ năm 2011, tỷ lệ đặc biệt cao giữa những người trẻ tuổi, những người có mức thu nhập và trình độ học vấn cao[53] Theo số liệu công bố từ nghiên cứu hành vi trực tuyến của “Người tiêu dùng Việt Nam 2014”, tỷ lệ người trên 16 tuổi sử dụng điện thoại thông minh tại Việt Nam tăng hơn 70% so với năm 2013, tương đương từ 14 lên 24 triệu người Nhóm tuổi từ 16-24 có tỉ lệ sử dụng điện thoại thông minh cao nhất là 58%[2].Điều này cho thấy những người trong độ tuổi đi học (học sinh, sinh viên) là đối tượng sử dụng điện thoại thông minh lớn nhất Việt Nam
ĐTTM là công cụ rất hữu ích cho con người nếu người dùng không sử dụng một cách quá mức dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực[28] Nghiện điện thoại thông minh được định nghĩa bởi sự rối loạn của hàng loạt các vấn đề liên quan đến hành vi
và kiểm soát, là việc sử dụng quá nhiều dẫn đến ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người dùng[35] Tỷ lệ người nghiện ĐTTM ở thanh thiếu niên Ấn Độ được báo cáo là từ 39% đến 44%[13] Nghiện ĐTTM được xem là tương tự như nghiện Internet Việc nghiện điện thoại thông minh đang ngày càng trở nên phức tạp hơn ở Tanzania khi hầu hết sinh viên nghiện các ứng dụng trên ĐTTM như WhatsApp, twitter, Facebook; trong đó 48% sinh viên đã dành 5-7 giờ/ngày để truy cập các mạng xã hội[69] Ở các quốc gia Đông Nam Á, ảnh hưởng xấu của nghiện Internet hoặc nghiện ĐTTM đã được xem xét một cách nghiêm túc, dẫn đến một loạt nghiên cứu và công tác xã hội của chính phủ nhằm kiềm chế và giảm bớt vấn đề này[43]
Tình trạng nghiện ĐTTM đã được báo cáo rằng đã ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập trong lớp, gây nguy hiểm khi lái xe, và ảnh hưởng tiêu cực đến công
Trang 21việc[12] Tuy rằng điện thoại thông minh đã mang lại rất nhiều lợi ích cho cuộc sống của con người nhưng việc sử dụng ĐTTM quá mức gây ra đến các vấn đề như
sự mất cân bằng trong các mối quan hệ xã hội, sự rối loạn về giấc ngủ, gia tăng căng thẳng, ảnh hưởng đến trí nhớ và sự nhận thức[28] Các yếu tố tâm lý và cảm xúc như lo lắng và trầm cảm cũng đều có liên quan đến nghiện điện thoại thông minh và nghiện Internet[29]
Hiện tại ở Việt Nam cũng đã có một số các công trình nghiên cứu về sự tác động của internet, mạng xã hội đối với sinh viên Nhiều bài viết đề cập đến sự
lệ thuộc của giới trẻ vào ĐTTM mà bỏ qua các giá trị sống Tuy nhiên các nghiên cứu chưa đề cập rõ về việc lạm dụng ĐTTM cho các mục đích khác nhau do đó
nhóm quyết định thực hiện nghiên cứu “Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh và một số yếu tố liên quan của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường Đại học tại Hà Nội năm 2017” với 2 mục tiêu chính:
1 Mô tả thực trạng sử dụng điện thoại thông minh của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường Đại học: Đại học Y tế Công cộng, Đại Học Y Hà Nội, Đại học Thăng Long năm 2017
2 Mô tả thực trạng mức độ nghiện điện thoại thông minh của sinh viên chuyên ngành Y tế Công cộng tại 3 trường Đại học: Đại học Y tế công cộng, Đại Học Y
Hà Nội, Đại học Thăng Long năm 2017
Trang 22Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm liên quan đến chủ đề nghiên cứu
1.1.1 Điện thoại thông minh
Theo Lusekelo & Juma (2015), điện thoại thông minh (ĐTTM) là một thiết bị
có tính năng của cả máy tính và điện thoại di động ĐTTM có hệ điều hành và có thể cài đặt các ứng dụng, hoạt động như máy tính, có khả năng truy cập internet và giải trí ở bất kì nơi đâu như: chụp hình, xem video, lướt web[69] Trong khi Muhammad
& Tariq (2011) định nghĩa ĐTTM là một dạng điện thoại ngoài chức năng truyền thống như thực hiện cuộc gọi và gửi tin nhắn văn bản còn được trang bị khả năng hiển thị hình ảnh, chơi game, xem video, tích hợp camera, ghi âm, gửi/nhận e-mail…; thậm chí có thể cài đặt các ứng dụng, mạng xã hội[72]
Định nghĩa về ĐTTM có thể được sử dụng khác nhau trong các nghiên cứu tuy nhiên ngoài tính năng gọi điện và gửi tin nhắn văn bản như một điện thoại thông thường, ĐTTM còn được trang bị các chức năng cải tiến hơn với bộ nhớ lớn hơn cùng với các hệ điều hành phổ biến như IOS, Android, Blackberry OS, Windows Phone và có thể cài đặt thêm các ứng dụng
1.1.2 Sinh viên
Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở các trường cao đẳng, đại học để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường[3] Sinh viên đại học đang trải qua giai đoạn chuyển đổi từ thời thơ ấu đến giai đoạn trưởng thành đặc trưng bởi sự phát triển về thể chất, tâm lý, xã hội và tình dục Nếu xây dựng được hành vi lành mạnh trong giai đoạn này, sinh viên sẽ ít gặp phải vấn đề sức khỏe trong tương lai[21]
Độ tuổi sinh viên thường từ 18 đến 24 tuổi Đây là độ tuổi thể chất phát triển chậm lại, sinh viên có thể không quan tâm nhiều đến thể chất bản thân (thậm chí chủ
Trang 23quan) và tập trung vào các vấn đề xã hội và môi trường xung quanh hơn Về mặt xã hội, họ coi trọng các mối quan hệ đã cam kết, đang tìm kiếm và thiết lập mối quan
hệ xã hội với người lớn hơn, muốn được chỉ dẫn từ người lớn, họ tự quyết định, họ đang phát triển ý thức cộng đồng[54]
Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ có tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội[3] Tuy vậy, sinh viên cũng bị ảnh hưởng mạnh từ áp lực nhóm, áp lực cộng đồng, họ quan tâm đến những gì xã hội đánh giá
và nhìn nhận bản thân khá nhiều Trước thị trường cạnh tranh công việc, cạnh tranh bằng cấp giai cấp trong xã hội, họ luôn phải cập nhật hàng ngày, để tránh sự lạc hậu,
sự “chưa bằng bạn bằng bè” Từ đó dẫn đến những sức khỏe tâm thần như trầm cảm, stress… đang ngày càng trở nên phổ biến ở đối tượng trẻ tuổi
1.1.3 Định nghĩa về nghiện và nghiện ĐTTM
- Sử dụng và hoặc thực hiện quá mức các hành vi gây nghiện, tần suất và số lượng cao hơn người thường
- Mất quá nhiều thời gian để sử dụng chất gây nghiện, hành vi gây nghiện làm ảnh hưởng tiêu cực đến công việc và các hoạt động xã hội
- Tiếp tục sử dụng và hoặc tham gia vào các hành vi gây nghiện, mặc dù có
Trang 24những vấn đề về thể chất hoặc tâm lý trầm trọng hơn do sử dụng chất gây nghiện, các hành vi gây nghiện liên quan
- Sự hạn chế khả năng thực hiện hành vi một cách nhất quán và hiệu quả là một phần của nghiện
Nghiện là một thuật ngữ chỉ sự lạm dụng rượu và ma túy lâu dài gây ảnh hưởng đến não bộ và cơ thể con người Tuy nhiên thuật ngữ “nghiện” không chỉ sử dụng đối với các loại thuốc hoặc chất gây nghiện nào đó mà còn là áp dụng đối với hành vi cụ thể
b Nghiện hành vi và nghiện ĐTTM
Hiện nay chưa có sự đồng nhất giữa các nghiên cứu hiện có liên quan đến thuật ngữ nghiện điện thoại thông minh vì: 1)sự khác nhau giữa các dấu hiệu nghiện sử dụng ĐTTM; 2) sự đa dạng về chức năng của ĐTTM; 3) Những tác động khác nhau
và không rõ ràng liên quan đến việc nghiện ĐTTM[62] Tuy nhiên nghiện Internet
và smartphone khác với các loại nghiện khác như rượu hoặc ma túy Nghiện ma túy không phải là nghiện hành vi mà được gọi là sự lệ thuộc vào chất gây nghiện Nghiện hành vi có thể được định nghĩa là "rối loạn hành vi’’ chỉ sự hoạt động để tạo
ra niềm vui, giảm bớt cảm giác đau đớn và căng thẳng của con người Một số nghiên cứu cho thấy rằng vấn đề nghiện ĐTTM ở những người trẻ tuổi đang gia tăng và cần
có giải pháp khắc phục[59]
Bên cạnh đó, nghiện ĐTTM có mối liên hệ chặt chẽ đối với việc nghiện Internet bởi các tính năng tương tự nhau[31] Việc sử dụng điện thoại thông minh có thể dẫn đến hành vi nghiện và con người dễ nghiện điện thoại thông minh hơn so với các thiết bị khác như là máy tính để bàn hoặc laptop (Carbonell, X., Oberst, U., Beranuy, M (2013)[65] Nghiên cứu này cũng chỉ ra sự khác nhau giữa nghiện Internet và nghiện ĐTTM bởi sự hài lòng khi sử dụng điện thoại thông minh có những tính năng khác có thể tạo ra những trải nghiệm thú vị, làm gia tăng việc sử
Trang 25dụng ĐTTM đối với người dùng Để đánh giá mức độ nghiên ĐTTM, mộtnghiên cứu ở Hàn Quốc năm 2013 được đề xuất nhằm phát triển thang đo chẩn đoán việc nghiện ĐTTM (SAS) dựa trên thang đo nghiện Internet (K-scale)[42]
1.2 Thực trạng sử dụng ĐTTM trên Thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Tần suất
Một nghiên cứu về nghiện điện thoại thông minh và thời gian sử dụng chúng cho thấy người Tây Ban Nha sử dụng ĐTTM để thực hiện các hoạt động giải trí trực tuyến trong 6 ngày/ một tuần Còn với người Bỉ thì trong một tuần họ sử dụng ĐTTM để hoạt động giải trí trực tuyến trên 5 trong 7 ngày Thống kê tại Trung Quốc vào năm 2012 cho biết tần suất sử dụng ứng dụng điện thoại thông minh, 6.7 % số người được khảo sát sử dụng ứng dụng điện thoại thông minh mỗi tuần một lần[50] Kết quả này cho thấy tần suất sử dụng của người sở hữu ĐTTM đều cao[37]
Tần suất sử dụng ĐTTM của sinh viên ở các trường đại học Việt Nam thể hiện qua việc sử dụng các ứng dụng hỗ trợ học tập trên lớp điện thoại thông minh sử dụng với tần suất từ 3 đến 5 lần/tuần, thỉnh thoảng dùng để thu âm bài giảng trên lớp
1 đến 2 lần/tuần Đối với kết quả nghiên cứu về mục đích giao tiếp cho thấy sinh viên gần như sử dụng điện thoại thông minh mỗi ngày để theo dõi thông tin của bạn
bè qua facebook (Mean = 4,3) Sinh viên hầu hết sử dụng điện thoại thông minh mỗi ngày để tham gia các trang mạng xã hội (facebook, zalo, viber, instargram,…) (Mean = 4,47), trong khi đó hoạt động đọc truyện (Mean = 3,22) sinh viên chỉ sử dụng từ 1 đến 2 lần trong 1 tuần[7]
1.2.2 Mục đích
Internet là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại, nơi mà mọi thông tin có thể tìm kiếm một cách dễ dàng Ngày nay, việc sử dụng ĐTTM cho việc trình duyệt trên Internet lại càng trở nên nhanh chóng Vì vậy điện thoại thông
Trang 26minh là công cụ học tập hữu ích cho phép sinh viên truy cập vào các nguồn tài nguyên học tập đa dạng và phong phú Một cuộc khảo sát đã được sinh viên chuyên ngành nha khoa tại Úc về mục đích sử dụng điện thoại thông minh trong học tập Trong số 232 người được hỏi, 75 (32,3%) người đã cài đặt ứng dụng giáo dục cụ thể, trong khi 148 (63,7%) người sử dụng điện thoại thông minh để truy cập vào các phương tiện truyền thông xã hội và cho rằng nó có giá trị cho việc học tập của họ (P
<.05)[74] Một số nghiên cứu tương tự cũng chỉ ra rằng việc sinh viên trường y sử dụng rộng rãi ĐTTM giúp hỗ trợ quá trình học tập của họ[51, 52]
Liệu rằng sinh viên có thực sự sử dụng ĐTTM cho mục đích học tập trong khi thời gian và địa điểm sử dụng điện thoại thông minh không bị hạn chế Một cuộc khảo sát được tiến hành ở 269 sinh viên đại học có chuyên ngành học khác nhau về tần số và cách sử dụng điện thoại di động trong lớp Có 95% học sinh mang điện thoại đến lớp hàng ngày, 92% sử dụng điện thoại để nhắn tin trong giờ học và 10% thừa nhận họ đã nhắn tin trong một bài kiểm tra ít nhất một lần Hơn nữa, họ tin rằng các giảng viên phần lớn không biết về hoạt động nhắn tin và các hoạt động khác như lướt Internet, gửi hình ảnh, hoặc truy cập các trang web mạng xã hội khi họ dùng điện thoại[15]
Theo Jesse (2013), Số lượng sinh viên đại học sử dụng điện thoại di động trong lớp học đã tăng lên trong vòng hai năm rưỡi kể và họ dành thời gian lên các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter and Pinterest [68] Ngoài ra, việc truy cập các ứng dụng trò chơi cũng được sử dụng rộng rãi trên thiết bị điện thoại thông minh Laird (2012) đã tiến hành một nghiên cứu và báo cáo rằng 55% học sinh sử dụng các ứng dụng chơi game thường xuyên trên điện thoại di động Sự gia tăng việc sử dụng điện thoại thông minh và các ứng dụng này có ảnh hưởng đến sinh viên[34]
Một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến kết quả học tập chỉ ra rằng có 65% sinh viên sử dụng cho mục đích giao tiếp, chỉ
Trang 2720 % sử dụng cho mục đích học tập Khoảng 48% số người được hỏi cho biết họ thường sử dụng điện thoại thông minh trong khoảng 5 - 7 giờ mỗi ngày để lên các trang mạng xã hội (65%) Đa số sinh viên trả lời rằng họ bị phân tâm trong các bài giảng bởi việc trả lời tin nhắn Ngoài ra, hầu hết những người nghiện ĐTTM thường ghé thăm các trang mạng xã hội như Facebook mặc dù họ đang làm một số việc ở trường hoặc ở ký túc xá hay tại nhà
Một cuộc khảo sát ở trường Colorado và một số trường đại học khác vào năm
2010 cho thấy nhắn tin và email là chức năng trên điện thoại thông minh mà sinh viên sử dụng nhiều nhất, tiếp đến là đọc tin tức, xem videos và đọc sách[14] Cũng theo nghiên cứu của Post (2011) sinh viên chủ yếu sử dụng điện thoại thông minh hơn để nhắn tin và sử dụng các ứng dụng, ít khi dùng để gọi điện thoại Post, H (2011)[44]
Người sử dụng ĐTTM sẽ được trải nghiệm vô vàn ứng dụng, các tính năng cần thiết trong một thiết bị nhỏ gọn Họ có thể làm rất nhiều việc khi được kết nối với mạng internet hoặc kết nối 3G Theo thống kê về việc sử dụng mạng và điện thoại di động của người Việt Nam năm 2015, có 24% người dùng mạng xã hội, 22% xem video, 18% chơi trò chơi, 16% sử dụng ứng dụng tìm kiếm, 14% sử dụng dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động[8] Sinh viên thường sử dụng điện thoại thông minh cho các mục đích khác nhau như là học tập, giải trí, liên lạc, giao dịch mua sắm…Bởi những tiện ích mà nó mang lại, họ dễ bị phụ thuộc vào điện thoại thông minh cũng như là các ứng dụng trên đó
Sinh viên là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh, nhiều người thường sử dụng điện thoại thông minh để né tránh các cảm giác tiêu cực trong các tình huống xã hội Theo một nghiên cứu tại Mỹ (2015), 93% sinh viên sử dụng điện thoại của họ để tránh bị chán, và 47% sử dụng để tránh tương tác với người khác[53] Bên cạnh đó số lượng bạn và quan hệ xã hội ở nhóm đối tượng này cũng
Trang 28được mở rộng nhiều, công cụ thường xuyên và dễ dàng để liên lạc và trao đổi với bạn bè được sinh viên sử dụng nhiều là điện thoại thông minh
1.2.3 Thời gian, thời điểm sử dụng
Lusekelo Kibona, Gervas Mgaya (2015) đã khảo sát trên 100 sinh viên sử dụng ĐTTM để tìm hiểu tác động của việc sử dụng smartphone đến kết quả học tập của
họ Kết quả cho thấy điện thoại thông minh có ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập của sinh viên Thời gian sử dụng ĐTTM càng nhiều thì kết quả học tập càng giảm Có tới 48% sinh viên sử dụng 5-7 giờ mỗi ngày để lên mạng xã hội như Facebook, twitter, Instagram…và nữ nghiện smartphone nhiều hơn nam[38].
Mỗi cá nhân sử dụng điện thoại thông minh trong thời gian khác nhau, tần suất khác nhau và mức độ liên tục cũng khác nhau Theo Berolo (2011), một người dành trung bình hơn 3,5h/ngày để nhắn tin, gửi e-mail, lên lịch và trình duyệt Internet trên điện thoại di động[63] Một nghiên cứu online về thói quen sử dụng ĐTTM ở Việt Nam năm 2014 của W&S Joint Stock Company cho kết quả có 28.7% người dùng dành 2 – 4 giờ / ngày, 23,3% người dùng dành 4-6 giờ/ngày để sử dụng ĐTTM trong đó 26.9% người dùng dành 1 – 2 giờ / ngày để sử dụng internet trên điện thoại
và 18:01 – 22:00 giờ là thời điểm người dùng thường sử dụng nhất.[1]
Hiện nay việc sử dụng các thiết bị di động trở nên khá phổ biến trong trường học Một khảo sát năm 2012 trên 269 sinh viên đại học có 95% học sinh mang điện thoại đến lớp mỗi ngày, 92% sử dụng điện thoại để nhắn tin trong giờ học, và 10% thừa nhận họ đã nhắn tin trong một bài kiểm tra ít nhất một lần Phần lớn các sinh viên được khảo sát tin rằng các giảng viên không biết mức độ mà các hoạt động nhắn tin và các hoạt động điện thoại di động khác bao gồm duyệt Internet, gửi hình ảnh, hoặc truy cập các trang web mạng xã hội của việc sinh viên lén lút sử dụng điện thoại đi động trong giờ học, trong khi thi cử[75]
Theo một nghiên cứu về mạng xã hội với sinh viên tai Việt Nam năm 2015 chỉ
ra rằng mỗi người dành 160 phút mỗi ngày để truy cập Internet bằng điện thoại di
Trang 29động Thực tế qua khảo sát các địa điểm sinh viên thường vào mạng xã hội, kết quả cho thấy nơi truy cập nhiều nhất là ở nhà (49,6%) nhiều hơn gấp 6 lần so với khi họ
ở trường học (8%) Chỉ có 12,4% sinh viên cho biết họ sử dụng mạng xã hội ở tiệm Internet, nhưng có tới 40% sinh viên sử dụng MXH ở mọi nơi với các thiết bị di động như điện thoại, máy tính bảng[5]
1.2.4 Ảnh hưởng đến sức khỏe
Tại Hàn Quốc, giới trẻ thường sử dụng điện thoại thông minh nhiều hơn người cao tuổi nên họ dễ bị rối loạn cơ xương khớp nghiêm trọng, các triệu chứng có thể bao gồm mệt mỏi và đau ở các chi trên như: cổ, vai, tay, cổ tay, bàn tay và ngón tay Các rối loạn cơ xương khớp thường xuất hiện là do chuyển động lặp đi lặp lại và do
sự căng cơ tối thiểu của người sử dụng điện thoại gây ra bởi nhiều giờ tiếp xúc[56] Theo kết quả nghiên cứu của Hyo-Jeong Kim và Jin-Seop Kim về mối quan hệ giữa việc sử dụng điện thoại thông minh và các triệu chứng cơ xương khớp ở sinh viên đại học, số liệu chỉ ra rằng 55.8% đối tượng nghiên cứu cảm thấy đau ở cổ, 54.8% cảm thấy đau ở vai, 19.2% người nghiên cứu cảm thấy đau ở cánh tay, 19.2% cảm thấy đau ở bàn tay, 27.1% cảm thấy đau ở cổ tay, 19.9% cảm thấy đau ở ngón tay[30]
Rất nhiều nghiên cứu báo cáo tác động tiêu cực của việc sử dụng điện thoại thông minh đối với giấc ngủ Người ta cho rằng một trong những nguyên nhân giảm tiết chất melatonin dưới ánh sáng xanh tiếp xúc từ màn hình điện thoại thông minh Khoảng cách nhìn có thể gây rối loạn giấc ngủ, bởi vì khoảng cách nhìn quyết định mức độ chiếu sáng đến mắt Nghiên cứu chỉ ra khoảng cách tiếp xúc ngắn, ở tư thế nằm có tương quan dương với trạng thái ngủ kém, hiệu quả giấc ngủ thấp và thời gian ngủ lâu hơn[60] Đây cũng là kết quả nghiên cứu “Ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh có và ánh sáng màu xanh đối với con người vào ban đêm”[20]
Trang 301.2.5 Giới tính
Hầu như các nghiên cứu chỉ ra rằng nữ giới có mức độ phụ thuộc và sử dụng ĐTTM cao hơn nam giới Sự khác biệt giữa nam và nữ dựa trên thời gian sử dụng chứ không phải là mục đích sử dụng Phụ nữ dành nhiều thời gian sử dụng cho các ứng dụng cao hơn nam giới, dẫn đến những hành vi tạo mối quan hệ xã hội chặt chẽ trong khi nam giới sử dụng thời gian của họ theo cách thiết thực và có ích hơn[66] Trong khi đó nghiên cứu của Mok, J.Y cùng cộng sự vào năm 2014 chỉ ra có
sự khác biệt giữa tình trạng nghiện internet và ĐTTM ở 2 giới Cụ thể, xét về sử dụng internet, nam giới nghiện nhiều hơn (p<0,05); tuy nhiên, đối với ĐTTM, mô hình này đảo ngược (p<0,001) có nghĩa là nữ giới có xu hướng sử dụng ĐTTM nhiều hơn[43] Sự khác biệt giới tính trong các yếu tố liên quan đến nghiện điện thoại thông minh cũng được tìm thấy trong nghiên cứu trên đối tượng sinh viên y khoa ở Trung Quốc Tỷ lệ nghiện điện thoại thông minh là 29,8% (30,3% ở nam giới và 29,3% ở nữ giới) trong số 1441 tham gia nghiên cứu dựa trên thang đo mức
độ nghiện ĐTTM (SAS-SV) Điều này có thể được lý giải là do nữ giới sử dụng nhiều hơn những ứng dụng đa phương tiện trên ĐTTM (chụp ảnh, nhắn tin, mạng xã hội…) còn nam giới có xu hướng thích chơi game trực tuyến Những kết quả này cho thấy cần phải can thiệp để giảm bớt thói nghiện điện thoại thông minh giữa các
sinh viên đại học[11]
Mặc dù, laptop là thiết bị được sử dụng phổ biến hơn cả cho việc học ở trường tuy nhiên dữ liệu khảo sát từ năm 2011 đến năm 2015 chứng tỏ việc sử dụng ĐTTM
và máy tính bảng cũng đang tăng lên nhanh chóng Cụ thể vào năm 2014 tỉ lệ sinh viên sử dụng laptop (89%), ĐTTM (56%), máy tính bảng (33%) thì vào năm 2015 tỉ
lệ này là 87%, 64%, 40% Tuy nhiên hầu hết sinh viên nói rằng họ cảm thấy học tốt nhất là trên laptop (56%), máy tính bảng (16%), chỉ 11% cho rằng học trên điện thoại thông minh hiệu quả hơn so với các thiết bị còn lại[47]
Trang 31Một số yếu tố liên quan đến thói quen sử dụng ĐTTM là kết quả của nghiên cứu tại Pew Research Center thực hiện vào năm 2015 Nghiên cứu chỉ ra thói quen
sử dụng ĐTTM phụ thuộc nhiều vào độ tuổi, thu nhập và trình độ học vấn Những người có độ tuổi trẻ hơn, thu nhập khá và trình độ giáo dục cũng cao hơn có tỉ lệ sở hữu điện thoại thông minh cao hơn, trong đó có sinh viên đại học Kết quả của nghiên cứu cho thấy 84% đến từ gia đình có thu nhập cao trên 75000$/năm Từ đây cũng dễ thấy độ tuổi sinh viên là độ tuổi có nhiều tương tác với điện thoại thông minh.Với số lượng sở hữu ĐTTM chiếm đa số như vậy, 15% sinh viên trong nghiên cứu hoàn toàn phụ thuộc vào kết nối internet trên ĐTTM Với nhiều nhu cầu cấp bách của sinh viên như tìm việc làm, học tập, nộp đơn xin việc, các dịch vụ cơ bản khác… sinh viên thường xuyên phải sử dụng ĐTTM để nhanh chóng tiếp cận với thông tin mới[10] Còn nghiên cứu trên sinh viên ở Ả Rập năm 2017 thì lại chỉ ra mức độ căng thẳng cao, hoạt động thể lực thấp, thời gian cũng như tần suất sử dụng ĐTTM dài hơn ở sinh viên có liên quan đáng kể đến việc nghiện ĐTTM[57]
1.3 Thực trạng mức độ nghiện ĐTTM của sinh viên
độ tuổi này là 96% hay ở Mỹ là 98%[40, 49] Một cuộc khảo sát sinh viên độ tuổi từ 18-30 được tiến hành tại Mĩ năm 2015 về việc sử dụng các thiết bị di động Kết quả khảo sát cho thấy có 85% sinh viên sở hữu điện thoại thông minh và xu hướng sử dụng ĐTTM tăng lên trong trường học[46]
Các nghiên cứu ở một số nước cho thấy tỷ lệ nghiện điện thoại thông minh cao, đặc biệt là trong số sinh viên đại học Tỷ lệ nghiện điện thoại thông minh trong sinh
Trang 32viên được ước tính là 6% ở Ý; 38% ở Tây Ban Nha; 18,8% ở Nhật Bản; 28,7% ở Hà Lan; 27,4% ở Hồng Kông; 25% ở Hoa Kỳ; 44% ở Ấn Độ; 25,8% ở Jordan và 67%
ở các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất[26]
Khi mà tỷ lệ thanh thiếu niên sử dụng ĐTTM tăng cao vì vậy đã có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới về tình trạng nghiện ĐTTM đã được đưa ra Tuy nhiên mức
độ nghiện ĐTTM ở các nghiên cứu chưa đồng nhất về phương pháp đánh giá nên tùy thuộc vào tiêu chuẩn và mẫu nghiên cứu mà có phương pháp đánh giá khác nhau Theo một số nghiên cứu, vấn đề sử dụng ĐTTM có thể được đưa vào danh mục các hành vi nghiện khi các yếu tố sau được xem xét: 1) cá nhân lặp đi lặp lại một hành vi đặc trưng (Sử dụng ĐTTM); 2) hành vi được cho là để trốn chạy thực tại hoặc tạo ra một trạng thái vui vẻ hơn; 3) khi hành vi càng kéo dài thì sức chịu đựng hành vi càng tăng cao; 4) khi hành vi bị phá vỡ thì những xuất hiện một số trạng thái (lo lắng, thất vọng, dễ cáu); 5) nếu hành vi vẫn tiếp tục gia tăng thì những vấn đề về giao tiếp xã hội càng bị ảnh hưởng; 6) những thói quen trong hành vi ngăn cản những dự định[43]
Một nghiên cứu của Đài Loan với 10,191 đối tượng nghiên cứu là thanh niên cho thấy có 30% người tham gia có mức độ chịu đựng hành vi cao, 36% cho thấy đã từng từ bỏ nghiện điện thoại, 27% cho biết thời gian sử dụng dài hơn so với dự định ban đầu, 18% không thành công trong việc giảm bớt tần suất sử dụng và 10% có sự thay đổi trong các mối quan hệ[76]
Tại Ấn Độ 6 trong số 45 nghiên cứu liên quan đến nghiện ĐTTM đã được thực hiện bằng cách sử dụng phần mềm trực tuyến Med-Calc phân tích meta về tỷ lệ Mức độ nghiện điện thoại thông minh của thanh thiếu niên ở Ấn Độ với tỷ lệ từ 39% đến 44% (P <0.0001) Nghiên cứu còn chỉ ra rằng nghiện điện thoại không chỉ làm nguy hại kỹ năng giao tiếp xã hội mà còn có thể dẫn đến các nguy cơ sức khoẻ tiêu cực và ảnh hưởng xấu đến tâm lý thanh thiếu niên Ấn Độ[13].Một nghiên cứu được thực hiện tại 127 lớp học nghề ở Thụy Sỹ với tổng số học sinh là 1.519 người, số
Trang 33học sinh nghiện ĐTTM là 256 người,chiếm (16.9%) Nghiện ĐTTM ở học sinh độ
tuổi 15-16 cao hơn so với những người trên 19 tuổi[18]. Nghiện điện thoại di động được đánh giá bằng cách sử dụng thang đo SAS-SV[31]
Nghiên cứu trên 598 sinh viên điều dưỡng của một trường đại học ở Hàn Quốc cho kết quả 17,5% số người được hỏi đã nghiện ĐTTM[23] 189 sinh viên nha khoa trường Qaseem Private college- Ả Rập Xê Út nghiện ĐTTM (chiếm 71,9%) Nghiên cứu chỉ ra mức độ căng thẳng cao, hoạt động thể lực thấp, chỉ số BMI cao, thời gian
và tần suất sử dụng điện thoại thông minh tăng lên, và việc truy cập các trang mạng
xã hội có liên quan đáng kể tới vấn đề nghiện ĐTTM[58] Nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của mức độ nghiện smartphone đến đời sống xã hội và giáo dục đối với sinh viên ngành khoa học sức khỏe tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2015 có 785 sinh viên tham gia với 91,7% là người sử dụng điện thoại thông minh.Dựa trên thang đo SAS, nghiên cứu nhận thấy mức độ nghiện ĐTTM trong nhóm tuổi ≤20 đã được tìm thấy cao hơn đáng kể so với ở nhóm> 20 tuổi (p <0,05) Do đó nghiên cứu cho thấy rằng mức độ nghiện smartphone là cao hơn ở độ tuổi từ 20 trở xuống và cần phải chủ động thực hiện các biện pháp để ngăn ngừa nghiện ĐTTM[64]
1.3.2 Tại Việt Nam
Khi xã hội ngày càng hiện đại, công nghệ phát triển một cách mạnh mẽ khiến nhu cầu sở hữu điện thoại thông minh gia đang tăng nhanh chóng Thống kê số lượng người dùng ĐTTM tại Việt Nam năm 2017 ước đạt 28,77 triệu người Điều này có nghĩa là khoảng 28,5% dân số sử dụng ĐTTM vào thời điểm này và được dự đoán sẽ tăng lên 40% vào năm 2021[48]
Ở các thành phố trọng điểm như Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Nha Trang, Cần Thơ… số lượng người dùng ĐTTM thường cao hơn các tỉnh thành khác Theo báo cáo của công ty nghiên cứu thị trường Nielsen tỷ lệ người dùng điện thoại thông minh (smartphone) so với người dùng điện thoại thông thường (feature phone) trong năm 2017 là 84%; tăng 6% so với năm 2016 (tỷ lệ 78%).Trong khi đó, Tỷ lệ
Trang 34sử dụng ĐTTM ở nông thôn năm 2017 là 68%[24] Khi được hỏi về việc sở hữu các thiết bị như máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng năm 2016, hơn một nửa cho biết họ sử dụng điện thoại thông minh (55%), trong khi 46% sử dụng máy tính và 12% sử dụng máy tính bảng Tỷ lệ này chưa kể đến việc sở hữu đồng thời các thiết
bị trên tuy nhiên nó cho thấy được ĐTTM đang ngày càng phổ biến
Việt Nam là một trong những thị trường hấp dẫn cho sự phát triển của ĐTTM, đặc biệt là xu hướng truy cập internet trên thiết bị này ngày càng trở nên phổ biến và
đa dạng hơn Nước ta với dân số hơn 90 triệu dân thì có đến 44% người sử dụng internet, 141% có kết nối mạng di động và số người sử dụng tài khoản xã hội trên điện thoại là 24 triệu (chiếm 26%) vào năm 2015[16].Theo nghiên cứu khảo sát của WeAreSocial ở các nước Đông Nam Á vào đầu năm 2017, Việt Nam là quốc gia có thị trường điện thoại di động tiềm năng, đặc biệt là với sự phổ biến của các mạng xã hội di động với 43% dân số Việt Nam đã sử dụng dịch vụ này[25] Nghiên cứu 800 sinh viên Việt Nam năm 2015 cho biết có 65% sinh viên đại học đang sở hữu ĐTTM Họ dành khoảng 5.1 tiếng để truy cập internet và 2.6 tiếng dành để lướt Facebook Các hoạt động chính trên ĐTTM bao gồm nhắn tin (75%) và lướt web (74%) là các hoạt động phổ biến nhất; Chơi game (68%) và xem video (64%) là những ứng dụng phổ biến nhất trên điện thoại của họ Điều này chứng tỏ ĐTTM đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống ngày nay
Hiện nay, xã hội rất quan tâm đến vấn đề sử dụng, thậm chí nghiện ĐTTM; cácphương tiện truyền thông đang đặt ra nhiều vấn đề và các tác động của việc nghiện ĐTTM trong cuộc sống của con người hiện đại, đặc biệt là giới trẻ Mặc dù ĐTTM mang lại rất nhiều tiện ích và giá trị cho người sử dụng, nhưng việc sử dụng quá nhiều dẫn đến trạng thái si mê, gây nghiện là điều đáng báo động Ở Việt Nam
đã có một vài nghiên cứu chỉ ra thực trạng nghiện Internet và một sốhành vi nghiện khác của giới trẻ Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi hiện tại chưa tìm thấy nhiều tài liệu y văn ở Việt Nam đề cập đến vấn đề nghiện điện thoại thông minh
Trang 351.4 Bộ công cụ Thang đo mức độ nghiện điện thoại thông minh bản rút gọn
(Smartphone Addiction Scale – Short Version – SAS-SV)
Thang đo SAS-SV được Kwon và cộng sự vào năm 2013 để đo mức độ lạm dụng của người sử dụng ĐTTM[32] Đây là phiên bản rút gọn từ Thang đo Mức độ nghiện điện thoại thông minh (Smartphone Addiction Scale – SAS) được phát triển bởi Kwon và cộng sự vào năm 2013[31] Thang đo bản đầy đủ bao gồm 33 câu và phiên bản rút gọn bao gồm 10 câu từ bản đầy đủ và được chia thành 5 yếu tố quyết định mức độ lạm dụng được miêu tả như sau:
• “Ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường nhật và sức chịu đựng” miêu tả
sự khó khăn tập trung trong lớp, lỡ mất kế hoạch, việc luôn luôn cố gắng kiểm soát việc sử dụng ĐTTM nhưng không thành công (bao gồm câu 1, 2, 9, 10)
• “Sự cai nghiện” miêu tả cảm giác thiếu kiên nhẫn, bực bội và không chịu đựng được khi không có ĐTTM (bao gồm câu 4, 5, 6)
• “Lạm dụng” miêu tả việc sử dụng ĐTTM không kiểm soát được (bao gồm câu 7)
• “Phụ thuộc vào mạng xã hội” miêu tả việc luôn luôn cần kiểm tra thông báo trên ĐTTM về mạng xã hội (bao gồm câu 8)
• “Dấu hiệu thể chất” miêu tả việc cảm thấy đau mỏi vai gáy, cổ tay, thiếu ngủ… (bao gồm câu 3)
Các câu hỏi được đánh giá trên 6 mức độ trên thang đo Likert (1: hoàn toàn phản đối, 2: phản đối, 3: phản đối một phần; 4: đồng ý một phần; 5: đồng ý; 6: hoàn toàn đồng ý) Mức độ được chọn tương đương với số điểm cuối cùng của câu hỏi đó Giá trị điểm SAS từ 10 đến 60, điểm SAS-SV là 26 tương đương với mức độ sử dụng ĐTTM phổ biến Xét trên khía cạnh giới tính, kết quả điểm SAS-SV của nam trên 31 sẽ được nhận định là nghiện ĐTTM, từ 22-31 sẽ là đối tượng có nguy cơ cao Kết quả điểm SAS-SV của nữ trên 33 sẽ được nhận định là nghiện ĐTTM, từ
Trang 3622-33 sẽ là đối tượng có nguy cơ cao Điểm giới hạn mức độ nghiện là 32 điểm đối với cả hai giới
Từ nghiên cứu năm 2012, tác giả của thang đo (Kwon và các cộng sự) đã đưa
ra kết luận ĐTTM thông minh dần trở thành công cụ thay thế cho internet, và hình thành một phương thức nghiện mạng xã hội mới: nghiện điện thoại thông minh Kwon và các cộng sự cho rằng cho rằng thanh thiếu niên có xu hướng tập trung sử dụng mạng xã hội nhiều hơn và từ đó phát triển vấn đề về thói quen sử dụng nhiều hơn so với người lớn Ông cũng đưa ra nhận định, khi so sánh với người lớn, nhóm thanh thiếu niên có nguy cơ cao hơn nghiện ĐTTM[70] Chính vì những lí do trên, một phương pháp đo lường hợp lí cho độ tuổi thanh thiếu niên cần được phát triển, đặc biệt nên cần có giá trị giới hạn mức độ để đánh giá Từ đây, Kwon và các cộng
sự phát triển bộ công cụ SAS - phiên bản rút gọn và hoàn thành thử nghiệm độ tin cậy vào năm 2013 trên 540 học sinh cấp 2, cấp 3 tại Hàn Quốc từ tháng 4 đến tháng
5 năm 2013 Trong nghiên cứu này, điểm SAS-SV được so sánh với ba thang đo mức độ nghiện hiện hành là Thang đo Mức độ nghiện ĐTTM (Smartphone Addiction Scale) (độ tin cậy 0.967), Thang đo Thiên hướng nghiện ĐTTM (Smartphone Addiction Proneness Scale) (độ tin cậy 0.880)[27], Thang đo tự vấn Mức độ nghiện Internet Hàn Quốc phiên bản ngắn gọn (Korean self-reporting internet addiction scale short-form scale) (độ tin cậy 0.909)[71] Theo kết quả nghiên cứu, thang đo SAS-SV được đánh giá là có độ tin cậy cao (Hệ số Cronbach alpha của thang đo SAS là 0.911) Mức liên quan giữa thang đo SAS-SV với thang
đo SAS là 0,96; với thang đo SAPS là 0,76 và với thang đo KS là 0,42 Thang đo này sau đó được cân nhắc là phù hợp với các nhóm đối tượng có nguy cơ cao, đặc biệt là thanh thiếu niên[32] Khi được thử nghiệm phiên bản tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha trên đối tượng hơn 18 tuổi kết quả cho thấy độ tin cậy của thang đo SAS-
SV khá cao và gần với giá trị độ tin cậy của bản tiếng Anh (bản tiếng Pháp: α = 0.9; bản tiếng Tây Ban Nha: α = 0.88; bản tiếng Anh nguyên gốc: α = 0.91)[37] Tương
Trang 37tự với bản thử nghiệm phiên bản tiếng Thổ Nhĩ Kì trên đối tượng học sinh cấp 3 với
hệ số tin cậy là 0.88 và bản tiếng Đức trên đối tượng học sinh cấp 3 người Thụy Sĩ với hệ số tin cậy là 0.85 [19, 61] Khi so sánh hệ số tương quan biến – tổng, các phiên bản cho giá trị tương đương nhau với 0,46 đến 0,71 (phiên bản Tây Ban Nha); 0,62 đến 0,74 (phiên bản Pháp)[37]; 0,5 đến 0,8 (phiên bản gốc)[33]; 0,43 đến 0,76 (phiên bản Thổ Nhĩ Kì)[61]; 0,40 đến 0,63 (phiên bản tiếng Đức)[19] Các phiên bản chuyển đổi ngôn ngữ trên đều đưa ra nhận định thang đo SAS-SV rất phù hợp với lứa tuổi thanh thiếu niên nguy cơ nghiện ĐTTM cao, và có khả năng thích nghi trên nhiều đối tượng có nền văn hóa khác nhau
Các nghiên cứu khác nhau cho kết quả điểm trung bình SAS-SV khác nhau Khi kiểm nghiệm bộ công cụ này với học sinh cấp 2 tại Hàn Quốc, tác giả Kwon và cộng sự cho kết quả điểm SAS-SV trung bình là 25,26[33] Giá trị điểm SAS-SV trong nghiên cứu với đối tượng trên 18 tuổi tại Tây Ban Nha và Bỉ cho kết quả SAS-
SV trung bình là 21,10 và 24 với hai nước tương ứng Tại Tây Ban Nha, dấu hiệu
“sức chịu đựng” trong thang đo (93.9%) có tỉ lệ người trả lời câu nhất, dấu hiệu “sự cai nghiện” trong thang đo (100%) có tỉ lệ đối tượng tại Bỉ trả lời cao nhất Với cả hai quốc gia, dấu hiệu “ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường nhất” có tần số nhỏ nhất (13.3% và 64.7%) Phần lớn các đối tượng có dấu hiệu lạm dụng ĐTTM đều đồng ý với các dấu hiện “sự cai nghiện” và “sức chịu đựng” trong quá trình[37] Bên cạnh đó, các nghiên cứu sử dụng thang đo SAS-SV cho thấy có sự khác biệt mang tính thống kê và mối liên quan với các yếu tố như giới tính, thời gian sử dụng ĐTTM… Trong nghiên cứu thử nghiệm của Kwon và cộng sự năm 2013 trên
540 học sinh, điểm SAS-SV giữa nam và nữ là 23,75 và 27,89, hai giá trị này có sự khác biệt thống kê đáng ghi nhận (p<0.001) Điểm SAS-SV được ghi nhận trong nghiên cứu này không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi kiểm định trên khả năng tài chính xã hội (thu nhập thấp, trung bình, cao) và môi trường gia đình (bố mẹ đơn thân, không có bố mẹ, có cả bố và mẹ) Điểm SAS-SV trên số học sinh hút
Trang 38thuốc và hút thuốc trung bình là 27.52 và 27.94, tuy không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê nhưng những giá trị trên cao hơn điểm của đối tượng không hút thuốc hay uống rượu Đối với các câu hỏi tự đánh giá mức độ nghiện của bản thân, nhóm tự đánh giá bản thân nghiện ĐTTM có điểm SAS-SV trung bình là 34, nhóm
tự đánh giá bản thân không nghiện ĐTTM có điểm là 22 Kết quả này cho thấy, điểm SAS-SV cao phản ánh nhận thức về mức độ nghiện ĐTTM của bản thân[33] Dựa trên kết quả nghiên cứu trên của Kwon và cộng sự (2013), nghiên cứu tại Tây Ban Nha và Bỉ cho thấy không có sự khác biệt giữa điểm SAS-SV giữa hai giới (Tây Ban Nha: p=0,89; Bỉ: p=0,72) Với đối tượng tại Tây Ban Nha, 15 trên 117 số mẫu được đánh giá lạm dụng ĐTTM (12,8%, 15,2% nam và 10,2% nữ), và kết quả tương tự với 17 trên 79 số mẫu tại Bỉ (21,5%, 20% nam và 22% nữ) Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm sử dụng tại cả hai quốc gia (lạm dụng và không lạm dụng ĐTTM) Tại Tây Ban Nha, nhóm đối tượng không lạm dụng ĐTTM có điểm SAS-SV trung bình là 18,54 (SD = 6,31), nhóm lạm dụng ĐTTM có điểm trung bình là 38,53 (SD = 5,44), kết quả tương tự tại Bỉ (nhóm không lạm dụng: M = 18,9 (SD = 6,5); nhóm lạm dụng: M = 42,59 (SD = 8,54)) Khi đánh giá mối liên quan với thói quen sử dụng ĐTTM, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê có thể quan sát được giữa nhóm mức độ sử dụng ĐTTM và tổng số phút sử dụng/ngày/tuần (Tây Ban Nha: nhóm không lạm dụng: M = 221,9 (SD = 240,79); nhóm lạm dụng M = 478,16 (SD = 343,63); Bỉ: nhóm không lạm dụng: M = 83,65 (SD = 146,47); nhóm lạm dụng: M = 304,71 (SD = 329,59)) Tương tự với nghiên cứu của Kwon và cộng sự (2013), gần như không có mối liên quan nào quan sát được giữa các giá trị về yếu tố văn hóa xã hội với điểm SAS-SV[37]
Với nghiên cứu tại Thụy Sĩ, kết quả SAS-SV cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kế với thơi gian sử dụng ĐTTM trong ngàu dài hơn (ít hơn 60 phút/ngày; 1-2 tiếng: OR = 2.32, p = .03; 3–4 tiếng: OR = 5.79, p < .01; 5–6 tiếng: OR = 10.78,
p < .01; hơn 6 tiếng: OR = 10.98, p < .01); thời gian sử dụng ĐTTM ngay lập tức sau
Trang 39khi tỉnh dậy (trong vòng 5 phút; từ 6-30 phút: OR = 0.49, p < .01; từ 31–60 phút:
OR = 0.25, p < .01; hơn 60 phút: OR = 0.39, p = .04) Nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa sử dụng ĐTTM để lên mạng xã hội với mức độ nghiện ĐTTM (OR = 0.49, p = .01) Tác giả cũng chỉ ra các đối tượng độ tuổi trẻ hơn, xuất thân từ gia đình nhập cư, thể chất yếu hơn và mức độ stress cao hơn có nguy cơ nghiện ĐTTM cao hơn Tương tự như kết quả của Kwon M (2013), việc uống đồ có cồn và hút thuốc lá không có sự tương quan với mức độ nghiện ĐTTM[19]
Nghiên cứu trên 262 đối tượng người Đức năm 2017 được thực hiện bởi Éilish Duke và các cộng sự cho kết quả SAS-SV cho thấy sự khác biệt nhỏ giữa điểm SAS-SV giữa hai giới tính (M nam = 13,43; SD nam = 9,18 cao hơn M nữ = 11, SD
nữ = 8,07;p = 0.055) với điểm SAS-SV trung bình của hai giới thấp hơn kết quả của Kwon M (2013) Kết quả này còn cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực của việc sử dụng ĐTTM với năng suất làm việc của đối tượng, đánh giá qua thời gian tiêu tốn tại nơi làm việc vì ĐTTM Tương tự như vậy, thời gian làm việc thực tế cũng bị ảnh hưởng tiêu cực được chứng minh qua mối liên quan giữa điểm SAS với thời gian làm việc không bị gián đoạn (p < 0,01) và thời gian làm việc thực trong 1 tuần gần nhất (p = 0,09)[67]
1.5 Giới thiệu về đối tượng, địa bàn nghiên cứu
Nhóm đối tượng mà nghiên cứu hướng đến là sinh viên hệ chính quy chuyên ngành YTCC thuộc 3 trường đại học trên địa bàn Hà Nội (ĐH YTCC, ĐH Y Hà Nội, ĐH Thăng Long) Chương trình Đào tạo Cử nhân Y tế công cộng có thời gian 4 năm với mục tiêu giúp sinh viên có y đức, sức khoẻ, có kiến thức về khoa học cơ bản, khoa học xã hội, y học cơ sở, y tế công cộng để tham gia phát hiện và tổ chức giải quyết các vấn đề sức khoẻ ưu tiên trong cộng đồng; có khả năng tự học và nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Chỉ tiêu chuyên ngành YTCC của 3 trường thay đổi qua mỗi năm, dao động
Trang 40Long (30 chỉ tiêu) Tuy nhiên trong quá trình học, số lượng sinh viên có thể giảm do nhu cầu học của sinh viên thay đổi Chương trình đạo tạo cử nhân YTCC của 3 trường đều theo quy chế tín chỉ, sinh viên cần nắm được kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, các môn định hướng chuyên ngành YTCC Trong đó sinh viên năm 3 trường ĐH YTCC được phân ra các lớp định hướng khác nhau: Track Dịch tễ - thống kê, track dinh dưỡng, track SKMT- NN Sinh viên chuyên ngành YTCC tại 3 trường Đại học YTCC, Đại học Y HN, Đại học Thăng Long mang những nét đặc trưng của sinh viên Việt Nam Đây là nhóm đối tượng trẻ nên rất yêu thích công nghệ và nhu cầu sử dụng công nghệ ngày càng tăng cao Trước quy chế yêu cầu sinh viên học theo tín chỉ, họ phải tìm kiếm các tài liệu, bài giảng điện tử, tài liệu tham khảo nước ngoài do giảng viên yêu cầu cập nhật và thu thập Vì vậy mà nhu cầu tìm kiếm thông tin trên các trang web, ebook, bài giảng điện tử, CSDL online tăng lên Đối với sinh viên trường ĐH YTCC năm đầu, họ được tìm hiểu các tài liệu, giáo trình về môn y học cơ sở và các môn học cơ bản khác; đến khi trở thành sinh viên năm 3 họ bắt đầu học các chuyên ngành thì nhu cầu thông tin về môn chuyên ngành cũng được hình thành Với đa số sinh viên sở hữu điện thoại thông minh, nhóm sinh viên chuyên ngành YTCC có nhu cầu sử dụng ĐTTM tăng lên để hỗ trợ họ cho công việc học tập cũng như các mục đích khác