Túi độn silicon đã được sử dụng trong gần 6 thập kỷ. Trong thời gian này, đã trải qua nhiều thay đổi đáng kể trong thiết kế và sử dụng. Các thế hệ túi hiện tại đã được theo dõi thông qua các nghiên cứu cốt lõi của nhà sản xuất để có được dữ liệu dài hạn về sự an toàn và cá biến chứng.
Trang 1VỠ TÚI ĐỘN SILICONE SAU TÁI TẠO TUYẾN VÚ:
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP VÀ TỔNG QUAN Y VĂN
NGUYỄN VĂN THỪA1, PHẠM LÊ XUÂN HUY2, NGUYỄN HỒNG PHÚC2,
NGUYỄN BÁ TRUNG3, HOÀNG THÀNH TRUNG4, TRẦN MINH TUẤN1, TRƯƠNG THÀNH TRÍ2, PHAN ĐỨC VĨNH KHÁNH5, HÀ HIẾU TRUNG2
TÓM TẮT
Túi độn silicon đã được sử dụng trong gần 6 thập kỷ Trong thời gian này, đã trải qua nhiều thay đổi đáng
kể trong thiết kế và sử dụng Các thế hệ túi hiện tại đã được theo dõi thông qua các nghiên cứu cốt lõi của nhà sản xuất để có được dữ liệu dài hạn về sự an toàn và cá biến chứng Tốc độ vỡ ban đầu rất thấp và bắt đầu tăng sau 6 - 8 năm cấy ghép Vỡ túi có thể được phát hiện bằng khám lâm sàng, siêu âm hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI)
Phần lớn các trường hợp vỡ túi silicone là khó phát hiện lâm sàng Bệnh nhân có triệu chứng co thắt vỏ bao, khối u ở vú hoặc thay đổi hình dạng vú Nguyên nhân phổ biến nhất của vỡ túi là tác động của dụng cụ trong quá trình phẫu thuật Vỡ túi độn silicone có thể được giới hạn trong vỏ bao giả hoặc có thể xâm nhập vào
mô vú Bệnh nhân có triệu chứng với túi bị vỡ nên được cung cấp sự lựa chọn theo dõi, hay phẫu thuật có hoặc không có thay túi mới
Chúng tôi xin báo cáo trường hợp bệnh nhân nữ 28 tuổi, vỡ túi sau 03 năm tái tạo vú trái, bệnh nhân phát hiện tình cờ khi đi tái khám định kỳ qua siêu âm vú Bệnh nhân được chẩn đoán xác định lại bằng MRI tuyến vú
và sau đó phẫu thuật thay túi độn
SUMMARY
Silicone breast implant rupture in reconstructions: Case report and review
Silicone breast implant have been used for nearly 6 decades During this time, they underwent significant changes in design and use Current generations of bags have been monitored through the manufacturer's core studies to obtain long-term data on safety and complications The initial rupture rate is very low and begins to increase after 6 - 8 years of transplant Rupture of the sac can be detected by physical examination, ultrasound
or magnetic resonance imaging (MRI)
The majority of broken silicone bags are clinically undetectable Symptomatic patients may appear with capsule spasm, breast lumps or breast shape changes The most common cause of pocket rupture is the impact of instruments during surgery Rupture of the silicone padded pouch may be limited to a dummy capsule
or may penetrate into breast tissue Patients with symptoms of a broken bag should be offered the option of follow-up, or surgery with or without a new bag replacement
We would like to report the case of a 28 - year - old female patient with a broken breast after 3 years of reconstructing her left breast, who accidentally discovered it during a routine breast re-examination The patient was diagnosed again by MRI of the mammary gland and then had surgery to change the padded bag
Keywords: Implant, rupture, silicone
1BSCKII Phó Trưởng Khoa Điều trị Tổng hợp - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
2 BSCKI Khoa Điều trị Tổng hợp - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
3BSCKII Trưởng Khoa Điều trị Tổng hợp - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
4ThS.BSCKII Phó Trưởng Khoa Điều trị Tổng hợp - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
5 BSCKII Khoa Điều trị Tổng hợp - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
Trang 2MỞ ĐẦU
Túi độn silicone là một chất liệu cần thiết trong
phẫu thuật thẩm mỹ và tái tạo vú toàn cầu kể từ phát
minh bởi Cronin vào đầu năm 1960 Trong những
thập kỷ tiếp theo, túi độn silicone trải qua nhiều tiến
bộ trong thiết kế và đã được chịu sự giám sát và
tranh cãi quốc tế đáng kể liên quan đến an toàn
Mối quan tâm về độ an toàn này dẫn đến việc ngừng
sử dụng túi độn silicone ở Mỹ từ năm 1992 - 2000
FDA yêu cầu các nhà sản xuất túi độn nộp các
nghiên cứu cốt lõi về độ an toàn và hiệu quả về một
số lượng lớn vật liệu dùng trong tương lai này
Vào tháng 11 năm 2006, sau khi trình bày dữ liệu
chứng minh hiệu quả và an toàn trong thời gian dài
bao gồm lợi ích và nguy cơ vỡ túi, co thắt vỏ bao và
mổ lại, túi độn silicone được FDA chấp nhận là một
phương tiện sử dụng cho cả phẫu thuật thẩm mỹ và
tái tạo tuyến vú Hiện tại, ở Mỹ, có ba nhà sản xuất túi độn ngực silicon đã được phê duyệt: Allergan, Sientra và Mentor Trong bài viết này chúng tôi xin
đề cập đến vỡ túi độn ngực silicon bao gồm tỷ lệ vỡ túi, cơ chế vỡ, chẩn đoán và xử trí vỡ túi
Cuộc cách mạng về túi độn
Túi độn silicone được phân loại thành các thế
hệ dựa trên sự tiến bộ và phát triển của lớp vỏ ngoài của túi và vật liệu làm đầy gel Thế hệ đầu tiên được
sử dụng trong những năm 1960 và đầu những năm
70 Chúng có lớp vỏ dày và chất liệu silicone có độ nhớt cao dẫn đến rất chắc chắn và cấy ghép bền Miếng dán Dacron được đặt ở mặt sau của túi để giảm di chuyển cấy ghép Tỷ lệ vỡ thấp; tuy nhiên,
co thắt võ bao và vôi hóa tỷ lệ cao, gần 100% trong cấy ghép tại chỗ lớn sau hơn 10 năm
Hình 1 Các kiểu vỡ túi
(A) Túi thế hệ 1 còn nguyên vẹn với bằng chứng về gel đã chảy
(B) vỡ túi thế hệ thứ hai silicone chảy tự do;
(C) vỡ túi trong võ bao, silicone ở trong bao xơ như một bệnh nhân có khối u vú
Do đó, thế hệ túi ngực thứ hai đã được thiết kế
với lớp vỏ mỏng hơn và silicone ít nhớt hơn theo thứ
tự để tạo cảm giác mềm mại và tự nhiên hơn
Do những thay đổi thiết kế, vỏ túi mỏng thế hệ thứ
hai đã bị ảnh hưởng với tỷ lệ vỡ túi tăng đáng kể cao
tới 60%(5,6) Ngoài ra, kích thước hạt nhỏ với liên kết
chéo tối thiểu cần thiết cho kết quả linh hoạt hơn
trong sự khuếch tán đáng kể của các đoạn silicon
chuỗi ngắn xuyên qua vỏ bọc, và vào xung quanh vỏ
bao được biết đến như chảy silicone Tỷ lệ vỡ cao
và mối quan tâm về tác dụng xấu của gel silicone
trong túi đã giúp kích thích phân loại lại silicone cấy
ghép và dẫn đến việc tạm ngưng sử dụng, chờ xử lý
kết quả nghiên cứu cốt lõi Hình 1 cho thấy các ví dụ
về các loại vỡ khác nhau của túi gặp phải bao gồm
cả chảy gel trong vỏ bao, vỡ vỏ bao với silicone
chảy tự do, và vỡ túi nhưng được bao quanh trong
bao xơ xung quanh
Túi độn silicone thế hệ thứ ba nhằm giải quyết
tăng tỷ lệ vỡ và chảy silicone đáng kể của túi thế hệ
thứ hai Thêm lớp vỏ bền, nhiều lớp với lớp rào chắn
ở giữa Diphenyl Silicone giữa hai lớp Diphenyl
Silicone giảm đáng kể vỡ và chảy silicone Ngoài ra, thêm vào silicone chứa kích thước hạt lớn hơn và tăng liên kết chéo để giảm khuếch tán Thế hệ túi độn ngực thứ ba được sử dụng cho các nghiên cứu sau cùng của FDA về túi silicone ở Mỹ Kể từ đó, túi thế hệ thứ tư và thứ năm đã được phát triển, bao gồm cả hình thức và hình dạng ổn định, đó là các túi độn hiện đang sử dụng Những túi độn này có
vỏ dày hơn kết hợp với chất làm đầy gel gắn kết hơn
và được sản xuất trong cả hai mô hình vỏ nhám
và trơn(7)
Tỷ lệ và thời gian vỡ túi
Dữ liệu liên quan đến tỷ lệ vỡ túi được công bố trong Nghiên cứu cốt lõi của mỗi nhà sản xuất thực hiện và công bố làm cơ sở cho sự chấp thuận của FDA Đến nay, không có phương pháp chuẩn hóa báo cáo tỷ lệ vỡ túi mà không cần phục hồi, một lựa chọn nhiều bệnh nhân từ chối Tỷ lệ báo cáo khác nhau đáng kể giữa các nhà sản xuất và phương pháp đánh giá bệnh nhân Trong nghiên cứu cốt lõi Allergan và Mentor, một số bệnh nhân được sàng lọc bằng chụp cộng hưởng (MRI), trong khi những
Trang 3công trình khác chỉ khám lâm sàng nếu họ biểu hiện
với các triệu chứng thực thể, thì họ dùng MRI đánh
giá lại(8) Túi tròn Mentor MemoryGel chứng minh
tổng tỷ lệ vỡ tích lũy sau 6 năm là: 1,1% đối với đặt
túi thẩm mỹ lần đầu, 11,6% đối với đặt túi thẩm mỹ
lại lần sau, 3,8% cho tái tạo vú lần đầu và 5,9% cho
tái tạo vú bằng túi lại lần sau(9) Dữ liệu dài hơn đã
được thống kê nhưng hiện đang không được công
bố(10) Mentor hình giọt nước ước tính tỷ lệ vỡ trong
nghiên cứu đoàn hệ trên MRI sau 6 năm là 2,1% cho
thẩm mỹ lần đầu, 2,9% cho thay đổi túi, 1,5% cho tái
tái tạo lần đầu và 0% cho tái tạo sửa lại(11)
Túi tròn Allergan Naturelle, 10 năm tỷ lệ vỡ của khi nghiên cứu đoàn hệ MRI (264 bệnh nhân) là: 9,3% cho đặt túi thẩm mỹ lần đầu, 5,4% cho đặt túi thẩm mỹ lại lần sau và 35,4% cho tái tạo bằng túi lần đầu, với tỷ lệ vỡ tổng thể là 13,0%(12) Mẫu túi Allergan nhám, sau 10 năm trong nghiên cứu đoàn
hệ MRI (316 bệnh nhân) nguy cơ vỡ là 17,7% đối với phẫu thuật đặt túi thẩm mỹ lần đầu, 14,7% đối đặt túi thẩm mỹ lại lần sau, 12,4% cho tái tạo bằng túi lần đầu và 19,6% cho tái tạo sửa lại Tỷ lệ vỡ chung (nghi ngờ và xác nhận) trong đoàn hệ MRI là 16,4%(13)
Bảng 1 Phân tích Kaplan-Meier so sánh tỷ lệ vỡ túi theo các nhà sản xuất và theo chiều dài nghiên cứu
Lo ại túi (Chi ều dài nghiên cứu) Th ẩm mỹ lần đầu Thay túi Tái t ạo lần đầu Thay túi tái t ạo
Một nghiên cứu cốt lõi trung bình 9 năm về túi
gel Sientra được công bố vào năm 2016 bao gồm
1.788 bệnh nhân với đoàn hệ MRI gồm 571 bệnh
nhân Tỷ lệ vỡ đoàn hệ MRI 8 năm là: 6,4% cho đặt
túi thẩm mỹ lần đầu, 5,2% cho đặt túi thẩm mỹ lại lần
sau, 2,8% cho tái tạo bằng túi độn lần đầu và dữ liệu
tái tạo lần sau hiện không có sẵn Ngoài ra, tỷ lệ vỡ
trong 10 năm đoàn hệ MRI tăng cơ bản là 9.0%(14)
Bảng 1 tóm tắt dữ liệu vỡ được công bố gần đây
nhất cho túi độn có sẵn ở Mỹ
Ngoài các nghiên cứu bắt buộc của FDA, còn
có tài liệu quan trọng mô tả tỷ lệ vỡ túi trong dân số
quốc tế Collis và Shape kiểm tra 149 bệnh nhân có
sử dụng túi thế hệ thứ ba để đặt túi thẩm mỹ hoặc tái
tạo vú băng túi độn MRI đã được thực hiện và bệnh
nhân có dùng túi nghi ngờ được đề nghị kiểm tra
Dữ liệu của họ cho thấy rằng vỡ túi bắt đầu từ năm
6 - 7 và từ năm 13 tỷ lệ vỡ là 11,8%(15) Một nghiên
cứu của Đan Mạch được thiết kế để xác định tỷ lệ
vỡ túi ở phụ nữ dùng túi silicone nguyên thủy bởi
MRI trong khoảng thời gian 3 năm Đối với túi hiện
đại, thế hệ ba hay thế hệ sau, họ ước tính túi được
bảo tồn không vỡ là 98% sau 5 năm và 83% - 85%
tại 10 năm Họ kết luận rằng túi hiện đại có độ bền
trong 6 - 8 năm Nguy cơ vỡ tăng đáng kể sau 6
năm với tỷ lệ ước tính là 15% và thời gian dự kiến
sẽ vỡ giữa năm thứ ba và thứ mười sau khi đặt(16)
Do thiếu sự sàng lọc và báo cáo được chuẩn
hóa, cũng như nhiều thế hệ túi độn và nhà sản xuất
có sẵn, rất khó để đưa ra tỷ lệ vỡ tương đương giữa các loại và giữa các nhà sản xuất túi Trong các tài liệu đã xuất bản, cần thận trọng để so sánh trực tiếp
tỷ lệ vỡ mà không xem xét cẩn thận các phương pháp chẩn đoán và phương pháp thống kê đánh giá hoặc khoảng thời gian để đánh giá tỷ lệ vỡ được báo cáo
GIỚI THIỆU BỆNH ÁN
Bệnh nhân nữ, tên TRẦN THANH TH NG
28 tuổi
Địa chỉ: Phường Phú Hữu, Quận 9, Thành phố
Hồ Chí Minh
Vào viện ngày 01/08/2019
Ngày ra viện: 19/08/2019
Số vào viện: 022515/16
Lý do vào viện: Theo dõi vỡ túi độn vú trái Bệnh sử: Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư
vú trái TisN0M0 đã được sinh thiết bướu, được phẫu thuật sinh thiết hạch lính gác nách trái - Đoạn nhũ trái - tái tạo vú trái bằng túi độn (11/2016) Giải phẫu bệnh sau mổ là carcinôm tuyến vú tại chỗ, grad cao Bệnh nhân được xuất viện và tái khám định kỳ khoa khám bệnh mỗi 03 tháng Tháng 06/2019, bệnh nhân đi tái khám, siêu âm định kỳ theo dõi vỡ túi độn silicone nên nhập viện trở lại
Trang 4Tình trạng lúc nhập viện: bệnh tỉnh, KPS 100
Không tiền căn bệnh lý khác
Khám
Tuyến vú 2 bên cân đối, không dấu hiệu biến
dạng, sờ không thấy khối hay tổn thương trên
vú trái
Hạch nách 2 bên sờ không thấy
Các cơ quan khác chưa ghi nhận bất thường
Siêu âm
Vú trái (tái tạo): Có hình ảnh túi độn ở phía sau
cơ ngực lớn, vỏ bao xơ mỏng liên tục, bờ gợn sóng, giữa các nếp có dịch echo dày di chuyển khi đè
Hình 2 kết quả siêu âm: bao xơ gợn sóng và có dịch
MRI
Vú trái đã phẫu thuật và đặt implant phía sau cơ ngực lớn, túi có tín hiệu trung gian trên T1W1, tín hiệu cao trên T2W1, Silicone Bright, có hình ảnh vỡ trong bao, silicone ra ngoài bao implant nhưng còn nằm trong bao xơ, có ít dịch xung quanh bao implant
Hình 3 Có hình ảnh vỡ trong bao
Bệnh nhân được phẫu thuật lấy túi độn, bơm rửa và thay túi mới
Trang 5Hình 4 Bệnh nhân trước và trong phẫu thuật
Hình 5 Túi độn của bệnh nhân bị vỡ
Hình 6 Sau thay túi
BÀN LUẬN
Chẩn đoán vỡ túi độn silicone
Hầu hết các bệnh nhân bị vỡ túi độn không biểu
hiện các dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng và
được gọi là vỡ im lặng(17,18) Đánh giá vỡ túi chủ yếu
phụ thuộc bởi các triệu chứng của bệnh nhân, bao
gồm thay đổi hình dạng vú, kích thước hoặc độ săn
chắc, co thắt vỏ bao, sờ thấy khối u hoặc đau vú
Có nhiều phương thức chẩn đoán có thể được sử
dụng để đánh giá vỡ túi bao gồm MRI, siêu âm,
chụp nhũ ảnh, chụp CT và cuối cùng là khám thực
thể MRI được chấp nhận rộng rãi như là nghiên cứu
hình ảnh được lựa chọn để đánh giá tính toàn vẹn
của túi với độ nhạy và độ đặc hiệu lớn hơn 90%(19)
Những phát hiện kinh điển về MRI bao gồm dấu hiệu
hình lưỡi(20) hoặc dấu hiệu giọt nước mắt trong túi
hiện đại(21) FDA hiện khuyến cáo phụ nữ có túi độn
trải qua sàng lọc 3 năm sau khi đặt và sau đó cứ mỗi
2 năm(22) Hướng dẫn này bắt đầu một cuộc thảo
luận giữa bệnh nhân và bác sĩ của họ về những rủi ro xảy ra Hạn chế của MRI bao gồm chi phí, cần máy quét với thiết bị chụp tuyến vú, thời gian thực hiện và hạn chế của bệnh nhân do cấy ghép y
tế khác
Hình 7 Cho thấy sự xuất hiện điển hình của vỡ túi silicon Có sự sụp của vỏ túi và silicone tự do
trong võ bao
Trang 6Siêu âm đã được phổ biến như là một phương
tiện thay thế cho MRI Những ưu điểm bao gồm
giảm chi phí và thời gian, tuy nhiên, nó được biết
đến là phục thuộc nhiều vào bác sĩ siêu âm Siêu âm
có thể phát hiện cả vỡ ngoài vỏ bao được mô tả là
dấu hiệu bão tuyết(23)và vỡ trong vỏ bao được mô tả
là dấu hiệu thang đứng(24) Sự giảm độ nhạy và
giá trị tiên đoán âm tính của siêu âm đã được
chứng minh do sự hiện diện của co thắt vỏ bao(25)
Trong một so sánh phân tích chi phí giữa siêu âm và
MRI để sàng lọc vỡ túi, siêu âm đã được tìm thấy có
hiệu quả hơn về mặt chi phí ở cả phụ nữ có triệu
chứng và không có triệu chứng Ở phụ nữ không có
triệu chứng, MRI thường được sử dụng để xác nhận
kết quả siêu âm dương tính(26)
Chụp nhũ ảnh là một phương thức hình ảnh
tương đối rẻ tiền và thường xuyên được thực hiện
cho phụ nữ có và không có túi độn vú Vỡ ngoài vỏ
bao có silicone tự do có thể dễ dàng được phát hiện
bằng chụp nhũ ảnh; tuy nhiên, đây chỉ là một tỷ lệ
nhỏ của vỡ túi độn(21) Do tính chất dày đặc của
silicone, chụp nhũ ảnh không thể phát hiện ra vỡ
trong vỏ bao Điều này giới hạn các tiện ích tổng thể
của chụp nhũ ảnh trong việc phát hiện vỡ túi(19)
Các dấu hiệu trên nhũ ảnh bao gồm mật độ thùy
hoặc hình cầu từ xa mô cấy và hình dạng không đều
đến vỏ túi
Khám thực thể là bước đầu tiên cho một bệnh
nhân để đánh giá vỡ túi Các phát hiện trong khám
bao gồm sự bất cân xứng của vú, các nốt sần hoặc
các hạch bạch huyết, co thắt vỏ bao hoặc sờ thấy vỏ
bao túi Trong một nghiên cứu so sánh khám thực
thể về vỡ túi với MRI, độ nhạy khám lâm sàng để
chẩn đoán vỡ là 30% và độ đặc hiệu 88% Giá trị
tiên đoán dương tính của chẩn đoán lâm sàng vỡ là
75% và giá trị tiên đoán âm tính là 49%
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã kết luận rằng
khi khám lâm sang để xác định vỡ túi độn, cả độ
nhạy và độ đặc hiệu đều không được chấp nhận(18)
Một nghiên cứu gần đây trên 102 bệnh nhân
sau phẫu thuật cắt bỏ vú từ Viện Ung thư Châu Âu
kết luận MRI nên là phương thức được lựa chọn để
chẩn đoán vỡ túi ở phụ nữ không có triệu chứng do
độ chính xác vượt trội so với siêu âm Tuy nhiên,
các tác giả khuyên nên kiểm tra định kỳ bằng siêu
âm và xác nhận bằng MRI(27)
Cơ chế vỡ túi độn silicone
Các cơ chế dẫn đến vỡ túi đã được nghiên cứu
chặt chẽ Các cơ chế được đề xuất cho vỡ túi bao
gồm tổn thương từ dụng cụ phẫu thuật, sưng vỏ, lỗ
hổng hoặc chấn thương cho túi như lực ép vào
thành ngực hoặc đóng nắp phẫu thuật Các nhà sản
xuất túi đã nghiên cứu các cơ chế vỡ túi trên các túi
vỡ được phát hiện Handel et al xem xét dữ liệu của
Mentor và Allergan về nguyên nhân vỡ và tìm thấy 50−64% cấy ghép bị vỡ được báo cáo là bị hư hỏng bởi các dụng cụ phẫu thuật(8)
Sưng võ là một hiện tượng xảy ra sau khi đặt túi Nó được mô tả là sự giảm độ bền của vỏ do sự
di chuyển của chất lỏng silicone vào vỏ Necchi et al
đã kiểm tra lý thuyết này bằng cách cho các vỏ của túi nguyên thủy và túi vỡ hiện đại vào thử nghiệm sức mạnh Nghiên cứu của họ đã tìm thấy sự giảm đáng kể về độ bền của vỏ bị vỡ so với võ không bị
vỡ và có liên quan đến sự thay đổi này với sưng vỏ dựa trên tỷ lệ chiết xuất trong túi bị vỡ(28) Nếp gấp như một nguyên nhân vỡ implant và mô tả các kiểu gấp khác nhau thất bại dựa trên kính hiển vi
Brandon và cộng sự, công bố nhiều nghiên cứu
về cơ chế vỡ túi Năm 2006, họ đưa ra giả thuyết về
sự thất bại tại vị trí nếp gấp là nguyên nhân của vỡ túi và mô tả các kiểu gấp khác nhau dựa trên kính hiển vi(29) Nếp gấp túi được tìm thấy là phổ biến hơn trong sự hiện diện của co thắt võ bao trong thời gian dài Sự vỡ của túi có thể là một quá trình đa yếu tố
và vẫn chưa thấy được những tiến bộ trong sự gắn kết gel và cải tiến trong thiết kế vỏ trong túi thế hệ 4
và 5 sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ và cơ chế vỡ túi
Biến chứng và xử trí
Biến chứng của vỡ túi silicone đã là chủ đề của nhiều nghiên cứu Một phân tích tổng hợp của dữ liệu dịch tễ học được công bố năm 2004 cho thấy không có bằng chứng về tỷ lệ mắc bệnh mô liên kết
ở phụ nữ đặt túi silicone(30) Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây(31,32) Một đánh giá từ năm 2007, đã mô tả năm nghiên cứu mối liên hệ về túi bị vỡ và nguy cơ bệnh mô liên kết Trong số các nghiên cứu này, không có bằng chứng cho thấy mối liên quan của bệnh mô liên kết được xác định rõ hoặc được xác định kém với vỡ túi(33)
Nghiên cứu từ cơ sở dữ liệu quốc gia của Đan Mạch đã đánh giá phụ nữ với nhiều nhà sản xuất và nhiều loại túi với MRI trong khoảng thời gian 2 năm
Họ đã tìm thấy khoảng ba phần tư các trường hợp
vỡ túi độn là trong vỏ bao và một phần tư còn lại là ngoài vỏ bao Trong số các bệnh nhân bị vỡ túi, chỉ có 10% số ca cấy ghép bị vỡ trong vỏ bao tiến triển thành vỡ ngoài vỏ bao Ở những bệnh nhân bị
vỡ ngoài vỏ bao, 84% vẫn ổn định trong cùng khoảng thời gian Phân tích sâu hơn cho thấy không
có bằng chứng về mức độ tăng kháng thể lên khi so sánh bệnh nhân đặt túi còn nguyên vẹn hoặc vỡ(16) Các nghiên cứu nhân khẩu học như vậy cho thấy không có gánh nặng sức khỏe rõ rệt nào liên quan đến cấy ghép bị vỡ hoặc nguyên vẹn là rất quan trọng trong việc đạt được sự chấp thuận của FDA
Trang 7Bệnh nhân bị vỡ âm thầm, được phát hiện tình
cờ, nên được cung cấp các lựa chọn là phẫu thuật
hoặc theo dõi Nhiều người chọn theo dõi một thời
gian Bệnh nhân có các vấn đề lâm sàng có thể
được giải quyết bằng phẫu thuật thì chủ động hơn
Việc xử trí phẫu thuật được đề nghị hiện nay đối với
túi độn ngực vỡ được chẩn đoán hoặc có triệu
chứng là loại bỏ, thường bao gồm cả phẫu thuật cắt
bỏ võ bao Khi vỡ trong vỏ bao, tức là, silicone tự do
được chứa trong vỏ bao xơ xung quanh; loại bỏ mô
cấy và lấy hết silicone tự do, cắt bỏ vỏ bao và thay
thế túi khác nếu bệnh nhân muốn Vỡ ngoài vỏ bao,
với silicone tự do trong mô vú, được xử trí tương tự
với việc cắt bỏ thêm bất kỳ u hạt nhìn thấy hoặc sờ
thấy có trong nhu mô vú(5)
KẾT LUẬN
Vỡ túi độn ngực bằng silicon được biết là biến
chứng liên quan đến cả phẫu thuật nâng ngực và tái
tạo vú Tốc độ vỡ tăng theo tuổi thọ của túi Do sự
khác biệt đáng kể về phương pháp và sự khác biệt
trong đánh giá bệnh nhân, cũng như độ dài thời gian
cấy ghép được báo cáo trong dữ liệu vỡ túi, rất khó
để so sánh trực tiếp tỷ lệ vỡ giữa các nhà sản xuất
và các loại túi Tổn thương túi độn bằng dụng cụ
phẫu thuật có khả năng là nguyên nhân hàng đầu
của vỡ Phần lớn các trường hợp vỡ túi silicone là
khó phát hiện lâm sàng và không có ảnh hưởng sức
khỏe đáng kể Bệnh nhân có triệu chứng với túi vỡ
nên được cung cấp sự lựa chọn theo dõi, hoặc giải
thích phẫu thuật cắt bỏ vỏ bao, có hoặc không có
thay túi mới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Cronin TD, Gerow FJ Augmentation
mammoplasty: A new ‘natural feel’ prosthesis
Transections of the Third International Congress
of Plastic Surgery, Amsterdam Excerpta Medical
1964: 41 - 9
2 U.S Food and Drug Administration Regulatory
History of Breast Implants in the U.S Available
fda.gov/MedicalDevices/ProductsandMedicalPro
cedures/
ImplantsandProsthetics/BreastImplants/ucm0644
61htm
3 Cronin TD, Greenberg RL Our experiences with
the silastic gel breast prosthesis Plast Reconstr
Surg 1970; 46: 1 - 7
4 Peters W, Pritzker K, Smith D, et al Capsular
calcification associated with silicone breast implants:
incidence, determinants, and characterization Ann
Plast Surg 1998; 41: 348 - 60
5 Collis N, Sharpe DT Silicone gel-flled breast implant integrity: a retrospective review of 478 consecutively explanted implants Plast Reconstr Surg 2000; 105: 1979 - 85; discussion 1986 - 9
6 Brown SL, Middleton MS, Berg WA, et al Prevalence of rupture of silicone gel breast implants revealed on MR imaging in a population
of women in Birmingham,Alabama AJR Am J Roentgenol 2000; 175: 1057 - 64
7 Maxwell GP, Gabriel A The evolution of breast implants Plast Reconstr Surg 2014; 134:12S-7S
8 Handel N, Garcia ME, Wixtrom R Breast implant rupture: causes, incidence, clinical impact, and management Plast Reconstr Surg 2013; 132:
1128 - 37.168 Hillard et al Silicone breast implant rupture: a review© Gland Surgery All rights reserved gs.amegroups.com Gland Surg 2017;6(2): 163 – 168
9 Cunningham B, McCue J Safety and effectiveness of Mentor's MemoryGel implants at
6 years Aesthetic Plast Surg 2009; 33: 440 - 4
10 Health Canada Summary Basis of Decision (SBD) for MENTOR MEMORYGEL™ CPG BREAST IMPLANTS COHESIVE III Available online: http://www.hc-sc.gc.ca/dhp-mps/prodpharma/sbd-smd/md-im/ sbd - smd-
2015 - mentorcpg - 86150 - eng.php
11 Hammond DC, Migliori MM, Caplin DA, et al Mentor Contour Profle Gel implants: clinical outcomes at 6 years Plast Reconstr Surg 2012; 129: 1381 - 91
12 Spear SL, Murphy DK; Allergan Silicone Breast Implant U.S Core Clinical Study Group Natrelle round silicone breast implants: Core Study results at 10 years Plast Reconstr Surg 2014; 133: 1354 - 61
13 Maxwell GP, Van Natta BW, Bengtson BP, et al Tenyear results from the Natrelle 410 anatomical formstable silicone breast implant core study Aesthet Surg J 2015; 35: 145 - 55
14 Stevens WG, Calobrace MB, Harrington J, et al NineYear Core Study Data for Sientra's FDA-Approved Round and Shaped Implants with High-Strength Cohesive Silicone Gel Aesthet Surg J 2016; 36: 404 - 16
15 Collis N, Litherland J, Enion D, et al Magnetic resonance imaging and explantation investigation of longterm silicone gel implant integrity Plast Reconstr Surg 2007; 120:
1401 - 6
Trang 816 Hölmich LR, Friis S, Fryzek JP, et al Incidence
of silicone breast implant rupture Arch Surg
2003; 138: 801 - 6
17 Dowden RV Detection of gel implant rupture: a
clinical test Plast Reconstr Surg 1993; 91: 548 -
50
18 Hölmich LR, Fryzek JP, Kjøller K, et al The
diagnosis of silicone breast-implant rupture:
clinical fndings compared with fndings at
magnetic resonance imaging Ann Plast Surg
2005; 54: 583 - 9
19 Everson LI, Parantainen H, Detlie T, et al
Diagnosis of breast implant rupture: imaging
fndings and relative effcacies of imaging
techniques AJR Am J Roentgenol 1994; 163:
57 - 60
20 Gorczyca DP MR imaging of breast implants
Magn Reson Imaging Clin N Am 1994; 2:
659 - 72
21 Gorczyca DP, Gorczyca SM, Gorczyca KL The
diagnosis of silicone breast implant rupture Plast
Reconstr Surg 2007; 120: 49S - 61S
22 U.S Food and Drug Administration Silicone
GelFilled Breast Implants Available online:
http://www.fda
gov/MedicalDevices/ProductsandMedicalProced
ures/
ImplantsandProsthetics/BreastImplants/ucm0638
71.htm
23 Beekman WH, van Straalen WR, Hage JJ, et al
Imaging signs and radiologists' jargon of
ruptured breast implants Plast Reconstr Surg
1998; 102: 1281 - 9
24 DeBruhl ND, Gorczyca DP, Ahn CY, et al
Silicone breast implants: US evaluation
Radiology 1993; 189: 95-8
25 Medot M, Landis GH, McGregor CE, et al
Effects of capsular contracture on ultrasonic
screening for silicone gel breast implant rupture
Ann Plast Surg 1997; 39: 337 - 41
26 Chung KC, Malay S, Shauver MJ, et al Economic analysis of screening strategies for rupture of silicone gel breast implants Plast Reconstr Surg 2012; 130: 225-37
27 Rietjens M, Villa G, Toesca A, et al Appropriate use of magnetic resonance imaging and ultrasound to detect early silicone gel breast implant rupture in postmastectomy reconstruction Plast Reconstr Surg 2014; 134:13e - 20e
28 Necchi S, Molina D, Turri S, et al Failure of silicone gel breast implants: is the mechanical weakening due to shell swelling a signifcant cause of prostheses rupture? J Mech Behav Biomed Mater 2011; 4: 2002-8
29 Brandon HJ, Taylor ML, Powell TE, et al Morphology of breast implant fold flaw failure J Long Term Eff Med Implants 2006; 16: 441 - 50
30 Lipworth L, Tarone RE, McLaughlin JK Silicone breast implants and connective tissue disease:
an updated review of the epidemiologic evidence Ann Plast Surg 2004; 52: 598 - 601
31 Gabriel SE, O'Fallon WM, Kurland LT, et al Risk
of connective-tissue diseases and other disorders after breast implantation N Engl J Med 1994; 330: 1697 - 702
32 Sánchez-Guerrero J, Colditz GA, Karlson EW, et
al Silicone breast implants and the risk of connective-tissue diseases and symptoms N Engl J Med 1995; 332: 1666 - 70
33 Hölmich LR, Lipworth L, McLaughlin JK, et al Breast implant rupture and connective tissue disease: a review of the literature Plast Reconstr Surg 2007; 120: 62S - 69S
34 Christopher Hillard, Jason D Fowler, Ruth Barta, Bruce Cunningham Silicone breast implant rupture: a review Gland Surg 2017; 6 (2):163 –
168