1. Trang chủ
  2. » Bác sĩ

XÂY DỰNG TRUNG ĐỘI TỰ QUẢN TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

11 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng trung đội tự quản trong học tập, rèn luyện tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh là một trong các biện pháp nhằm xây dựng thói quen hành vi tự giác chấp [r]

Trang 1

Tập 183, số 07, 2018

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Hoàng Thị Phương Nga - Mô hình du lịch văn học “Làng Vũ Đại ngày ấy” 3

Phạm Thị Thu Hoài, Trần Thị Thanh - Tiếng lóng trong truyện về đề tài giáo dục của Văn Thành Lê 9 Ngô Thị Thanh Nga, Phạm Thị Hồng Vân - Vài nét về các phương thức thể hiện tình vợ chồng trong văn

Nguyễn Thị Thắm, Nguyễn Minh Sơn - Ý thức đối thoại của Nguyễn Ngọc Tư với văn học truyền thống thông

qua những nhân vật nữ trong tập truyện Không ai qua sông 21 Đặng Thị Thùy, Nguyễn Diệu Thương - Lô gích của các hiện tượng “phi lô gích” trong ca dao, tục ngữ

Đinh Thị Giang - Những nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 33 Nguyễn Diệu Thương, Nguyễn Thị Lan Hương - Phương thức tạo hàm ý trong tiểu phẩm trào phúng 39

Nguyễn Thu Quỳnh, Vì Thị Hiền - Từ ngữ chỉ đồ gia dụng trong tiếng Thái ở tỉnh Điện Biên 45 Nguyễn Thị Thu Oanh, Hoàng Thị Mỹ Hạnh - Vị thế, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam giai

đoạn 1945 - 1975 và một số bài học kinh nghiệm 51

Đỗ Hằng Nga, Phạm Quốc Tuấn - Việc thu thuế trong làng xã qua tư liệu hương ước cải lương tỉnh Thái Nguyên 57

Lê Văn Hiếu - Hiệu quả hoạt động của mô hình “ban tuyên vận” xã, phường, thị trấn và “tổ tuyên vận” thôn, bản, tổ

dân phố ở tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay 63 Thái Hữu Linh, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Thanh Hà - Vai trò của hậu phương Bắc Thái trong cuộc

Phạm Anh Nguyên - Sức hấp dẫn trong Hài đàm của Phan Khôi 73 Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thị Mão, Nguyễn Tuấn Anh - Nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động ngoại

khoá trong dạy học môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thái

Nguyễn Văn Dũng, Đào Ngọc Anh - Thực trạng thể chất của sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường

Đại hoc Sư phạm – Đại học Thái Nguyên 85 Trần Bảo Ngọc, Lê Ngọc Uyển, Bùi Thanh Thủy và cs - Thực trạng xếp loại tốt nghiệp sinh viên diện cử

tuyển ở trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên giai đoạn 2013-2017 91 Nguyễn Thúc Cảnh - Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập có nội dung thực tế trong giảng dạy cơ học cho

Hà Thị Kim Linh, Chu Thị Bích Huệ - Giáo dục kiến thức pháp luật cho phụ nữ vùng dân tộc thiểu số ở huyện

Nguyễn Thị Thanh Hồng, Nguyễn Thị Khánh Ly, Vũ Kiều Hạnh - Tăng cường sự tham gia của sinh viên

vào các hoạt động học tiếng Anh trong lớp học đông nhiều trình độ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học

Phạm Thị Huyền, Vũ Thị Thủy - Vận dụng phong cách nêu gương theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng

phong cách làm việc đối với cán bộ chủ chốt ở nước ta hiện nay 117 Đàm Quang Hưng - Thiết kế bài học khoa học lớp 4, lớp 5 theo hướng tìm tòi thực nghiệm 123 Hoàng Thị Thu Hoài - Những khó khăn trong việc dạy và học từ vựng tiếng Anh chuyên cho sinh viên chuyên

ngành điều dưỡng, trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên và một số giải pháp đề xuất 129

Journal of Science and Technology

183 (07)

N¨m 2018

Trang 3

Nguyễn Lan Hương, Văn Thị Quỳnh Hoa - Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nói tiếng Anh của sinh

viên năm thứ nhất trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên 135

Vũ Kiều Hạnh - Những yếu tố quyết định đến mức độ đọc hiểu của sinh viên năm thứ hai tại trường Đại học

Nguyễn Thị Quế, Hoàng Thị Nhung - Hỏi đúng để tự học và học tập cộng tác thành công – hướng tới xây

dựng người học ngoại ngữ độc lập trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế 147 Ngô Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Hoài Thu - Ứng dụng các phương pháp giảng dạy tích cực nhằm nâng cao chất

lượng dạy – học tiếng Việt cho học viên quốc tế tại Học viện Kỹ thuật Quân sự 153 Dương Văn Tân - Đánh giá hiệu quả áp dụng trò chơi vận động trong phát triển thể lực chung cho sinh viên

trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên 159 Bùi Thị Hương Giang - Nâng cao năng lực giao tiếp giao văn hóa trong dạy và học ngoại ngữ 165 Trần Hoàng Tinh, Nông La Duy, Phạm Văn Tuân - Xây dựng trung đội tự quản trong quản lý giáo dục tính

kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trong giai đoạn hiện nay 171 Trần Thị Yến, Khổng Thị Thanh Huyền - Sử dụng hình thức đọc chuyên sâu để nâng cao khả năng viết học

thuật cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh 177

Đỗ Thị Hồng Hạnh, Hoàng Mai Phương - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chợ Mới,

Trần Thùy Linh, Trần Lương Đức, Nguyễn Thị Thùy Trang - Cách tiếp cận của pháp luật cạnh tranh liên

minh châu Âu về hành vi lạm dụng mang tính trục lợi 189 Nguyễn Thị Thanh Hà, Phạm Việt Hương - Xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số kinh tế phù hợp để đánh giá quản

Đinh Thị Hoài - Truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trung tâm Học liệu Đại

Nguyễn Thị Thanh Xuân - Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ

Dương Thị Tình - Đóng góp của xuất khẩu hàng hóa tới tăng trưởng kinh tế của tỉnh Yên Bái 213

Lê Minh Hải, Trần Viết Khanh - Phân tích tổ chức không gian lãnh thổ du lịch tỉnh Thái Nguyên 219

Hà Văn Vương - Vận dụng lý thuyết Ecgônômi trong tổ chức môi trường làm việc tại văn phòng chi nhánh may

Sông Công II - Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 227 Mai Anh Linh, Nguyễn Thị Minh Anh - Đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: nghiên

cứu thực nghiệm tại siêu thị Lan Chi, Thái Nguyên 233 Đinh Hồng Linh, Nguyễn Thu Nga, Nguyễn Thu Hằng - Sử dụng hàm Loga siêu việt để đánh giá hiệu quả

kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam 239

Trang 4

Trần Hoàng Tinh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 171 - 176

171

XÂY DỰNG TRUNG ĐỘI TỰ QUẢN TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC

TÍNH KỶ LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC

QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Xây dựng trung đội tự quản trong học tập, rèn luyện tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh là một trong các biện pháp nhằm xây dựng thói quen hành vi tự giác chấp hành kỷ luật cho sinh viên Đây là thói quen hành vi rất cần thiết, để sinh viên sẵn sàng ứng phó với những tình huống biến động và phức tạp ở môi trường học tập có tính kỷ luật cao Trong môi trường đó, sinh viên sẽ học tập, rèn luyện để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh mà Đảng và Nhà nước đã xác định, đó là: Phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Từ khóa: sinh viên, kỷ luật, trung tâm, quốc phòng, an ninh, trung đội tự quản

Khi nói về vai trò của kỷ luật (KL), A.X

Makareco (1888-1939) cũng đã khẳng định

vai trò của KL tích cực trong việc: Hình

thành ý thức và hành động tự giác của con

người [1, tr.28] Tác giả R Retxke - người

Đức đã đề cập tới tính kỷ luật trong học tập

của sinh viên (SV) lại cho rằng: học tập ở đại

học là một quá trình phát triển của con người,

quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Trong các yếu tố đó thì yếu tố bên trong (tính

tự giác, tự quản) đóng vai trò quyết định đến

kết quả học tập Việc hoàn thành có kết quả

những nhiệm vụ học tập đặt ra đòi hỏi người

học phải đấu tranh với bản thân một cách có

phê phán và phải sáng tạo trong quá trình học

[2, tr.33]

Trong cuốn “Những vấn đề tự quản trong hệ

thống các trường cao đẳng” xuất bản năm

1983 tại trường Đại học Tổng hợp Kazan do

N.M.Paysakhov chủ biên, đã đề cập tới công

tác độc lập tự học trong giờ lên lớp và giờ tự

quản ở nhà của SV, trong đó ý thức KL của

SV giữ vai trò quan trọng

Ở trong nước đã có một số tác giả đi sâu

nghiên cứu về biện pháp giáo dục tính KL,

như: Luận án tiến sĩ giáo dục học của tác giả

Phạm Đình Hòe với đề tài:“Hệ thống biện

pháp giáo dục KL cho học viên văn hóa nghệ

*

Tel: 0988.114.316; Email: tinhqptn@gmail.com

thuật quân đội” [3]; Luận án tiến sĩ giáo dục học: “Nghiên cứu quy trình tổ chức giáo dục

KL cho học viên trong nhà trường quân đội” của tác giả Vũ Quang Hải [4], và “Sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dục thói quen hành vi KL cho học viên sĩ quan ở các trường đại học quân sự”, luận án tiến sĩ giáo dục học

của tác giả Phạm Minh Thụ [5]

Trong những nghiên cứu về giáo dục tính KL của các tác giả trên, đã bàn luận đến những biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục KL cho học viên trong quá trình học tập, rèn luyện ở các nhà trường quân đội Đặc biệt, các nghiên cứu trên đã nêu lên sự cần thiết phải xây dựng mô hình tự quản của học viên đối với việc giáo dục tính KL Trong bài viết này, chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu ở các công trình nêu trên, trong việc khai thác xây dựng mô hình trung đội tự quản (TĐTQ) trong giáo dục tính KL cho SV tại các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh (GDQPAN)

Theo chúng tôi, TĐTQ trong giáo dục tính KL cho SV trong GDQPAN là giúp SV tự theo dõi, đánh giá, nhắc nhở nhau và cá nhân tự giác trong việc chấp hành theo nội quy, quy chế và những yêu cầu của tính KL tại Trung tâm GDQPAN, mà không cần sự giám sát hay quản lý của các lực lượng giáo dục trong Trung tâm Giúp cho SV nhanh chóng có nhận thức đúng, thái độ đúng và để có được hành

Trang 5

Trần Hoàng Tinh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 171 - 176

vi KL đúng Nó thể hiện ý thức sâu sắc về

trách nhiệm của bản thân trước tập thể, có

giác ngộ chính trị và tự nguyện, việc chấp

hành KL không phải là bắt buộc, mà bước

đầu trở thành nhu cầu

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đánh giá thực trạng hành vi chấp hành KL

của SV, làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp

xây dựng trung đội tự quản SV trong học tập

và rèn luyện tại Trung tâm, nhằm góp phần

nâng cao chất lượng GDQPAN cho SV,

chúng tôi tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi ở

03 Trung tâm (Trung tâm GDQPAN Đại học

Quốc gia Hà Nội; Trung tâm GDQPAN Đại

học Quốc gia TP Hồ Chí Minh và Trung tâm

GDQPAN Đại học Thái Nguyên), với đối

tượng là các lực lượng giáo dục (Ban giám

đốc, Trưởng, Phó phòng, khoa = 20 đồng chí;

Cán bộ quản lý SV = 30 đồng chí và Giảng

viên = 75 đồng chí), một số nội dung cần làm

rõ chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp

SV, thời gian tiến hành khảo sát là năm học

2017-2018 Sau khi có kết quả điều tra khảo

sát, tác giả sử dụng các phương pháp xử lý số

liệu để đánh giá thực trạng như: xử lý dữ liệu

bằng phần mềm SPSS phiên bản 18.0 trong

môi trường Window, các phép toán thống kê

được sử dụng trong nghiên cứu này là phân

tích thống kê mô tả, với thang đánh giá 4 mức

độ lần lượt là Rất tốt: 4 điểm; Tốt: 3 điểm;

Bình thường: 2 điểm; Chưa tốt: 1 điểm Trong

nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng công thức:

n

x

ni i

là mức độ đánh giá (i là số tự nhiên, từ 1 đến

4); n là tổng số người tham gia khảo sát

Đánh giá mức độ thực hiện các tiêu chí về tính

KL của SV trong quá trình học tập, rèn luyện

tại Trung tâm, được căn cứ vào điểm trung

bình cộng của các nội dung Sau khi có điểm

trung bình cộng của đối tượng khảo sát sẽ tổng

hợp, phân hạng theo 4 mức độ như sau: Mức

Sau khi có kết quả, chúng tôi tiến hành phân tích xử lý số liệu trên bảng thống kê, tính điểm trung bình của các nội dung đã được khảo sát, xếp hạng theo thứ bậc các nội dung tiêu chí để đánh thực trạng tính KL của SV, từ

đó nhận xét đánh giá và rút ra kết luận KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng hành vi của SV trong chấp hành KL tại Trung tâm GDQPAN

Kết quả khảo sát ở 3 Trung tâm là khá tương đồng, trong đó đối tượng khảo sát là cán bộ quản lý và giảng viên (GV) cho kết quả tương đối như nhau, riêng đối tượng là Ban Giám đốc, Trưởng, Phó phòng, khoa lại có đánh giá tốt hơn Do sự khác biệt là không lớn, nên chúng tôi tổng hợp kết quả khảo sát chung ở bảng 1, nhìn chung đánh giá của các lực lượng giáo dục là khá toàn diện và phản ánh đúng thực trạng hiện nay, cụ thể như sau:

Về hoạt động học trên giảng đường và ngoài thao trường, với 6 nội dung được khảo sát, thì

5 nội dung có điểm trung bình từ 2,59 đến 2,98 đạt mức độ khá, nhưng trên thực tế vẫn còn khá nhiều cán bộ, GV đánh giá hành vi của SV là chưa tốt, thấp nhất là 4,00% và cao

nhất là 16,60% Riêng nội dung “Tích cực phát biểu trong giờ học và tham gia thảo luận nhóm, nghiêm túc trong hoạt động tự quản”

có điểm trung bình đạt mức độ thấp 2,03 điểm

và xếp bậc 13/17 Đặc biệt, ở tiêu chí này có đến 30,40% người được hỏi cho rằng: SV chưa tích cực phát biểu trong giờ học và tham gia thảo luận nhóm, nghiêm túc trong hoạt động tự quản và lý do được xác định là đội ngũ GV chưa tạo được hứng thú trong học tập cho SV, đồng thời chưa phát huy được ý thức

tự giác của SV

Với hoạt động tự học, tự luyện tập, có 5 nội

dung cần đánh giá hành vi của SV thì cả 5 nội dung có điểm trung bình là từ 1,60 đến 2,26 đạt ở mức độ trung bình theo thang đo và đều

xếp ở các bậc cuối Đặc biệt ở nội dung “Lập

kế hoạch tự học (tự luyện tập) đầy đủ theo đề cương môn học mà giảng viên giao” và “Tự giác thực hiện kế hoạch tự học, tự luyện tập

và tích cực trong luyện tập các động tác kỹ

Trang 6

Trần Hoàng Tinh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 171 - 176

173

năng thực hành” có điểm trung bình là rất

thấp, cụ thể có đến 50,40% và 49,60% số

lượng cán bộ, GV được hỏi đánh giá ở mức

chưa tốt Như vậy, hành vi KL của SV trong

hoạt động tự học, tự luyện tập là thấp, tính kế

hoạch và công tác quản lý, duy trì thực hiện là

chưa tốt, điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến

kết quả hoàn thành nhiệm vụ của mỗi SV Để khắc phục vấn đề này trong thời gian tới đòi hỏi công tác quản lý, chỉ huy của đội ngũ giảng viên và cán bộ các cấp cần được tăng cường, để hoạt động tự học, tự luyện tập của

SV được cải thiện, góp phần nâng cao chất lượng môn học GDQPAN tại các Trung tâm

Bảng 1 Mức độ thực hiện các tiêu chí về tính KL của SV tại Trung tâm GDQPAN

Các nội dung

Mức độ đánh giá (Số lượng/ Tỷ lệ % phản hồi) Điểm

trung bình

Xếp bậc Rất tốt Tốt Bình

thường Chưa tốt

Hoạt động học

trên giảng

đường và ngoài

thao trường

1 Đảm bảo về lễ tiết, tác phong và tính

chuyên cần trong các nội dung của môn học

16/

12,80

62/

49,60

32/

25,60

15/

12,00 2,63 7

2 Tập trung theo dõi bài giảng và hướng dẫn

động tác kỹ năng thực hành của giảng viên

15/

12,00

61/

48,80

32/

25,60

17/

13,60 2,59 9

3 Tích cực phát biểu trong giờ học và tham

gia thảo luận nhóm, nghiêm túc trong hoạt

động tự quản

4/

3,20

34/

27,20

49/

39,20

38/

30,40 2,03 13

4 Chấp hành những quy định về kỷ luật thao

trường mà giảng viên đã phổ biến

16/

12,80

61/

48,80

31/

24,80

17/

16,60 2,61 8

5 Đảm bảo đội hình trong quá trình học tập

và chuẩn bị đầy đủ vũ khí, trang bị cá nhân

26/

20,80

76/

60,80

18/

14,40

5/

4,00 2,98 2

6 Bảo quản, giữ gìn vũ khí, trang bị kỹ thuật,

thiết bị dạy học, giáo trình, tài liệu, trang

phục dùng chung được giao

14/

11,20

72/

57,60

26/

20,80

13/

10,40 2,70 6

Hoạt động tự

học, tự luyện tập

7 Lập kế hoạch tự học (tự luyện tập) đầy đủ

theo đề cương môn học mà giảng viên giao

0/

0

13/

10,40

49/

39/20

63/

50,40 1,60 17

8 Tự giác thực hiện kế hoạch tự học, tự

luyện tập và tích cực trong luyện tập các

động tác kỹ năng thực hành

1/

0,80

14/

11,20

48/

38,40

62/

49,60 1,63 16

9 Tích cực nghiên cứu giáo trình, tài liệu

tham khảo

2/

1,60

22/

17,60

58/

46,40

44/

35,20 1,87 15

10 Tự kiểm tra, đánh giá kết quả tự học (tự

luyện tập) của bản thân

2/

1,60

28/

22,40

65/

52,00

30/

24,00 2,02 14

11 Thực hiện tốt các qui định về chế độ tự

học, tự luyện tập của giảng viên và cán bộ

quản lý sinh viên

4/

3,20

44/

35,20

58/

46,40

19/

15,20 2,26 12

Trong thực hiện

các chế độ rèn

luyện

12 Tự giác, chủ động chấp hành các chế độ

trong ngày, trong tuần

6/

4,80

40/

32,00

61/

48,80

18/

14,40 2,27 11 13.Chấp hành qui định về xưng hô, chào hỏi,

lễ tiết, tác phong

12/

9,60

92/

73,60

14/

11,20

7/

5,60 2,87 4

14 Chấp hành qui định ra, vào trung tâm và

báo cáo

11/

8,80

94/

75,20

13/

10,40

7/

5,60 2,87 4

15 Xây dựng nếp sống văn hóa, cảnh quan

môi trường và tham gia tích cực, tự giác vào

các hoạt động phong trào và ngoại khóa

9/

7,20

54/

43,20

49/

39,20

13/

10,40 2,47 10

Trong kiểm tra,

thi kết thúc các

học phần

16 Kiểm tra thường xuyên 14/

11,20

95/

76,00

12/

9,60

4/

3,20 2,95 3

17 Thi kết thúc học phần 16/

12,80

99/

79,20

9/

7,20

1/

0,80 3,04 1

Trong thực hiện các chế độ rèn luyện, có 02 nội dung có điểm trung bình là 2,87 tuy không cao

nhưng cũng đạt ở mức độ khá và xếp bậc 4/17 Điều này cho thấy SV khi học tập ở các Trung tâm đã chấp hành khá tốt qui định về xưng hô, chào hỏi, lễ tiết, tác phong, qui định ra, vào Trung

tâm và báo cáo Tuy nhiên 02 nội dung còn lại “Tự giác, chủ động chấp hành các chế độ trong ngày, trong tuần” và “Xây dựng nếp sống văn hóa, cảnh quan môi trường và tham gia tích cực,

Trang 7

Trần Hoàng Tinh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 171 - 176

tự giác vào các hoạt động phong trào và

ngoại khóa” có tỷ lệ đánh giá chưa tốt là

14,40% và 10,40%, có điểm trung bình lần

lượt là 2,27 và 2,47 ở mức độ trung bình

Trong kiểm tra, thi kết thúc các học phần,

được đánh giá đạt mức độ tốt với điểm trung

bình trong khoảng từ 2,95 đến 3,04 điểm

Thực tế cho thấy trong thời gian vừa qua SV

đã chấp hành khá tốt quy chế thi và kiểm tra,

bởi vậy kết quả khảo sát cho thấy chỉ có

0,80% cán bộ, giảng viên được hỏi cho rằng

SV chấp hành chưa tốt quy chế thi kết thúc

các học phần Tuy nhiên, ở nội dung kiểm tra

thường xuyên tỷ lệ đánh giá SV chấp hành

chưa tốt có cao hơn 3,20%, lý do được xác

định khi phỏng vấn trực tiếp SV được biết: do

các bài kiểm tra thường xuyên được bố trí ở

tuần thứ 2 của khóa học, nên một số SV còn

nhận thức chưa đầy đủ, công tác tổ chức quán

triệt trước khi tiến hành bài kiểm tra của đội

ngũ giảng viên còn chưa chặt chẽ và đặc biệt

ý thức tự học, tự ôn bài của SV còn hạn chế,

sợ điểm thấp dẫn đến vi phạm qui chế

Như vậy, trên cơ sở đánh giá của đội ngũ cán

bộ, GV và phỏng vấn trực tiếp một số SV, về

hành vi chấp hành KL của SV tại các Trung

tâm được khảo sát, đã phản ánh thực trạng:

trong số các hành vi chấp hành KL của SV tại

Trung tâm, chỉ có hành vi của SV trong kiểm

tra, thi kết thúc các học phần là tương đối tốt,

còn các nội dung khác chỉ ở mức độ khá và

trung bình Do đó cần giải pháp mới trong

công tác quản lý và giáo dục để nâng cao hơn

nữa tính KL của SV trong học tập và rèn

luyện tại Trung tâm GDQPAN

Với thực trạng nêu trên, với xu hướng đổi

mới giáo dục hiện nay, để nâng cao chất

lượng giáo dục tính KL cho SV, chúng tôi đề

xuất xây dựng mô hình TĐTQ tại Trung tâm

GDQPAN, nhằm phát huy tinh thần KL tự

giác, tích cực, chủ động của SV, của cả tập

thể trung đội trong học tập và rèn luyện Giúp

mục tiêu giáo dục của đội ngũ cán bộ quản lý

và GV chuyển hóa thành nhu cầu tự thân của

mỗi SV và biến quá trình giáo dục thành quá

trình tự giáo dục

Xây dựng TĐTQ trong quản lý giáo dục tính KL tại Trung tâm GDQPAN

Để nâng cao tính KL cho SV, đồng thời nâng cao chất lượng GDQPAN cho SV tại các Trung tâm có nhiều giải pháp, trong đó xây dựng mô hình TĐTQ là một trong các biện pháp hữu hiệu, nhằm phát huy tính tự chủ, tự giác của người học Từ thực tế tổ chức và thực hiện mô hình TĐTQ tại Trung tâm trong thời gian vừa qua, bước đầu đã đạt được một

số kết quả nhất định trong công tác quản lý giáo dục tính KL cho SV Cụ thể, đã có sự chuyển biến tích cực trong hoạt động tự học,

tự luyện tập và trong thực hiện các chế độ rèn luyện Sau khi tổng kết, rút kinh nghiệm chúng tôi đề xuất xây dựng TĐTQ với các bước sau:

Bước 1 Thu thập thông tin cá nhân của từng

SV và biên chế các tiểu đội

+ Thu thập thông tin: Thông qua quyết định

kèm theo danh sách trích ngang và hồ sơ SV

do nhà trường bàn giao khi Trung tâm tiếp nhận SV và kết hợp với nắm bắt tình hình qua chính SV trong trung đội, để biết khả năng nhận thức, kết quả học tập, rèn luyện ở nhà trường, biết sở trường, năng khiếu, tính cách

và ý thức tổ chức KL của SV

+ Biên chế các tiểu đội: Trên cơ sở thu thập

thông tin, cán bộ quản lý sinh viên (CBQLSV) tiến hành biên chế theo các tiểu đội Giữa các tiểu đội có sự đồng đều về số lượng, tương đương về giới tính, khả năng nhận thức và ý thức tổ chức KL của SV Ngoài ra cũng cần quan tâm đến sự tương đồng về điều kiện, hoàn cảnh sống và yếu tố vùng miền của SV Sau đó các thành viên trong tiểu đội họp để bầu một SV

có uy tín và khả năng làm tiểu đội trưởng

Bước 2 Xây dựng cán bộ trung đội và tiến hành công tác bồi dưỡng

+ Xây dựng cán bộ trung đội: CBQLSV

nghiên cứu kỹ trích ngang, thăm dò ý kiến SV trong trung đội, tham khảo ý kiến của ba tiểu đội trưởng Phải chọn những SV có khả năng nhận thức khá trở lên, có ý thức KL tốt, tích cực và gương mẫu trong mọi hoạt động, có khả năng quy tụ và thuyết phục các SV khác Trên

cơ sở đó, chọn và đề xuất với tập thể trung đội

Trang 8

Trần Hoàng Tinh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 171 - 176

175

một SV sẽ kiêm nhiệm làm Trung đội trưởng

và một SV sẽ kiêm nhiệm làm Trung đội phó

Sau đó lấy ý kiến của tập thể SV trong trung

đội để đi đến thống nhất CBQLSV đề nghị

cấp có thẩm quyền ra quyết định chuẩn y cán

bộ trung đội do SV kiêm nhiệm, gồm: trung

đội trưởng, trung đội phó và ba tiểu đội trưởng

+ Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trung đội: Tiến

hành hướng dẫn các phương pháp và kỹ năng

trong quản lý, duy trì SV trong môi trường

quân sự cho SV kiêm nhiệm của trung đội,

các thành viên còn lại của trung đội giao cho

các tiểu đội trưởng thực hiện, gắn kết quả rèn

luyện KL của các thành viên trong tiểu đội

với trách nhiệm của tiểu đội trưởng Trung

đội trưởng, trung đội phó chịu trách nhiệm

trước CBQLSV về kết quả học tập, rèn luyện

của tập thể trung đội

Định hướng bồi dưỡng là tăng dần khả năng

tự quản của SV song song với việc giảm dần

sự tham gia trực tiếp của CBQLSV CBQLSV

giữ vai trò là người cố vấn, trợ giúp giải quyết

những vấn đề phức tạp, là người hướng dẫn

chứ không phải là người làm thay Trong giai

đoạn đầu (tuần thứ nhất) là cầm tay chỉ việc,

sau đó để cán bộ trung đội từng bước tự lực

trong công tác quản lý, duy trì và giải quyết

các hoạt động trong thời gian học tập, rèn

luyện tại Trung tâm, tất cả hoạt động của SV

luôn có sự theo dõi, uốn nắn của CBQLSV

Bước 3 Xây dựng uy tín cho cán bộ trung

đội, tiểu đội

CBQLSV phải tổ chức quán triệt đầy đủ chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ trung

đội, tiểu đội Thường xuyên nhắc nhở, yêu

cầu đội ngũ này phải thực sự gương mẫu

trong mọi hoạt động Thường xuyên theo dõi,

động viên cán bộ trung đội, tiểu đội, tuyên

dương các em hoàn thành tốt nhiệm vụ Ngoài

việc thực hiện tốt nhiệm vụ của SV, cán bộ

trung đội, tiểu đội phải chịu trách nhiệm trong

các hoạt động của đơn vị mình Đối với

những cán bộ trung đội, tiểu đội chưa gương

mẫu, thiếu trách nhiệm, CBQLSV gặp gỡ

riêng và cần khéo léo tế nhị, phê bình, uốn

nắn nhưng không làm các em mất uy tín, mất

tự tin trong tập thể tiểu đội, trung đội, song

cũng không vì thế mà ưu ái, dành đặc ân cho

cán bộ trung đội, tiểu đội làm cho các em ngộ nhận về vai trò, uy danh của mình, sớm nhiễm tính ham quyền chức, hách dịch, coi thường người khác Đồng thời tiến hành xử phạt nghiêm minh những SV có thái độ coi thường, không chấp hành mệnh lệnh của cán

bộ trung đội, tiểu đội

Bước 4 Xây dựng nội quy của trung đội

Nội quy của trung đội được xây dựng trên cơ

sở nội quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nội quy của Trung tâm Tuy nhiên, nội quy của trung đội được xây dựng hết sức cụ thể, tỉ mỉ

ở mỗi hoạt động của các thành viên trong trung đội và được tập thể trung đội thảo luận, nhất trí thông qua, đồng thời có được sự đồng

ý của CBQLSV Trên cơ sở đó, CBQLSV và cán bộ trung đội, tiểu đội công bố nội quy trung đội để từng thành viên tự giác chấp hành và thành lập bảng điểm thi đua của cá nhân, của tiểu đội

Bước 5 Theo dõi, giám sát hoạt động tự quản của các trung đội

Có rất nhiều cách theo dõi hoạt động tự quản của SV Có thể cần có sự kiểm tra trực tiếp các hoạt động, nhưng đôi khi chỉ cần kiểm tra gián tiếp qua sổ ghi đầu bài, qua đội ngũ GV trực tiếp giảng dạy, qua sổ ghi chép của cán

bộ trung đội, tiểu đội, hoặc qua kết quả công việc được giao Thông qua chế độ giao ban hàng ngày, hàng tuần CBQLSV trực tiếp gặp

gỡ, trao đổi với cán bộ trung đội, tiểu đội để nắm thông tin, làm công tác cố vấn, trợ giúp tháo gỡ những vướng mắc cho cán bộ trung đội, tiểu đội Nhìn chung CBQLSV chỉ nên điều hành từ xa, trừ những công việc cán bộ trung đội, tiểu đội không thể làm thay CBQLSV được

Bước 6 Tổ chức rút kinh nghiệm, nhân rộng

mô hình TĐTQ tại Trung tâm GDQPAN

Tiến hành tổ chức hội thảo hoặc liên hệ với các Trung tâm đã có kinh nghiệm xây dựng

mô hình TĐTQ, để tổ chức cho đội ngũ cán

bộ đi tham quan học tập Sau mỗi khóa học chỉ đạo đóng góp ý kiến về nội dung và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó kịp thời điều chỉnh chỉnh, rút kinh nghiệm, để các khóa học tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn Kết thúc năm

Trang 9

Trần Hoàng Tinh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 183(07): 171 - 176

học, Trung tâm cần tiến hành tổng kết thực

hiện mô hình TĐTQ, làm cơ sở để lãnh đạo

Trung tâm rà soát điều chỉnh, bổ sung các tiêu

chí đánh giá mô hình TĐTQ, tiến tới hoàn

thiện bộ tiêu chí đánh giá tính KL của SV

KẾT LUẬN

Giáo dục tính KL cho SV phải luôn được coi

là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của các

Trung tâm GDQPAN, là nội dung cơ bản

trong quá trình hình thành, hoàn thiện các

phẩm chất nhân cách cho người học Hoạt

động giáo dục KL luật cho SV tại các Trung

tâm bao giờ cũng diễn ra trong một khoảng

thời gian nhất định, đan xen với các hoạt động

khác, như trong quá trình giảng dạy các nội

dung về quốc phòng và an ninh, trong tổ chức

sinh hoạt đời sống vật chất, tinh thần, trong

giải quyết các mối quan hệ giữa SV với cán

bộ quản lý các cấp, với GV, với viên chức

trong Trung tâm và SV với SV (mối quan hệ

đồng chí, đồng đội) Tất cả các mối quan hệ,

hoạt động này nếu được tổ chức để diễn ra trong môi trường tự quản, để mỗi SV tự giác chấp hành thì quá trình giáo dục tính KL cho

SV tại các Trung tâm GDQPAN sẽ đạt được hiệu quả như mong đợi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 A.X Macarenco (1976), Những ngọn cờ trên

đỉnh tháp, Nxb Tiến bộ, Matxcova

2 Retxke (1995), Học tập hợp lý, Nxb Đại học

và Trung học chuyên nghiệp

3 Phạm Đình Hòe (2008), Hệ thống biện pháp

giáo dục kỷ luật cho học viên văn hóa nghệ thuật trong quân đội, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Học

viện Chính trị Quân sự

4 Vũ Quang Hải (2009), Nghiên cứu qui trình tổ

chức giáo dục kỉ luật cho học viên trong nhà trường quân đội, Luận án tiến sĩ giáo dục học,

Học viện Chính trị Quân sự

5 Phạm Minh Thụ (2004), Sử dụng tổng hợp các

phương pháp giáo dục thói quen hành vi kỷ luật cho học viên sĩ quan ở các trường đại học quân

sự, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Học viện Chính

trị Quân sự

SUMMARY

BUILDING SELF-MANAGED PLATOON IN DISCIPLINARY EDUCATION

FOR STUDENTS AT THE CENTER FOR DEFENSE AND SECURITY

EDUCATION IN THE CURRENT PHASE

Thai Nguyen Center for National Defense and Security Education

Building self-managed platoon in learning and training at the Center for Defense and Security Education is one of the measures to build a habit of voluntary disciplinary action for students This

is a very important behavioral habit, so that students are prepared to cope with changing and complex situations in a highly disciplined learning environment In that environment, students will study and train in order to contribute to the objectives of national defense and security education as determined by the Party and State, namely: To promote the patriotism and the tradition of building the country and to preserve the country, pride, self-honoring the nation, raising awareness, responsibility and self-realization of the task of national defense and security and the defense of the socialist Vietnam Fatherland

Keywords: student, discipline, center, defense, security, self-managed platoon

Ngày nhận bài: 24/4/2018; Ngày phản biện: 14/5/2018; Ngày duyệt đăng: 29/6/2018

*

Tel: 0988.114.316; Email: tinhqptn@gmail.com

Trang 10

soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS

Hoang Thi Phuong Nga - Literature tourism model “the old Vu Dai village” 3

Pham Thi Thu Hoai, Tran Thi Thanh - Slang in Van Thanh Le's stories about education problems 9 Ngo Thi Thanh Nga, Pham Thi Hong Van - A brief description of the modes of expressing conjugal

sentiments in the Vietnam medieval literature 15 Nguyen Thi Tham, Nguyen Minh Son - The opposite view of Nguyen Ngoc Tu to Vietnamese traditional

literature via the main female characters in Khong ai qua song 21 Dang Thi Thuy, Nguyen Dieu Thuong - The logic of “non logic” phenomenon in Vietnamese folk verses, proverbs 27 Dinh Thi Giang - Factors affecting current lifestyle of Vietnamese people in the northern delta 33 Nguyen Dieu Thuong, Nguyen Thi Lan Huong - Mechanisms creating implication in satirical jokes 39 Nguyen Thu Quynh, Vi Thi Hien - Household vocabulary of Thai language in Dien Bien province 45 Nguyen Thi Thu Oanh, Hoang Thi My Hanh - Position, role of the communist party of Vietnam in the period

1954 – 1975 and some lessons learned 51

Do Hang Nga, Pham Quoc Tuan - Collection of taxes in the villages through material of reformist village

Le Van Hieu - The efficiency of the model "propaganda department" in communes, wards, township and

"commander" in villages, cities at the current period in Lao Cai province 63 Thai Huu Linh, Nguyen Thi Thu Hien, Nguyen Thi Thanh Ha - The role of the rear Bac Thai in the 1968

Pham Anh Nguyen - The attraction in “Hai dam” of Phan Khoi 73 Nguyen Thi Huong, Nguyen Thi Mao, Nguyen Tuan Anh - Enhancing the efficiency of extracurrucular

activities in teaching civic education at high schools in thai nguyen city these days 79 Nguyen Van Dung, Dao Ngoc Anh - Physical status of non-sports students at Thai Nguyen University of Education 85 Tran Bao Ngoc, Le Ngoc Uyen, Bui Thanh Thuy et al - The reality of degree classification in

non-examination students at University of Medicine and Pharmacy – Thai Nguyen University in the period from

Nguyen Thuc Canh - The need for buiding an exercise system with practical content to teach mechanics

Ha Thi Kim Linh, Chu Thi Bich Hue - Educate legal knowledge for ethnic minority women in Vo Nhai

Nguyen Thi Thanh Hong, Nguyen Thi Khanh Ly, Vu Kieu Hanh - Improve students’ participation in

English learning activities in large mixed ability classes of the freshman students at Thai Nguyen University of

Medicine and Pharmacy 111 Pham Thi Huyen, Vu Thi Thuy - Manipulate exemplary style according to the President Ho Chi Minh’s

thought in building work style for key caders at present period 117 Dam Quang Hung - Science lesson planning for grade 4, 5 according to experimental research 123 Hoang Thi Thu Hoai - Difficulties in teaching and learning ESP vocabulary for nursing students at Thai

Nguyen Medical College and some solutions 129 Nguyen Lan Huong, Van Thi Quynh Hoa - Determinants affecting English speaking performance of the

first-year students at Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry 135

Journal of Science and Technology

183 (07)

N¨m 2018

Ngày đăng: 15/01/2021, 00:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Mức độ thực hiện các tiêu chí về tính KL của SV tại Trung tâm GDQPAN - XÂY DỰNG TRUNG ĐỘI TỰ QUẢN TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Bảng 1. Mức độ thực hiện các tiêu chí về tính KL của SV tại Trung tâm GDQPAN (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w