1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một Trăm Bài Kệ Niệm Phật (Trong Tăng Quảng Chính Biên ) Tác Giả : Thiền sư Triệt Ngộ Dịch Giả : Dương Đình Hỷ

61 16 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dịch : Niệm A Di Đà Phật Vào Như Lai tạng không Vạn pháp hết hình dạng Hết cả mọi tướng trông... Vì Triệt Ngộ là một vị thiền sư, nên ông không thể không áp dụng những phương pháp của T

Trang 1

Một Trăm Bài Kệ Niệm Phật

(Trong Tăng Quảng Chính Biên )

Tác Giả : Thiền sư Triệt Ngộ Dịch Giả : Dương Đình Hỷ

Trang 3

Cơ duyên đều nhiếp hết Chính, rẽ khác gì nhau ?

Trang 5

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Đúng tiêu chuẩn thành Phật Niệm Phật hết cả tâm

Chứng vô sinh nhẫn được

Trang 6

豈 得 普 賢 Khởi đắc Phổ Hiền

Thác giáo liễu biện

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Chỉ trong mười lời nguyền

Há Bồ tát Phổ Hiền Nói cho xong chuyện thật

Trang 8

Hoa Xuân đầu cành nở Tượng gỗ chứa gương xưa

Trang 9

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Khắp pháp giới viên dung Mọi nơi đều chân thật

Vô ngại dù lưới giăng

Trang 10

一 真 絕 相 Nhất chân tuyệt tướng

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Vào Như Lai tạng không Vạn pháp hết hình dạng Hết cả mọi tướng trông

Bài Số 18 :

Trang 12

Khoái tùy ngã lai

Chú thích : Hoa ốc : chỉ cảnh giới hoa tạng thế giới

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Cửa hoa ốc mở tung Những người theo lý giải Mau theo ta vào cùng

Trang 13

Bảo vương tam muội, vào Giống như đất nâng đỡ Trời chẳng bỏ chỗ nào

Trang 14

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Tánh thể vốn là không Các sao quay về Bắc Nước đều chẩy về Đông

Trang 15

重 疊 交 映 Trùng điệp giao ánh

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Như cảnh chiếu lẫn nhau Uyển chuyển ngậm bóng dáng Lớp lớp chiếu sáng nhau

Nhưng vẫn có Tây, Đông

Bài Số 27 :

Trang 16

Đủ cả Ba La Mật

Trang 19

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Dây thừng vốn là gai Sao lại chẳng hiểu rõ

Trang 20

水 銀 墮 地 Thủy ngân đọa địa

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Không thể thí dụ xong

Ví như trên đài nọ Thủy ngân rơi xuống tròn

Bài Số 36 :

Trang 21

Minh minh thị hữu

Tứ biện bát âm

Bà tâm khổ trần

Chú thích : Bốn biện : bốn biện tài

Tám âm : tám âm thanh của giọng Phật

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật

Là có đó rõ ràng Dùng tám âm bốn biện Nhọc lời để giải minh

Bỏ vào trong lò hồng

Trang 22

Là hoa liễu trong gương

Trang 23

Động đến liền lay chuyển Trên nước có hồ lô

Trang 24

Chú thích : Lý ba đế : không, giả, trung

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật

Lý ba đế cũng tròn Như ao rất trong trẻo

Là phàm biến thành thánh Thế giới đều dung thông

Trang 25

王 膳 盈 前 Vương thiện doanh tiền

Kế châu tại chưởng

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Được thưởng, người có công Trước sân vua ăn tiệc

Châu báu trong tay ông

Bài Số 45 :

Trang 26

Cả đời phải dụng công

Trang 28

Những duy tư cần yếu Chỉ có hạnh, nguyện, tín

Từ tâm này ló ra

Trang 29

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Cầu nguyện sao thiết tha Lòng nóng như lửa cháy Máu theo nước mắt ra

Trang 30

作 箇 閒 漢 Tác cá nhân hán

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Nguyện một phiến sẽ thành Nhất định trong một kiếp

Bài Số 54 :

Trang 31

不 急 不 緩 Bất cấp bất hoãn

Trang 33

Giá hời, khi giếng khơi

Gỗ nóng sinh ra khói Không thể dừng được mà

Trang 34

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Toàn thân đều đội bưng Mạng người vô thường lắm Ngày tháng trở lại chăng ?

Trang 35

無 雜 無 閒

Vô tạp vô nhàn

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Môn chỉ quán tràn đầy Lẳng lặng mà rành rẽ Không hỗn tạp, bận thôi

Về thẳng nơi bảo sở Không trụ ở hóa thành

Bài Số 63 :

Trang 36

Như thủy thanh châu

Có muôn ngàn tạp niệm Chẳng dứt cũng là không

Bài Số 65 :

Trang 39

Chính là pháp Vô Vi Hàng ngày chỉ một niệm Kiếm rời vỏ, chém đi

Trang 40

Hân phiên bảo tụ

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật

Bố thí đã đủ đầy Phá nát lòng dè sẻn Châu báu đã đong đầy

Trang 41

二 我 相 空 Nhị nhã tướng không

Trang 43

Mây tan trăng sáng soi

Đã ngồi trên tòa sen

Trang 44

Niệm A Di Đà Phật

Là một đóa hoa sen

Là duy tâm kỳ diệu

Trang 45

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật

Là một đóa hoa sen Quyết định không tin nhận Rất đáng thương đó nhen

Trang 46

坐 法 空 座 Tọa pháp không tòa

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật

Cố gắng để hoằng thông

Và vào đại bi thất Ngồi ở tòa pháp không

Bài Số 83 :

Trang 48

Ba chướng đã chuyển xong

Ở nơi hoặc, nghiệp, khổ Tạng bí mật lập thành

Trang 50

Cắt đứt mọi mạng lưới Được vào giải thoát môn

Trang 51

Chú thích :ba căn :là thượng, trung,hạ

Dịch :

Niệm A Di Đà Phật Hợp cả người lẫn trời Tất cả ba căn tánh Chín phẩm sen sáng tươi

Trang 52

文 殊 普 賢 Văn Thù Phổ Hiền

Bài Số 94 :

Trang 53

列 祖 奉 行 Liệt tổ phụng hành

Mã Minh thì tạo luận Long Thọ thì vãng sinh

Trang 54

Và Trí Giả giáo tông

Trang 55

Thiện Đạo phóng quang minh

Trang 56

Niệm A Di Đà Phật Không thiền nào cao hơn Làm xong trong một kiếp

Mà nhiều đời mới xong

Trang 57

3/ Là tu tam học : giới, định, tuệ (bài 31)

Trang 58

8- như trống trời (bài 33)

9- như giọt thủy ngân rơi (bài 34)

10- như không hợp không (bài 26)

1- mở cửa vãng sinh (bài 5)

2- thấy Phật khi chết (bài 6)

3- chứng vô sinh nhẫn (bài 7)

4- chứng ba bất thối (bài 8)

5- được đại viên trí (bài 15)

6- vào Như Lai tạng không (bài 16) 7- tới chỗ cao nhất (bài 17)

8- được Đại Niết Bàn (bài 18)

9- được Đại Bát Nhã (bài 19)

Trang 59

10- cửa hoa ốc mở ra (bài 20)

11- vào bảng Vương Tam muội (bài 21)

12- được đại Tổng trì (bài 22)

13- biết bản thể của pháp là không (bài 23, 63, 67, 81)

14- ly tứ cú, tuyệt bách phi (bai)

21- sinh vào chín phẩm sen (bài 77, 90)

22- chân tăng vô lậu (bài 69)

23- mọi người hưởng chung (bài 82)

24- lời nguyền của Bồ tát Phổ Hiền (bài 9)

9/ Vài thí dụ :

1- Long Thọ, Mã Minh ( bài 94)

2- Vinh Minh, Trí Giả (bài 96)

3- Thiếu Khang, Thiện Đạo (bài số 97)

4- Hùng Tuấn, Duy Cung (bài 98)

10/ Kết luận : (bài 100)

Nói tóm lại, niệm A Di Đà Phật là bao gồm tất cả mọi pháp môn Vì Triệt Ngộ là một vị thiền sư, nên ông không thể không áp dụng những phương pháp của Thiền tông vào phương pháp NIỆM PhẬt Trong Thiền tông có hai phương pháp là Chỉ và Quán Chỉ (samatha) là ngừng lại một đề mục, Quán (vipassana) là quan sát

Niệm Phật tới “nhất tâm bất loạn” là Chỉ Niệm Phật là niệm tâm vì ngoài tâm không có Phật, vậy Niệm Phật là niệm tâm, tức là Quán Nói một cách tổng quát, con người tiếp xúc với bên ngoài nhờ nhóm 3 : căn, trần, thức Nhóm ba này nếu thiếu một cũng không được thí dụ :

1- thiếu căn : người mù không thấy hoa,

Trang 60

2- thiếu thức : người điên nhìn hoa mà chẳng biết là nhìn gì,

3- thiếu trần : ở sa mạc không có hoa

3 yếu tố này tạo ra nhận thức, khi Trần tiếp xúc với Căn thì sinh ra Thức Đây là ở thế giới nhị nguyên, còn ở thế giới bản thể thì Căn và Trần là một Thức là kết quả của tiến trình :thọ, tưởng, hành, thức Tiến trình xẩy ra như thế nào chúng ta không cần biết, nhưng kết quả T1, T2,

T3

chồng chất lên nhau và được lưu giữ trong Thức nên Thức đó còng gọi

là Tàng Thức T2, T3 vì bị ảnh hưởng của T1 nên không nhận thức được

sư vật như chính nó Thí dụ T1 : hôm qua X đánh tôi, T2 : hôm nay X vỗ vai tôi Tôi nghĩ X lại đánh tôi nữa, nên tôi không phản ứng với sự vỗ vai như sự vỗ vai bình thường

Trần tiến về Căn, thì Thức tiến về tự tánh Thức phải xóa hết mọi vết tích của vọng tưởng T1, T2, T3 để trở thành bạch thức (tự tánh) Các bậc giác ngộ đều khuyên nhìn vào bên trong, chứ không tìm cách kiếm bên ngoài Nhưng họ không nói tại sao phải làm thế ? Bây giờ thì chúng

ta hiểu tại sao, vì khi nhìn vào bên trong thì Căn và Trần là một Lúc đó

tự tánh tự chiếu soi tự thể Thiền tông gọi trạng thái đó là vô niệm, là giải thoát vì tâm không còn Vọng nữa chỉ còn Chân

Qua những phân tích ở trên chúng ta có thể kết luận được rằng khi làm “100 bài kệ niệm Phật”, thiền sư Triệt Ngộ muốn theo đường hướng của các Ngài Long Thọ, Mã Minh, Vĩnh Minh và Trí Giả, xưng tụng pháp môn Niệm Phật là một pháp môn thù thắng là một pháp môn phổ thông cho cả hạng bình dân ít học Qua trăm bài kệ thiền sư đã nêu ra các đặc điểm để đề cao Pháp môn Niệm Phật bao gồm cả Thiền tông và

Tịnh độ tông Vậy trăm bài kệ này có thể coi là một cuốn Luận về Pháp

môn Niệm Phật

Vì là một cuốn Luận nên thiền sư không đề cập đến cách làm sao để đạt được tới giác ngộ Cái phần phải thực hành như thế nào là rất quan trọng cho người tu học khi muốn tìm con đường giải thoát Nhân đây chúng tôi xin giới thiệu hai pháp tu Niệm Phật (mà thực ra có lẽ do cùng một

nguồn gốc mà ra), đó là Pháp Vô Niệm Viên Thông do Thiền Sư Minh

Thiền (Việt Nam) phổ biến (xin coi sách đó trên trang mạng này) và

Pháp Giải Thoát Học do thiền sư Quang Tông người Trung Hoa đang

Trang 61

thuyết giảng Cả hai pháp này cùng xuất hiện vào quãng thời gian cuối thế kỷ trước Nếu đọc kỹ hai pháp tu thì ta thấy chúng là một, chỉ khác nhau có một điểm quan trọng là khi ngồi thiền thì pháp Vô Niệm Viên

Thông nói phải chú ý tới “làn sóng động tướng năng niệm của câu A

Di Đà Phật”, và pháp Giải Thoát Học thì nói là phải chú ý tới “cái điểm trong thân thể phát xuất ra câu niệm A Di Đà Phật” Cả hai pháp đều

nói khi thiền sinh phát hiện được cái điểm phải chú ý ấy rồi thì phải cố gắng hành thiền để hóa cái nhất niệm mới đạt được trạng thái Vô Niệm, tức là tới bờ giải thoát Riêng chúng tôi thì lại nghĩ khi ngồi thiền đã đặt hết tâm vào câu niệm rồi thì Tâm và Vật đã là một rồi thì đâu cần phải

phân chủ và khách ra làm 2 để làm chi nữa ! Nghĩa là khi ngồi thiền hay

trong ngày lúc nào ta cũng chỉ chú tâm tới câu niệm thì không chóng thì chầy nếu làm được như vậy ta sẽ được “Vô Niệm” ngay trong cuộc đời này

Ngày đăng: 06/01/2021, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w