Tình hình nghiên cứu đề tài Bàn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài viết đăng tải trên trên nhiều tạp chí khác nhau như: “Hướng c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRƯƠNG THÙY MINH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
GIAI ĐOẠN 2000-2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
MỞ ĐẦU
Trang
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
1.1 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ……… 1
1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ……… 1
1.1.1.1 Cơ cấu kinh tế……… 1
1.1.1.2 Cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn……… 3
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế……… 6
1.1.3 Tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn……… 10
1.2 Những nội dung cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn 12 1.2.1 Nguồn nhân lực……… 12
1.2.2 Ngành nghề……… 14
1.2.3 Nhu cầu xã hội……… 15
1.2.4 Xu thế quốc tế hĩa - tồn cầu hĩa……… 16
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế……… 19
1.3.1 Vốn ……… 19
1.3.2 Nguồn nhân lực……… 20
1.3.3 Khoa học và cơng nghệ……… 21
Trang 3Chương 2
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ giai đoạn 2000 – 2007
2.1 Toàn cảnh các tỉnh vùng Đông Nam Bộ………
2.1.1 Điều kiện tự nhiên………
2.1.2 Nguồn lực kinh tế - xã hội………
25 25 28 2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2000 – 2007 32 2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất ……… 32
2.2.2 Thực trạng nguồn lao động và cơ cấu lao động ………
2.2.3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2000-2007 35 2.2.3.1 Thực trạng ngành nông nghiệp……… 36
2.2.3.2 Thực trạng ngành lâm nghiệp……… 48
2.2.3.3 Thực trạng ngành thủy sản……… 51
2.2.3.4 Thực trạng ngành dịch vụ nông nghiệp……… 52
2.2.3.5 Thực trạng ngành công nghiệp chế biến trong nông nghiệp, nông thôn 53
2.2.4 Vấn đề môi trường……… 55
2 3 Nguyên nhân, bài học kinh nghiệm……… 58
2.3.1 Nguyên nhân……… 58
2.3.2 Bài học kinh nghiệm……… 59
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ đền năm 2015 3.1 Định hướng phát triển vùng, ngành, lĩnh vực 62
3.1.1 Định hướng phát triển vùng 62
3.1.2 Định hướng phát triển ngành 63
3.1.3 Định hướng phát triển lĩnh vực……… 65
Trang 43.2 Các quan điểm cơ bản……… 66
3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải mang lại hiệu quả kinh tế… ……… 66
3.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế với mục đích tạo cơ cấu kinh tế hợp lý………… 67
3.2.3 Phát triển kinh tế luơn gắn với giải quyết các vấn đề xã hội……… 67
3.2.4 Phát triển vùng Đơng Nam Bộ phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với các tỉnh Nam Bộ và cả nước 68 3.3 Các giải pháp chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn đối với vùng Đơng Nam Bộ 68 3.2.1 Quy hoạch và kế hoạch ……… 68
3.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực……… 71
3.3.3 Khoa học và cơng nghệ ……… 74
3.3.4 Phát triển ngành nghề ……… 76
3.3.5 Phát triển đồng bộ các loại thị trường ……… 77
3.3.6 Hồn thiện cơ chế quản lý kinh tế……… 81
KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCKT cô caáu kinh teá
CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CN-XD công nghiệp và xây dựng
so với toàn vùng giai đoạn 2000 – 2007
Bảng 2: Hiện trạng sử dụng đất của vùng ÑNB giai đoạn 2000 – 2007
Bảng 3: Cơ cấu sử dụng đất vùng ÑNB năm 2007
Trang 6Bảng 4: Cơ cấu lao động vùng Đông Nam Bộ
Bảng 5: Cơ cấu lao động của cả nước
Bảng 6: Tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành NN-LN-TS của Đông Nam Bộ giai đoạn 2000 – 2007 ( theo giá so sánh 1994 )
Bảng 7: Giá trị sản xuất nông nghiệp của vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2000- 2007
Bảng 8: Giá trị sản sản xuất nông nghiệp của từng ngành vùng ÑNB giai đoạn 2000 – 2007
Bảng 9: Diện tích, năng suất trồng lúa của ÑNB giai đoạn 2000 – 2007
Bảng 10: Các loại cây trồng vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2000 – 2007
Bảng 10.1: Diện tích, sản lượng cây công nghiệp lâu năm vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2000 – 2007
Bảng 10.2: Giá xuất khẩu nông sản giai đoạn 2000 – 2007
Bảng 11: Số lượng gia súc, gia cầm ĐNB giai đoạn 2000 – 2007
Bảng 12: Diện tích rừng hiện có năm 2006, 2007 phân theo địa phương của vùng Đông Nam Bộ
Bảng 13: Phân bố diện tích rừng hiện có vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2000
Bảng 16: Sản lượng thủy sản Đông Nam Bộ giai đoạn 2000 – 2007
Bảng 17: Số trang trại theo địa phương vùng Đông Nam Bộ năm 2007
Trang 7Biểu đồ 2: Cơ cấu sử dụng đất Đơng Nam Bộ năm 2007 32
Biểu đồ 3: Cơ cấu lao động của vùng ĐNB giai đoạn 2000- 2007 33 Biểu đồ 4: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất ngành nơng – lâm – thủy
sản vùng Đơng Nam Bộ giai đoạn 2000 – 2007
36
Biểu đồ 5: Giá trị sản xuất nơng nghiệp vùng ĐNB giai đoạn 2000- 2007 37 Biểu đồ 6: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất nội bộ ngành nơng nghiệp vùng Đơng Nam Bộ giai đoạn 2000 – 2007
38
Biểu đồ 7: Diện tích các loại cây trồng phân theo nhĩm cây 40 Biểu đồ 8: Số lượng đàn gia súc Đơng Nam Bộ giai đoạn 2000- 2007 43 Biểu đồ 9: Số lượng gia cầm Đơng Nam Bộ giai đoạn 2000- 2007 44 Biểu đồ 10: Phân bố diện tích rừng hiện cĩ của Đơng Nam Bộ giai đoạn 2000-2007
49
Biểu đồ 11: Cơ cấu thủy sản khai thác và nuơi trồng vùng Đơng Nam Bộ giai đoạn 2000 – 2007
51
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung,
quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn nói riêng đó là
sự tác động của cách mạng khoa học công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
phân công lại lao động xã hội Khẳng định tầm quan trọng của nó Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X, chỉ rõ:“ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và
nông dân Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo
hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị
trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến độ khoa
học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng
và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương Tăng
nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ;
giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp…”[8,88]
Do vậy, nên nghiên cứu cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đang là vấn đề cần thiết và cấp bách
Chính sức lôi cuốn thực tiễn ấy của tiềm năng chưa được đánh thức của vùng
Đông Nam Bộ, đã thúc đẩy tôi chọn đề tài: “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn vùng Đông Nam Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa từ năm 2000 đến năm 2015” làm luận văn thạc sĩ
Đây là một dạng đề tài mới, nghiên cứu thực trạng để chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và nông thôn, phân công lại lao động xã hội trong cả một
vùng rộng lớn Do thời gian có hạn, với một lượng thông tin rất lớn nên việc
khảo sát điều tra, tiếp cận thông tin, thành tựu mới của khoa học công nghệ, nhất
là khoa học quản lý kinh tế, việc tiếp cận thông tin và xử lý thông tin để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong luận văn khó tránh khỏi những
Trang 9hạn chế Xin chân thành cảm sự hướng dẫn tận tình của TS.Nguyễn Hữu Thảo
đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bàn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu, hội thảo, các bài viết đăng tải trên trên nhiều tạp chí khác nhau như:
“Hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP.HCM” của viện Kinh tế TP.HCM,
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới” của
các tác giả Nguyễn Thành Độ – Lê Du Phong, “Thực trạng và phương hướng
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn nước ta” của tác giả Nguyễn Thế
Nhã, “Công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn trong sự chuyển dịch cơ cấu
nông thôn nước ta” của các tác giả Nguyễn Đình Phan, Nguyễn Văn Phúc, …
Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong
việc cung cấp lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn nói riêng Song đối với vùng Đông Nam Bộ chưa có
được công trình nghiên cúu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn của cả vùng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, tôi chọn đề
tài “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng Đông Nam Bộ
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 2000 dến năm 2015” làm
luận văn thạc sĩ là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
3 Mục đích và nhiệm vụ
3.1 Mục đích
Thông qua việc nghiên cứu về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục
đích của đề tài là vạch rõ những phương hướng, quan điểm và giải pháp chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng Đông Nam Bộ trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện mục tiêu: “Dân giàu , nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Trang 103.2 Nhiệm vụ
Một là, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản, cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế
nói chung, cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
đối với vùng Đông Nam Bộ nói riêng trong quá trình CNH, HĐH
Hai là, phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn vùng Đông Nam Bộ thông qua các chỉ số trên các mặt:
đất đai; ngành nghề: nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi,
nguồn nhân lực… Trên cơ sở đó rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ
thực trạng của nó trong thời gian qua
Ba là, vạch ra phương hướng, những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ
yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng Đông Nam Bộ
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về cơ cấu kinh tế, cơ
cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng Đông Nam Bộ Tuy nhiên, đây là một lĩnh
vực rất rộng liên quan đến tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân; vì vậy,
trong luận văn này chỉ đi vào những nội dung cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng
Đông Nam Bộ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản trong lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn vùng Đông Nam Bộ trong quá trình CNH, HĐH từ năm 2000 đến năm
2007 và phương hướng chuyển dịch đến năm 2015
Trang 115 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa Các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam Các nguyên lý của kinh tế
chính trị Mác - Lênin
5.2 Nguồn tài liệu tham khảo
Các tác phẩm kinh điển của Karl Marx, F.Engels, V.I Lenine về cơ cấu
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh, các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tư liệu của Viện
chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch Đầu tư…
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận cơ bản, chỉ đạo xuyên suốt trong quá
trình nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Vận dụng phương pháp luận chung; phương pháp cụ thể là logic lịch sử, phân
tích và tổng hợp so sánh, thống kê, mô hình hóa
6 Đóng góp mới của luận văn
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu kinh tế và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng ĐNB trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn phân tích và làm sáng tỏ
thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng ĐNB trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; qua đó rút ra nguyên nhân và bài học
kinh nghiệm về vấn đề này
Ba là, vạch ra phương hướng, quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu để
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng ĐNB nhằm thực hiện
mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Trang 12Bốn là, cung cấp số liệu thực tế dùng làm tài liệu để triển khai thực hiện
các nhiệm vụ kinh tế xã hội vùng, nhất là các tỉnh, các cơ quan Kế hoạch - Đầu
tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Nông thôn…
7 Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương, 9 tiết, 82 trang
Trang 13Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
1.1 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1 Khái niệm c cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ơ
1.1.1.1 Cơ cấu kinh tế
Bàn về cơ cấu nĩi chung, cơ cấu kinh tế nĩi riêng và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế cĩ nhiều cách tiếp cận khác nhau theo các quan điểm khác nhau
Tuy nhiên, trước hết cơ cấu cĩ thể hiểu là “cách tổ chức, sắp xếp các thành
phần, bộ phận trong nội bộ nhằm thực hiện một chức năng chung”.[39,464]
Thuật ngữ “cơ cấu”, từ “cơ cấu” tương ứng với từ “structure” hay
“construction” “Structure” chính xác hơn là tương ứng với thuật ngữ “cấu
trúc” của Việt Nam và “cấu trúc” cĩ ý nghĩa rộng hơn thuật ngữ cơ cấu Cấu
trúc là khái niệm nĩi về kết cấu bên trong của một đối tượng nào đĩ, kể cả số
lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành (như thuật ngữ cơ cấu) và bao
hàm cả mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành đĩ
Từ gĩc độ cơ cấu nĩi chung, chúng ta cĩ thể hiểu cơ cấu kinh tế là tổng
thể các bộ phận hợp thành cùng với vị trí, tỷ trọng và các mối quan hệ tương
tác giữa các bộ phận trong hệ thống kinh tế Cơ cấu nền kinh tế quốc dân cĩ
thể được xem xét trên nhiều mặt, trên nhiều lĩnh vực và tùy theo cách tiếp cận
dưới các gĩc độ khác nhau:
Cơ cấu kinh tế nếu xét theo ngành sản xuất vật chất, cĩ các ngành lớn
nhất như: cơng nghiệp, nơng nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống
Đây là mặt cơ bản, quan trọng nhất của cơ cấu kinh tế; đĩng vai trị quyết
định đối với sự phát triển của một nền kinh tế
Trang 14Cơ cấu xét theo trình độ khoa học - kỹ thuật, quy mô và loại hình sản
xuất kinh doanh gọi là cơ cấu trình độ công nghệ;
Cơ cấu xét theo phạm vi lãnh thổ, cơ cấu vùng, miền: vùng Đông Nam
Bộ, vùng Tây Nam Bộ, vùng đồng bằng Bắc Bộ…
Cơ cấu xét theo cấp quản lý: cấp trung ương, cấp địa phương;
Cơ cấu xét theo trình độ phát triển phân công, hiệp tác, liên kết trong
nước và với nước ngoài;
Cơ cấu xét theo các thành phần kinh tế xã hội: Kinh tế nhà nước, kinh
tế tập thể, kinh tế tư nhân….cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
“Cơ cấu kinh tế là phản ánh quan hệ giữa người sản xuất với giới tự
nhiên, là sự tác động qua lại của mối quan hệ đó Sự phát triển của sức sản
xuất và quá trình tăng trưởng kinh tế không chỉ biểu hiện ở mức tăng khối
lượng tài sản của xã hội mà còn biểu hiện ở sự thay đổi cơ cấu kinh tế, trong
đó sự thay đổi cơ cấu ngành là quan trọng nhất.”[22,80]
Theo lý thuyết hệ thống, cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi
nhiều yêu tố của nền kinh tế quốc dân, có mối liên hệ hữu cơ tương tác qua lại
về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế xã hội
cụ thể nhằm vào những mục tiêu nhất định Cơ cấu kinh tế là nền tảng của cơ
cấu xã hội và chế độ xã hội
Cơ cấu kinh tế không chỉ là quy định về số lượng và tỷ lệ giữa các yếu
tố cấu thành, biểu hiện về số lượng- sự tăng trưởng của hệ thống, mà là
nghiên cứu mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố biểu hiện về chất - sự phát
triển của hệ thống Nền kinh tế chỉ có thể ổn định và tăng trưởng bền vững khi
nó có cơ cấu cân đối, hợp lý
Từ những khái niệm cơ cấu kinh tế trên đây chúng ta có thể hiểu cơ cấu
kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ chủ yếu cả về
chất và lượng giữa các bộ phận hợp thành (cả kinh tế- kỹ thuật và kinh tế- xã
Trang 15hội) Những bộ phận đó nhất thiết phải gắn bó hữu cơ với nhau, tác động phụ
thuộc lẫn nhau, làm điều kiện cho nhau trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất hay
gián tiếp trong khâu lưu thông
Nghiên cứu cơ cấu kinh tế nhằm phát hiện xu hướng vận động của nền
kinh tế theo từng thời kỳ để có những tác động cần thiết, thúc đẩy các xu
hướng vận động tích cực, hạn chế những tiêu cực, nhằm đạt tới các mục tiêu
đã định trước Nghiên cứu cơ cấu kinh tế có ý nghĩa đối với thực tiễn là phải
xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý cho từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, của mỗi địa phương trong từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử
Từ cách tiếp cận trên đây, trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là quan trọng nhất Dưới góc độ: “Cơ
cấu ngành của nền kinh tế là tổ hợp các ngành, hợp thành các tương quan tỷ
lệ, biểu thị mối quan hệ giữa các ngành đó của nền kinh tế quốc dân”[4,149]
Định nghĩa về cơ cấu ngành cũng có thể được tiếp cận theo nhiều góc độ, tùy
theo tính chất của từng ngành hẹp hay rộng Trong luận văn này chỉ đề cập cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng Đông Nam Bộ
1.1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vừa là cơ cấu kinh tế ngành
nhưng đồng thời vừa là cơ cấu kinh tế vùng Bởi lẽ đối với nông nghiệp, nông
thôn nói chung cũng như vùng ĐNB nói riêng theo lịch sử là những vùng
rộng lớn, dân cư tập trung đông đúc và phát triển theo nhiều ngành nghề khác
nhau Vì vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa nông
nghiệp, nông thôn, cần phải tính đến yếu tố quan trọng này, hình thành các
khu dân cư đảm bảo tính truyền thông dân tộc, truyền thống văn hóa, dòng họ,
truyền thống bản sắc dân tộc
Trang 16Đối với các tỉnh vùng Đông Nam Bộ có nhiều dân tộc anh em cùng
chung sống, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ nâng cao tính hiện đại,
tính đoàn kết giữa các dân tộc anh em mà còn phải giữ gìn bản sắc văn hóa
của mỗi dân tộc, phát huy truyền thống dân tộc Đây là những vấn đề đặt ra
trong công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển vừa từng bước nâng cao đời
sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân vừa nâng cao đời sống vật chất cho mỗi
thành viên trong xã hội
Cơ cấu nông nghiệp, nông thôn còn là cơ cấu kinh tế ngành Như chúng
ta đều biết mỗi một dân tộc, mỗi vùng nông thôn đều có các ngành nghề
truyền thống lâu đời tạo ra những của cải vật chất nhất định đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển của mỗi thành viên, mỗi dân tộc và toàn xã hội Quá trình
“công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến
và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các
thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị,
kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp, nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng
hóa trên thị trường” [7,94]
Như vậy, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn tạo ra các ngành
nghề mới, chuyển dần lao động trong các ngành nông nghiệp sang các ngành
công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên để thực hiện vấn đề này có hai nhiệm vụ đặt
ra: thứ nhất là cần phải tạo ra các tư liệu lao động và đối tượng lao động mới
và gọi chung là tư liệu sản xuất Với đặc trưng trong nông nghiệp đất đai vừa
là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động, nó là tư liệu sản xuất đặc biệt
Do vậy giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải vừa tận dụng một cách có hiệu quả
tối ưu diện tích đất đai đã có, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Thứ hai là có
kế hoạch trong việc đào tạo đội ngũ lao động nông nghiệp, nông thôn để kết
Trang 17hợp tốt với tư liệu sản xuất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm
tạo ra sản phẩm với hiệu quả cao
Cơ cấu nông nghiệp, nông thôn còn là cơ cấu kinh tế ngành, bởi trong
nông nghiệp, nông thôn có nghiều ngành nghề khác nhau ngay trong lĩnh vực
nông nghiệp đã có hàng trăm ngành nghề Nếu chỉ tính các ngành chính đó là:
trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và tiểu thủ công nghiệp Trong trồng trọt có:
cây lương thực, cây công nghiệp, trồng rừng, cây ăn quả, đồng cỏ chăn nuôi
gia súc chuyển dịch cơ cấu cây trồng phải tính đến hiệu quả các loại cây
trồng vừa đảm bảo những nhu cầu thiết yếu vừa đảm bảo phát triển cho các
ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trong chăn nuôi: gia cầm, gia súc, thủy hải sản, vừa phải bảo vệ và
phát triển các loài động vật quí hiếm, vừa phải phát triển và chế biến các loại
sản phẩm từ chăn nuôi tạo ra Trong những thập niên gần đây nhu cầu “phần
mềm” ngày càng tăng lên, “phần cứng” ngày càng giảm Trước tình trạng lạm
phát, tăng giá như hiện nay, nhu cầu ở các trung tâm thành phố về sản phẩm
qua chế biến tăng nhanh, bởi nó không chỉ tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi
phí trong phạm vi từng gia đình mà còn thuận lợi cho một xã hội công nghiệp
Việc nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản cũng là một trong những nội
dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong những năm gần đây khi nguồn
thủy sản ngày càng cạn kiệt, đánh bắt gần bờ không mang lại hiệu quả phải
đánh bắt xa bờ là một tất yếu Đối với vùng Đông Nam Bộ một lợi thế tuyệt
đối đối với các tỉnh này là dọc duyên hải miền Trung, cơ hội thuận lợi cho
việc phát triển nuôi trồng thủy sản
Một đặc trưng nổi bật của vùng Đông Nam Bộ là diện tích rừng chiếm
tỷ trọng lớn; do vậy cơ cấu nông lâm nghiệp chế biến là cơ cấu ngành quan
trọng đối với một số tỉnh ở khu vực này Phát triển ngành lâm nghiệp là vừa
Trang 18khai thác chế biến vừa phải bảo vệ rừng, phát triển trồng rừng mới, phát triển
các cây cơng nghiệp như cao su, bơng, cà phê, ca cao
Kinh tế nơng thơn là tổng thể các mối quan hệ kinh tế - xã hội diễn ra
trên địa bàn nơng thơn, bao gồm cả nơng nghiệp, cơng nghiệp và dịch vụ;
trong đĩ nơng nghiệp đang giữ vai trị quan trọng nhất Do đĩ, cơ cấu kinh tế
nơng nghiệp nơng thơn là tổng thể các mối quan hệ kinh tế - xã hội biểu hiện
qua tỷ lệ giữa các ngành, các thành phần, các vùng cĩ quan hệ hữu cơ với
nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề cho sự phát triển trong điều kiện
tự nhiên - kinh tế - xã hội trong một thời gian nhất định ở nơng thơn Cơ cấu
kinh tế đĩ được thể hiện cả về mặt chất và mặt lượng
Cơ cấu kinh tế nơng thơn cĩ vai trị to lớn, ảnh hưởng chi phối đến đời
sống vật chất và tinh thần của dân cư nơng thơn Cơ cấu kinh tế nơng thơn
hợp lý sẽ tạo cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học, gắn với việc khai thác
và sử dụng cĩ hiệu quả tối ưu nguồn tài nguyên hiện cĩ; quyết định tốc độ
phát triển kinh tế hàng hĩa ở nơng thơn, chuyển kinh tế nơng thơn từ tự cấp,
tự túc sang kinh tế hàng hĩa; quyết định khả năng xã hội hĩa sản xuất và lao
động, chuyển người nơng dân thuần nơng sang người nơng dân thích nghi tốt
với cơ cấu kinh tế mới là một nội dung quan trọng và cần thiết trong quá trình
CNH, HĐH ở Việt Nam
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế
từ trạng thái này sang trạng thái khác sao cho phù hợp với mơi trường phát
triển, thơng qua quá trình tác động của con người làm thay đổi các bộ phận
cấu thành tổng thể và mối quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành so với
tổng thể
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc và mối
liên hệ của một nền kinh tế theo một chủ đích và phương hướng nhất
Trang 19Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, không chỉ đơn thuần phát
triển công nghiệp, mà còn làm thay đổi cơ cấu trong nội bộ từng ngành, từng
lĩnh vực, từng vùng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghệ
hiện đại; không chỉ đi tuần tự qua các bước cơ giới hóa, tự động hóa, mà còn
kết hợp đồng thời các thành tựu khoa học - công nghệ trên nhiều lĩnh vực, và
có những mũi nhọn đi tắt, đón đầu; không chỉ áp dụng những công nghệ tiên
tiến mà còn phải tận dụng và hiện đại hóa công nghệ truyền thống
Ngay tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa
VII) đã xác định, trong những năm trước mắt, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nước ta cần phải theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp và kinh tế nông
thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
nông - lâm - thủy sản, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Mở
rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh
kinh tế đối ngoại Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng
làm cơ sở cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
Ngày nay, phát triển được xem như chuyển đổi thành công cơ cấu của
một nền kinh tế Các quá trình tạo nên sự chuyển đổi đó bao gồm nhiều sự
thay đổi trên mọi lĩnh vực kinh tế: sự gia tăng năng lực sản xuất, sự chuyển
dịch các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất, các quá trình phát triển
kinh tế -xã hội như: phân phối thu nhập, đô thị hóa, di dân Vì vậy phạm vi
Trang 20Trong lịch sử, xu hướng chung là khi thực hiện CNH, HĐH để đưa
năng suất lao động tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng lên dẫn đến sự
dịch chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp; tỷ trọng của
khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP sụt giảm trong khi tỷ trọng của khu
vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên Chính vì vậy, sự tái phân bổ các nhân tố
sản xuất giữa các ngành, khu vực với sự tập trung ngày càng nhiều các nhân
tố sản xuất vào khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong khi đó nhân tố sản xuất
trong khu vực nông nghiệp giảm đi tương ứng Sự chuyển dịch cơ cấu này
nhằm tạo sự phát triển cân đối giữa các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc
dân, từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ đặc biệt sự phát triển các
ngành dịch vụ du lịch trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chuyển dịch cơ cấu không những liên quan đến sự thay đổi giữa các
khu vực kinh tế, giữa các ngành sự dịch chuyển giữa ngành này sang ngành
kia, mà ngay trong nội bộ ngành cũng có sự thay đổi, chẳng hạn như trong
nông nghiệp cũng có sự dịch chuyển giữa trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ cho
nông nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp chế biến
Khi phân tích về sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế trong lý thuyết tái sản
xuất xã hội của Karl Marx (về sau Lênin đã phát triển tiếp nguyên lý này),
Karl Marx đã chia “ toàn bộ sản xuất xã hội thành hai khu vực lớn: I.Tư liệu
sản xuất, tức là những hàng hóa có một hình thái khiến cho chúng ta phải -
hay ít ra cũng có thể - đi vào tiêu dùng sản xuất II Vật phẩm tiêu dùng, tức là
những hàng hóa có một hình thái khiến cho chúng ta đi vào tiêu dùng cá nhân
Trong mỗi khu vực ấy, tất cả những ngành sản xuất khác nhau thuộc khu vực
đó đều hợp thành một ngành sản xuất lớn duy nhất - một ngành thì sản xuất ra
Trang 21Các nhà kinh điển cho rằng khi thu nhập của các hộ gia đình tăng lên
thì tỷ trọng ngân sách chi cho nhu cầu lương thực giảm xuống Nhu cầu sản
phẩm nơng nghiệp sẽ khơng tăng nhanh bằng nhu cầu sản phẩm cơng nghiệp
và dịch vụ, vì vậy tỷ trọng của nơng nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội
phải giảm xuống Sự dịch chuyển này khơng chỉ đúng trong lý luận của Karl
Marx ở thế kỷ XIX mà ngay cả thế kỷ XXI lại càng sáng tỏ hơn khi kinh tế
dịch vụ ngày càng gia tăng
Đặc trưng nổi bật của cơng nghiệp hĩa là trang bị cơ sở vật chất kỹ
thuật cho tồn bộ nền kinh tế quốc dân trong đĩ cĩ nơng nghiệp Chính vì lẽ
đĩ trong quá trình cơng nghiệp hĩa khơng chỉ tăng việc sử dụng các tư liệu
lao động hiện đại làm cho năng suất lao động tăng lên của cải tạo ra nhiều
hơn mà cịn giảm bớt lao động trong nơng nghiệp “Ở Mỹ một lao động trong
lĩnh vực sản xuất nơng nghiệp cĩ thể sản xuất một khối lượng lương thực đủ
để nuơi sống 70 – 80 người khác Do vậy, ngày nay ở Mỹ chỉ cĩ khoảng 3%
lực lượng lao động làm việc trong khu vực nơng nghiệp”.[35,40]
Với một nguồn lao động nhất định, khi số lượng lao động trong nơng
nghiệp, nơng thơn giảm thì điều đĩ cũng cĩ nghĩa là lao động trong cơng
nghiệp gia tăng Tỷ trọng gia tăng của cơng nghiệp đã giải thích tại sao khi
thu nhập tăng thì tỷ lệ dân sinh sống ở thành thị cũng ngày càng tăng lên Sự
chuyển dịch giữa các ngành trong nền kinh tế địi hỏi tất yếu dẫn đến sự
chuyển dịch trong nội bộ ngành Nhất là nơng nghiệp, nơng thơn đối với
những nước đang phát triển như Việt Nam thì các yếu tố sản xuất như đất đai,
tài nguyên, lực lượng lao động cịn dồi dào, chưa được khai thác để sử dụng
mang lại hiệu quả
Trang 22Một lý do khác có thể giải thích cho sự giảm sút nhanh chóng tỷ trọng
của khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP là “khi một quốc gia càng phát
triển thì lợi thế tương đối cũng dần mất đi, nhất là những lĩnh vực nông
nghiệp cần nhiều lao động giản đơn với chi phí thấp”[17,337]
Mặc dù tỷ trọng của khu vực công nghiệp ngày càng tăng và tỷ trọng
của khu vực nông nghiệp ngày càng giảm trong cơ cấu GDP là một tính quy
luật chung của tất cả các quốc gia trong tiến trình phát triển, song tỷ lệ chuyển
dịch và tốc độ chuyển dịch, chuyển đổi hay tác động cơ cấu kinh tế trong từng
giai đoạn ở mỗi nước, mỗi vùng có thể khác nhau
1.1.3 Tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Với đặc trưng chủ yếu của Việt Nam nói chung và ĐNB nói riêng là
một nước nông nghiệp, năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều
khó khăn Khắc phục thực trạng trên cần phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
quá trình đó không chỉ là quá trình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật mà còn là
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội Song
muốn phát triển công nghiệp, muốn tiến hành công nghiệp hóa lại phải có
những điều kiện tiên quyết như lương thực, thực phẩm, lao động…mà những
điều kiện đó phụ thuộc vào sự phát triển nông nghiệp V.I Lênin chỉ rõ:
“…không thể nói rằng, tích lũy “không phụ thuộc” vào sản xuất vật phẩm tiêu
dùng, chỉ bởi một lẽ là muốn mở rộng sản xuất thì cần phải có tư bản khả biến
mới, và do đó cần phải có vật phẩm tiêu dùng”[13,95] Ở Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói một cách đơn giản và dễ hiểu rằng: “Vì nước ta là một
nước nông nghiệp, mọi việc đều phải dựa vào nông nghiệp” cho nên “Các cơ
quan Nhà nước phải quan tâm hơn nữa đến nông nghiệp, phát huy nhiều hơn
nữa tác dụng của ngành mình trong sản xuất nông nghiệp” [14,145]
Cơ cấu nông nghiệp - nông thôn trước hết là một bộ phận của cơ cấu
kinh tế, là một ngành lớn, một tổng thể hữu cơ của nhiều ngành nhỏ, với
Trang 23Cơ cấu nông nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự
nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, nguồn nước và các điều kiện kinh tế- xã hội
như nhu cầu, thị trường, thị hiếu, sức mua của dân cư Các điều kiện này
khác biệt tùy theo không gian và thời gian, quy định sự hình thành, vận động
biến đổi của cơ cấu nông nghiệp
Xuất phát từ đặc trưng sản xuất nông nghiệp phát triển không ngừng,
cơ cấu các ngành trong nông nghiệp cũng vận động biến đổi Nhờ tác động
của công nghiệp, nông nghiệp được công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bổ sung
thêm các ngành như: ngành chế biến lương thực, thực phẩm, dịch vụ nông
nghiệp mang tính chuyên môn hóa rõ rệt Khi chuyển sang xã hội hậu công
nghiệp, cơ cấu ngành nông nghiệp sẽ có những ngành mới như công nghệ
sinh học, tin học nông nghiệp
Sự chuyển dịch cơ cấu của một nước phải thể hiện trên vùng lãnh thổ
Sự phân công lao động xã hội theo ngành và diễn ra trên từng vùng, muốn
vùng phát triển lớn thì phải chuyển dịch cơ cấu Điều này có ý nghĩa đặc biệt
đối với ngành nông nghiệp, bởi nông nghiệp nước ta mang đặc trưng manh
mún, phân tán, xé lẻ cản trở đối với quá trình phát triển kinh tế Do đó, việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn ở từng vùng, từng địa
phương trở thành xu thế tất yếu
Trang 241.2 Nội dung cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn cĩ nhiều nhân tố tác
động về điều kiện tự nhiên, xã hội, lực lượng lao động, ngành nghề, xu hướng vận
động và phát triển, nhu cầu xã hội…Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện phạm vi,
biện pháp thay đổi cơ cấu kinh tế, cĩ thể sử dụng những thuật ngữ khác nhau phản
ánh nội dung này Trong thực tiễn các nước, tùy theo thời gian và hiệu ứng mà họ
dùng các khái niệm cải tổ cơ cấu, điều chỉnh cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu Tuy
nhiên, tùy theo từng trường hợp cụ thể, trong từng giai đoạn lịch sử, gắn với mỗi
địa phương để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế hay xây
dựng cơ cấu kinh tế, phân cơng lại lao động xã hội Trong Luận văn chúng tơi đề
cập một số các nhân tố liên quan ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế với ý
nghĩa là những nhân tố cấu thành nội dung cơ bản của cơ cấu kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn trong quá trình CNH, HĐH
1.2.1 Nguồn nhân lực
Nhân tố liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế đĩ là nguồn nhân lực,
bởi đây là một trong hai yếu tố của quá trình sản xuất: tư liệu sản xuất, sức lao
động Với đặc trưng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung
trong lĩnh vực nơng nghiệp, nơng thơn là 58% nhưng năng suất lao động thấp,
hiệu quả kinh tế khơng cao Vì vậy nội dung quan trọng cần phải chuyển dịch
cơ cấu nơng nghiệp, nơng thơn đĩ là nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động,
cĩ khả năng lao động và mong muốn cĩ việc làm Như vậy theo quan điểm
này thì những người trong độ tuổi lao động cĩ khả năng lao động nhưng
khơng muốn cĩ việc làm thì khơng được xếp vào nguồn nhân lực xã hội
Sở dĩ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn cần phải
chuyển dịch cơ cấu đội ngũ nguồn nhân lực là do sự phát triển của cách mạng
khoa học cơng nghệ, sự phát triển của cơng nghệ thơng tin, sự phát triển của
Trang 25Hơn thế, bên cạnh chất lượng nguồn nhân lực thay đổi thì số lượng
nguồn nhân lực cũng thay đổi, sự thay đổi này cùng với sự tăng lên của tỷ
suất sinh, sự tăng lên của dân số, của độ tuổi lao động hàng năm; địi hỏi cần
phải tăng thêm các yếu tố sản xuất đầu vào tương ứng Cơ cấu nguồn nhân
lực cũng thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của các ngành kinh tế trong quá
trình CNH, HĐH gắn với xu thế quốc tế hĩa, tồn cầu hĩa; đa dạng hĩa sản
phẩm, đa dạng hĩa lao động cụ thể, đa dạng hĩa nguồn lao động
Sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước địi hỏi phải cĩ nguồn nhân
lực khơng chỉ về chất lượng và số lượng mà cịn phải cĩ một cơ cấu đồng bộ
Nguồn nhân lực được coi là vấn đề trung tâm của sự phát triển Đại hội Đại
biểu tồn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “nguồn lực con người - yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [6,108]
“con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước
trong thời kỳ cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa” [6,201] Nguồn lực con người là
điểm cốt yếu nhất của nguồn nội lực, do đĩ phải bằng mọi cách phát huy yếu
tố con người và nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nhân tố cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là do
sự phát triển của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách
mạng khoa học cơng nghệ, yêu cầu khoa học của tính đồng bộ trong tiến trình
phát triển Đối với Việt Nam đang tiến hành cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa,
chất lượng nguồn nhân lực tăng lên khơng chỉ cĩ ý nghĩa để sử dụng các
thành tựu mới của khoa học cơng nghệ mà cịn cĩ điều kiện để sáng tạo ra các
Trang 261.2.2 Ngành nghề
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cịn là yêu cầu khách quan của sự phát triển
ngành nghề nĩi chung, trong lĩnh vực nơng nghiệp nơng thơn nĩi riêng Với
đặc trưng vùng ĐNB bao gồm đồng bằng, trung du đồi núi, ven biển dọc theo
duyên hải miền Trung, vùng cĩ nhiều ngành nghề cơng nghiệp, tiểu thủ cơng
nghiệp, nơng nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, chế biến, du lịch, dịch vụ…
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn là do sự phát triển
ngành nghề Trong thực tiễn xuất phát từ nhu cầu xã hội ngày càng tăng lên,
thì việc thỏa mãn cho nhu cầu xã hội cũng ngày càng tăng, nghĩa là xã hội cần
phải đa dạng hĩa sản phẩm, nghĩa là phải đa dạng hĩa ngành nghề để tạo ra
chủng loại giá trị sử dụng phong phú đáp ứng nhu cầu xã hội
Hơn thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn cịn do
phát triển ngành nghề Bởi quá trình cơng nghiệp hĩa là quá trình trang bị cơ
sở vật chất, trang bị máy mĩc cho tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân
Sự phát triển ngành nghề là một một tất yếu do yêu cầu phân cơng lại lao
động xã hội Kinh nghiệm của các nước trong khu vực như Indonesia,
Malaysia và Thái Lan, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch
ngành nghề tỷ trọng lao động làm việc ở ngành cơng nghiệp chế biến, dịch vụ
cĩ xu hướng tăng lên, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề theo hướng cơng
nghiệp - dịch vụ - nơng nghiệp cịn ở Singapore và Philippines là dịch vụ -
cơng nghiệp - nơng nghiệp
Sự tăng tỷ trọng ngành nghề dẫn đến tăng tỷ trọng lao động rõ rệt nhất
ở khu vực dịch vụ với tỷ trọng lao động trong khu vực này tăng dần qua các
năm ở tất cả các nước trong khu vực điều này cho thấy các nước trong tiến
Trang 271.2.3 Nhu cầu xã hội
Sở dĩ phân tích nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế bắt đầu từ nhu
cầu của xã hội bởi tồn bộ của cải xã hội được tạo ra bởi lao động cụ thể (lao
động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng) xã hội muốn cĩ nhiều giá trị sử dụng phải
cĩ nhiều lao động cụ thể, muốn cĩ nhiều lao động cụ thể phải cĩ nhiều ngành
nghề sản xuất kinh doanh khác nhau; nghĩa là phải tạo ra nhiều ngành nghề
mới, phải chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tạo chủng loại sản phẩm đa dạng
phong phú thỏa mãn nhu cầu xã hội ngày càng tăng
“Trong điều kiện hiện nay xu thế quốc tế hĩa đời sống, nhanh hơn quốc
tế hĩa sản xuất rất nhiều”[27,26] Thỏa mãn nhu cầu của xã hội khơng chỉ cĩ
nhu cầu vật chất mà cịn nhu cầu tinh thần, và nhất là nhu cầu tinh thần (sản
phẩm dịch vụ phát triển ngày càng nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong
kết cấu tổng sản phẩm xã hội)
Nếu trước đây với cơ chế kế hoạch hĩa tập trung, quan liêu, bao cấp
Xã hội tăng thêm một sản phẩm là cơ sở để cá nhân mỗi thành viên cĩ được
định lượng tăng thêm, khơng cần biết đến cĩ thỏa mãn nhu cầu cần thiết cho
thành viên đĩ khơng? Cịn ngày nay với sự phát triển của kinh tế hàng hĩa,
kinh tế thị trường thì việc tạo ra một lượng giá trị hàng hĩa phải phù hợp với
nhu cầu xã hội cĩ khả năng thanh tốn nghĩa là phải phù hợp với nhu cầu tiêu
dùng, phù hợp với thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội
Trong điều kiện hiện nay với chiến lược kinh tế mở, với sự phát triển
của phân cơng lao động quốc tế, sự hình thành chi phí sản xuất quốc tế, mỗi
một quốc gia, mỗi một ngành trong quốc gia đều trở thành một bộ phận trong
phân cơng lao động quốc tế Với sự thay đổi này, để cĩ thể hịa nhập nền kinh
Trang 28Phát kiến quan trọng của Karl Marx về tính chất 2 mặt của lao động sản
xuất hàng hĩa; khơng những để ơng lý giải vì sao hàng hĩa cĩ 2 thuộc tính,
mà cịn là cơ sở để làm sáng tỏ mâu thuẫn giữa 2 thuộc tính; suy cho cùng đĩ
là mâu thuẩn giữa lao động cá biệt và lao động xã hội; hay mâu thuẩn giữa lao
động tư nhân và lao động xã hội Đây là nội dung cĩ ý nghĩa rất quan trọng;
thực tiễn cho thấy giải quyết tốt vấn đề này chính là phải tạo ra nhiều ngành
mới nghĩa là phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế phân cơng lại lao động xã hội
trong lĩnh vực nơng nghiệp nơng thơn
1.2.4 Xu thế quốc tế hóa - toàn cầu hóa
Trong điều kiện ngay xu thế quốc tế hĩa, tồn cầu hĩa hội nhập kinh tế
quốc tế khơng nước nào cĩ thể đĩng cửa xây dựng nền kinh tế Đặc biệt đối
với Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới, tham gia hội nhập
kinh tế quốc là một tất yếu khách quan, một nội dung khơng thể thiếu trong
tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần tính
đến xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới, tận dụng những thay đổi cĩ
lợi do mơi trường quốc tế đem lại, làm dịu những mất cân đối và tạo cơ hội để
nền kinh tế tăng trưởng bền vững lâu dài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn phải gắn với xu thế
quốc tế hĩa, tồn cầu hĩa hội nhập kinh tế quốc tế Như đã phân phân tích
trên trong điều kiện ngày nay quốc tế hĩa đời sống nhanh hơn quốc tế hĩa sản
xuất rất nhiều, nhu cầu “phần mềm” dịch vụ tăng nhanh hơn nhu cầu “phần
cứng ” vật chất, tương ứng với nền kinh tế các ngành kinh tế dịch vụ tăng
nhanh hơn các ngành sản xuất vật chất rất nhiều Do vậy, trong quá trình
Trang 29Bàn về "toàn cầu hóa" là bàn về xu thế vận động tất yếu của xã hội nói
chung và kinh tế nói riêng Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định
"Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan"[6,120] Chính vì vậy, việc
nhận thức đúng về toàn cầu hóa, giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế quốc
tế có ý nghĩa hết sức quan trọng: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh
thủ mọi thời cơ để phát triển trên nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ và định
hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc; bình
đẳng cùng có lợi, vừa hợp tác vừa đấu tranh; đa phương hóa, đa dạng hóa các
quan hệ kinh tế đối ngoại; đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của
các thế lực thù địch”.[6,120]
Cùng với lực lượng sản xuất và khoa học công nghệ phát triển, phân
công lao động xã hội cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Xu thế của nó
trong điều kiện ngày nay phân công lao động đã phát triển vượt khỏi một
quốc gia và trở thành phân công lao động quốc tế Hầu hết các sản phẩm đều
thông qua lao động của rất nhiều người, rất nhiều nước, mỗi nước trở thành
một bộ phận quan trọng trong hệ thống phân công lao động quốc tế Chính từ
sự phát triển đó, đã nẩy sinh nhiều vấn đề toàn cầu, đòi hỏi phải có sự hợp tác
chặt chẽ giữa các quốc gia mới có thể giải quyết được "Thế giới đứng trước
nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết
nếu không có sự hợp tác đa phương như: bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng
nổ về dân số, đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo " [6,65]
Toàn cầu hóa kinh tế đồng nghĩa với việc mở cửa nền kinh tế của các
nước Trong đó mở rộng phân công lao động quốc tế, theo ngành, theo sản
phẩm cũng như từng chi tiết của sản phẩm Đó cũng chính là sự vận dụng lý
Trang 30Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong xu thế quốc tế hóa toàn cầu hóa còn
có ý nghĩa cả cung và cầu trong nền kinh tế Về cung đây chính là điều kiện
tốt nhất để mở rộng hợp tác bổ sung cho nhau những nguồn tài nguyên thiên
nhiên, giảm chi phí của đơn vị đầu tư vào sản xuất Trong đó phần lớn nguyên
liệu, bán thành phẩm được trao đổi giữa các nước tham gia hợp tác khu vực
Quan hệ về cầu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sẽ mở rộng buôn bán trong khu
vực, buôn bán giữa các nước vừa tạo ra thị trường rộng lớn vừa đa dạng hóa
sản phẩm tạo ra luồng buôn bán mới
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản
xuất hàng hóa Việc lựa chọn cơ cấu, quy mô và chủng loại sản phẩm các
ngành hàng sản xuất nông nghiệp phải khai thác được lợi thế của cả nước và
từng vùng, bám sát nhu cầu trong nước và trên thế giới, phải có khả năng tiêu
thụ được hàng hóa, có hiệu qủa cao về kinh tế-xã hội về môi trường sinh thái
Chuyển dịch theo hướng ngày càng có hiệu quả cao trong kinh tế thị
trường Khi đời sống của con người nâng lên, loài người sẽ quan tâm đến sức
khỏe nhiều hơn và mọi sự ăn uống đều nhằm vào yêu cầu nâng cao sức khỏe
Vì vậy, nông nghiệp phải đáp ứng được những sản phẩm có chất lượng cao,
sạch không nguy hiểm đến sức khỏe của con người
Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ chuyển dịch trong vùng,
trong nước mà phải gắn với xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa
Trang 311.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.3.1 Voán
Vốn là nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn của cả nước nói chung cũng như của Đông Nam
Bộ nói riêng Vốn được hiểu trên hai nghĩa: hiện vật và giá trị Vốn hiện vật là
toàn bộ các yếu tố của quá trình sản xuất xã hội, đây là nhân tố quyết định quá
trình sản xuất, hướng phát triển ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vốn giá trị
là cơ sở để xác định tỷ trọng phân bổ giữa các yếu tố của quá trình sản xuất
trong một nền kinh tế, đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa các ngành và xu hướng vận
động và phát triển của nền sản xuất xã hội và xác định hiệu quả sản xuất
Trong lịch sử, nhiều nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng vốn là nhân tố
quan trọng nhất đối với tăng trưởng Vốn đóng góp vào tăng trưởng sản lượng
không chỉ một cách trực tiếp như một yếu tố đầu vào mà còn gián tiếp thông
qua sự cải tiến kỹ thuật Maddision (1982) lập luận rằng: “Một điều kiện cần
cho việc khai thác các khả năng do tiến bộ kỹ thuật mang lại là một sự gia
tăng dự trữ máy móc và thiết bị của công nghệ đó, cũng như nhà xưởng và cơ
sở vật chất cho việc sử dụng công nghệ”[35,25] Để minh họa vai trò của vốn
đối với tăng trưởng kinh tế, người ta thường sử dụng mô hình Harrod-Domar
(mô hình “nhất khuyết”) hay mô hình ‘nhị khuyết” Hơn nữa, thông qua sự cải
tiến kỹ thuật thì đầu tư sẽ giúp nâng cao kỹ năng của người lao động và điều
này đến lượt nó sẽ làm tăng năng suất lao động giúp cho quá trình sản xuất trở
nên hiệu quả hơn và cuối cùng là làm tăng trưởng kinh tế bởi vì lao động có
kỹ năng cao hơn sẽ vận hành máy móc dễ dàng và hiệu quả hơn cũng như dễ
tiếp thu những công nghệ mới hơn Chính vì vậy mà các quan niệm hiện đại
ngày càng nhấn mạnh tới tính bổ sung giữa lao động và máy móc hơn là tính
thay thế như theo quan niệm chính thống của trường phái Tân cổ điển
Trang 32Nguồn của tăng trưởng kinh tế cĩ thể được truy ra từ nhiều nhân tố,
nhưng quan trọng nhất là vốn bởi nĩ trực tiếp làm cải thiện chất lượng của
nguồn tài nguyên về vật chất cũng như con người, làm tăng số lượng vốn
năng suất của tất cả các nguồn sản xuất đĩ Cũng nhờ vốn và đầu tư mở rộng
cơ sở để cĩ những phát minh, đổi mới và tiến bộ cơng nghệ kỹ thuật…là nhân
tố hàng đầu trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế
1.3.2 Nguồn nhân lực
Trong tất cả các nguồn vốn đảm bảo cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phân cơng lại lao động xã hội thì nguồn vốn nhân lực là một trong 2 nguồn
vốn cơ bản của quá trình sản xuất là yếu tố khơng thể thiếu của bất kỳ quá
trình sản xuất xã hội nào Hơn thế dù các tư liệu lao động (máy mĩc) cĩ hiện
đại đến đâu, đối tượng lao động dồi dào nhưng khơng cĩ nguồn nhân lực
khơng thể làm “sống” lại các tư liệu sản xuất chứ chưa nĩi đến việc tạo ra của
cải cho xã hội
Độ lớn dân số và tốc độ tăng dân số là nhân tố cĩ ảnh hưởng đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng và phát triển kinh tế.…
Theodore Schultz là người đầu tiên nhấn mạnh đến vai trị quan trọng của vốn
nhân lực trong phát triển kinh tế Alfred Marshall cho rằng: “Kiến thức là
động cơ sản xuất mạnh nhất, nĩ cho phép chúng ta cĩ thể chinh phục thiên
nhiên và thỏa mãn những mong muốn của chúng ta.”[17,125] Trong bài diễn
văn của mình khi nhận giải Nobel, Schultz kết luận rằng kiến thức và chất
lượng dân số thực sự quan trọng và rằng nhiều nước cĩ thu nhập thấp đã cải
thiện đáng kể chất lượng dân số cũng như học hỏi được những kiến thức bổ
ích trong vài thập niên gần đây Những thành tựu này hàm ý những triển vọng
kinh tế thuận lợi Nhiều nhà kinh tế khác ( Romer 1986, Lucas 1988, Barro
1988, Maddision 1995…) gần đây cũng đã tái nhấn mạnh những ảnh hưởng
tích cực của vốn nhân lực đến tăng trưởng Otani và Villanueva (1990) cũng
Trang 331.3.3 Khoa học và công nghệ
Khoa học - công nghệ không chỉ là nhân tố liên quan trực tiếp đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà còn là nhân tố quyết định đới với tăng trưởng
kinh tế và tiến bộ xã hội Trong nghiên cứu thực tiễn của mình, Nafziger
(1990) đã đi đến kết luận rằng tích lũy vốn và tiến bộ công nghệ là những
nhân tố chính giải thích cho sự tăng trưởng kinh tế phi thường của các nước
Tây Âu và Nhật Bản trong 125-150 năm trở lại đây
Khoa học - công nghệ thay đổi thực chất làm cho quá trình sản xuất
thay đổi về tính chất của nó Từ hai nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất là tư
liệu sản xuất và sức lao động, khi cách mạng khoa học - công nghệ tác động
nó sẽ làm thay đổi tư liệu lao động từ công cụ lao động thủ công sang công cụ
lao động máy móc, điều tất yếu không chỉ nâng cao trình độ sức lao động
tương ứng để sử dụng đối tượng lao động mà còn giảm cả tương đối và tuyệt
đối số lượng lao động cùng với đà phát triển của khoa học - công nghệ đó
Ngay nay sự phát triển của thành tựu khoa học - công nghệ không chỉ
đơn thuần cách mạng về công cụ lao động mà còn cả cách mạng về đối tượng
lao động, về sinh học, tin học…nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn
Điều đó đã đặt ra những yêu cầu cấp bách trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành nghề cần phải phát triển một đội ngũ lao động mới để sử dụng những
thành tựu của khoa học - công nghệ, cần phải chuyển lực lượng lao động từ
nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ
Sự phát triển của khoa học - công nghệ trên thế giới cũng đặt ra những
yêu cầu cấp bách trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế các sản phẩm sản
xuất ra không chỉ đa dạng hóa đáp ứng nhu cầu xã hội mà còn cần phải phù
hợp chi phí sản xuất quốc tế
Trang 34Cùng với phát triển khoa học học - công nghệ, chuyển dịch cơ cấu phải
đảm bảo sao cho tốc độ tăng trưởng cao, đời sống ổn định, mức sống tăng lên
Tăng trưởng kinh tế: ( tăng theo nghĩa thêm lên, trưởng là lớn lên ) như vậy
điều tất yếu ngoài những nguồn lực cơ bản cho sự lớn lên, tăng lên về số
lượng chất lượng sản phẩm thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế phân công lại lao
động xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực
chất là bố trí lại sản xuất, bố trí lại ngành nghề để sử dụng các yếu tố sản xuất
sao cho tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu
của xã hội Nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với tăng
trưởng kinh tế, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII đã ra nghị quyết về “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hóa, hiện đại
hóa…” [9,65]
Bàn về vai trò của các yếu tố sản xuất, của khoa học và công nghệ
trong sự phát triển kinh tế xã hội, vai trò của nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng Song các nguồn lực đó chỉ có ý nghĩa thực sự khi có cơ cấu
kinh tế hợp lý như cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu trình độ
công nghệ, cơ cấu vùng, cơ cấu mở Trên thế giới hiện nay, việc thành công
trong tăng trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên, vào vốn
vật chất, mà yếu tố ngày càng chiếm vị trí quan trọng là con người, quản lý và
có cơ cấu kinh tế thích hợp
Khi phân tích các yếu tố của quá trình sản xuất và mối quan hệ giữa
chúng trong tiến trình tăng trưởng và phát triển kinh tế giữa các yếu tố cơ bản
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực,
phát huy năng lực nội sinh của nền kinh tế thì nhân tố có ý nghĩa quyết định là
có cơ cấu kinh tế thích hợp Như vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là
nhân tố tác động ngược lại, nhân tố liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế
Trang 35Phát triển ( phát là nổi lên, triển là rộng ra ) theo nghĩa đó phát triển
kinh tế không chỉ là sự tăng lên về số lượng, chủng loại và chất lượng sản
phẩm mà còn làm thay đổi cả cơ cấu kinh tế Nhân tố đóng vai trò quan trọng
đối với phát triển kinh tế trước hết đó là phát triển lực lượng sản xuất trong đó
nhân tố cốt lõi là nguồn lao động
Nhân tố thứ hai liên quan đến phát triển kinh tế là quan hệ sản xuất Như
chúng ta biết quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất thể hiện tính chất tốt xấu về mặt xã hội của những quá trình sản
xuất đó Quan hệ sản xuất được thể hiện trên ba nội dung quan hệ sở hữu về tư
liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức quá trình sản xuất xã hội hay trao đổi kết quả
lao động cho nhau và quan hệ phân phối sản phẩm Trong ba mặt của quan hệ
sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan trọng nhất; sở dĩ như
vậy vì khi tư liệu sản xuất nằm trong tay ai thì người đó trực tiếp tổ chức quá
trình sản xuất và người đó trực tiếp chi phối sản phẩm Như vậy, nếu có một cơ
cấu thích hợp không những thúc đẩy quan hệ sản xuất mà còn làm cho quan hệ
sản xuất được củng cố đó là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế
Nhân tố thứ ba quyết định sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội thuộc
về kiến trúc thượng tầng Kiến trúc thượng tầng có tác động đến sự phát triển
kinh tế Kiến trúc thượng tầng bao gồm nhiều bộ phận cấu thành mỗi một bộ
phận có sự tác động nhất định đến sự phát triển kinh tế Các yếu tố thuộc về
tư tưởng đạo đức có tác động gián tiếp đến phát triển kinh tế còn các nhân tố
khác như thể chế, thiết chế, thể chế chính trị, pháp luật v.v lại có tác động
trực tiếp thúc đẩy kinh tế, khi các chính sách kinh tế phù hợp và ngược lại
Cũng cần lưu ý rằng sự tác động của kiến trúc thượng tầng đến sự phát
triển kinh tế theo các chiều hướng khác nhau: sự tác động đó nếu phù hợp với
sự phát triển lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, phát
huy nội lực nền kinh tế phát triển nhanh và ngược lại Trong thực tiễn xây
Trang 36Trong luận văn này chúng tôi không phân tích toàn bộ vấn đề cơ cấu
kinh tế nói chung mà chủ yếu chỉ phân tích làm sáng tỏ cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn và những vấn đề liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Về mặt không gian luận văn phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn vùng Đông Nam Bộ, về mặt thời gian từ năm 2000 đến
2007 và phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
của vùng ĐNB đến năm 2015
Kết luận chương 1 Luận văn đã phân tích làm sáng tỏ những khái
niệm cơ bản vế cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, những nội dung cơ bản về chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp, nông thôn nói chung và vùng Đông Nam Bộ nói riêng Đây là những
cơ sở lý luận cơ bản cần thiết để đi vào phân tích chương 2
Trang 37Chương 2
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NƠNG NGHIỆP, NƠNG THƠN VÙNG ĐƠNG NAM BỘ
TRONG QUÁ TRÌNH CƠNG NGHIỆP HĨA, HIỆN ĐẠI HĨA
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2007
2.1 Tồn cảnh các tỉnh vùng Đơng Nam Bộ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên :
- Vị trí địa lý : Đơng Nam Bộ bao gồm các tỉnh Ninh Thuận, Bình
Thuận, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu - và
Thành phố Hồ Chí Minh cĩ diện tích tự nhiên là 34.807km2 Đơng Nam Bộ
cĩ vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, nằm tại khu vực giao điểm của các trục giao
thơng quan trọng cả đường bộ, đường biển, đường sơng và đường hàng khơng
của khu vực và quốc tế; cĩ nhiều cửa ngõ mở ra thế giới bên ngồi; là vùng đã
đạt trình độ cao về phát triển kinh tế và vượt trước nhiều mặt so với các vùng
khác trong cả nước Phía Bắc và Tây Bắc giáp với Tây Nguyên và Duyên hải
Trang 38Đông Nam Bộ là vùng có sự phát triển năng động, hội nhập kinh tế
quốc tế tích cực, có vai trò đầu tàu thúc đẩy một cách quyết định đối với sự
phát triển của cả nước Tập trung sức lực, trí tuệ để phát triển Đông Nam Bộ
là yêu cầu chiến lược của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhìn chung ĐNB có địa hình thấp, lượn sóng, cao khoảng 200-300m,
núi đồi thấp, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 1.608,2 ha (chiếm 46,2% diện
tích tự nhiên), đất lâm nghiệp 1.249,4 ha ( chiếm 35,9% diện tích ), đất
chuyên dùng 197,6 ha ( chiếm 5,7% diện tích tự nhiên ), đất ở 71,8 ha ( chiếm
2,1% diện tích ) Đất Đông Nam Bộ bao gồm các nhóm chính sau :
+ Đất Bazan: có khoảng 600.000 ha đất đỏ bazan khá màu mỡ chiếm
40% diện tích đât của vùng
+ Đất phù sa cổ: có gần700.000 ha đất xám bạc màu (phù sa cổ) thuận
lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cao su, chè, cà phê, tiêu và cây
ăn quả quy mô lớn…
- Tài nguyên rừng: Có rừng ngập mặn, rừng quốc gia Nam Cát Tiên
cung cấp gỗ củi và nguyên liệu làm giấy cho TP.HCM và các tỉnh lân cận
- Tài nguyên biển: ĐNB có đường bờ biển dài gần 200 km là vùng
biển giàu tài nguyên, nổi bật là nguồn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, nguồn lợi
biển và tài nguyên thủy hải sản và phát triển ngành dịch vụ, du lịch (Bà Rịa
Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận.Ven biển có rừng ngập mặn thuận lợi
Trang 39cho việc nuơi trồng thuỷ sản Dầu khí trên thềm lục địa ĐNB cĩ trữ lượng
khoảng 3-4 tỷ tấn dầu thơ và khoảng 500 tỷ m3 khí Đây là nguồn nguyên liệu
rất quan trọng cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy điện, cho cơng nghiệp,
dân sinh và xuất khẩu Chúng được coi như những tiềm năng to lớn của vùng
- Về nguồn nước :
+ Nguồn nước: Về cơ bản cĩ thể đáp ứng nhu cầu nước dùng cho cơng
nghiệp, các ngành kinh tế và dân sinh Trên lãnh thổ Đơng Nam Bộ cĩ hai con
sơng lớn là sơng Đồng Nai và sơng Sài Gịn, hàng năm đổ ra biển khoảng 37-
40 tỷ m3 nước, cĩ lúc dịng chảy của hai con sơng này vào khoảng 55-56 m3/s
Sau khi khai thác thuỷ điện Trị An, lưu lượng dịng chảy đã tăng lên rất nhiều,
đạt 180 m3/s Khi xây dựng hệ thống các bậc thang thuỷ điện tiếp theo trên
sơng Đồng Nai thì lưu lượng dịng chảy lên tới 250-260 m3/s, tương đương
với 22 triệu m3/ngày Sau khi trừ nhu cầu nước ém mặn và nơng nghiệp thì
cũng cĩ khả năng cung ứng dài hạn tới 10 triệu m3/ngày cho cơng nghiệp và
dân sinh
+ Nguồn nước ngầm của vùng Đơng Nam Bộ tuy phong phú nhưng
phân bố khơng đều, cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chỉ khoảng 500
nghìn m3/ngày, cĩ khả năng đáp ứng nhu cầu dùng nước ở một số khu vực,
nhất là vào mùa khơ Theo tính tốn hiện nay, hồn tồn cĩ khả năng cung
ứng trong những năm trước mắt khối lượng nước cho cơng nghiệp và dân sinh
khoảng 4 triệu m3/ngày Nhìn chung nguồn nước chủ yếu tập trung hầu hết ở
lưu vực sơng Đồng Nai và một phần sơng Sài Gịn (nằm trên địa phận của
phía Bắc Đồng Nai và Sơng Bé) Vấn đề gay cấn nhất là việc cung ứng nước
cho cơng nghiệp và dân sinh khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu, cũng như khu Nam
Thành phố Hồ Chí Minh
- Năng lượng và điện: Đây là vùng cĩ mức độ cung ứng và tiêu thụ lớn
nhất nước ta Về thủy năng, tổng trữ năng kinh tế của thủy điện khoảng 2,7
Trang 40triệu KW, cĩ khả năng cung cấp 10 tỷ KWh/năm Bên cạnh các cơng trình
thủy điện hiện cĩ, đang và sẽ tiến hành xây dựng hàng loạt cơng trình mới
như thủy điện Thác Mơ (150 MW), Hàm Thuận-Đa Mi (460 MW) và các
cơng trình trên bậc thang sơng Đồng Nai
-Khí hậu : nhiệt đới cận xích đạo Mùa khơ kéo dài từ tháng 11 đến hết
tháng 3, đây là những tháng vùng bị thiếu nước cho cây trồng và vật nuơi, cho
sinh hoạt của dân cư và cho cơng nghiệp Mùa khơ ở vùng thường phải làm
thủy lợi
2.1.2 Nguồn lực kinh tế - xã hội
Về dân số và lao động: theo kết quả thống kê năm 2007, dân số trung
bình của Đơng Nam Bộ khoảng 14.193.200 người người chiếm 16,67% dân
số trung bình của cả nước Trong đĩ, tỉnh Ninh Thuận cĩ dân số ít nhất là
574,8 ngàn người và cao nhất là Thành Phố Hồ Chí Minh 6.347,0 ngàn người;
tỉnh Đồng Nai trên 2 triệu người, các tỉnh khác như Bình Dương, Tây Ninh,
Bình Thuận cĩ hơn một triệu người Mật độ dân số của Đơng Nam Bộ 408
người/km2 cao gấp 1,58 lần so với cả nước ( 257 người/km2 ), mật độ cao nhất
ở thành phố Hồ Chí Minh 3.024 người/km2
Đơng Nam Bộ là vùng cĩ nhiều dân tộc, trong đĩ dân tộc Kinh chiếm
95,5% dân số và tập trung ở các vùng đồng bằng, ven biển, khu vực thị trấn,
thành phố Đồng bào Kinh lao động chủ yếu trong các ngành nơng nghiệp,
cơng nghiệp, dịch vụ; họ sinh sống ở đồng bằng, những vùng đất tương đối
màu mỡ nên họ cĩ khả năng tiếp thu nhanh và áp dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất Đồng bào dân tộc ít người phân bố chủ yếu ở các vùng núi cao,
thường là những vùng tài nguyên cạn kiệt, thiên tai thường hay xảy ra, giao
thơng khơng thuận tiện; do đĩ đời sống của họ cịn gặp nhiều khĩ khăn