Với ý nghĩa như vậy, cùng với sự lôi cuốn của đối tượng đối với quá trình nghiên cứu về Nhật Bản, tôi đã chọn đề tài: “Quá trình hình thành, phát triển và tác động xã hội của trào lưu T
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
========================
NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG TRANG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA TRÀO LƯU TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN TỪ SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II TỚI NĂM 2018
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
========================
NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG TRANG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA TRÀO LƯU TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN TỪ SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II TỚI NĂM 2018
Ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số : 92 29 011
Người hướng dẫn khoa học:
1.PGS TS Phạm Hồng Thái 2.PGS.TS Võ Kim Cương
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS
Võ Kim Cương Các số liệu trong luận án là trung thực, chính xác, đảm
bảo tính khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội,ngày tháng năm 2020
Tác giả luận án
Nguyễn Ngọc Phương Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 8
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 10
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 10
7 Cấu trúc của luận án 11
Chương 4: Đặc điểm và tác động xã hội của trào lưu tôn giáo mới này là gì ? ở Việt Nam tình hình tôn giáo mới như thế nào ? từ thực tiễn ở Nhật Bản có thể rút ra liên hệ gì cho Việt Nam ? 12
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 13
1.1 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo mới ở Nhật Bản 13
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo truyền thống 13
1.2 Các công trình nghiên cứu về tác động của tôn giáo mới ở Nhật Bản 21 1.2.1 Các công trình đánh giá tác động của tôn giáo mới tới đời sống chính trị- xã hội Nhật Bản 21
1.2.2 Các công trình đánh giá tác động của tôn giáo mới tới chính sách của Chính phủ Nhật Bản 27
1.3 Những kết quả đã đạt được và vấn đề cần nghiên cứu 29
1.3.1 Những kết quả đã đạt được 29
1.3.2 Những vấn đề chưa được làm rõ 30
1.3.3 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 30
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TRÀO LƯU TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II TỚI NĂM 2018 32
Trang 52.1 Cơ sở lý luận 32
2.1.1 Khái niệm tôn giáo 32
2.1.2 Khái niệm tôn giáo mới và trào lưu tôn giáo mới 36
2.2 Cơ sở thực tiễn 46
2.2.1 Bối cảnh quốc tế 46
2.2.2 Bối cảnh trong nước 51
Thứ ba là sự phát triển nhanh chóng của quá trình đô thị hoá 58
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62
CHƯƠNG 3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRÀO LƯU TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II TỚI NĂM 2018 63
3.1.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của trào lưu tôn giáo mới từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 1970 64
3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của một số tổ chức tôn giáo mới nổi bật giai đoạn từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II tới năm 1970 68 3.2 Giai đoạn năm 1971 tới năm 1995 80
3.2.1 Khái quát quá trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới từ năm 1971 tới năm 1995 80
3.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của một số tổ chức tôn giáo mới nổi bật giai đoạn từ 1971 đến năm 1995 84
3.3 Giai đoạn từ năm 1996 tới năm 2018 98
3.3.1 Khái quát quá trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới từ năm 1996 tới năm 2018 98
3.3.2 Quá trình hình thành và phát triển của một số tổ chức tôn giáo mới nổi bật giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2018 103
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 116 CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA TRÀO LƯU
Trang 6TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN 118
4.1 Đặc điểm chung của các tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018 118
4.1.1 Tính ma thuật – bí ẩn 118
4.1.2 Tính hỗn hợp 119
4.1.3 Tính hiện thế 120
4.1.4 Tính thế tục 121
4.1.5 Phụ nữ giữ vai trò nổi bật 124
4.1.6 Nỗ lực vươn tầm ảnh hưởng quốc tế 124
4.1.7 Kiến trúc cơ sở thờ tự mang tính hiện đại và sáng tạo 125
4.2 Đánh giá tác động của trào lưu tôn giáo mới đối với xã hội Nhật Bản giai đoạn từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018 126
4.2.1 Tác động tích cực 127
4.2.2 Tác động tiêu cực 133
4.3 Tác động của trào lưu tôn giáo mới tới việc điều chỉnh Chính sách tôn giáo của Chính phủ Nhật Bản 137
4.4 Một số liên hệ với Việt Nam 142
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 152
KẾT LUẬN 153
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
PHỤ LỤC 169
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số liệu của Viện Quốc lập Nghiên cứu Vấn đề Con người- Bảo hiểm Xã hội Nhật Bản công bố năm 2012 101
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cụm từ “tôn giáo mới” xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới để chỉ các hiện tương hay các nhóm tín ngưỡng tôn giáo có nguồn góc hiện đại nhưng lại nằm ngoại vi với văn hóa tôn giáo truyền thống đang
có vị trí thống trị Xung quanh thuật ngữ này, các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu của mỗi quốc gia lại có cách tiếp cận khác nhau Ở Việt Nam, hiện tượng đó thường được các nhà quản lý gọi bằng từ “đạo lạ”, còn các nhà nghiên cứu thì gọi là
“hiện tượng tôn giáo mới” Ở Pháp, hiện tượng trên thường được gọi là “nhóm tôn giáo thiểu số”, “nhóm tôn giáo bên lề”, ở Trung Quốc thì các hiện tượng này thường
bị coi là “tà đạo”, “ngoại đạo”
Tại Nhật Bản, tuy có nhiều quan điểm khác nhau về thế nào là một “tôn giáo mới”, song sự phát triển mạnh mẽ của các hiện tượng thuộc loại này từ sau Chiến tranh Thế giới II ở quốc gia này là không thể phủ nhận Giáo sư Sueki Fumihiko -
nhà nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng ở Nhật Bản - đã miêu tả thời kỳ này là “Thời khắc
bung nở của các vị thần” Nhiều tôn giáo mới được hình thành trước Chiến tranh đã
tranh thủ đẩy mạnh trở lại các hoạt động của mình, bên cạnh những tôn giáo mới đang xuất hiện “như nấm sau mưa” Giới nghiên cứu Nhật Bản và quốc tế đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ “trào lưu tôn giáo mới” khi đề cập đến hiện tượng này với ý nghĩa thực hành tôn giáo mới đã trở thành một xu hướng lôi cuốn nhiều người tham gia, có tác động rõ rệt tới đời sống tinh thần của đông đảo người dân trong xã hội Mặc dù cho đến nay, trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản đã trải qua quá trình phát triển với các giai đoạn khác nhau, có những mặt tích cực nhất định trong một số hoạt động xã hội, như hoạt động vì hòa bình, bảo vệ môi trường, thiện nguyện , song nó cũng gây lên không ít những tác động tiêu cực Việc xuất hiện ồ ạt của các
tổ chức tôn giáo mới, sự tham gia của một số tổ chức tôn giáo mới vào đời sống chính trị, kinh tế, thậm chí có những giáo phái đã chủ trương và thực hiện khủng bố bạo lực đã tạo nên những vấn đề xã hội rất phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến an
Trang 9ninh ở Nhật Bản trong những năm cuối thế kỷ XX Trên thực tế, Chính phủ Nhật Bản đã nỗ lực và đạt hiệu quả đáng kể trong việc tìm ra những giải pháp kịp thời trong lĩnh vực quản lí tôn giáo, vừa đảm bảo nguyên tắc tự do tôn giáo, vừa duy trì những sinh hoạt tôn giáo trong khuôn khổ của luật pháp Tuy sự phát triển của các tôn giáo mới ở Nhật Bản đã vào giai đoạn ổn định, nhưng việc nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển và đánh giá tác động xã hội của nó từ phương diện nghiên cứu lịch sử là rất cần thiết cả về lí luận và thực tiễn để thấu hiểu một cách toàn diện và
có thái độ ứng xử với nó một cách thích hợp Không những thế, điều này lại càng trở nên quan trọng trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang trong quá trình đổi mới Sự phát triển của kinh tế thị trường, sự hội nhập quốc tế sâu rộng, quá trình đô thị hóa
và sự dịch chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị,…đã dẫn đến nhiều biến đổi to lớn về mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Bên cạnh sự phục hưng của các tôn giáo truyền thống như Phật giáo, Công giáo, Đạo Mẫu …không ít tổ chức tín ngưỡng tôn giáo mới đã xuất hiện và ngày càng có tính phức tạp với những tác động xã hội đa chiều, đặt ra nhiều thách thức trong việc nghiên cứu, đánh giá; gây trở ngại cho công tác quản lí của Nhà nước Cụ thể, từ thập niên 90 của thế kỷ XX tới nay ở Việt Nam đã xuất hiện hàng chục hiện tượng “đạo lạ” Những hiện tượng này đều chưa được thừa nhận tính hợp pháp cả
về tổ chức và hoạt động, một số hiện tượng còn gây nên những hệ lụy tiêu cực về kinh tế- xã hội- chính trị Ví dụ như Hội Thánh Đức Chúa Trời, tuy khởi nguồn từ một tổ chức tôn giáo mới của Hàn Quốc, song khi sang tới Việt Nam đã biến tướng thành một loại tà đạo, đi ngược lại phong tục tập quán lâu đời của người dân Tháng 8-2019, vụ việc một nhóm người tu tập một giáo phái lạ ở Bình Dương, do những mâu thuẫn trong quá trình tu tập đã hạ sát nhau, gây rung động dư luận Với một đất nước hơn 90 triệu dân có đời sống tín ngưỡng tôn giáo rất phong phú và phức tạp, việc nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển cũng như tác động xã hội của tôn giáo mới của Nhật Bản chắc chắn sẽ đem lại cho chúng ta cơ sở lí luận và thực tiễn
để nhìn nhận, đánh giá hiện tượng các tôn giáo mới một cách đầy đủ hơn Tác giả rất mong muốn được đóng góp vào công cuộc nghiên cứu tôn giáo mới Nhật Bản
Trang 10nói riêng và tôn giáo mới nói chung trên thế giới Trong một thế giới phát triển nhanh như vũ bão về công nghệ, những khó khăn và mâu thuẫn mới cũng phát sinh, khiến con người luôn phải tìm cách thích nghi nhanh chóng Những sức ép trong một xã hội hiện đại dễ dẫn con người tới với tôn giáo, tín ngưỡng Tôn giáo mới là hình thái tôn giáo xuất hiện đáp ứng những nhu cầu về tinh thần cần thiết cho nhân dân trong bối cảnh xã hội nhiều biến động, và có những tác động tích cực tới đời sống xã hội, song cũng không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực Với ý nghĩa như vậy, cùng với sự lôi cuốn của đối tượng đối với quá trình nghiên cứu về Nhật Bản,
tôi đã chọn đề tài: “Quá trình hình thành, phát triển và tác động xã hội của trào lưu
Tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018” làm đề tài
cho luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Thế giới của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ nguyên nhân hình thành, vận động
và phát triển cũng như đặc điểm của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II, trên cơ sở đánh giá những tác động của nó đối với xã hội Nhật Bản
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, luận án phải giải quyết các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lí luận và thực tiễn với tư cách cơ sở để nghiên cứu trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II đến nay Cụ thể
là cần làm rõ các khái niệm liện quan; phân tích bối cảnh xã hội, nhất là các nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II đến năm 2018
Thứ hai, phân tích sự hình thành và phát triển của trào lưu tôn giáo mới tại Nhật Bản qua các giai đoạn lịch sử từ sau Chiến tranh Thế giới II đến năm 2018
Thứ ba, đánh giá đặc điểm, vai trò, sự tác động xã hội của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II đến năm 2018
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018, tập trung vào các tổ chức tôn giáo mới điển hình và tác động
xã hội của trào lưu này
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về không gian: luận án đi sâu phân tích về trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản
- Về thời gian: luận án tập trung vào sự hình thành và phát triển của trào lưu tôn giáo mới từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018 Luận án dừng nghiên cứu đối tượng ở năm 2018 là xuất phát từ điều kiện thời gian thu thập tài liệu nghiên cứu thực hiện cho luận án, ngoại trừ một số số liệu của Niên giám tôn giáo Nhật Bản năm 2019 đã được sử dụng để tăng thêm tính cập nhập Bên cạnh đó, để giúp làm rõ các vấn đề của trào lưu tôn giáo mới có liên quan, luận án còn nghiên cứu sự phát triển của các tôn giáo mới đã hình thành trước đó, song chưa có cơ hội phát triển mạnh mẽ
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận của luận án
Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, nhất là Chủ nghĩ duy vật lịch sử, quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê nin và của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện một cách khách quan và khoa học về trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II Ngoài ra luận án còn
sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh Cụ thể:
+ Phương pháp lịch sử: Dựa trên các nguồn tài liệu, văn bản sử liệu về các tổ chức tôn giáo mới, các số liệu thống kê hằng năm của Niên giám Tôn giáo Nhật Bản, sắp xếp hệ thống lại để làm rõ nguyên nhân hình thành và phát triển của trào
Trang 12lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II với việc phân chia thành các thời kỳ cụ thể Tác giả xem xét và trình bày quá trình phát triển của trào lưu theo một trình tự liên tục, xem xét mối liên hệ của chúng, từ thời kỳ trước biến đổi dần dần sang thời kỳ sau; làm rõ điều kiện phát sinh, phát triển và biểu hiện của từng thời kỳ Để đáp ứng yêu cầu nói trên, Luận án sử dụng phương pháp lịch đại, phương pháp đồng đại và phương pháp phân kỳ
+ Phương pháp logic: Nghiên cứu tổng quát quá trình phát triển của các tôn giáo mới, từ đó rút ra các quy luật chung nhất, để làm rõ những đặc trưng của trào lưu tôn giáo này
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích nghiên cứu các tài liệu, sử liệu khác nhau Trên cơ sở đó, tổng hợp lại, liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống hoàn chỉnh về quá trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II
+ Phương pháp so sánh: So sánh để tìm ra điểm chung giữa các tổ chức tôn giáo mới, ví dụ như tôn giáo mới có giáo lý theo hệ Thần đạo, theo hệ Phật giáo hay Kito giáo, cách thu hút tín đồ của mỗi tổ chức từ đó rút ra kết luận về các đặc trưng chung của tôn giáo mới Đồng thời cũng tìm ra điểm khác biệt giữa các tổ chức này,
để làm rõ những đặc điểm khác nhau theo từng giai đoạn của quá trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II
+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Trong luận án, phương pháp nghiên cứu trường hợp được sử dụng nhằm làm rõ quá trình phát triển của từng giai đoạn trong trào lưu tôn giáo mới Do có rất nhiều tổ chức tôn giáo mới nổi bật nên tác giả chỉ chọn một số tổ chức tiêu biểu theo hai tiêu chí: thứ nhất là có số lượng lớn về mặt tín đồ, trong những tổ chức lớn đó thì lựa chọn những tổ chức có giáo lý khác nhau về mặt nền tảng, để thể hiện được sự đa dạng (nên tác giả chọn cả
tổ chức có nền tảng giáo lý là các tôn giáo truyền thống và tổ chức có giáo lý mới- tuy có chịu ảnh hưởng của một số tôn giáo truyền thống nhưng đã sáng tạo nên giáo
lý riêng biệt của mình); thứ hai là có phương thức hoạt động hiệu quả trong giai đoạn đó (không dựa vào việc tổ chức đó có nhất thiết ra đời trong giai đoạn đó hay
Trang 13không, có thể ra đời trong giai đoạn đó hoặc đã có từ giai đoạn trước), qua đó làm
rõ sự biến chuyển trong bối cảnh xã hội từng giai đoạn đã tác động tới trào lưu tôn giáo mới, cho thấy các tổ chức đã vận dụng những thuận lợi khách quan để đạt được hiệu quả
+ Ngoài các phương pháp nêu trên, tác giả luận án còn tiến hành nghiên cứu thực địa ở Nhật Bản Cụ thể, tác giả đã có dịp gặp gỡ, trao đổi ý kiến với các chuyên gia trong lĩnh vực tôn giáo của Nhật Bản như giáo sư Inoue Nobutaka (Đại học Kokugaku-in), giáo sư Tsushima Michihito (Đại học Kansai Gakuin), giáo sư Sawai Yoshitsugu (Đại học Tenri) Tác giả cũng tham dự một số buổi hành lễ của giáo phái Omoto (trụ sở ở Ayabe, Kyoto), giáo phái Tenri (trụ sở ở Tenri, Nara), tổ chức Phật giáo mới Shinnyo-en (trụ sở ở Tachikawa,Tokyo), tổ chức Phật giáo mới Rissho Koseikai (trụ sở ở Suginami, Tokyo), tổ chức Phật giáo mới Reiyukai (trụ sở
ở Minato, Tokyo), gặp gỡ và nói chuyện với một số tín đồ của các tổ chức này Tác giả còn được tham quan thực địa cơ sở vật chất của các tổ chức tôn giáo mới nói trên, cùng với cơ sở của tổ chức Phật giáo mới Soka Gakkai, giáo phái Kofuku no Kagaku Những kinh nghiệm quý báu trên đã giúp tác giả hình dung rõ hơn về quy
mô cũng như sự phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Phân tích và trình bày một cách có hệ thống quá trình hình thành, phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II cho đến năm
2018 cũng như rút ra các đặc điểm của trào lưu này
- Đánh giá tác động của trào lưu tôn giáo mới tới xã hội Nhật Bản cả mặt tích cực và mặt tiêu cực
- Luận án bổ sung vào nguồn tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành lịch sử thế giới, chuyên ngành Nhật Bản học, chuyên ngành tôn giáo học ở Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm rõ một số vấn đề về lý luận trong nghiên cứu tôn giáo
Trang 14Nhật Bản nói chung và nghiên cứu tôn giáo mới Nhật Bản nói riêng Đó là góp phần
về làm rõ các khái niệm về tôn giáo mới, tổ chức tôn giáo mới, trào lưu tôn giáo mới, đặc điểm của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án cấu trúc thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu trào lưu tôn giáo
mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018
Chương 3: Quá trình hình thành và phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở
Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018
Chương 4: Đặc điểm và tác động xã hội của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản
Câu hỏi nghiên cứu của từng chương :
Chương 1: Tại sao phải chọn đề tài luận án này ? luận án có đóng góp khoa
học gì ? tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài ?
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành của trào lưu tôn giáo
mới này là gì ?
Chương 3: Quá trình hình thành và phát triển của trào lưu tôn giáo mới này
như thế nào ? trào lưu này có mấy thời kỳ ? đặc điểm của từng thời kỳ là gì ?
Trang 15Chương 4: Đặc điểm và tác động xã hội của trào lưu tôn giáo mới này là gì ?
ở Việt Nam tình hình tôn giáo mới như thế nào ? từ thực tiễn ở Nhật Bản có thể rút
ra liên hệ gì cho Việt Nam ?
Trang 16CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo mới ở Nhật Bản
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo truyền thống
Trong số các công trình nghiên cứu về tôn giáo truyền thống Nhật Bản xuất
bản trong nước bằng tiếng Việt, trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu về
Phật giáo Đó là các công trình như:cuốn Lịch sử Phật giáo Nhật Bản (NXB Tôn giáo, HN, 2002) của tác giả Giác Dũng, cuốn Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời
sống tinh thần ở xã hội Nhật Bản (NXB Chính trị Quốc gia, HN, 2011) của tác giả
Nguyễn Thị Thúy Anh, Luận án tiến sĩ Sử học Phật giáo trong đời sống chính tri,
văn hóa- xã hội Nhật Bản (thế kỷ VI- thế kỷ XIX) (bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận
án tiến sĩ khoa Lịch Sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012) của Trần Nam Trung Phật giáo là một trong những tôn giáo truyền thống có số lượng tín đồ khá đông đảo ở Nhật Bản, ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống người dân Nhật khá rõ nét, thời điểm diễn ra lễ Obon, một lễ hội bắt nguồn từ Phật giáo (giống như lễ Vu Lan ở nước ta) được coi là một trong ba dịp nghỉ lễ quốc gia quan trọng của Nhật trong năm Thông qua việc tiếp nhận Phật giáo, Nhật Bản- một đảo quốc- đã kết nối được với nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, tạo nền tảng xây dựng nên văn hóa Nhật Bản đặc sắc cho tới ngày nay Phật giáo có dấu ấn trong mọi lĩnh vực như nghệ thuật, phong tục tập quán, giáo dục, văn học, thậm chí cả chính trị Các công trình trên đã góp phần giúp người đọc hiểu sâu hơn về lịch sử Phật giáo ở Nhật Bản, cũng như những dấu ấn trong mọi lĩnh vực đời sống của tôn giáo này
Nghiên cứu về Thần đạo – một tín ngưỡng truyền thống vốn có của người Nhật cũng là mảng xuất hiện khá nhiều nghiên cứu đáng chú ý Trước hết phải kể
đến cuốn Tư tưởng Thần đạo và xã hội Nhật Bản cận- hiện đại (NXB Khoa học Xã
hội, HN, 2008) của tác giả Phạm Hồng Thái Khác với Phật giáo là tôn giáo có nguồn gốc từ nước ngoài, đã dần hòa nhập đề phù hợp với văn hóa Nhật Bản, Thần đạo là tôn giáo ra đời và phát triển rất lâu ở Nhật Bản, ăn sâu vào tiềm thức cũng
Trang 17như trái tim của người dân Thần đạo có mối quan hệ rất mật thiết với địa lý và lịch
sử của Nhật Bản, chính vì vậy nó có nhiều điểm tương đồng với tính cách của người Nhật Với việc trình bày cụ thể về các loại hình Thần đạo và quá trình phát triển của tín ngưỡng bản địa mang đậm sắc thái Nhật Bản đem lại cơ sở quan trọng cho việc phân tích, đánh giá quá trình hình thành và phát triển của các trào lưu tôn giáo mới trong thời kỳ cận đại của Nhật Bản Bài viết của tác giả Nguyễn Kim Lai (2005)
nhan đề Về sự hòa hợp giữa Thần đạo và đạo Phật ở Nhật Bản, tạp chí Nghiên cứu
Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 2(56)/2005, phân tích về hiện tượng “Thần Phật tập hợp” của Nhật Bản Trước khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản thì nơi đây đã hình thành tín ngưỡng thờ Thần, gọi là Kami và mỗi Kami đại diện cho một sức mạnh trong tự nhiên Tuy nhiên tín ngưỡng thờ Thần này (gọi là Shinto, tức Thần Đạo –
神道) thường quan tâm tới cuộc sống nơi trần thế mà ít quan tâm tới cuộc sống sau khi chết Vì vậy khi Phật giáo vào Nhật vào thế kỷ thứ VI sau Công nguyên, với lý giải về cuộc sống sau khi chết, đã được đón nhận và dần có sức ảnh hưởng Thế kỷ VIII tức thời kỳ Nara (710-794) xuất hiện thuyết “ Ngự pháp thiện Thần” Thuyết cho rằng Thần chính là Hộ pháp của Phật, có sứ mệnh bảo vệ cho Phật, Thần và Phật chính là một, Thần là Phật và Phật là Thần Chính vì vậy thờ cúng cả Thần và Phật không hề có sự mâu thuẫn nào hết Cùng tác giả Nguyễn Kim Lai có bài viết
Thần đạo Nhật Bản và tín ngưỡng dân gian Việt Nam - Những nét tương đồng và khác biệt, Tạp chí Triết học, số 8 (171)/2005 Bài viết phân tích đối với Nhật Bản,
Thần đạo là một tôn giáo giữ vị trí độc tôn và có ảnh hưởng lớn trong đời sống tâm linh của người dân, còn tín ngưỡng dân gian Việt Nam phản ánh đặc trưng của nền văn minh lúa nước Thần đạo Nhật Bản và tín ngưỡng dân gian Việt Nam có những nét tương đồng, đều bắt nguồn văn hoá phương Đông, nền tảng của sự tương đồng văn hoá của hai dân tộc là kinh tế nông nghiệp Song giữa Thần đạo Nhật Bản và tín ngưỡng dân gian Việt Nam có những nét khác biệt, tín ngưỡng của người Việt mang tính dân gian và chưa trở thành một tôn giáo; còn ở Nhật Bản thì Thần đạo trở thành một tôn giáo chính thống, sự khác biệt này tạo nên nét độc đáo của Thần đạo Nhật Bản và bản sắc riêng tín ngưỡng dân gian Việt Nam Như vậy, tuy vấn đề tôn
Trang 18giáo mới của Nhật Bản không được đề cập trực tiếp ở đây, nhưng các công trình này đã cung cấp những kiến thức phong phú về quá trình phát triển và ảnh hưởng xã hội của các tôn giáo truyền thống như Phật giáo, Thần đạo ở Nhật Bản, giúp có được cái nhìn tổng thể và sâu sắc hơn về vấn đề mà đề tài đặt ra
Về tài liệu của tác giả nước ngoài, có thể kể tới bài viết Tôn giáo Nhật Bản trích dịch từ cuốn “Tôn giáo Nhật Bản”, công trình nghiên cứu của Cục Văn hóa
Nhật Bản (tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1/1999), bài viết đề cập tới một số tổ chức tôn giáo mới nổi bật ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II, tuy chủ yếu vẫn
là phân tích và giới thiệu các tôn giáo truyền thống của Nhật như Thần đạo, Phật
giáo và Kito giáo Ngoài ra có các cuốn sách như Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản của Joseph M.Kitagawa (Nxb Khoa học Xã hội, HN, 2002); Tôn giáo Nhật Bản của Murakami Shigeyoshi (Nxb Tôn giáo, HN, 2005); Lịch sử tôn giáo Nhật Bản của
Sueki Fumihiko (Nxb Thế giới, HN, 2011) Những công trình trên đây hàm chứa nhiều tư liệu giá trị và đánh giá của các học giả Nhật Bản về toàn cảnh tôn giáo Nhật Bản nói chung, trong đó bao gồm tình hình tôn giáo từ sau Chiến tranh Thế giới II đến nay, đặc biệt không thể không nhắc tới tôn giáo mới, cũng như những tổ chức tôn giáo mới tiêu biểu, như Soka Gakkai, Tenrikyo, Omoto, giáo phái Chân lý Aum…Tuy vậy, do chủ đề về tôn giáo Nhật Bản khá bao quát, nên tôn giáo mới ở Nhật Bản, dù được đề cập tới, cũng chỉ đóng vai trò là một phần trong khi các tác giả đề cập đến tiến trình phát triển của lịch sử tôn giáo Nhật Bản
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tôn giáo mới
Trong phạm vi các công trình nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Việt đi sâu vào
phân tích một tổ chức tôn giáo mới tiêu biểu ở Nhật Bản, có thể kể đến bài viết Vấn
đề tham chính của giáo phái Soka Gakkai (Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số
7/2013) của tác giả Dương Kim Oanh Soka Gakkai là một tổ chức Phật giáo mới theo hệ Pháp Hoa, có số lượng tín đồ ở trong và ngoài Nhật Bản khá đông đảo Ảnh hưởng của Soka Gakkai tới chính trị thể hiện qua việc Komeito (Công Minh đảng- được thành lập vào 1964 như một nhánh khác của Soka Gakkai, tuy nhiên sau đó đã tuyên bố ly khai trên danh nghĩa) giành được số phiếu ủng hộ lớn Komeito nhấn
Trang 19mạnh đến các giá trị truyền thống của Nhật Bản và đã thu hút được sự chú ý của thành phần dân nghèo thành thị cũng như nông thôn đặc biệt là với phụ nữ Trong cuộc bầu cử nghị viện năm 2003 và 2004, đảng giành được kết quả tốt nhờ lượng phiếu bầu lớn từ Soka Gakkai Với tư cách là một đối tác liên minh với Đảng Dân chủ Tự do, Komeito hiện đang dần trở thành một đảng phái chính trị lớn ở Nhật Bản Trường hợp Soka Gakkai cho thấy sự ảnh hưởng không chỉ tới đời sống xã hội mà còn dần có vai trò trong chính trường của tôn giáo mới ở Nhật, mặc dù theo nguyên tắc “Chính giáo phân ly” được ban hành năm 1947, tôn giáo không được tham gia vào đời sống chính trị Về luận văn thạc sĩ, có thể kể tới luận văn của Trần Thị
Dung với đề tài Phong trào tôn giáo mới ở Nhật Bản, chuyên ngành Châu Á học,
bảo vệ tháng 4/2015, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc Gia Tp.Hồ Chí Minh Luận văn đã phân tích những nguyên nhân hình thành nên sự phát triển mạnh
mẽ của hiện tượng tôn giáo mới sau Chiến tranh Thế giới II ở Nhật Bản, đổng thời nêu lên các tôn giáo mới tiêu biểu như Omoto, giáo phái Chân lý Aum Tuy nhiên luận văn đi vào nghiên cứu các trường hợp tiêu biểu chứ không đi theo về quá trình phát triển theo dòng thời gian của hiện tượng này
Do ảnh hưởng xã hội mang tính tiêu cực, mang tính cảnh báo về nguy cơ từ các loại hình tôn giáo mới trên phạm vi toàn thế giới của giáo phái Chân lý Aum,
nên có một số bài viết về tổ chức này được dịch ra ở Việt Nam, như bài viết Tôn
giáo ra tòa, sự kết thúc của giáo phái Aum cùa tác giả D.W.Brakett (Tạp chí Nghiên
cứu Tôn giáo, số 5/2001) đề cập tới sự kết thúc của giáo phái này khi cảnh sát bắt giữ Asahara- giáo chủ của Aum sau vụ tấn công bằng khí độc Sarin vào năm 1995,
cũng như những câu hỏi ám ảnh người dân Nhật Bản “Tại sao tai họa này lại xảy
ra? Làm sao có thể ngăn cản nó không trở lại?”, từ đó những yêu cầu cấp thiết
trong việc sửa đổi Luật pháp nhân Tôn giáo được đặt ra và dẫn tới việc Luật này được sửa đổi cuối năm 1995 nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt
động tôn giáo tới an ninh- trật tự xã hội Tiếp theo là bài viết Tâm lý học xã hội về
“kiểm soát tinh thần bởi giáo phái” của Nishida Kimiaki trong cuốn “Ứng dụng tâm lý học tại Nhật Bản” (đồng chủ biên: Vũ Dũng – Phan Thị Mai Hương – Ito
Trang 20Tetsuji – Yamamoto Toshiya, Nxb Từ điển Bách Khoa, HN, 2005) phân tích sự mê hoặc của tôn giáo, cụ thể hơn là một số tôn giáo mới như giáo phái Chân lý Aum
đối với tín đồ dưới góc độ tâm lý học; ngoài ra có bài viết Aum Shinrikyo- giáo phái
“Chân lý tối thượng” trong cuốn “Những hội kín tàn bạo nhất lịch sử” của Shelley
Klein (Nxb Công An Nhân Dân, HN, 2010) phân tích các thủ đoạn lừa bịp để lôi kéo tín đồ, những âm mưu mà giáo phái này ấp ủ nhằm gia tăng thanh thế về mặt chính trị, sự bất lực của cơ quan công quyền trước những vụ việc phạm pháp của chúng, dẫn đến vụ tấn công bằng khí độc Sarin ở hệ thống tàu điện ngầm Tokyo làm hàng nghìn người thương vong, tới lúc này giáo phái này mới thực sự phải “đền tội” Trong các bài viết nói trên, giáo phái Aum nổi bật trong những thập kỷ 80 ở Nhật
và hậu quả nặng nề của giáo phái này gây ra cho xã hội Nhật Bản được đề cập và phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy vậy, do mục đích nhấn mạnh vào tác hại của việc người dân bị lôi kéo tinh thần, dẫn đến việc tham gia vào giáo phái này cũng như sự lừa gạt, kiểm soát tín đồ của giáo chủ Asahara, nên các bài viết trên chưa đề cập tới tình hình tôn giáo mới ở Nhật Bản nói chung, cũng như những mặt tích cực của trào lưu này
Về tài liệu tiếng Anh, cuốn New Religions, Contemporary Paper in Japanese
Religion-2 (Tôn giáo mới, những tư liệu đương thời trong tôn giáo Nhật Bản- phẩn
2, Viện Nghiên cứu văn hóa và truyền thống Nhật Bản, Đại học Kokugakuin, Nhật Bản,1991) do tác giả Inoue Nobutaka chủ biên Đây là cuốn sách gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả nổi tiếng, đi sâu vào phân tích một số tôn giáo mới nổi tiếng như
Reiyukai, Tensho Kotai Jingukyo Đặc biệt, bài viết Recent Trends in the Study of
Japanese New Religions (Những khuynh hướng gần đây trong nghiên cứu tôn giáo mới Nhật Bản) của Inoue Nobutaka nêu lên và phân tích khá chi tiết và tỉ mỉ về các
cách định nghĩa thế nào là “tôn giáo mới”, kể cả tại sao có các cách gọi khác nhau như “tân hưng tôn giáo” (Tôn giáo mới nổi) hay “tân tôn giáo” (Tôn giáo mới), đến những nét đặc trưng của tôn giáo mới, tình hình nghiên cứu về tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II cũng như các khuynh hướng nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực tôn giáo mới Đây là một cơ sở quan trọng cho việc nhìn nhận, phân
Trang 21tích, đánh giá sự phát triển của tôn giáo mới ở Nhật Bản Trong cuốn Japanese
Religions: past & presen (Tôn giáo Nhật Bản: Quá khứ và hiện tại) của Ian Reader,
Esben Andreasen, Finn Stefansson (NXB Routledge Curzon, Anh, 2002), tình hình tôn giáo mới ở Nhật Bản được đề cập đến theo nghiên cứu trường hợp (Case Study), lần lượt đi vào phân tích, nêu lên đặc trưng nổi bật của các tổ chức tôn giáo mới như Tenrikyo, Soka Gakkai, Rissho Koseikai, Seicho no Ie, Mahikari giúp người đọc
có một cái nhìn khái quát về tôn giáo Nhật Bản nói chung và tôn giáo mới nói riêng Tuy vậy, do mang tính khái quát nên công trình chưa đặt các tổ chức tôn giáo mới này vào tiến trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới nói chung
Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về một tổ chức tôn
giáo mới nổi bật, trong đó cuốn Aum Shinrikyo and Japanese Youth (Giáo phái
Chân lý Aum và giới trẻ Nhật Bản, NXB University Press, Hoa Kỳ) của Daniel A
Metraux (1998), trong đó nêu lên quá trình phát triển cũng như sức mê hoặc của giáo phái này đối với giới trẻ, rất nhiều thanh niên ưu tú (được nêu tên từng trường hợp cụ thể) đã tin theo những giáo lý của giáo phái Aum một cách sâu sắc và hậu quả của niềm tin đó Trong số các công trình bằng tiếng Anh chưa hoặc đã được dịch ra tiếng Việt, ta có thể nhận thấy rất nhiều công trình đề cập tới giáo phái Chân
lý Aum, cũng như hậu quả của giáo phái này đối với xã hội.Điều này cho thấy giáo phái Chân lý Aum là một vấn đề rất đáng quan tâm của các học giả nước ngoài Tuy nhiên, cũng như các công trình đi sâu vào một tổ chức tôn giáo, việc phân tích cả tiến trình phát triển của tôn giáo mới cũng như ảnh hưởng xã hội- chính trị của nó ở Nhật Bản, còn chưa được đề cập tới
Về mảng công trình xuất bản bằng tiếng Nhật, có một cuốn sách khá lý thú là
Nobutaka Cuốn sách lần lượt trình bày theo từng chương, với mỗi chương tác giả đưa ra một câu hỏi hoặc một nhận định, sau đó giải thích bằng cách đưa ra các trường hợp cụ thể về các tổ chức tôn giáo mới tiêu biểu Vì vậy, đây là cuốn sách khá tỉ mỉ, chuyên sâu và hữu ích cho người nghiên cứu tôn giáo mới ở Nhật Bản Một cuốn sách nghiên cứu về diện mạo tôn giáo mới được viết theo cách tiếp cận
Trang 22nghiên cứu trường hợp (Case Study) là Qúa trình phát triển của trào lưu tôn giáo
nhà xã hội học nổi tiếng Từ việc nghiên cứu Rissho Koseikai, một tổ chức tôn giáo theo hệ Phật giáo, lấy giáo lý là Pháp Hoa kinh, với những bước thăng trầm trong lịch sử, từ việc bắt đầu xây dựng cơ sở vật chất, thu hút tín đồ, mở rộng cơ sở ở nước gọi chung là “chu trình” của tổ chức này, tác giả đã giúp người đọc hình dung
về tiến trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật, vì một tổ chức tôn giáo không thể nằm ngoài bước tiến chung của cả trào lưu Về việc cập nhập công nghệ thông tin của các tổ chức tôn giáo mới, có bài viết của tác giả Huang Lvping (2001),
nhan đề Nghiên cứu trường hợp “Negai no miya”, về các vị thần thông dụng trong
緑萍), thuộc Kho thông tin trường đại học Tohoku (Tohoku University Repository, cập nhập 2012) Đây là bài viết nghiên cứu về Konkokyo, tổ chức tôn giáo mới theo phái Thần đạo, họ đã tận dụng thế mạnh và sự tiện lợi của Internet để đơn giản hóa việc thờ cúng cũng như cầu nguyện trước vị thần của mình, rất phù hợp
và tiết kiệm thời gian cho đông đảo tín đồ, đồng thời giúp số người đến với tổ chức tăng lên
Tiếp theo là cuốn Mười tôn giáo mới, lớn nhất của Nhật Bản (日本の10大新
宗教) (NXB Gentosha, 2007) của tác giả Shimada Hiromi, trong cuốn sách này, chân dung của 10 tổ chức tôn giáo mới lớn nhất ở Nhật Bản hiện nay hiện lên chi tiết, bắt đầu từ sự ra đời, tới giáo lý, người sáng lập, điểm thu hút tín đồ… cho tới tình hình hiện nay của các tổ chức này Đối với người đang muốn tìm hiểu về các tổ chức tôn giáo mới nổi bật ở Nhật Bản, đây là một tài liệu hữu ích Tuy vậy, do sắp xếp theo thứ tự giảm dần về qui mô của các tổ chức này, nên người đọc chưa hình dung được về tiến trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật sau Chiến tranh Thế giới II Một trong những công trình rất được chú ý liên quan đến chủ đề tôn
giáo mới Nhật Bản phải kể đến là “Tôn giáo mới Nhật Bản chưa phải là chuyện đã
xong nếu chúng ta chưa hiểu –phía sau của phía sau thị trường khổng lồ hai trăm
Trang 23triệu người bị thuyết phục khi đọc” (知らないではすまされない日本の「新宗教」―読んでナットク“2 億人”巨大市場の裏のウラ) của Ishikura Hiroshi (NXB Bunko Gingado, 2008) Trong cuốn sách này, tác giả lý giải vì sao tôn giáo nói chung lại có sức hút đối với con người, sau đó so sánh tôn giáo Nhật Bản với tôn giáo thế giới Tiếp theo tác giả đi vào phân tích điểm khác nhau giữa hai cách gọi “tân hưng tôn giáo” (tôn giáo mới nổi) và “tân tôn giáo” (tôn giáo mới), và các cách định nghĩa khác nhau về tôn giáo mới, giải thích nguyên nhân tôn giáo mới được tin theo, thậm chí đưa ra cách gọi “Kombini hóa tôn giáo mới”, do tôn giáo mới đáp ứng được các yêu cầu: tiện lợi, thân thiết, dễ dàng không khác gì với
“Kombini”, tức cách gọi các cửa hàng tiện ích ở Nhật Bản (cửa hàng mở cửa suốt
24 giờ một ngày, có đủ các thứ nhu yếu phẩm phục vụ sinh hoạt) Sau đó tác giả đi sâu phân tích các đặc trưng như “thần thông hóa”, “siêu nhiên hóa” để thuyết phục tín đồ của tôn giáo mới, rồi sự liên kết với truyền thông của họ…Tất cả những đặc trưng cũng như cách thức hoạt động thường thấy của tôn giáo mới như có một bộ phận đông đảo người sáng lập là nữ giới, sự liên kết với chính trị, sự kinh doanh núp bóng tôn giáo, mở rộng địa bàn ra nước ngoài… đều được đề cập Có thể nói, tuy không có tiêu đề là “từ điển tôn giáo mới”, song cuốn sách thực sự là một cuốn
từ điển khá cụ thể về tôn giáo mới, là tư liệu quan trọng cho người muốn nghiên cứu về tôn giáo mới ở Nhật
Cuốn sách “Nhà tôn giáo như một chức nghiệp- những bí quyết trong đời
sống tinh thần của Okawa Ryuho” (職業としての宗教家、隆法大川 スピリチ
ュアル・ライフの極意) (NXB Kofuku no Kagaku, 2015), với tác giả chính là Okawa Ryuho- người sáng lập ra tổ chức tôn giáo mới Kofuku no Kagaku (Khoa học Hạnh phúc), cho người đọc hình dung về quan điểm hoạt động của một nhà sáng lập tôn giáo mới Cuốn sách này được viết theo hình thức đối thoại giữa Kirara- diễn viên chính bộ phim “Với thiên sứ-Tôi ổn” (天使に“アイム・ファイ
ン ”)- một trong những bộ phim do Ryuho Okawa chế tác và chỉ đạo sản xuất- với chính Ryuho Okawa Qua đó, những bí quyết về phương pháp học tập, phương
Trang 24pháp thuyết giảng, tới việc ghi âm lại những thuyết giảng của mình như một kỹ thuật“đằng sau sân khấu ” đều được Ryuho Okawa bộc bạch Qua đó, ta thấy ông coi những nhà hoạt động tôn giáo phải như một viên chức, có những kỹ năng, có trách nhiệm rõ ràng và có những bí quyết để đạt năng suất cao hơn Đây là một cuốn sách quý báu dành cho người nghiên cứu tôn giáo mới nói chung và tổ chức Kofuku no Kagaku nói riêng
Cuốn sách “Soka Gakkai, tại sao lại phát triển mạnh tới như vậy ?” (なぜ、これほどまでに強いのか?『創価学会』)(NXB Mainichi Shinbun, 2018) của
tác giả Tahara Souichiro, là công trình đi sâu vào nghiên cứu nguyên nhân thành công của Soka Gakkai ở Nhật Bản, thậm chí hiện nay Soka Gakkai đã có mặt tại
192 quốc gia và vùng lãnh thổ Tác giả là người chuyên nghiên cứu nhiều năm về Soka Gakkai, bản thân ông cũng từng gặp Hội trưởng đời thứ ba Ikeda Daisaku của Soka Gakkai hai lần, từng gặp và phỏng vấn Hội trưởng đời thứ sáu Harada Minoru của Soka Gakkai (Ikeda Daisaku sau khi từ nhiệm chức Hội trưởng vẫn giữ chức vụ Hội trưởng danh dự của tổ chức này) Bản thân ông đã mất ba năm thu thập tài liệu
và chấp bút viết nên cuốn sách này Ông phân tích tại sao Soka Gakkai đạt được thành tựu to lớn cả về mặt tín đồ và quy mô, đó là do các đời Hội trưởng của Soka Gakkai đã rất khéo léo vượt qua mọi khó khăn và thách thức đến với tổ chức, từ mặt truyền bá giáo lý, tới việc đối phó với dư luận khi thành lập đảng chính trị Công Minh (Komeito).Trong đó, ông nhấn mạnh vai trò rất lớn của Ikeda Daisaku- Hội trưởng đời thứ ba của Soka Gakkai Đây là một công trình rất hữu ích cho những người nghiên cứu tôn giáo mới Nhật Bản và nghiên cứu về Soka Gakkai
1.2 Các công trình nghiên cứu về tác động của tôn giáo mới ở Nhật Bản
1.2.1 Các công trình đánh giá tác động của tôn giáo mới tới đời sống chính trị- xã hội Nhật Bản
Trong các công trình nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Việt, đầu tiên thể kể tới
bài viết Tác động của tôn giáo đến đời sống chính trị Nhật Bản trong thập niên 90
của thế kỷ XX của tác giả Nguyễn Thị Thúy Anh (Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và
Đông Bắc Á, số 3/2001), Tôn giáo Nhật Bản hiện đại: Sự vận động của tự do tín
Trang 25ngưỡng của tác giả Trần Văn Trình (Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 1/2007) Các
công trình này cung cấp những thông tin, phân tích, đánh giá của các học giả Việt Nam về sự phát triển, cũng như ảnh hưởng chính trị- xã hội của tôn giáo ở Nhật Bản
từ sau Chiến tranh Thế giới II, trong đó có tôn giáo mới Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Thúy Anh nêu lên hai khuynh hướng nổi trội trong việc đánh giá vai trò của tôn giáo trong đời sống chính trị của Nhật Bản thập niên 90 của thế kỷ XX: một
là, tôn giáo mới với chính trị có những hình thức mới để tạo thành một liên minh có tính chính trị; hai là, khả năng xuất hiện nhiều giáo phái mới gây phương hại tới an ninh chính trị và trật tự an toàn Bài viết của tác giả Trần Văn Trình khẳng định việc xác lập nguyên tắc tách biệt chính trị với tôn giáo, không cho phép Nhà nước can thiệp vào tôn giáo và cũng không cho phép tôn giáo nắm quyền lực chính trị để bảo
vệ tự do tín ngưỡng đang trở thành vấn đề quan trọng ở Nhật Bản Tuy nhiên, vai trò và ảnh hưởng của tôn giáo mới vẫn chưa được đề cập nhiều, chủ yếu chỉ nhắc tới một số tổ chức tôn giáo mới nổi bật như Soka Gakkai (Sáng Giá học hội) hoặc
giáo phái Chân lý Aum
Đề cập trực tiếp tới tác động chính trị- xã hội của tôn giáo mới, có cuốn Đời
sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay (NXB Khoa học Xã hội, HN, 2005), do tác giả
Phạm Hồng Thái chủ biên, cuốn sách đã đưa ra được một số vấn đề chủ yếu xuất hiện trong đời sống tôn giáo Nhật Bản từ sau năm 1945 đến nay, trong đó có sự bùng phát của tôn giáo mới, tác động xã hội của trào lưu này, và việc Chính phủ Nhật Bản đã có những chính sách tôn giáo như thế nào cho phù hợp với thực tế Đây là tài liệu thực sự bổ ích cho bạn đọc khi nghiên cứu về Nhật Bản nói chung và
tôn giáo Nhật Bản nói riêng Tiếp theo là các bài viết của cùng tác giả như Tôn giáo
mới ở Nhật Bản từ sau 1945 tới nay (Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á,
số 5/2005) nêu lên nguyên nhân xuất hiện, đặc điểm của tôn giáo mới sau Chiến
tranh Thế giới II ở Nhật Bản; Vấn đề tôn giáo mới trong xã hội Nhật Bản hiện đại (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 10/2007) khẳng định mặt tích cực và tiêu cực đối với đời sống chính tri- xã hội Nhật Bản của tôn giáo mới; Hiện tượng tôn giáo mới
ở Nhật Bản và Việt Nam: Những tương đồng và khác biệt (Tạp chí Nghiên cứu
Trang 26Đông Bắc Á,số 11/2013) nêu lên những điểm tương đồng cũng như khác biệt giữa tôn giáo mới ở Nhật Bản và Việt Nam, mặc dù hoàn cảnh xã hội và thời điểm xuất hiện của tôn giáo mới giữa hai quốc gia từ sau 1945 tới nay có những điểm khác nhau, nhưng những nguyên nhân xuất hiện của tôn giáo mới, đặc điểm và tác động của chúng có rất nhiều điểm đáng chú ý, cần phải tiếp tục nghiên cứu quá trình phát triển của hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở so sánh nó với những diễn biến tại Nhật Bản Trong các công trình của tác giả Phạm Hồng Thái, vấn đề tôn giáo mới đã được phân tích cụ thể, đưa ra những nét đặc trưng, qúa trình phát triển và ảnh hưởng tới việc hoàn thiện chính sách tôn giáo của Nhật Bản cuối năm 1995 Cũng chung chủ đề này là bài viết của tác giả Trương Văn Chung với
nhan đề Tôn giáo mới với xã hội và Nhà nước Nhật Bản trong cuốn “Nhật Bản:
Giao thoa văn hóa” (NXB Đại học Quốc gia Tp HCM, 2016) Ở bài viết này, vấn
đề tôn giáo mới và ảnh hưởng đối với xã hội và Nhà nước ở Nhật Bản được nêu lên, kèm theo các dẫn chứng sinh động Tuy vậy, việc đi sâu phân tích tỉ mỉ qúa trình
phát triển của tôn giáo mới ở Nhật Bản vẫn chưa được đề cập tới
Số lượng công trình được dịch ra tiếng Việt khá ít ỏi, chỉ có bài viết của tác
giả Hirochika Nakamaki với nhan đề Người Nhật và tôn giáo: Tiếp cận từ góc độ
tiêu dùng, (tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4/2001), đề cập tới việc người Nhật coi
tôn giáo là một vấn đề thực hành, thực tế, có quan hệ hiện thực, thể hiện bản chất vị lợi của người Nhật Đọc bài viết này, chúng ta hiểu được tại sao tôn giáo mới ở Nhật dễ lôi kéo người dân tham gia, nhờ đi vào giải quyết những vấn đề thực tế của đời sống Về cống hiến xã hội của các tổ chức tín ngưỡng, trong đó có đề cập tới
Tenrikyo, có bài viết của tác giả Horiuchi Kazunobu, nhan đề Cống hiến xã hội của
các tổ chức tín ngưỡng- vốn xã hội dựa trên tín ngưỡng ở Nhật Bản trong cuốn
“Nhật Bản: Giao thoa văn hóa” (NXB Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2016) Ở đây,
tác giả nhận định tín ngưỡng đã tạo ra nguồn vốn xã hội có tính tôn giáo và đóng góp cho sự hình thành một trật tự xã hội ổn định, cho sự liên kết các thành viên trong xã hội Cụ thể, Tenrikyo đã tiến hành các hoạt động từ thiện dựa trên các giá
trị tôn giáo của họ là Hinokishin và Tatsukeai Đặc biệt, Tenrikyo đã có những hoạt
Trang 27động rất tích cực và cụ thể trong việc cứu trợ sau thảm họa đại động đất sóng thần ở Đông Nhật Bản ngày 11 tháng 3 năm 2011
Về tài liệu tiếng Anh nghiên cứu ảnh hưởng của tôn giáo mới ở Nhật Bản tới đời sống chính trị- xã hội trong những thập niên gần đây, phải kể đến cuốn
Japanese New Religions in Global Perspective (Tôn giáo mới Nhật Bản trong phối cảnh toàn cầu, NXB Curzon, Anh, 2000) do Peter B Clarke biên tập Đây là công
trình tập hợp các bài viết về tình hình các tôn giáo mới của Nhật Bản ở một số khu vực và quốc gia, từ bài viết phân tích về tôn giáo mới Nhật Bản ở phương Tây, đến hoạt động của một số tổ chức tôn giáo mới ở các nước, như Úc, Braxin, Đức, Anh,
Mỹ (tiêu biểu là sự phát triển của Tensho Kotai Jingukyo ở Hawai), và bài viết mang tính nhận định về thành công cũng như thất bại của tôn giáo mới Nhật Bản ở nước ngoài Có thể nói, đây là một tư liệu quý giá để tìm hiểu, nhận định về tầm ảnh hưởng của tôn giáo mới Nhật Bản trên phạm vi toàn cầu, cũng như phương thức thu hút tín đồ ở nước ngoài của từng tổ chức Mỗi tổ chức lại có một cách thu hút tín đồ riêng, như Tenrikyo nhấn mạnh vào liệu pháp chữa bệnh thì Soka Gakkai lại tập trung tuyên truyền về việc bản thân là một tổ chức Phật giáo, khiến nhiều tín đồ chủ trương theo Phật giáo dễ bị thu hút Tuy nhiên, do chủ đề của cuốn sách là về ảnh hưởng ở nước ngoài của tôn giáo mới Nhật Bản, nên chỉ đi vào phân tích tình hình
ở nước ngoài chứ chưa đề cập nhiều tới chính bản thân tổ chức tôn giáo đó ở trong nước Với chủ đề sử dụng Internet để thu hút tín đồ của các tôn giáo ở Nhật Bản,
trong đó có các tổ chức tôn giáo mới, bài viết Online-Religion in Japan:Website
and Religious Counseling from a Comparative Cross-Cultural Perspective (Tôn giáo online ở Nhật Bản: Webiste và những tư vấn tôn giáo từ góc nhìn so sánh văn hóa) của hai tác gải Akira Kawabata vàTakanori Tamura trên Tạp chí Thông tin Máy tính- Truyền thông (số 12-2007), Hiệp hội Thông tin Quốc tế (Journal of
Computer-Mediated Communication, International Communication Association) Đây là một bài viết rất hữu ích cho việc nghiên cứu các tổ chức tôn giáo đã sử dụng Internet để làm tăng ảnh hưởng của tổ chức của mình như thế nào, đặc biệt là việc
mở rộng dịch vụ tư vấn qua mạng của Tenrikyo và Konkokyo- hai tôn giáo mới hệ
Trang 28Thần đạo, ban đầu là tư vấn tâm lý, sau dần dần người nhận tư vấn sẽ cảm thấy sức hút từ tôn giáo mà người tư vấn đang theo Đây là một bước đi rất khéo léo
Về việc tận dụng truyền thông và các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại để cách thu hút tín đồ của các tôn giáo mới Nhật Bản, không thể không kể tới
cuốn Japanese Religions on the Internet, Innovation, Representation and Authority (Tôn giáo Nhật Bản trên Internet, sự đổi mới, thể hiện và quyền lực, NXB Routledge,
London, Anh, 2011) của ba tác giả Erica Baffelli, Ian Reader and Birgit Staemmler
Ở đây, các vấn đề giữa việc tận dụng truyền thông, Internet của các tôn giáo truyền thống cũng như những mặt trái của việc này được đề cập, kể cả việc tạo trang Web chính thức để quảng cáo của các tổ chức tôn giáo Về tôn giáo mới, có bài viết về tôn giáo mới nói chung xung quanh việc sử dụng các Blogger để tuyên truyền, và bài viết về Soka Gakkai, đề cập tới việc Soka Gakkai sử dụng diễn thuyết để lôi kéo người sử dụng Internet Tuy chưa phải là công trình đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của tôn giáo mới trên Internet, nhưng cuốn sách đã giúp người đọc có hình dung chung về mối liên hệ giữa tôn giáo và Internet ở Nhật Bản, trong đó không thể thiếu
tôn giáo mới Cuốn Tôn giáo mới mê hoặc các bà vợ (主婦を魅する新宗教, NXB
Tanizawa, 1988) của tác giả Inoue Setsuko đã phân tích sức ảnh hưởng của tôn giáo mới từ một góc độ mới Ở Nhật Bản, người vợ thường chỉ ở nhà làm nội trợ, trụ cột gia đình là người chồng lo việc kiếm tiền, vì vậy vị trí người phụ nữ nói chung trong xã hội Nhật Bản không được coi trọng như nam giới Song có một điều thú vị
là lượng tín đồ tham gia vào tôn giáo mới là các bà nội trợ khá đông đảo Để lý giải điều này, tác giả đã đưa ra các nguyên nhân chính như người sáng lập hoặc đồng sáng lập tôn giáo mới cũng có một số lượng đáng kể là phụ nữ, tham gia vào tôn giáo mới giúp người phụ nữ tìm được chỗ đứng của mình, thực chất tham gia tôn giáo mới chính là đấu tranh cho phong trào bình đẳng nam nữ thậm chí chính là một cách ngầm đả kích lại chính thể… Đây là một cuốn sách cần thiết đối với người nghiên cứu về tôn giáo mới Nhật Bản, giúp họ có cái nhìn đầy đủ hơn về ảnh hưởng
của tôn giáo mới tới đời sống xã hội
Trang 29Trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo mới ở Nhật Bản, không thể không nhắc tới một học giả nổi tiếng, đó là Shimazono Susumu Quan điểm của ông về tôn giáo
mới được thể hiện trong cuốn Tôn giáo hiện đại cứu tế luận (現代救済宗教論, NXB Seikyusha, 1992) Trong đó, tôn giáo được coi như một sự trợ giúp về tinh thần, trong thời đại hiện nay, khi tôn giáo đang tích cực để mang tính đại chúng hơn nữa, mối liên hệ chung giữa Phật giáo Đại thừa và tôn giáo mới là đều hướng tới cứu giúp tinh thần con người thì những ảnh hưởng của tôn giáo mới đối với một bộ phận đông đảo tín đồ là điều dễ hiểu Cuốn sách giúp người đọc sáng tỏ hơn nữa về bản chất của tôn giáo mới trong xã hội Nhật Bản hiện đại
Từ góc độ một nhà nghiên cứu nước ngoài, Richard W Anderson đã thuật lại
quá trình trải nghiệm tôn giáo mới Nhật Bản trong cuốn Trải nghiệm- câu chuyện về
giáo mới như Rissho Koseikai, Zenrinkai, tham gia vào các buổi nói chuyện, tìm hiểu về cách hành lễ, nói chuyện với các tín đồ, thậm chí đi sâu tìm hiểu về cuộc sống tinh thần của một số tín đồ, chứng kiến cách họ giải quyết các vấn đề trong cuộc sống…từ đó rút ra kết luận về chính xã hội Nhật Bản Ở đây sự trải nghiệm không phải chỉ với tác giả, mà chính là sự trải nghiệm của chính các tín đồ đối với tôn giáo mới mà họ tham gia Cuốn sách là một tư liệu khá hữu ích, giúp người đọc
đi sâu tìm hiểu được đời sống tinh thần của tín đồ tôn giáo mới của Nhật Bản cũng như ảnh hưởng của tôn giáo mới đối với xã hội
Một tư liệu thống kê quý giá không thể thiếu với người nghiên cứu về tôn
giáo mới ở Nhật Bản là cuốn Databook, tôn giáo của người Nhật hiện đại (データブック現代日本人の宗教, NXB Shinyo, 2007) của Ishi Kenji Tuy hàng năm Cục Văn hóa Nhật Bản đều đưa ra Niên giám Tôn giáo mới, thống kê khá đầy đủ, cập nhập về số lượng tín đồ, cơ sở vật chất, địa chỉ nhưng ở cuốn sách này, không chỉ dừng lại ở đó, còn đưa ra các số liệu thống kê bảng hỏi, điều tra về thái độ của người dân đối với tôn giáo, với các vấn đề tâm linh, Đây thực sự là một tư liệu quý, đáng tin cậy để người nghiên cứu về tôn giáo Nhật Bản nói chung và tôn giáo mới
Trang 30nói riêng, đưa ra những nhận định của mình về tình hình tôn giáo ở Nhật, ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống tinh thần người dân Cũng ra đời với mục đích như một quyển hướng dẫn những người mới tìm hiểu về tôn giáo Nhật Bản, cuốn
団ガイドブック,NXB KK Best Book (KK ベストブック),Tokyo, 2011) của Tân
hội nghiên cứu Tổ chức tôn giáo Nhật Bản (宗教教団新研究会), trong đó giới thiệu về người sáng lập,trụ sở, người đứng đầu hiện tại, số tín đồ của 81 tổ chức
tôn giáo (tiếng Nhật gọi tổ chức là Kyodan-教団- giáo đoàn) Trùng hợp là rất nhiều
tổ chức trong cuốn sách này là tổ chức tôn giáo mới Vì vậy, đối với người muốn tìm hiểu cụ thể về tôn giáo mới của Nhật Bản, đây thực sự là một tài liệu hữu ích
1.2.2 Các công trình đánh giá tác động của tôn giáo mới tới chính sách của Chính phủ Nhật Bản
Bài viết của tác giả Phạm Hồng Thái với nhan đề Tìm hiểu chính sách tôn
giáo của nhà nước Nhật Bản trong cuốn “Nhà nước và giáo hội” (Chủ biên: Đỗ
Quang Hưng, NXB Tôn giáo, HN, 2003) Bài viết phân tích nguyên tắc tự do tôn giáo và tôn giáo tách biệt khỏi nhà nước đã được áp dụng trong các chính sách tôn giáo của Nhà nước Nhật Bản ngay sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới II Tới nay, Nhật Bản đã đạt những tiến triển vượt bậc, đặc biệt trong lĩnh vực dân chủ hoá đời sống xã hội, bài viết nêu lên những biến đổi của chính sách tôn giáo của Chính phủ Nhật Bản thông qua nghiên cứu quá trình sửa đổi, bổ sung chính sách tôn giáo của Nhà nước Nhật Bản từ 1945 đến nay Về chủ đề này còn thấy trong luận văn thạc sĩ
Châu Á học của Dương Kim Oanh, với đề tài Chính sách tôn giáo của Nhật Bản
giai đoạn 1945 – 1951 (bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ Châu Á học,
khoa Đông Phương học, Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013) Đây là một công trình khá đầy đủ và công phu, phân tích quá trình cải cách và triển khai chính sách tôn giáo của Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II, cụ thể là sự ra đời của Luật Pháp nhân tôn giáo năm 1951 Tuy công trình lấy phạm vi thời gian nghiên cứu là năm 1951, nhưng cũng đề cập tới những mặt tích cực và cần hoàn thiện hơn nữa của Luật này, thể hiện trong qúa trình thực hiện Ở đây, một số
Trang 31tổ chức tôn giáo mới như giáo phái Chân lý Aum hay Soka Gakkai đã được đề cập tới, song vẫn chỉ ở mức độ phân tích ảnh hưởng của chúng đối với việc sửa đổi Luật Pháp nhân Tôn giáo năm 1995, còn các tổ chức tôn giáo mới tiêu biểu khác chưa được đề cập, do luận văn chỉ tập trung vào phân tích Luật Pháp nhân Tôn giáo và những yếu tố trực tiếp tác động đến nó
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II ở nước ta, tuy đã có nhưng chưa hệ thống, đã đề cập tới diện mạo của một số tôn giáo mới nổi bật, cũng như phân tích những tác động xã hội, cả mặt tích cực và tiêu cực của các tôn giáo mới, đồng thời nêu lên được ảnh hưởng của nó tới việc hoàn thiện chính sách tôn giáo Nhật Bản, nhưng chưa cung cấp một cách tổng thể, hệ thống và toàn diện về quá trình phát triển, đặc điểm, ảnh hưởng xã hội
của trào lưu này ở Nhật Bản Liên quan tới mảng đề tài về chính sách tôn giáo của
Chính phủ Nhật Bản của tác giả nước ngoài, có bài viết của tác giả Chen Choumei,
Phân tích việc sửa đổi Luật pháp nhân Tôn giáo của Nhật Bản, trong “Tôn giáo và đời sống hiện đại” - tập 3 (Viện Thông tin Khoa học Xã hội, 1999) Ở đây, nêu lên
vụ việc giáo phái Chân lý Aum thực hiện vụ tấn công bằng khí độc ở hệ thống tàu điện ngầm Tokyo năm 1995 và việc một số tổ chức tôn giáo mới can thiệp vào chính trị, là những tác nhân chính dẫn tới việc sửa đổi Luật Pháp nhân Tôn giáo của
Nhật Bản Tiếp theo là cuốn sách của tác giả Sakurai Yoshihide, Thắc mắc về
由というリスク,Nxb Công luận Trung ương, Nhật Bản,2006) Cuốn sách đề cập tới việc các tổ chức tôn giáo mới dần dần trở thành ‘‘Cult’’, ở đây khái niệm
‘‘Cult’’ được hiểu như các giáo phái mới, đi theo hướng cuồng tín, và vấn đề giáo phái Chân lý Aum được đề cập và phân tích rất nhiều Tác giả quan tâm tới việc tại sao giới sinh viên và giới trẻ nói chung lại đi theo giáo phái Aum đông đảo như vậy, nguyên nhân bắt nguồn một phần từ việc cho phép tự do tôn giáo
và các chính sách ưu tiên cho tôn giáo ở Nhật Bản Từ đó việc sửa đổi Luật Pháp nhân Tôn giáo là rất cần thiết, để hạn chế bớt các quyền và sự ưu tiên cho các tổ chức tôn giáo pháp nhân
Trang 321.3 Những kết quả đã đạt được và vấn đề cần nghiên cứu
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập tới chủ
đề tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thê giới II , có thể đi đến một số nhận xét như sau:
1.3.1 Những kết quả đã đạt được
Nói chung, các công trình nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản nói chung và tôn giáo mới nói riêng, đã có một số nhận định, đánh giá khá hữu ích cho những người bắt đầu đi sâu tìm hiểu về lĩnh vực này Đặc biệt, đã có nhiều công trình về một số
tổ chức tôn giáo mới nổi bật, đó là Soka Gakkai, giáo phái Chân lý Aum, Omotokyo, Tenrikyo…giúp người đọc có được hình dung ban đầu về tôn giáo mới- một trào lưu nổi bật trong đời sống tôn giáo Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II Ngoài ra, vấn đề giáo phái Chân lý Aum, do tính thời sự cao, nên đã được dịch ra tiếng Việt khá nhiều, cung cấp cho người đọc cái nhìn khá cụ thể, tỉ mỉ về hoàn cảnh ra đời, nguyên nhân tạo được một số lượng tín đồ không nhỏ ở Nhật Bản và cả nước ngoài, cũng như những hậu quả nặng nề giáo phái này gây ra cho xã hội, và là một trong những nguyên nhân chính đưa tới việc Luật pháp nhân Tôn giáo ở Nhật cần phải sửa đổi cuối năm 1995 Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, và mang nhiều quan điểm khác nhau, tôn giáo mới ở Nhật Bản thực sự là một lĩnh vực rộng lớn với khá nhiều công trình hữu ích, đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá tỉ mỉ về tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II, cũng như những ảnh hưởng tới đời sống xã hội, những bước phát triển của các tổ chức này Nếu không được tiếp cận với những tài liệu này, người đọc sẽ không thể hình dung được tính phức tạp, đa dạng trong đời sống tôn giáo Nhật Bản, nhất là tôn giáo mới Tôn giáo mới, bằng những điểm thu hút trong giáo lý, cách tiến hành nghi lễ cũng như cách thức hoạt động của mình, tạo được sự tin tưởng của tín đồ vào sự lựa chọn của mình, sau đó dần tác động tới những người thân xung quanh, giúp tôn giáo mới ngày càng gia tăng số tín đồ của mình Hầu hết các tôn giáo mới đều hướng tới việc hoạt động đứng đắn, không vi phạm pháp luật, đáp ứng được các nhu cầu về tinh thần cho tín đồ, đó cũng là cách
để họ tồn tại dài lâu
Trang 331.3.2 Những vấn đề chưa được làm rõ
- Chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, cung cấp một cách tổng thể và toàn diện về quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm, tác động xã hội của trào lưu này ở Nhật Bản
- Về mặt tài liệu, các tài liệu tiếng Việt và dịch ra tiếng Việt còn khá ít, chủ yếu mang tính khái quát, giới thiệu lịch sử tôn giáo Nhật Bản và những đặc trưng của từng thời kỳ, chưa đề cập nhiều tới tôn giáo mới
- Có các công trình đi sâu nghiên cứu về giáo phái Chân lý Aum- một giáo phái mới mang tính tiêu cực, nhưng chưa giúp người đọc hiểu được trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II, mà chỉ khắc họa một giáo phái tiêu biểu
- Có một số bài viết về các tổ chức tôn giáo mới cụ thể, nhưng vẫn mang tính
lẻ tẻ, chưa hệ thống Việc phân tích các tổ chức này một cách riêng biệt, không đề cập nhiều tới bối cảnh và sự chuyển biến xã hội khi chúng ra đời, khiến cho người đọc chưa hình dung được sự phát triển của trào lưu tôn giáo mới này
- Các tài liệu tiếng Nhật tuy rất đa dạng nhưng chủ yếu đi vào phân tích tôn giáo mới về góc độ tâm lý học, về ảnh hưởng tinh thần của các tổ chức này, nên các công trình trên mang tính nghiên cứu xã hội học hoặc tâm lý xã hội học
1.3.3 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Từ những vấn đề chưa được làm rõ trong các công trình đi trước, luận án đặt
ra mục tiêu giải quyết để làm rõ những vấn đề sau::
- Thứ nhất, cần làm rõ bối cảnh hình thành trào lưu tôn giáo mới sau Chiến tranh Thế giới II, những nhân tố dẫn tới sự hình thành trào lưu này
- Thứ hai, phân tích quá trình phát triển của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới II cho đến năm 2018 theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể Từ thực tiễn phát triển của các giai đoạn này, rút ra đặc điểm chung của trào lưu tôn giáo mới
- Thứ ba, phân tích tác động đối với đời sống xã hội Nhật Bản, cả mặt tích cực và tiêu cực của trào lưu này
Trang 34- Thứ tư, liên hệ với thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh tiến hành công cuộc “đổi mới”
Như vậy, nhiệm vụ của luận án là nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có
hệ thống về toàn bộ quá trình hình thành, phát triển cũng như tác động xã hội của trào lưu tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II tới năm 2018, điều
mà các công trình nghiên cứu đi trước chưa thực hiện
Trang 35CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
TRÀO LƯU TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II TỚI NĂM 2018
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm tôn giáo
Lịch sử phát triển của loài người không tách rời lịch sử phát triển của các tôn giáo Về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, một mặt phản ánh tồn tại xã hội, nhưng cũng có khả năng tác động lại và làm ảnh hưởng ít nhiều đến tồn tại xã hội – mảnh đất đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó Cùng với sự biến đổi tồn tại xã hội, của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo Đa số các nhà khoa học đều khẳng định tôn giáo ra đời khoảng 45.000 năm trước đây với các hình thức sơ khai như Tô-tem giáo (thờ vật tổ), Ma thuật giáo,…Trong tôn giáo học
có nhiều định nghĩa về tôn giáo, xuất phát từ các quan điểm khác nhau như quan điểm thần học, quan điểm triết học, quan điểm xã hội học, quan điểm sinh học, quan điểm tâm lý học
Theo định nghĩa thần học (của giáo hội) thì tôn giáo là mối liên hệ của con người với Thượng đế, với thần linh, với cái Tuyệt đối, với một lực lượng siêu việt nào đó, … Nhà thần học và triết học người Đức nổi tiếng theo phái Luther, R.Otto (1869-1937) đã cho rằng, tôn giáo là “sự thể nghiệm cái thần thánh”, còn đối tượng của nó là bản chất lý tính (tiếng La tinh: Numen- ý Chúa, quyền lực, sức mạnh của Chúa), tức lực lượng sinh ra từ Chúa [24,tr.25] Nhà thần học và triết học Chính
Thống giáo P.A.Phlorensky (1882-1937) đã xác định tôn giáo như sau: “…nếu xét
về mặt bản thể luận, tôn giáo là sự sống của chúng ta trong Chúa và của Chúa trong chúng ta, thì xét về mặt hiện tượng học, tôn giáo là hệ thống những hành vi và cảm xúc đảm bảo sự giải thoát, cứu rỗi tâm hồn Nói cách khác, sự giải thoát theo nghĩa tâm lý học rộng nhất của từ này là sự cân bằng của đời sống tâm thần”[24,tr.26]
Trang 36Các định nghĩa triết học và xã hội học về tôn giáo là rất đa dạng, được phân biệt tùy thuộc vào các nguyên tắc và các phương pháp xuất phát C.Mác (1818-1883), Ph.Ăngghen (1820-1895) và những nhà nghiên cứu Mác-xít đã nêu đặc trưng tôn giáo dựa trên quan niệm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và con người
Họ cho rằng tôn giáo không có lịch sử của riêng mình, không có bản chất đặc biệt
và nội dung đặc biệt nằm ngoài thế giới Tôn giáo phát triển trong bối cảnh lịch sử
xã hội; sự tiến hóa của tôn giáo diễn ra tùy thuộc vào sự phát triển của sản xuất xã hội, của hệ thống quan hệ xã hội Trong tôn giáo, con người biến thế giới kinh nghiệm của mình thành một bản chất tưởng tượng, đứng đối lập với nó như một vật
xa lạ Theo C.Mác: “…tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người
chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để mất bản thân mình một lần nữa Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người, là Nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy , xã hội
ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là logic dưới hình thức phổ cập của nó,
là vấn đề danh dư duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó, là sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là sự bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ”[24,tr.27] Tôn giáo thể hiện là một hiện tượng xã hội mà sự
xuất hiện và tồn tại được quy định bởi những quan hệ xác định đã hình thành trong
xã hội- tính hạn chế của hoạt động sinh hoạt vật chất của con người và quan hệ xã hội
hạn chế sinh ra từ đó Ph.Ăngghen viết: “…tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản
ánh hư ảo- vào trong đầu óc của con người- của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”[24,tr.28] Như vậy, theo quan niệm của
C.Mác và Ph.Ăngghen, có thể coi tôn giáo là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội, tôn giáo tạo cho con người có niềm tin vào thế giới vô hình nơi hư vô, nhưng con người vẫn sống trong cuộc sống hữu hình nơi trần thế, đồng thời tôn giáo quy định những luật lệ, nghi thức mang tính thiêng liêng để con người thực hành, tuân theo
Trang 37Các định nghĩa xuất phát từ quan điểm sinh học và tâm lý học thì khác hẳn Các quan điểm sinh học tìm kiếm cơ sở của tôn giáo trong quá trình sinh học hay tâm sinh học của con người Xét từ góc độ này, cái cấu thành cơ sở của tôn giáo là
“bản năng tôn giáo”, là tình cảm tôn giáo, tức là cái “tham gia vào bản năng tự vệ của cá nhân hay của nhóm” và thể hiện như là “công cụ của cuộc đấu tranh vì sự sống”, “là gen tôn giáo” Tôn giáo là “chức năng tâm sinh lý của cơ thể”, là đỉnh điểm của xu hướng cơ bản của cơ thể trong việc phản ứng một cách đặc biệt đối với những tình thế mà cuộc sống đặt nó vào, “là tình dục, là một bộ phận của bản tính con người”, là cái thức tỉnh những tình cảm mạnh mẽ sâu xa nhất, v.v… Các quan điểm tâm lý học tách tôn giáo ra từ tâm lý cá nhân hay tâm lý nhóm Phổ biến nhất
là việc tìm tòi cơ sở của tôn giáo trong lĩnh vực tình cảm Người ta coi những tình cảm khác nhau nhất là “tế bào tình cảm”- lệ thuộc và sợ hãi, sùng kính và kính trọng, tình yêu, sự thể hiện nghiêm cái vô hạn, xấu hổ, tình cảm đạo đức, ý chí về cái cao cả, cũng có các lý luận tách tôn giáo ra từ lĩnh vực trí tuệ hay lĩnh vực ý chí Một trong những người sáng lập ra tâm lý học tôn giáo- nhà triết học theo chủ nghĩa thực dụng người Mỹ,V.Jemes (1842-1910), đã phát triển các tư tưởng của khuynh hướng chức năng trong tâm lý học dựa trên quan điểm động cơ sinh học về tâm lý như một hình thức tính tích cực của cơ thể, như một phương tiện thích nghi với môi
trường Ông giải thích tôn giáo nhờ xuất phát từ tâm lý cá thể: “Chúng ta thỏa
thuận gọi tôn giáo là tổng thể những tình cảm, hành vi và kinh nghiệm của cá nhân riêng biệt vì nội dung của chúng quy định quan hệ với cái mà tôn giáo tôn sùng- Thượng đế”[24,tr.30] Tôn giáo bắt nguồn từ lĩnh vực tình cảm trong tâm lý cá nhân
V.Jemes viết: “ tình cảm là nguồn gốc sâu xa nhất của tôn giáo, còn các hệ thống
triết học và thần học chỉ là thượng tầng phái sinh, giống như bản phiên dịch văn bản gốc sang ngôn ngữ khác” Ông cho rằng tính chân thực của tôn giáo và của
niềm tin vào Chúa sinh ra từ tính hữu ích, tính thuận lợi của chúng: chức năng tâm
lý chung của mọi tôn giáo là chuyển từ nỗi đau khổ tinh thần sang sự giải phóng dần dần khỏi nó Tôn giáo có một năng lực huyền diệu là biến những đau khổ lớn nhất của tâm hồn con người thành hạnh phúc sâu xa và vững chắc nhất [24,tr.43]
Trang 38Tôn giáo được xem xét với tư cách là hiện tượng phổ biến của văn hóa Nhà dân tộc học người Anh, B Malinowski (1884- 1942) phân tích tôn giáo trong quan
hệ của nó với khoa học và ma thuật, dựa trên tư liệu về văn hóa không chữ viết chủ yếu là của cư dân các đảo Trobriand phía Nam Thái Bình Dương Khoa học là sự khai thác hiện thực một cách duy lý Khoa học thể hiện là “sự đối xử duy lý” với thế giới bao quanh một cách phù hợp với tri thức và kỹ thuật hiện có, nó kiến tạo nên thế giới hàng ngày, “thế tục” Bên cạnh lĩnh vực này còn có lĩnh vực “thiêng liêng”
bao gồm có ma thuật và tôn giáo Ma thuật được xác định là “niềm tin vào khả năng
đạt tới thắng lợi nhờ các công thức và các lễ nghi có phép màu”[24,tr.45] Nếu mục
đích của mỗi hành động trong ma thuật được xác định chính xác và được hạn chế, thì lễ nghi được thực hiện theo một cách khác trong tôn giáo Tôn giáo có quan hệ không phải với những ấm ức cụ thể của cuộc sống hàng ngày, mà có quan hệ với
những vấn đề cơ bản của tồn tại người B.Malinowski viết: “ Xét về văn hóa giáo lý
của mình- tôn giáo thường xuyên thể hiện mình với tư cách là hệ thống những luận điểm mang tính răn dạy niềm tin, hệ thống này quy định vị trí của con người trong
vũ trụ, giải thích nguồn gốc của nó và giả định mục đích Cá nhân thường cần tới tôn giáo một cách thực dụng để khắc phục linh cảm làm bàng hoàng, làm tê liệt về cái chết, sự bất hạnh và số phận” [24,tr.49] Tôn giáo không bao giờ trở nên thừa vì
những vấn đề nêu trên về nguyên tắc là không loại bỏ được
Như vậy, thông qua các định nghĩa về tôn giáo từ các quan điểm thần học, triết học và xã hội học, sinh học và tâm lý học, và từ việc coi nó là một hiện tượng phổ biến của văn hóa, tác giả nhận thấy một điểm chung là tôn giáo đều được đánh giá là một hiện tượng tất yếu trong đời sống tinh thần con người, dù trong bất kỳ thời đại nào, tôn giáo đều đóng vai trò cần thiết trong đời sống, đáp ứng những nhu cầu tinh thần của con người, như nhu cầu cần được che chở từ một thế lực linh thiêng để có thể thực hiện những niềm tin tôn giáo của mình, nhu cầu xoa dịu và lý giải những nỗi đau về tinh thần, nhu cầu kết nối và giao lưu với những tín đồ đồng đạo khác, nhu cầu khẳng định mình về mặt đức tin…
Trang 39Ở Nhật Bản, khi nói tới tôn giáo, chúng ta thường gặp từ “giáo đoàn tôn giáo” (宗教教団) Từ “giáo đoàn” này bao gồm cả các pháp nhân tôn giáo (宗教法人- tổ chức tôn giáo có tư cách pháp lí độc lập được nhà nước công nhận) và phi pháp nhân (宗教 非法人- tổ chức tôn giáo chưa được nhà nước công nhận tư cách pháp lí độc lập) Giáo đoàn chia làm hai loại chính, một là các “đoàn thể tôn giáo bao quát1” (包括宗教団体) và hai là “giáo đoàn tôn giáo đơn vị” (単位宗教教団) [108,tr.29] Giáo đoàn bao quát chính là các dòng chính của các tông phái Phật giáo, Thần đạo, Kito giáo lớn, bao quát trong đó nhiều giáo đoàn nhỏ hơn như các chùa chiền, nhà thờ Ví dụ như dòng Honganji và dòng Otani của tông phái Phật giáo Tịnh Độ Chân tông đều được coi là các giáo đoàn bao quát Các chùa chiền, đền thờ nằm trong các dòng này thường được gọi là “đoàn thể tôn giáo bị bao quát” (被包括宗教団体) Giáo đoàn đơn vị thì thường nhỏ hơn, một mặt nó gồm cả các giáo đoàn bị bao quát, ngoài ra là các giáo đoàn không nằm trong một dòng phái chính nào của các tông phái, mà tự tách ra hoặc từ đầu đã được xếp vào các tôn giáo mới Vì vậy, ngay cả Soka Gakkai tuy có nhiều tín đồ song vẫn được xếp vào giáo đoàn đơn vị Theo đó, nói tới các tôn giáo mới ở Nhật Bản, thường trong tiếng Nhật,
sẽ kèm theo từ “giáo đoàn” Để phù hợp với tiếng Việt, trong luận án, từ “giáo đoàn” sẽ được thay bởi từ “tổ chức tôn giáo” Trong luận án, khái niệm tổ chức tôn giáo được hiểu với nội hàm như định nghĩa trong Luật Pháp nhân Tôn giáo của Nhật Bản, là những tổ chức mà mục đích chính của chúng bao gồm việc tuyên truyền giáo lí, tiến hành nghi lễ và giáo dưỡng tín đồ Đó là: (1) các đền, chùa, nhà thờ và các tu viện được lập ra để thờ cúng và các tổ chức tương tự khác; (2) Các giáo đoàn, tông phái, giáo đoàn, chi hội bao chứa những tổ chức như đã đề cập và các tổ chức khác [48,tr.196]
2.1.2 Khái niệm tôn giáo mới và trào lưu tôn giáo mới
Từ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt từ giữa thế kỷ XX tới nay, có rất nhiều hiện tượng tôn giáo có đặc tính khác biệt xuất hiện trên phạm vi toàn thế giới mà sau này
1 Từ “giáo đoàn bao quát” dịch nguyên nghĩa từ cụm từ chữ Hán trong tiếng Nhật, với ý nghĩa bao hàm Ở đây tác giả vẫn để nguyên từ “bao quát’’ nhằm làm rõ ý nghĩa nguyên gốc của từ này
Trang 40được định danh là tôn giáo mới Sự ra đời, phát triển và ảnh hưởng của chúng đối với nhân loại đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học các lĩnh vực khác nhau như xã hội học, tâm lý học, văn hóa học, triết học…Tuy nhiên, thời kỳ đầu mới xuất hiện, do sự bùng nổ của các tôn giáo mới quá nhanh, thách thức các tôn giáo truyền thống, thách thức nền văn hóa, thách thức dư luận xã hội nên chúng bị e ngại, thậm chí bị nghi ngờ Khi đưa ra những nhận định ban đầu về hiện tượng này, hầu hết học giả châu Âu, Bắc Mỹ vẫn đứng trên lập trường của giáo hội Công giáo và nhà thờ Tin Lành, họ thường gọi tôn giáo mới
bằng từ “Cult” (có nghĩa là sự sùng kính) hoặc “Sect” (giáo phái), cả hai từ này đều
mang tâm thế nghi ngờ, thiếu thiện cảm Chính vì vậy, việc nghiên cứu tôn giáo mới trong thời kỳ này của các học giả Âu-Mỹ chủ yếu là lên án, bác bỏ những quan điểm dị thường Hàng loạt các thuật ngữ được sử dụng khi tìm hiểu về hiện tượng tôn giáo mới như: tôn giáo nguy hiểm (dangerous religion), tôn giáo bên lề (Marginal religion), tôn giáo phi thông thường (non-conventional religion), tôn giáo thay thế (alternative religion)…Sau Chiến tranh Thế giới II, tôn giáo mới tiếp tục
bùng nổ, tiêu biểu là ở Nhật Bản, và thuật ngữ “Shin-shukyo” (新宗教- tân tôn giáo) được các học giả Nhật Bản sử dụng Thuật ngữ “Shin-shukyo” này được các học giả phương Tây lần lượt sử dụng thay thế cho thuật ngữ “Cult” và “Sect”- vốn đang bị phê phán, tuy vậy có một số học giả không đơn thuần chỉ gọi là “New Religion” (tôn giáo mới) mà lại sử dụng cả cụm từ “New Religious Movements”, tức là “Phong
trào tôn giáo mới” Để được gọi là một “New Religion”, thường thì tôn giáo mới đó
phải có hai đặc điểm, một là “có nguồn gốc gần đây”, hai là “có sự khác biệt với các tôn giáo truyền thống hoặc chủ lưu khác”[14,tr.6]
Cũng như định nghĩa về tôn giáo, định nghĩa về tôn giáo mới khá đa dạng Trước hết là định nghĩa Thần học về tôn giáo mới Chủ yếu các định nghĩa này xuất phát từ tâm thế và tiêu chí thần học Kito giáo, nên thường nhấn mạnh những khía cạnh tiêu cực của tôn giáo mới.Walter Ralston Martin (1928-1989), một mục sư Baptist, người sáng lập và lãnh đạo của Viện Nghiên cứu Công giáo của Mỹ, cho
rằng một giáo phái (tức tổ chức tôn giáo mới) là “một nhóm tôn giáo tự phát, bao