Luận án thực hiện nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ ảnh hưởng của các nhân tố đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu ở phạm vi doanh nghiệp.
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hệ thống Báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp (DN) hiện nay được phát
triển từ năm 1930 Sau này, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sự quan tâm
ngày càng nhiều về các vấn đề xã hội, môi trường và các vấn đề liên quan khác mà BCTC chỉ
báo cáo đơn thuần các thông tin tài chính Đây là những tài liệu tĩnh thường là không khuyến
khích người đọc phân tích được sâu hơn tình hình của các DN Năm 2008, cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu “không phải là một sự kiện ngẫu nhiên” mà nó là sự thất bại trong việc giải
quyết các vấn đề kinh tế (Eccles & Krzus, 2010) Hiện tượng bong bóng vỡ kéo theo một loạt
các công ty bị phá sản, hậu quả là các bên liên quan thấy rằng các nhà quản trị DN đã cung
cấp các BCTC không trung thực, che dấu các chiến lược kinh doanh không bền vững Phần
lớn các thông tin trên BCTC không cung cấp các thông tin về chiến lược phát triển, hiệu quả
hoạt động kinh doanh và các rủi ro của DN, cũng như thông tin hoạt động phi tài chính (Busco
và cộng sự, 2013a).Vì vậy, các nhà đầu tư đã mất niềm tin vào báo cáo truyền thống và bắt
đầu phân tích mối liên hệ giữa hiệu suất tài chính và PTBV Các nhà đầu tư cho rằng họ muốn
có thêm các thông tin chính xác hơn, tin cậy hơn, các thông tin có sự liên kết với mô hình
kinh doanh, quy trình tạo ra giá trị của công ty và các rủi ro quản trị Để đáp ứng được nhu
cầu này thì các công ty đã công bố cả BCTC và Báo cáo phát triển bền vững (BCPTBV) Tuy
nhiên việc phát hành hai báo cáo này lại riêng biệt dẫn đến vấn đề là trong hầu hết các trường
hợp nội dung là không có sự liên kết với nhau, có nhiều thông tin chồng chéo nhau
(Abeysekera, 2013) BCPTBV chỉ tập trung vào ngắn hạn, hệ thống báo cáo được lập đều phù
hợp với các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế và được coi là minh bạch hơn, nhưng nội dung của
BCPTBV là tự nguyện, các báo cáo dài và phức tạp, một số báo cáo tập trung vào công bố
các thông tin trong quá khứ (Berndt và cộng sự, 2014) Một chỉ trích nữa là thông tin trên báo
cáo này là các tổ chức thu thập và tự lập nên có những lo ngại về chất lượng BCPTBV còn
tương đối thấp, độ tin cậy không cao (Gray, 2012) Bên cạnh đó, BCPTBV không có sự thống
nhất giữa các tổ chức nên khó có thể so sánh được Hơn nữa, BCTC và BCPTBV là báo cáo
các thông tin trong quá khứ, không nêu bật được các hoạt động trong tương lai và những rủi
ro cho các bên liên quan Để khắc phục những vấn đề này, một số DN đã bắt đầu tích hợp các
báo cáo của họ lại vào một báo cáo duy nhất và trình bày tổng hợp các thông tin gắn kết với
nhau trên mọi khía cạnh của DN như hoạt động kinh doanh, môi trường, xã hội và quản trị
(Frıas-Aceituno, 2013a)
Ngoài ra, nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển ngày càng bị
chi phối bởi biến đổi khí hậu, khan hiếm tài nguyên, đói nghèo, bất bình đẳng, phát thải khí
CO2 đáng báo động Những thay đổi quan trọng trong các chính sách và chiến lược phát triển
của chính phủ cũng như của các DN cần phải tách biệt giữa tăng trưởng phát triển kinh tế từ
phát thải khí nhà kính Đây là những tiền đề phát triển một nền kinh tế bền vững đáp ứng
được nhu cầu cả hai thế hệ hiện tại và tương lai Điều này đòi hỏi các DN phải quan tâm đến
các thông tin phi tài chính để giúp các bên liên quan và có cái nhìn toàn diện về các hoạt động
của DN, để đánh giá khả năng tạo ra giá trị và duy trì giá trị trong tương lai của DN như thế
nào? Mô hình “xanh” cần được xây dựng để phát triển nền kinh tế bền vững, ít thải carbon
(Zyl, 2013) Trong Báo cáo tóm tắt toàn cầu (IIRC, 2013) cho thấy rằng các báo cáo của DN
đã trải qua sự chuyển đổi mạnh mẽ theo thời gian với xu hướng ngày càng mở rộng trách
nhiệm giải trình với các bên liên quan bao gồm cả môi trường và xã hội nói chung Chính vì
vậy, các DN hiện nay phải báo cáo về nhiều lĩnh vực khác nhau ngoài hiệu quả hoạt động
2 kinh doanh của họ như: Quản trị, quản trị rủi ro, và tính bền vững (Owen, 2006; Gray, 2012; Eccles và Saltzman, 2011) Kết quả là ra đời của Báo cáo tích hợp (BCTH) vào năm 2010 là tất yếu khách quan để đáp ứng được nhu cầu hiện nay của các bên liên quan
BCTH là một công cụ mới để lập báo cáo của tổ chức nhằm giải thích cách mà một tổ chức tạo ra và duy trì giá trị Tổ chức không thể tạo ra giá trị nếu xem xét một cách độc lập
mà giá trị được tạo ra trong mối quan hệ với môi trường kinh doanh xung quanh, với các bên liên quan Báo cáo này tích hợp công bố các thông tin tài chính và phi tài chính một cách rõ ràng, súc tích, nhất quán và có thể so sánh được (IIRC, 2013) Ngược lại với cách tiếp cận truyền thống trước đây khi các tổ chức công khai các vấn đề về môi trường, xã hội, thông tin phi tài chính không tích hợp với thông tin tài chính (Villiers và cộng sự, 2014) Hiện nay, ngày càng nhiều các công ty áp dụng BCTH vì nhiều lý do khác nhau, một số khác thì áp dụng BCTH do áp lực từ lập pháp (như ở Nam Phi, nơi BCTH là bắt buộc), những người áp dụng BCTH đã hiểu được lợi ích từ việc áp dụng nó như danh tiếng công ty, phân bổ các nguồn vốn, đưa ra được các quyết định hiệu quả hơn tăng được lợi nhuận trong ngắn hạn và dài hạn, định hướng sự phát triển trong tương lai Dù được áp dụng trên cơ sở tự nguyện hay bắt buộc thì việc áp dụng BCTH cũng mang lại nhiều lợi thế cho các tổ chức Tất cả các yếu
tố của BCTH được trình bày theo cách thức kết nối giữa thông tin tài chính và phi tài chính chính với mục đích là PTBV
Việt Nam là một trong các quốc gia chưa yêu cầu bắt buộc các DN lập BCTC theo yêu cầu của IIRC BCTC của Việt Nam hiện nay đang được áp dụng theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam, ban hành từ năm 2001 đến 2005 dựa trên IAS Với sự thay đổi như vũ bão của nền kinh
tế thị trường thì chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay đang bộc lộ rất nhiều hạn chế, chất lượng thông tin kế toán trên các BCTC còn bộc lộ nhiều yếu kém, tính minh bạch trên BCTC còn thấp, làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà đầu tư, gây khó khăn cho việc giám sát của các
cơ quan nhà nước, làm giảm niềm tin đối với công chúng Bên cạnh đó, BCTC của các DN Việt Nam công bố các thông tin kế toán chưa có tính hệ thống, chưa đầy đủ, nội dung còn đơn giản, mang tính rời rạc và điều đặc biệt là các báo cáo này mới chỉ công bố các thông tin tài chính Các thông tin phi tài chính được trình bày trên một báo cáo tách biệt gây khó khăn cho người đọc khó có thể kết nối các thông tin tài chính và phi tài chính vào với nhau được
Vì vậy, để góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ phát triển TTCK, thu hút được đầu tư nước ngoài, phù hợp với xu thế chung của thế giới Việt Nam đã đưa ra các quy định bắt buộc đối với các DN niêm yết (DNNY) khi công bố các BCTN theo đúng phụ lục 4 ban hành theo Thông tư 155/2015/TT-BTC Mặt khác tại thông tư 155 chỉ yêu cầu DN tích hợp BCPTBV trong BCTN tại các DNNY lớn, uy tín trên TTCK, nhưng đã có một số DNNY lập BCTN riêng và BCPTBV theo chuẩn mực quốc tế Ngoài ra, tại Việt Nam chỉ khuyến khích các DNNY công bố BCTN bằng tiếng Anh song song với bản tiếng Việt nhưng nhiều DN ngoài việc cung cấp bản cứng họ còn công bố cả các bản mềm giúp các cổ đông và các nhà đầu tư thuận lợi cho việc tiếp cận các thông tin Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với quốc tế đòi hỏi các DN Việt phải từng bước chuẩn hóa trong việc lập BCTN theo hướng công khai minh bạch, trình bày, thể hiện BCTN một cách khoa học, hướng tới nhu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, đa chiều từ phía nhà đầu tư và các đối tác muốn tiếp cận DN Tuy nhiên, BCTN hiện nay thường cung cấp cho các nhà đầu tư và các cổ đông, chưa thể hiện đủ để thấy một DN đã tạo ra giá trị của mình như thế nào theo thời gian một cách bền vững BCTH là phương thức truyền thông rành mạch nhất về cách thức chiến lược, quản trị, hiệu quả hoạt động và tiềm năng của một DN có thể tạo ra giá trị trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Xu hướng BCTH đang làm thay đổi cách thức xây dựng báo cáo của DN, đặc biệt các DNNY Bằng cách công bố các thông tin tài chính và phi tài chính trong cùng một báo cáo, các DN có thể thay đổi cách tư duy
Trang 23
về chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình, ra các quyết định tối ưu và quản lý các rủi ro chính
để xây dựng niềm tin cho nhà đầu tư và các bên liên quan, đồng thời cải thiện hiệu quả hoạt động
của DN trong tương lai Việc các DNNY áp dụng BCTH trong việc lập BCTC của DN là rất
cần thiết Khi DN Việt Nam áp dụng BCTH theo IIRC thì DN đó sẽ được đảm bảo theo tiêu
chuẩn quốc tế và được các nhà đầu tư nước ngoài công nhận, điều đó cũng đồng nghĩa với
việc tạo điều kiện cho DN đó có vé thông hành để tiếp cận với các dòng vốn trên thị trường
quốc tế Nhưng quan trọng hơn là bản thân của báo cáo đó sẽ đem lại nhiều lợi ích cơ bản như
thông tin được minh bạch hơn, đảm bảo tính so sánh được với các quốc gia khác, gia tăng
trách nhiệm công bố thông tin của DN Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì
hội nhập quốc tế về kế toán - kiểm toán của Việt Nam là một tất yếu khách quan Điều này
không chỉ đáp ứng được các yêu cầu về minh bạch hóa nền kinh tế mà còn để xây dựng được
một hệ thống quản lý tài chính tiên tiến với mục tiêu PTBV trong tương lai, dựa trên các
chuẩn mực quốc tế đang thịnh hành
Như vậy, với cách tiếp cận đi từ thông tin tổng quan đến các chỉ tiêu được lượng hóa cụ
thể, BCTH hợp cung cấp một góc nhìn toàn diện về hiệu quả hoạt động và giá trị của DN trên
nhiều khía cạnh khác nhau như tài chính, quản trị, trách nhiệm xã hội, môi trường, giúp người đọc
tiếp cận, xử lý, phân tích thông tin chính xác và hiệu quả hơn Do đó, những DN thực hiện tốt việc
BCTH toàn diện sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và mức độ tin cậy của thông tin cung cấp cho
nhà đầu tư, từ đó sẽ có cơ hội thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư quốc tế
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến áp dụng Báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam” với sự tìm hiểu đó là các nhân tố ảnh hưởng đến việc thúc đẩy các công ty
niêm yết sớm tham gia áp dụng BCTH Do vậy, nghiên cứu xem xét yếu tố làm thế nào để
BCTH như là một công cụ quản lý nhằm khuếch tán sự đổi mới trong nền kinh tế Việt Nam
và các yếu tố thể chế đóng vai trò định hướng cho việc việc thông qua áp dụng BCTH Qua
kết quả nghiên cứu, Luận án sẽ đưa ra những khuyến nghị, đề xuất với các cơ quan quản lý
Nhà nước, các nhà hoạch định chính sách, các DN, thực hiện các công việc theo lộ trình phù
hợp để tăng cường thúc đẩy việc áp dụng BCTH tại các DN Việt Nam, đặc biệt với các DNNY
trên TTCK Việt Nam là yêu cầu mang tính cấp thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hiện nay Việt Nam chưa công bố chính thức và lộ trình áp dụng khuôn khổ BCTH
quốc tế nhưng thực tế tại một số DN lớn, những DN có vốn đầu tư từ nước ngoài đã tự nguyện
áp dụng BCTH nhằm đáp ứng được yêu cầu về chất lượng thông tin của các nhà đầu tư cũng
như các bên liên quan khác Vì vậy cũng cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc về các
nhân tố vi mô tác động đến việc các DN áp dụng BCTH thành công và hiệu quả Kinh nghiệm
áp dụng BCTH tại các quốc gia thành công thường bắt đầu từ các DN có quy mô lớn, các
DNNY, vì sự ảnh hưởng của các DN này đến cổ đông lớn nên chất lượng thông tin BCTC
càng cao thì khả năng kêu gọi được vốn từ nhà đầu tư ngoại càng lớn Để có cái nhìn tổng
quát về góc độ DN, tác giả tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến áp dụng BCTH của
DN có quy mô lớn được niêm yết trên TTCK Việt Nam Bởi vậy, mục tiêu tổng quát của luận
án là thực hiện nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng
đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam- nghiên cứu ở phạm vi DN Từ mục
tiêu tổng quát, tác giả xác định các mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, Thiết kế mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY
trên TTCK Việt Nam
4
Thứ hai, Thực hiện nghiên cứu thực chứng nhằm làm rõ ảnh hưởng của các nhân tố
đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam
Thứ ba, Đưa ra những kết luận và kiến nghị nhằm tăng cường áp dụng BCTH tại các
DNNY trên TTCK Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ những vấn đề được trình bày trên, để đạt được mục tiêu nghiên cứu luận án đã đặt
ra ba câu hỏi nghiên cứu như sau:
Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam?
Câu hỏi 2: Nếu DN áp dụng BCTH thì có cần BCTC, BCTN, BCPTBV, v.v nữa không? Các DN, các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức và Hiệp hội cần làm gì để thúc đẩy việc áp dụng BCTH ở các DNNY tại Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của Luận án là các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2015-2017
Phạm vi nghiên cứu Thứ nhất, về mặt nội dung: Luận án tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam bao gồm hai nhóm đó là: nhân tố bên trong DN (sở hữu của các nhà quản lý, quy mô DN, khả năng sinh lời, sở hữu của các tổ chức)
và nhóm nhân tố bên ngoài DN ( áp lực các bên liên quan, chất lượng kiểm toán và đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài) Bởi vì các nhân tố này có thể hỗ trợ cho việc áp dụng BCTH tại các DNNY
Thứ hai về không gian: Luận án tiến hành khảo sát tại các DNNY niêm yết bao gồm
các DNNY tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
Thứ ba, về thời gian nghiên cứu: Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu là các BCTC,
BCPTBV, BCTN của các DNNY trên TTCK Việt Nam được thu thập trong giai đoạn từ năm 2015-2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu đã lựa chọn, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây và tổng quan các lý thuyết, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu và sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp định tính và phương pháp định lượng
Phương pháp định tính
Nghiên cứu định tính được sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam Qua tổng quan nghiên cứu và kế thừa các nghiên cứu trên thế giới kết hợp với lý thuyết nền tác giả nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH Tiếp theo tác giả phỏng vấn chuyên gia sự hiểu biết về BCTH, khảo sát chuyên gia về nhân tố và thang đo Đồng thời, tác giả có câu hỏi mở để bổ sung thêm nhân tố Kết quả, chuyên gia bổ sung thêm một nhân tố và thang đo đó là nhân tố chất lượng kiểm toán
Trang 35 Kết quả nghiên cứu định tính sẽ giúp tác giả nhân diện được các biến phụ thuộc và các biến
độc lập Từ đó tác giả xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu chính thức
Phương pháp định lượng
Sau khi thu thập dữ liệu thứ cấp là dữ liệu bảng, Tác giả tiến hành phân tích định lượng
với sự hỗ trợ của chương trình phần mềm stata 12 Trước hết tác giả tiến hành phân tích thống
kê mô tả, sau đó phân tích mối quan hệ tương quan Vì dữ liệu thu thập là dữ liệu bảng nên
tác giả tiến hành phân tích hồi quy theo 3 phương pháp đó là phương pháp hồi quy OLS,
FEM, REM Sau đó tác giả tiến hành so sánh 3 mô hình này và lựa chọn mô hình nào là tối
ưu nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mô hình REM được lựa chọn Nhưng sau đó tác
giả kiểm tra khuyết tật của mô hình REM Thấy rằng mô hình REM chưa phải là mô hình tối
ưu vì vẫn xảy hiện tượng tự tương quan trong mô hình này Cuối cùng, tác giả tiến hành hiệu
chỉnh lại mô hình REM (Robust RE) là mô hình tối ưu được lựa chọn
6 Đóng góp của luận án
Thông qua nghiên cứu của mình tác giả đã có một số đóng góp về mặt lý luận và thực
tiễn Cụ thể: Về mặt lý luận:
Thứ nhất, Luận án đã bổ sung thêm cơ sở lý luận trong lĩnh vực kế toán, đặc biệt là
về việc áp dụng BCTH theo khuôn khổ BCTH quốc tế Bên cạnh đó, Luận án đã tổng hợp
đánh giá những thách thức, lợi ích khi áp dụng BCTH của các DN Việt Nam
Thứ hai, Luận án tập trung vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH
thông qua sử dụng phương pháp hồi quy OLS, phương pháp hồi quy FEM, phương pháp hồi
quy REM, phương pháp robust RE trong mô hình để hiệu chỉnh lại hiện tượng tự tương quan
để có mô hình phù hợp với dữ liệu bảng, nhằm cung cấp các bằng chứng tin vậy về các nhân
tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam
Thứ ba, Năm nhân tố được xác định thông qua kiểm định, tác giả đã xây dựng được
mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam;
Đóng góp này làm cơ sở cho những nghiên cứu trong tương lai về mô hình các nhân tố ảnh
hưởng đến áp dụng BCTH
Cuối cùng, kết quả của nghiên cứu đã rút ra những hàm ý liên quan đến các DNNY,
Bộ Tài chính; các Hiệp hội DN,.v.v Cũng như nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến áp
dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam
Về mặt thực tiễn
Luận án dựa trên khung lý thuyết về BCTH và các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng
BCTH, kết quả nghiên cứu của tác giả còn có những đóng góp về mặt thực tiễn trong việc
thúc đẩy các DN chấp nhận và ứng dụng nó một cách hiệu quả
Thứ nhất, Kết quả luận án cho thấy rằng vai trò của nhà quản trị cấp cao trong các DN
rất quan trọng Đây là nhân tố thúc đẩy quá trình đổi mới nói chung và áp dụng BCTH nói
riêng Vai trò của các nhà quản trị cấp cao đối với việc xây dựng và triển khai các chiến lược
trong các DN quyết định sự thành công hay thất bại của một công cụ báo cáo mới mà cụ thể
là áp dụng BCTH
Thứ hai, Luận án cũng chỉ ra rằng các nhân tố quy mô DN, sở hữu của các nhà quản
lý, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và chất lượng kiểm toán có tác động thuận chiều đến áp
dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam Bên cạnh đó nhân tố áp lực của các bên
liên quan có ảnh hưởng ngược chiều với áp dụng BCTH
6
Thứ ba, Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án cho thấy rằng việc ứng dụng BCTH
như là công cụ báo cáo mới đã được kiểm chứng thông qua bước nghiên cứu định lượng Với các thang đo mới này thì mô hình nghiên cứu có mức độ giải thích có ý nghĩa là 58.83% (R2 = 0.5883) Mức độ này phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới Đây là một điểm mới quan trọng trong nghiên cứu của tác giả để bổ sung và hoàn thiện về mặt lý luận của việc áp dụng BCTH Phát hiện này tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về BCTH tại các DN Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Nghiên cứu này được thiết kế theo cấu trúc gồm 5 chương Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về BCTH và các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DN
Nội dung của chương này trình bày tổng quan về BCTH, tổng quan về lợi ích, thách thức của việc áp dụng BCTH Tiếp theo Luận án trình bày tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH Trên cơ sở đó tác giả tiến hành nhận xét các nghiên cứu trước dây và xác khe hổng nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lí luận về Báo cáo tích hợp và các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH trong các DN
Trong chương này, Luận án trình bày cơ sở lý luận về BCTH, các nguyên tắc và nội dung cơ bản của BCTH theo khuôn khổ BCTH quốc tế Lý thuyết nền về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH Tổng quan các nghiên cứu theo từng nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung của chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu định tính, mô hình nghiên cứu
và các giả thuyết nghiên cứu Bên cạnh đó, Luận án cũng trình bày quy trình nghiên cứu định lượng, mô hình nghiên cứu, xác định các thang đo cho các biến trong mô hình, cách chọn mẫu nghiên cứu, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam
Trong chương này tác giả trình bày kết quả khảo sát về việc công bố các báo cáo của DNNY trên TTCK Việt Nam Ngoài ra tác giả cũng trình bày kết quả nghiên cứu định tính
và kết quả nghiên cứu định lượng
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, khuyến nghị và kết luận
Mở đầu chương 5 tác giả tiến hành so sánh các mô hình hồi quy và thảo luận kết quả nghiên cứu Từ đó tác giả đưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường áp dụng BCTH tại các DNNY trên TTCK Việt Nam Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu trong tương lai
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BÁO CÁO TÍCH HỢP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP
TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan nghiên cứu về Báo cáo tích hợp
1.1.1 Trường phái ủng hộ việc áp dụng Báo cáo tích hợp 1.1.2 Trường phái không ủng hộ việc áp dụng Báo cáo tích hợp
Trang 47
1.2 Tổng quan nghiên cứu về lợi ích, thách thức của việc áp dụng Báo cáo tích hợp
1.2.1 Nghiên cứu về lợi ích của việc áp dụng Báo cáo tích hợp
1.2.2 Nghiên cứu về thách thức của việc áp dụng Báo cáo tích hợp
1.3 Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng Báo cáo tích
hợp
1.4 Xác định khoảng trống nghiên cứu
1.4.1 Nhận xét về tình hình nghiên cứu trước đây
1.4.2 Khoảng trống nghiên cứu
Như vậy, thông qua nghiên cứu tổng quan nước ngoài và trong nước đã trình bày tác
giả nhận thấy vẫn còn khoảng trống của các nghiên cứu trước
Thứ nhất, Việc tổ chức áp dụng lập BCTH mang lại nhiều lợi ích cho các tổ chức Tuy
nhiên, các nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH chỉ tập trung
vào các tổ chức đã áp dụng BCTH hoặc nghiên cứu tại các quốc gia phát triển, rất ít nghiên
cứu cho các quốc gia chưa áp dụng BCTH đặc biệt là các nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến
áp dụng BCTH tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Thứ hai: Trong tương lai việc lập BCTH của các tổ chức sẽ được thực hiện dựa trên
cơ sở chuẩn mực BCTH Việt Nam được xây dựng trên cơ sở khuôn khổ BCTH quốc tế là vấn
đề về thời gian và lộ trình như thế nào Hiện nay tại Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu
nào xác định các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH tại các DN nói chung và các DNNY
trên TTCK nói riêng Vì vậy cần thiết có công trình nghiên cứu sâu nhằm xác định các nhân
tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận chuyển đổi lập báo cáo từ BCTC sang áp dụng BCTH Bên
cạnh đó, xét đến cùng thì nhiệm vụ cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính của các DN
là yêu cầu cần thiết phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với nhu cầu đòi hỏi thông tin
của các đối tượng sử dụng nó
Từ những khoảng trống nghiên cứu trên, tác giả thấy rằng cần phải có nghiên cứu sâu
rộng, toàn diện và đáng tin cậy hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH của các
DNNY Tác giả lựa chọn thời gian nghiên cứu từ năm 2015 đến 2017 Năm 2015, là mốc
quan trọng khi Thông tư 155/2015/TT-BTC về việc CBTT trên TTCK (thay thế Thông tư số
52/2012/TT-BTC) Thông tư này là hành lang pháp lý quan trọng, đảm bảo tính công khai,
minh bạch của TTCK, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về thông tin cho các nhà đầu tư khi
tham gia thị trường
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÍCH HỢP
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP
TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Khái quát về Báo cáo tích hợp
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Báo cáo tích hợp
2.1.2 Khái niệm, bản chất của Báo cáo tích hợp
2.1.2.1 Khái niệm Báo cáo tích hợp
8 BCTH là một khái niệm mới nổi dựa trên những khái niệm trên có thể mô tả BCTH như một cách tiếp cận toàn diện báo cáo về tài chính và phi tài chính cho các nhà đầu tư và các bên liên quan khác, trong đó mô tả mối quan hệ liên kết giữa chiến lược, quản trị, rủi ro, tài chính và phi tài chính cung cấp các thông tin trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
2.1.2.2 Bản chất của Báo cáo tích hợp
BCTH được đánh dấu bằng việc IIRC đã đưa ra một khung hướng dẫn quốc tế về BCTH được chấp nhận trên toàn cầu về kế toán PTBV vào năm 2013 Khuôn khổ này đòi hỏi phải tổng hợp toàn bộ những thông tin về tài chính, môi trường, xã hội, quản trị công ty một cách rõ ràng, ngắn gọn, phù hợp và có thể so sánh được trong một dạng ”tích hợp” Mục đích của báo cáo này phải thể hiện được và phải giúp người đọc dễ dàng thấy được các nội dung
về hiệu quả hoạt động, tầm nhìn tương lai cũng như giá trị lịch sử của các tổ chức hướng đến PTBV, hội nhập toàn cầu hoá và những yêu cầu phát sinh khác của các bên liên quan Vì vậy,
để xây dựng được BCTH, DN cần gắn kết với các bên liên quan, đặc biệt là nhà đầu tư nhằm xác định các vấn đề trọng yếu mà các bên quan tâm và mức độ ảnh hưởng trực tiếp tới DN Khi xây dựng được BCTH hoàn chỉnh, DN sẽ tạo được sự tin tưởng của nhà đầu tư và từ đó ảnh hưởng tích cực lên giá cổ phiếu của DN đó Do đó, BCTH cần cung cấp thông tin để nhà đầu tư hiểu được cách thức tạo ra giá trị của doanh nghiệp theo thời gian thông qua việc sử dụng các nguồn lực đầu vào, bao gồm nguồn lực tài chính và phi tài chính Những gì mà tất
cả các bên liên quan mong muốn được biết là những vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động của DN trong hiện tại và tương lai
2.2 Nguyên tắc lập và nội dung cơ bản của Báo cáo tích hợp
2.2.1 Các nguyên tắc cơ bản lập Báo cáo tích hợp theo IIRF 2.2.2 Nội dung cơ bản của Báo cáo tích hợp theo IIRF 2.2.3 Các loại vốn và cách thức tạo ra giá trị của Báo cáo tích hợp theo IIRF
2.3 Các lý thuyết nền
2.3.1 Lý thuyết hợp pháp (legitimacy theory)
Thuyết hợp pháp có nguồn gốc từ các khái niệm về tính hợp pháp của tổ chức, Suchman (1995) định nghĩa tính hợp pháp “Tính hợp pháp là nhận thức tổng quát hoặc giả định rằng hành động của một thực thể là mong muốn, phù hợp hoặc thích hợp trong một vài hệ thống cấu trúc xã hội của các chuẩn mực, giá trị, niềm tin và các định nghĩa” Thuyết hợp pháp
là một cơ chế hỗ trợ các DN thực hiện việc công bố tự nguyện các thông tin xã hội và môi trường để thực hiện các “hợp đồng xã hội” giữa một tổ chức và xã hội mà nó hoạt động Trong một môi trường như vậy, các công ty cố gắng hợp pháp hóa các hành động của mình bằng cách tham gia vào các báo cáo CSR, để được phê duyệt về mặt xã hội Tổ chức phải chứng minh sự tồn tại của mình thông qua các hành động kinh tế và xã hội hợp pháp, không gây nguy hiểm cho sự tồn tại của xã hội cũng như môi trường mà nó hoạt động
2.3.2 Lý thuyết các bên liên quan (stakeholder theory)
Thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984) giải quyết những kỳ vọng của các nhóm cụ thể trong xã hội (Smith và cộng sự, 2011) Thuyết này xem xét ảnh hưởng của kỳ vọng của các bên liên quan đến việc CBTT vì một số nhóm có sức mạnh hơn các nhóm khác Sự hỗ trợ của các bên liên quan là rất quan trọng đối với sự tồn tại lâu dài của các công ty, và do đó các công ty phải điều chỉnh các hoạt động để giải quyết các mối quan tâm của các bên liên quan
Trang 59
2.3.3 Lý thuyết tín hiệu (signalling theory)
Thuyết tín hiệu được ra đời vào đầu năm 1970 và dựa trên đóng góp của hai nghiên
cứu chính là Arrow (1971) và Spence (1973) Thuyết tín hiệu đề cập đến sự bất cân xứng
thông tin giữa các nhà quản lý và các bên liên quan, trong đó nguồn thông tin bất cân xứng
chủ yếu liên quan đến chất lượng thông tin được công Vì vậy, các công ty công bố thông tin
ra thị trường đưa các tín hiệu đến nhà đầu tư để tạo ra sự khác biệt về chất lượng hoạt động
của công ty này so với công ty khác Việc công bố các thông tin tự nguyện ngày càng nhiều
hơn so với các quy định của pháp luật để họ đưa ra tín hiệu tốt hơn, tối ưu hóa chi phí tài
chính và tăng giá trị của công ty
2.3.4 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)
Jensen & Meckling (1976) định nghĩa mối quan hệ giữa cổ động và nhà quản lý là hợp
đồng xã hội Trong đó, vai trò của nhà quản lý để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà
trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty Trên
thực tế, những người giữ v trí quản lý chủ chốt (giám đốc điều hành hoặc HĐQT) của công
ty sẽ do chính các cổ đông của công ty chỉ định chọn Những người này sẽ được các cổ đông
trao quyền thay mặt các cổ đông để ra quyết định, nhằm cùng hướng tới mục tiêu chung vì sự
phát triển của công ty
2.3.5 Lý thuyết hành vi dự định (Theory of planned behavior)
Thuyết hành vi dự định được phát triển từ thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết
TRA của Fishbein và Ajzen (1975) đưa ra hai nhân tố thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ
quan thể hiện áp lực từ xã hội
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng Báo cáo tích hợp trong doanh nghiệp
2.4.1 Nhân tố Sở hữu của các nhà quản lý
2.4.2 Nhân tố Quy mô doanh nghiệp
2.4.3 Nhân tố Khả năng sinh lời
2.4.4 Nhân tố Sở hữu của các tổ chức
2.4.5 Nhân tố Áp lực của các bên liên quan
2.4.6 Nhân tố Chất lượng kiểm toán
2.4.7 Nhân tố Đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nghiên cứu định tính
3.1.1 Quy trình nghiên cứu định tính
3.1.1.1 Xây dựng các bước khảo sát
3.1.1.2 Chọn mẫu nghiên cứu
3.1.1.3 Thu thập dữ liệu
3.1.1.4 Phân tích dữ liệu
3.1.2 Mô hình nghiên cứu dự kiến
10
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH
3.1.3 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
3.2 Nghiên cứu định lượng
3.2.1 Quy trình nghiên cứu định lượng 3.2.2 Mô hình nghiên cứu
Frıas-Aceituno và cộng sự (2012); Frias-Aceituno và cộng sự (2014) Kurniawan (2018); Girella và cộng sự (2019) đều sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng BCTH Dữ liệu phân tích là dữ liệu bảng bởi vậy tác giả xây dựng phương trình trình hồi quy như sau:
Mô hình hồi quy (1)
IR= 0 + 1 SIZE it+ 2 ROA it + 3 MGO it + 4 QSH it + 5 FRO it + 6 PRE it
+ 7 BIG4 it + ɛit
Mô hình hồi quy (2)
IR= 0 + 1 SIZE it+ 2 ROA it + 3 MGO it + 4 QSH it + 5 FRO it + 6 PRE it
+ 7 BIG4 it + ωit
3.2.3 Xác định thang đo các biến trong mô hình
3.2.3.1 Đo lường biến áp dụng Báo cáo tích hợp (IR)
Qua các tài liệu nghiên cứu về áp dụng BCTH cho thấy có rất nhiều cách thức đo lường khác nhau Nhiều nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nội dụng báo cáo của DN
để thực hiện việc CBTT của DN Bên cạnh đó nhiều tác giả thực hiện việc đo lường áp dụng BCTH thông qua việc xây dựng danh sách kiểm tra nội dung của các báo cáo DN, các nhà nghiên cứu tiến hành tính toán các chỉ số CBTT của DN theo IIRF Để xây dựng các chỉ số các tác giả dựa vào 8 nội dung yêu cầu của khuôn khổ BCTH quốc tế bao gồm (1) Tổng quan
Trang 611
về tổ chức và môi trường kinh doanh; (2) Quản trị công ty; (3) mô hình kinh doanh; (4) Rủi
ro và cơ hội; (5) Chiến lược và phân bổ nguồn lực; (6) hiệu suất hoạt động; (7) Triển vọng;
(8) Cơ sở chuẩn bị và trình bày BCTH Luận án đã kế thừa bộ tiêu chí để đo lường mức độ
áp dụng BCTH của nghiên cứu Stent & Dowler (2015); Herath & Gunarathne (2016);
Gunarathne & Senaratne (2017) Trong quá trình xây dựng danh mục kiểm tra nhóm nghiên
cứu Herath & Gunarathne (2016) đã kế thừa và đưa ra những hạn chế trong nghiên cứu của
Stent & Dowler (2015) Đồng thời, nhóm đã phát triển, sắp xếp nội dung kiểm tra theo khung
hướng dẫn của IIRC cho các danh mục để kiểm tra đánh giá các báo cáo của DN Bộ tiêu chí
này bao gồm 40 tiêu chí, với tổng số điểm tối đa là 78 Nếu một DN CBTT một chỉ mục trong
danh sách kiểm tra do nhà nghiên cứu xây dựng trong báo cáo của nó, chỉ mục đó được công
bố sẽ được gán điểm "1", nếu không công bố được gán là "0" Các điểm công bố được cộng
lại, và cuối cùng chỉ số đo lường áp dụng BCTH được tính toán theo công thức như sau:
DI =
Trong đó
DI: Chỉ số công bố của DN i
di: Điểm tiêu chí của DN i (di = 1 nếu mục thông tin đó được công bố; di = 0 nếu mục
thông tin được không được công bố)
m: Số lượng điểm mà DN i đã công bố trên các báo cáo
n: Số lượng điểm tối đa các mục được công bố theo IIRF (n= 78)
3.2.3.2 Đo lường các biến độc lập
(1) Nhân tố Quy mô doanh nghiệp (SIZE)
Trong Luận án này biến Quy mô DN đo lường bằng logarit tổng tài sản
Quy mô DN = Ln (TTS)
(2) Nhân tố Khả năng sinh lời (ROA)
ROA= Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản bình quân
(3) Nhân tố Sở hữu của các nhà quản lý (MGO)
Tỷ lệ sở hữu của
các nhà quản lý =
Số cổ phần sở hữu của HĐQT và Ban giám đốc
x 100%
Tổng số cổ phần DN đang lưu hành
(4) Nhân tố Sở hữu của các tổ chức (QSH)
Tỷ lệ sở hữu của
các tổ chức =
Số cổ phần sở hữu của các tổ chức
x 100%
Tổng số cổ phần DN đang lưu hành
(5) Nhân tố Đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài (FRO)
Tỷ lệ đầu tư của
nhà đầu tư nước
Số cổ phần sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
x 100%
Tổng số cổ phần DN đang lưu hành
12
(6) Nhân tố Áp lực của các bên liên quan (PRE)
Áp lực của các bên liên quan =
Số cổ phần sở hữu của nhà nước và cổ đông lớn
x 100% Tổng số cổ phần DN đang lưu hành
(7) Nhân tố Chất lượng kiểm toán (BIG 4)
Để đo lường chất lượng kiểm toán tác giả sử dụng biến định danh có giá trị là 1 nếu DNNY được kiểm toán bởi Big 4 và nhận giá trị là 0 nếu không được kiểm toán bởi Big 4
3.2.4 Chọn mẫu khảo sát
Mẫu nghiên cứu được tác giả lựa chọn là DNNY trên TTCK Việt Nam Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này là phương pháp chọn mẫu phi xác suất Đó là các công ty niêm yết cạnh tranh giải thưởng BCTN, BCPTBV tốt nhất do Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM, Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, Báo Đầu tư và Dragon Capital tổ chức Thời gian quan sát trong nghiên cứu này được thực hiện trong 3 năm, từ 2015 đến 2017 Do tổng thể nghiên cứu có quy mô lớn, nên việc chọn mẫu có tiêu chí rõ ràng, cụ thể là (1) tham gia cuộc thi tranh giải BCTN, BCPTBV hàng năm (tối thiểu là 1 năm) trong khoản thời gian từ năm 2015 đến 2017 Tác giả lựa chọn mốc năm 2015 vì năm 2015 là Thông tư số 155/2015/TT-BTC về hướng dẫn CBTT trên TTCK bắt đầu ra đời và các DN phải lập BCTN theo đúng phụ lục 4 của thông tư này (2) Các công ty này đã lập BCPTBV hoặc sử dụng các tiêu chuẩn GRI trong việc lập BCPTBV, BCTN, BCTH, (3) Các báo cáo của công ty này có thể được truy cập trên trang web chính thức của sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam và trên trang web của công ty đó (4) Nhà quản lý của các công ty này này đã công bố BCTN và BCPTBV trong giai đoạn 2015-2017 Dựa vào phương pháp lấy mẫu có chủ đích tác giả đã chọn được 100 công ty niêm yết (Phụ lục 1) Khoảng thời gian quan sát là 3 năm và tổng số quan sát là 300 quan sát
3.2.5 Thu thập dữ liệu
Dữ liệu tài chính phục vụ tính toán các chỉ tiêu nghiên cứu của luận án được thu thập trực tiếp từ các Báo cáo thường niên của DN
Dữ liệu về thông tin phi tài chính được tác giả thu thập trực tiếp thông qua phân tích nội dung BCTN và BCPTBV phiên bản tiếng Việt của các DN trong mẫu được thu thập từ trang http://finance.vietstock.vn/
3.2.6 Phân tích dữ liệu
3.2.6.1 Phân tích thống kê mô tả 3.2.6.2 Phân tích tương quan 3.2.6.3 Phân tích hồi quy trong nghiên cứu
* Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng
(1) Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS)
(2) Phương pháp hồi quy tác động cố định (Fixed effects model_ FEM) (3) Phương pháp hồi quy tác động ngẫu nhiên (Remdom effects model _REM)
* Phân tích hồi quy
Trang 713
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
4.1 Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam và kết quả khảo sát về công bố
các báo cáo của các doanh nghiệp niêm yết
4.1.1 Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam
4.1.2 Kết quả khảo sát về công bố các báo cáo của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
4.2 Kết quả nghiên cứu định tính
4.2.1 Kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia về sự hiểu biết Báo cáo tích hợp
4.2.1 Kết quả khảo sát các chuyên gia
4.3 Kết quả nghiên cứu định lượng
4.3.1 Thống kê mô tả và mối tương quan giữa các biến
4.3.1.1 Thống kê mô tả các nhân tố
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả các biến độc lập
SIZE 300 29.20303 1.97454 25.158815 34.723
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
Bảng 4.2 Kết quả thống kê mô tả biến định danh
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
Bảng 4.3 Kết quả thống kê mô tả biến phụ thuộc
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
14
4.3.1.2 Phân tích tương quan
Biến IR có mối tương quan dương và tương đối mạnh là SIZE (0.62); FRO (0.4187); BIG4 (0.5375) Điều này cho thấy rằng các DN có quy mô lớn, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài lớn và Báo cáo được kiểm toán bởi Big4 và có tầm nhìn chiến lược thì có khả năng cao
sẽ áp dụng BCTH để theo đuổi các chiến lược PTBV cho DN mình Hệ số tương quan của các biến ROA, MGO, QSH, PRE là thấp nên có thể đoán là khả năng sinh lời, tỷ lệ sở hữu của các nhà quản lý, Sở hữu của các tổ chức, áp lực của các bên liên quan không có mối quan
hệ với việc áp dụng BCTH của DN
4.3.2 Kết quả hồi quy mô hình bình phương bé nhất OLS
4.3.2.1 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
Với các giá trị VIF đều nhỏ hơn 10 nên mô hình không tồn tại đa cộng tuyến Do đó, việc đưa đồng thời các biến độc lập vào chung 1 mô hình để phân tích hồi quy là phù hợp
4.3.2.2 Phân tích hồi quy mô hình bình phương bé nhất OLS
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy theo mô hình OLS
Number of obs = 300
F (7, 292) = 60.89 Prob > F = 0.0000 R-squared = 0.5935 Adj R-squared = 0.5837
IR Coef Std Err t P>t [95% Conf Interval]
SIZE 0.0301893 0.002773 10.89 0.000 0.247309 0.0356477
ROA 0.106578 0.061859 1.72 0.086 -0.0151672 0.2283237
MGO 0.143727 0.020671 6.95 0.000 0.1030428 0.1844105
QSH -0.00019 0.023782 -0.01 0.994 -0.0469954 0.0466179
PRE -0.10148 0.029305 -3.46 0.001 -0.1591543 -0.0438016
FRO 0.174686 0.032116 5.44 0.000 0.1114787 0.2378932
Big4 0.060638 0.012062 5.03 0.000 0.0369273 0.0843477
_cons -0.27604 0.080561 -3.43 0.001 -0.4345981 -0.117491
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
Để thực hiện phân tích dữ liệu bảng thì phương pháp Pooled OLS không có ý nghĩa nhiều bởi có thể làm sai lệch mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc của các quan sát trong mẫu
Trang 815
4.3.3 Kết quả hồi quy mô hình ảnh hưởng cố định FEM
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy mô hình FEM
Number of obs = 300
F (7,191) = 1.39 Prob > F = 0.2107 R-squared = 0.4163
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
Tiếp theo, tác giả tiếp tục tiến hành phân tích mô hình REM và kiểm định lại Hausman
để lựa chọn giữa FEM và REM
4.3.4 Kết quả hồi quy mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên REM
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình REM
Number of obs = 300 Wald chi2(7) = 205.27 Prob > chi2 = 0.0000 R-squared = 0.5924
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
Mô hình REM- mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên: cũng giống như mô hình FEM về
sự khác nhau giữa các đơn vị theo không gian nhưng khác ở chỗ tung độ gốc của từng DN lại
thay đổi theo thời gian
16 Tuy nhiên sau khi chạy hai mô hình FEM và REM, luận án sẽ tiến hành kiểm định Hausman để kiểm tra xem hai mô hình này thì mô hình nào là tốt nhất
4.3.5 Kết quả kiểm định Hausman và kiểm tra hiện tượng tự tương quan
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Hausman
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
Kết quả Bảng 4.11 cho thấy rằng giá trị Chi2 = 5.79 với p-value = 0.5641 > 0.05, có nghĩa là bác bỏ H1 chấp nhận giả thuyết H0 Như vậy mô hình REM là phù hợp
Tiếp theo tác giả tiến hành kiểm tra hiện tượng tự tương quan trong mô hình REM
Kết quả được trình bày dưới Bảng 4.12 như sau
Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
Khi kiểm tra hiện tượng tự quan tượng thấy rằng F (1,98) = 15.569, p-value = 0.0001
< 0.05 Kết quả này cho thấy mô hình vẫn có hiện tượng tự tương quan nên mô hình REM chưa phải là mô hình tối ưu, cần phải hiệu chỉnh hiện tượng tự tương quan để có mô hình phù hợp
4.3.6 Kết quả hồi quy REM theo sai số chuẩn vững (robust SE)
Bảng 4.9.Kết quả hồi quy REM theo sai số chuẩn vững (Robust)
Number of obs = 300 Wald chi2(7) = 332.30 Prob > chi2 = 0.0000
R-squared = 0.5883
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
Thông qua Bảng 4.13, kết quả cho thấy Wald chi2(7) = 332.3, p-value = 0.0000< 0.05 Điều đó chứng tỏ sử dụng mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên REM là phù hợp, mô hình có giá trị dự đoán
Trang 917
CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU,
KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng Báo cáo
tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
5.1.1 So sánh các mô hình hồi quy
Sau khi tiến hành so sánh 3 phương pháp hồi quy là OLS; FEM và REM và dựa trên
mô hình REM (robust SE) mô hình hồi quy được thiết lập như sau:
IR= - 0.2499 + 0.02944 * SIZE it + 0.11345 * MGO it + 0.16823* FRO it - 0.08628*
PRE it + 0.0594 * BIG4 it + ωit
Trên cơ sở các giả thuyết nghiên cứu đặt ra và kết quả của mô hình REM (robust SE)
luận án tổng hợp so sánh giữa kết quả nghiên cứu với kết quả kỳ vọng của nghiên cứu thể
hiện Bảng 5.2 như sau:
Bảng 5.1 Tổng hợp so sánh các giả thuyết
Giả
thuyết Nhân tố vọng Kỳ Kết quả
Kết quả REM (robust SE)
Mức ý nghĩa p-value
H1 Sở hữu của các nhà quản lý + + 0.1345328 0.000
H4 Sở hữu của các tổ chức +
H5 Áp lực của các bên liên quan + - - 0.0862886 0.002
H6 Đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài + + 0.1682797 0.000
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích dữ liệu từ Stata
5.1.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu
5.1.2.1 Nhân tố sở hữu của các nhà quản lý (MGO)
Biến sở hữu của các nhà quản lý (MGO) có quan hệ thuận chiều đến áp dụng BCTH
tại các DNNY, hệ số = 0.02944, p-value = 0.000 Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ sở hữu của các
nhà quản lý càng lớn thì khả năng áp dụng BCTH càng cao Giả thuyết H1 được chấp nhận
Kết quả này có thể được giải thích bằng lý thuyết đại diện Theo lý thuyết đại diện, sự tách
rời giữa nhà quản lý và cổ đông sẽ dẫn đến các xung đột về lợi ích Mức độ xung đột lợi
ích này sẽ giảm khi những người quản lý nắm giữ các cổ phiếu của công ty nhiều hơn Vì
vậy, những công ty có các thành viên HĐQT và Ban giám đốc nắm giữ một tỷ lệ cổ phiếu
lớn thường mong muốn giảm thiểu sự xung đột này bởi vậy họ sẽ công bố nhiều thông tin
18 hơn Vai trò của các nhà quản trị cấp cao trong việc xây dựng các chiến lược phát triển là rất quan trọng Mức độ tham gia và sự ủng hộ của họ là nhân tố tác động mạnh mẽ đến áp dụng BCTH Kết quả nghiên cứu một lần nữa khẳng định vai trò của các nhà quản trị cấp cao trong môi trường các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Một nhà quản trị giỏi
sẽ lên các kế hoạch, sắp xếp các nguồn lực và đảm bảo mọi người đều hiểu những gì đang diễn ra, định hướng các thành viên trong nhóm để đi đến thành công
5.1.2.2 Nhân tố quy mô doanh nghiệp (SIZE)
Biến quy mô DN (SIZE) có quan hệ thuận chiều đến áp dụng BCTH tại các DNNY,
hệ số = 0.13453, p-value = 0.000 Kết quả cho thấy rằng quy mô DN càng lớn thì khả năng
áp dụng BCTH càng cao Giả thuyết H2 được chấp nhận Kết quả nghiên cứu này có nghĩa là quy mô DN càng lớn thì càng có khả năng áp dụng BCTH DN có quy mô lớn chịu sự giám sát mạnh mẽ từ các bên liên quan Theo lý thuyết hợp pháp và lý thuyết các bên liên quan thì một DN có quy mô lớn đòi hỏi phải xây dựng các chiến lược phát triển để giảm thiểu tác động
từ các hoạt động giám sát này Quy mô DN là yếu tố quan trọng thúc đẩy các nhà quản lý xây dựng khái niệm về PTBV DN có quy mô lớn có đủ tiềm lực kinh tế để xây dựng quy trình áp dụng BCTH Quy trình này đòi hỏi phải có sự phối hợp của các bộ phận trong nội bộ DN và chi phí để triển khai là rất cao Theo Điều 54 Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 của Chính phủ quy định các công ty để được niêm yết trên TTCK Việt Nam thì phải là CTCP có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 30 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán Trong tương lai, với kỳ vọng các DN Việt Nam ngày càng lớn mạnh
và sẽ có nhiều DN tham gia vào TTCK hơn nữa Theo lý thuyết tín hiệu việc các DNNY có quy mô lớn áp dụng BCTH thì sẽ phát ra tín hiệu tốt cho các bên liên quan, nâng cao vị thế của DN đối với các nhà đầu tư ngoại Tạo điều kiện thuận lợi cho DN tiếp xúc được với các nhà đầu tư ngoại đến từ các nước phát triển
5.1.2.3 Nhân tố áp lực của các bên liên quan (PRE)
Biến áp lực của các bên liên quan có quan hệ ngược chiều đến áp dụng BCTH tại các DNNY, hệ số = -0.0863, p-value = 0.002 Kết quả cho thấy rằng áp lực của các bên liên quan càng lớn thì khả năng DN không muốn CBTT nhiều hơn chính vì vậy khả năng áp dụng BCTH lại càng thấp Kết cho thấy rằng khi áp lực của các bên liên quan tăng lên (nói cách khác yêu cầu CBTT tăng), các nhà quản lý cấp cao của các DNNY có xu hướng giảm mức độ CBTT và khả năng áp dụng BCTH là thấp hơn Trong nghiên cứu này tác giả đã chọn mẫu là các DNNY tham gia bình chọn giải thưởng BCTN tốt nhất hàng năm Bởi vậy, các DN đã thực hiện việc công bố các thông tin tài chính và phi tài chính một cách toàn diện, và có cam kết thực hiện các khái niệm về PTBV trong các hoạt động kinh doanh của DN Các DN trong mẫu bắt buộc phải CBTT về hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường và chất lượng CBTT ngày càng cao Kết quả chính của nghiên cứu là yêu cầu CBTT
từ các bên liên quan với các nhà quản lý là tương đối nhỏ vì các nhà quản lý cấp cao đã công
bố các thông tin tài chính và phi tài chính một cách toàn diện Nói cách khác, các DNNY đều phải tuân thủ theo Thông tư số 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc CBTT trên TTCK
và các DN tham gia cạnh tranh giải thưởng BCTN cải thiện chất lượng thông tin của họ Động lực chính để các DN áp dụng BCTH dựa vào các yếu tố nội bộ như tầm nhìn chiến lược của
DN và sứ mệnh xây dựng các khái niệm PTBV trong hoạt động kinh doanh của họ, và không dựa trên áp lực của các bên liên quan
5.1.2.4 Nhân tố đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài (FRO)
Biến đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài (FRO) có quan hệ thuận chiều đến áp dụng BCTH tại các DNNY, hệ số = 0.1683, p-value = 0.000 Kết quả cho thấy rằng đầu tư của nhà
Trang 1019 đầu tư nước ngoài vào DN càng lớn thì khả năng áp dụng BCTH càng cao Giả thuyết H6
được chấp nhận Kết quả nghiên cứu thể hiện vai trò tích cực của các nhà đầu tư nước ngoài
trong việc áp dụng BCTH tại các DNNY Điều này có nghĩa là để thu hút được các nhà đầu
tư nước ngoài thì yếu tố quan trọng nhất là báo cáo của DN phải minh bạch, công khai kết
quả hoạt động kinh doanh của mình, thực hiện kiểm toán theo các chuẩn mực quốc tế Việc
thu hút các nhà đầu tư ngoại vừa giúp tăng cường nguồn vốn vừa thể hiện được uy tín của
DNNY, đi đôi với việc hình thành thị trường vốn, các kênh huy động vốn Bên cạnh đó các
cơ quan chức năng cũng cần có các cơ chế giám sát chặt chẽ dòng vốn của các nhà đầu tư
ngoại và nâng cao năng lực quản trị rủi ro đối với TTCK Các nhà quản lý cấp cao cũng cần
đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư để họ có thể tiếp cận các thông tin trọng yếu về DNNY
Trong bối cảnh Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, vấn đề minh bạch hóa
thông tin còn hạn chế, tuy nhiên phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài lại đến từ các quốc gia
phát triển, có hệ thống quản lý tài chính lành mạnh, thông tin minh bạch Vì vậy các DNNY
có động lực để CBTT về PTBV nhiều hơn nhằm thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu
tư nước ngoài
5.1.2.5 Nhân tố chất lượng kiểm toán (BIG 4)
Biến chất lượng kiểm toán (BIG4) có quan hệ thuận chiều đến áp dụng BCTH tại các
DNNY, hệ số = 0.0594343, p-value = 0.000 Giả thuyết H1 được chấp nhận Kết quả nghiên
cứu có thể được giải thích bằng lý thuyết tín hiệu DNNY áp dụng kiểm toán BCTC là các
DN thuộc Big 4 sẽ phát ra tín hiệu cho nhà đầu tư yên tâm về số liệu khi công bố Bởi những
kiểm toán viên của các DN kiểm toán này là người có chuyên môn cao, có kinh nghiệm, có
sự hiểu biết sâu sắc về khuôn khổ, chuẩn mực quốc tế về việc CBTT phi tài chính của các
DN Big 4 được cho là đáng tin cậy hơn có thể giúp DNNY gia tăng độ tin cậy cho các báo
cáo của DN Việc áp dụng BCTH chủ yếu do các DN tư vấn, kiểm toán viên cao cấp của Big
4 vì đáp ứng được yêu cầu và có kiến thức sâu rộng về khuôn khổ BCTH quốc tế Khi khuôn
khổ BCTH được áp dụng rộng rãi, vấn đề cần được giải quyết là mất cân bằng về chuyên môn
giữa hai nhóm DN kiểm toán thuộc Big 4 và không thuộc Big 4 Do đó, Bộ Tài chính cần rà
soát, kiểm tra trình độ, quy trình kiểm toán và báo cáo kiểm toán để đảm bảo độ tin cậy của
BCTC đã kiểm toán
5.2 Các khuyến nghị nhằm tăng cường áp dụng Báo cáo tích hợp tại các doanh
nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
5.2.1 Đối với Bộ Tài chính
Thứ nhất, Bộ Tài chính cần có chủ trương, chính sách và chương trình hành động cụ
thể nhằm tăng cường phổ biến, đào tạo kiến thức về BCTH cho DNNY
BCTH đã được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng và mang lại lợi ích, hiệu quả thiết
thực Đối với Việt Nam các cơ quan chức năng có thể phối hợp với các tổ chức phi chính phủ:
Hội đồng BCTH toàn cầu (IIRC) hoặc Tổ chức khởi xướng báo cáo toàn cầu (Global
Reporting Initiative) để phối hợp đào tạo, hướng dẫn các tổ chức trong nước triển khai áp
dụng BCTH Có thể thành lập tổ chức chuyên hướng dẫn cho các DN trong nước về BCTH
Các tài liệu cũng như chương trình đào tạo về BCTH còn rất hạn chế Do vậy, đã ảnh hưởng
đến khả năng tiếp cận và áp dụng vào các DN Trước mắt cần chú trọng công tác đào tạo, phổ
cập kiến thức nhằm nâng cao nhận thức, sự hiểu biết về BCTH; hỗ trợ các tổ chức, các chương
trình hội thảo giới thiệu về BCTH Khuyến khích các công trình nghiên cứu ứng dụng mô
hình này tại các DN Việt Nam Bên cạnh đó, Hội nghề nghiệp cần phát huy vai trò của hiệp
hội trong việc hướng dẫn các kỹ năng thực hành Định kỳ tổ chức các hội thảo, các buổi tập
huấn để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho nguồn nhân lực kế toán ở các DN Phối hợp với
20 các cơ sở đào tạo để thường xuyên cập nhật thông tin về về các chuẩn mực quốc tế về kế toán
và kiểm toán Trong thời gian gần đây VACPA đã kết hợp với các tổ chức với ACCA, ICAEW
và CPA Australia để tổ chức các cuộc hội thảo về PTBV, cũng như xu thế lập BCTH của tổ chức trên thế giới Hiện nay, vai trò của hiệp hội kế toán và hiệp hội kiểm toán viên hành nghề ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, Hội nghề nghiệp cần tích cực phối hợp với Bộ Tài chính tuyên truyền phổ biến cho các DN biết và hiểu hơn nữa về lợi ích của BCTH và có thể đưa ra các chính sách khuyến khích các DNNY sớm áp dụng nhằm tăng cường công bố các thông tin minh bạch, tin cậy đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan
Thứ hai, xây dựng lộ trình triển khai áp dụng BCTH tại DNNY
Ủy ban chứng khoán Nhà nước kết hợp với Bộ Tài chính cần nghiên cứu xem xét áp dụng và triển khai BCTH, giúp định hình lại mục tiêu và xây dựng lộ trình phù hợp cho áp dụng BCTH, đó xu thế tất yếu của quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế đáp ứng được yêu cầu của các bên liên quan
Thứ ba, đào tạo nâng cao trình độ của các kiểm toán viên để kiểm toán BCTH
Hiện nay, một trong những thách thức lớn nhất khi áp dụng BCTH là độ tin cậy của báo cáo Bởi vì rất ít các công ty kiểm toán có thể thực hiện được kiểm toán được các thông tin phi tài chính Do đó, để việc cung cấp thông tin kịp thời và toàn diện đến nhà đầu sẽ giúp nâng cao tính hiệu quả của thị trường và hỗ trợ tốt nhất cho việc ra quyết định sẽ ngày càng được coi trọng hơn thì Bộ Tài chính kết hợp Ủy ban chứng khoán Nhà nước cần tổ chức bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao trình độ năng lực của kiểm toán viên để có thể thực hiện kiểm toán các thông tin phi tài chính trong tương lai Để đảm bảo tính minh bạch của thông tin trên TTCK nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, khách hàng và các bên liên quan
Thứ tư, có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích, tuyên truyền, quảng bá các DNNY áp dụng BCTH
Trong giai đoạn đầu áp dụng BCTH Bộ Tài chính cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ các DNNY để họ mạnh dạn ứng dụng mô hình báo cáo này đưa vào thực tế như
có các chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ chi phí tư vấn triển khai Bộ Tài chính cần tuyên truyền và quảng bá dưới mọi hình thức về BCTH, để các nhà quản trị thấy sự cần thiết, lợi ích mang lại và thấy rõ trách nhiệm phải công bố các thông tin tài chính và phi tài chính đảm bảo sự minh bạch, tin cậy cho các bên liên quan Mặt khác, Bộ Tài chính cần kết hợp với Uỷ ban chứng khoán và các cơ quan quản lý khác để đưa ra hành lang pháp lý, chế tài xử phạt nghiêm minh để ngăn chặn các hành vi gian lận có thể xẩy ra
Thứ năm, vinh danh các DN có BCTH xuất sắc trên TTCK Việt Nam
Tại Việt Nam các cuộc bình chọn BCTN được bắt đầu từ năm 2008 với sự hợp tác của nhiều bên, đem lại nhiều tiếng vang, có ý nghĩa lớn và được các DN Việt Nam hưởng ứng Cuộc bình chọn này ngày càng đưa ra nhiều tiêu chí PTBV để đánh giá, tạo động lực cho DN liên tục cải thiện và tăng cường cam kết PTBV Từ năm 2018, cuộc bình chọn BCTN hàng năm được mở rộng thành cuộc bình chọn các DNNY với nội dung đánh giá quản trị công ty của DNNY Việt Nam Việc các DN được vinh danh có BCTH tốt nhất sẽ tạo được sự lan tỏa tích cực đến các DN khác Đây còn thể hiện nỗ lực của các nhà quản trị được ghi nhận và cũng là cơ hội để các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các bên liên quan đặt niềm tin dài hạn vào các DN này
5.2.2 Đối với các doanh nghiệp niêm yết
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các nhà quản trị cấp cao về áp dụng BCTH