1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu mối QUAN hệ GIỮA độ mặn với đặc điểm SINH TRƯỞNG (mật độ, ĐƯỜNG KÍNH, CHIỀU CAO) của RỪNG bần CHUA (SONNERATIA CASEOLARIS ) TRỒNG VEN BIỂN HUYỆN KIM SƠN,TỈNH NINH BÌNH

73 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘIKHOA MÔI TRƯỜNG HỒ THANH SANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘ MẶN VỚI ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG MẬT ĐỘ, ĐƯỜNG KÍNH, CHIỀU CAO

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG

HỒ THANH SANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘ MẶN VỚI ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG (MẬT ĐỘ, ĐƯỜNG KÍNH,

CHIỀU CAO) CỦA RỪNG BẦN CHUA (SONNERATIA

CASEOLARIS ) TRỒNG VEN BIỂN HUYỆN KIM SƠN,

TỈNH NINH BÌNH

Hà Nội - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG

HỒ THANH SANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘ MẶN VỚI ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG (MẬT ĐỘ, ĐƯỜNG KÍNH,

CHIỀU CAO) CỦA RỪNG BẦN CHUA (SONNERATIA

CASEOLARIS ) TRỒNG VEN BIỂN HUYỆN KIM SƠN,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảnêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào khác

Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa độ mặn và đặc điểm sinh trường (mật độ,chiều cao, đường kính) của rừng cây Bần Chua được trồng tại ven biển huyện KimSơn, tỉnh Ninh Bình dưới sự hướng dẫn thực địa của giảng viên ThS Lê Đắc Trường,PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh và TS Phạm Hồng Tính Các số liệu này được sửdụng với mục đích nghiên cứu khác nhau của mỗi đồ án

Hà Nội, ngày 15 thán 06 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Hồ Thanh Sang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN !

Để hoàn thành luận văn với đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa độ mặn với

đặc điểm sinh trưởng (mật độ, đường kính, chiều cao) của rừng bần chua (Sonneratia caseolaris) trồng ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” em xin trân

thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Môi Trường – Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường

Hà Nội, thầy ThS Lê Đắc Trường, cô PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh thầy TS PhạmHồng Tính, ThS Võ Văn Thành đã giúp đỡ em rất nhiệt tình trong suốt quá trình đithực địa khảo sát rừng bần chua trồng tại rừng ngập mặn huyện Kim Sơn, tỉnh NinhBình Thầy cô đã tận tình giúp đỡ, giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý giátrong suốt quá trình em đi thực địa, xử lý số liệu, vết báo cáo và hoàn thành đề tài.Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Lê Đắc Trường – người thầy

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Trân trọng cảm ơn đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo xu hướng thayđổi hệ sinh thái rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở các tỉnh ven biển BắcBộ”, mã số TNMT.2018.05.06 đã hỗ trợ kinh phí thực địa, điều tra và phân tích mẫu

Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên đồ án không tránh khỏi những thiếusót vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy – cô để luậnvăn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 15 thán 06 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Hồ Thanh Sang

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 5

Rừng Ngập Mặn

Thảm thực vật ngập mặn

Hệ sinh thái

Đồng Bằng Bắc Bộ

Vườn Quốc Gia

Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn

Ủy Ban Nhân Dân

Đồng Bằng Sông Cửu Long

Kim Hải

Kim Trung

Kim Đông

RNMTTVNMHSTĐBBBVQGBNN&PTNTUBNDĐBSCLKHKTKĐ

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ! ii

DANH MỤC VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

1.1 Một số khái niệm liên quan 3

1.2 Tổng quan về rừng ngập mặn 3

1.2.1 Vai trò của rừng ngập mặn 3

1.2.2 Sự phân bố và diện tích của rừng ngập mặn 5

1.2.3 Các mối đe dọa chính đối với rừng ngập mặn ven biển 9

1.2.4 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn 11

1.3 Tổng quan về tình hình quản lý nhà nước về rừng ngập mặn 14

1.4 Tổng quan về cây bần chua 15

1.4.1 Các đặc điểm sinh thái của rừng Bần chua 15

15

1.4.2 Giá trị sử dụng 17

1.4.3 Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng tới sinh trưởng của rừng ngập mặn 18

1.5Tổng quan khu vực nghiên cứu 20

1.5.1Vị trí địa lý 20

1.5.2Đặc điểm cấu trúc RMN ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình 22

1.5.3Đặc điểm khí hậu 23

Trang 7

1.5.4Kinh tế - Xã Hội 23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 26

2.1Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26

2.1.3 Thời gian thực hiện 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1 Phương pháp kế thừa, thu thập dữ liệu thứ cấp 27

2.2.2 Phương pháp xác định mật độ, chiều cao và đường kính thân cây 27

2.2.3 Phương pháp đo độ mặn 30

2.2.4 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 32

2.2.5 Phương pháp phân tích mối tương quan 32

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Đặc điểm sinh trưởng của cây bần chua 34

3.1.1 Đặc điểm về đường kính 35

3.1.2 Đặc điểm về chiều cao 36

3.1.3 Đặc điểm về mật độ cây 38

3.1.4 Đặc điểm về độ mặn của đất 40

3.2 Mối quan hệ giữa độ mặn và đặc điểm sinh trưởng của cây bần chua 42

3.2.1 Mối quan hệ giữa độ mặn và đường kính cây 42

3.2.2 Mối quan hệ giữa độ mặn và chiều cao cây 44

3.2.3 Mối quan hệ giữa độ mặn và mật độ cây 46

3.3 Lựa chọn cây trồng phù hợp rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình 48

3.4 Đề xuất giải giáp quản lý, bảo vệ rừng ngặp mặn ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình 49

KẾT LUẬN 50

KIẾN NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 8

DANH MỤC BẢ

Hình 1.1 Phân bố rừng ngập mặn dọc ven biển Việt Nam 7

Bảng 1.1: Thành phần loài cây rừng ngập mặn theo ngưỡng độ mặn Goa 12

Bảng 2.1: Tọa độ các ô tiêu chuẩn 28

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả thực địa tại khu vực nghiên cứu 34

Bảng 3.3: Số liệu chiều cao trung bình cây các tuyến điều tra 36

Bảng 3.4: Số liệu mật độ trung bình cây các tuyến điều tra 38

Bảng 3.5: Số liệu độ mặn trung bình cây các tuyến điều tra 40

Bảng 3.6: Độ mặn và đặc điểm sinh trưởng của cây bần chua 42

Bảng 3.7: Độ mặn và đặc điểm đường kính của cây bần chua 42

Bảng 3.8: Độ mặn và đặc điểm chiều cao của cây bần chua 44

Bảng 3.9: Độ mặn và đặc điểm chiều cao của cây bần chua 46

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

YHình 1.1 Phân bố rừng ngập mặn dọc ven biển Việt Nam 7

Hình 1.2: Hình ảnh cây bần chụp tại khu vực nghiên cứu 15

Hình 1.3: Vị trí khu vực nghiên cứu 20

Hình 2.1: Vị trí các xã thực hiện nghiên cứu 26

Hình 2.2: Vị trí lập tuyến điều tra tại xã Kim Hải 28

Hình 2.3: Vị trí lập tuyến điều tra tại xã Kim Trung 29

Hình 2.4: Vị trí lập tuyến điều tra tại xã Kim Đông 29

Hình 2.5: Tiến hành đo số liệu về chiều cao, đường kính thân cây tại mỗi ô tiêu chuẩn 30

Hình 2.6: Máy máy khúc xạ kế đo độ mặn AZLM-HSR10ATC 31

Hình 2.7: Tiến hành đo độ mặn của đất tại khu vực nghiên cứu 31

Hình 3.1: Đặc điểm về đường kính của cây Bần Chua 35

Hình 3.2: Đặc điểm về chiều cao của cây Bần Chua 37

Hình 3.3: Đặc điểm về mật độ của rừng cây Bần Chua 38

Hình 3.4: Đặc điểm về độ mặn của rừng cây Bần Chua 40

Hình 3.5: Mối quan hệ giữa độ mặn và đường kính cây 43

Hình 3.6: Mối quan hệ giữa độ mặn và chiều cao cây 45

Hình 3.7: Mối quan hệ giữa độ mặn và mật độ cây 47

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hiện nay vấn đề môi trường đang thực sự là vấn đề lo ngại cho tất cả các quốcgia trên toàn thế giới Thực trạng là môi trường xung quanh chúng ta đang bị ô nhiễmrất nghiêm trọng, được thể hiện bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan như biến đổi khíhậu, trái đất nóng lên, hiện tượng hiệu ứng nhà kính, băng tan, thiên tai, lũ lụt, hạnhán, đất bị xâm nhập mặn tất cả đều tác động trực tiếp của con người đang sinh sốngtrên trái đất Chính vì vậy tất cả mọi người đang chung tay nhằm bảo vệ môi trường,tìm ra các biện pháp phòng ngừa và ứng phó với các sự cố môi trường bằng các hànhđộng bảo vệ, cải tạo, phục hồi hiện trạng ban đầu của môi trường tự nhiên Rừng lànguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quan trọng đối với con người chúng ta, thực vậtsinh sống trong rừng có chức năng cung cấp không gian sống, nguồn thức ăn, chốngxói mòn đất, điều hòa khí hậu, hấp thụ vô cùng tốt các chất ô nhiễm trong môi trườngnhư CO2, Sox, Nox (Là các khí chính gây ô nhiễm môi trường không khí, và các môitrường đất, nước ) cho con người và các loài sinh vật xung quanh

Rừng ngập mặn là hệ sinh thái chuyển tiếp giữa môi trường biển và môi trườngnước ngọt, có vai trò lớn về kinh tế và sinh thái – môi trường nhưng do nhiều nguyênnhân như: Phá rừng để làm đầm nuôi tôm, sản xuất nông nghiệp, đồng muối, do đô thịhóa, khai thác quá mức diện tích và chất lượng rừng ngập mặn nước ta hiện nay ngàycàng giảm Chính vì vậy việc nghiên cứu, phát triển trồng các rừng ven biển sẽ manglại lợi ích rất lớn về kinh tế và sinh thái – môi trường, ngoài ra tìm ra quy luật, các mốiquan hệ của hệ sinh thái, các tác động của môi trường đến rừng ven biển, nghiên cứutìm ra điều kiện sống lý tưởng cho rừng ven biển là vô cùng quan trọng và cấp thiết

Qua tìm hiểu em được biết cây bần chua hay còn gọi là cây Bần sẻ (danh pháp khoa học: Sonneratia caseolaris) là một loài thực vật có hoa trong họ Lythraceae Cây bần là

loài cây rừng ngập mặn nhiệt đới, có nguyên sản ở vùng Nam Á và Đông Nam Á,

được phát tán rộng khắp Châu Á , Châu Phi và Châu Đại dương Hiện nay các nước có

nhiều cây bần mọc hoang và được trồng như: Châu Phi, Sri- Lanka, Mianma, TháiLan, Việt Nam, Campuchia, Philippin, Indonesia, Timor , Đảo Hải Nam (TrungQuốc), Đông Bắc Australia và một số nước ở Châu Đại dương như Niughnia, NewGuinea, Solomon Islands, New Hebrides…(Little, 1983) Ở Việt Nam cây bần mọchoang và được trồng ở rừng ngập mặn ven biển từ Bắc vào Nam nơi có nhiều bùn và

Trang 11

bải bồi Ở Miền Bắc cây bần mọc thành rừng gần như thuần loại ven bờ biển và vùngcửa sông như ở Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh Ở Miền Nam cây bần là thành phầnchính yếu của các rừng ngập mặn tự nhiên ven biển và chúng mọc dày đặt ven sôngrạch ở ĐBSCL.

Loài cây này ưa sáng và mọc được nơi có nước mặn hay nước lợ ít nhất là mộtgiai đoạn trong năm Sự phong phú của quần thụ này tùy theo mức nước lợ và chế độthủy triều Bần là cây tiên phong để phát triển rừng ngập măn ven biển và các bãi bồiven sông Vì nhận thấy sự phù hợp và lợi ích của rừng Bần Chua đối với các vùng ven

biển nên em chọn đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa độ mặn với đặc điểm sinh

trưởng (mật độ, đường kính, chiều cao) của rừng bần chua (Sonneratia caseolaris) trồng ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” nhằm tìm ra mối quan hệ giữa độ

mặn với đặc điểm sinh trưởng như: mật độ, đường kính, chiều cao…để nghiên cứu vàđưa ra điều kiện sống lý tưởng phù hợp với đặc điểm của rừng Bần Chua trồng venbiển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, đồng thời góp phần làm cơ sở khoa học cho việcxây dựng và triển khai các dự án trồng rừng ngập mặn các dải ven biển Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được mối quan hệ giữa độ mặn với đặc điểm sinh trưởng (mật độ,đường kính, chiều cao) của rừng Bần Chua trồng ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh NinhBình

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của rừng bần chua (Sonneratia caseolaris)

+ Chiều cao trung bình của cây+ Đường kính trung bình thân cây+ Mật độ cây

- Thực hiện đo độ mặn khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu mối quan hệ độ mặn với đặc điểm sinh trưởng của cây

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG

NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm liên quan

“Rừng ngập mặn” là những quần xã thực vật hình thành ở vùng ven biển và cửa

sông những nơi bị tác động của thủy triều ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới Trên thếgiới có nhiều tên gọi khác nhau về rừng ngập mặn như “rừng ven biển”, “rừng ở vùngthủy triều” và “rừng ngập mặn” (FAO, 2007) [22] Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoahọc đều thống nhất tên gọi chung là “Rừng ngập mặn” (Ngô Đình Quế, Võ Đại Hải,2012) [5]

Theo Phan Nguyên Hồng (1997)[13], các cây ngập mặn sống ở vùng chuyển tiếpgiữa môi trường biển và đất liền, tác động của các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến phân

bố của chúng, cây ngập mặn là những cây gỗ và cây bụi thường xanh, thuộc nhiều họkhông hề có quan hệ thân thuộc với nhau nhưng có những đòi hỏi như nhau về sinhcảnh RNM là kiểu thảm thực vật đặc trưng cho vùng ven biển nhiệt đới và á nhiệt đới

“Độ mặn” được ký hiệu S‰ (S viết tắt từ chữ salinity - độ mặn) lượng muối hòa

tan trong nước (xem độ mặn của đất) Thường được đo bằng kg(nướ c biể n) g(mu ố i) ❑❑ Độmặn là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nhiều khía cạnh của hóa học củanước tự nhiên và các quá trình sinh học bên trong nó, và là một biến trạng thái nhiệtđộng lực, cùng với nhiệt độ và áp suất, chi phối các đặc tính vật lý như mật độ và khảnăng nhiệt của nước Độ mặn là một trong những yếu tố nghiêm trọng nhất làm hạnchế năng suất cây trồng nông nghiệp, có ảnh hưởng xấu đến sự nảy mầm, sức sốngthực vật và năng suất cây trồng [11]

1.2 Tổng quan về rừng ngập mặn

1.2.1 Vai trò của rừng ngập mặn

- Hệ sinh thái rừng ngập mặn được biết đến với nhiều vai trò lớn trong việc giảmthiểu ô nhiễm môi trường, điều hòa khí hậu, hấp thụ một lượng lớn khí nhà kính CO2– khí chính gây nên gia tăng hiệu ứng nhà kính thông qua các bể chứa, đồng thời cungcấp nhiều nguồn lợi cho khu vực trồng rừng

- Cung cấp cung cấp một lượng lớn hàng hoá và dịch vụ cho con người, là nơilưu giữ những nguồn gen cho tương lai, nơi cung cấp thức ăn và chỗ sinh sản cho rất

Trang 13

nhiều loài động vật có giá trị sinh thái và môi trường cao Đồng thời còn là trạm dừngchân và là nơi cư trú của nhiều loài chim nước di cư

- Rừng ngập mặn có vai trò lớn trong việc bảo vệ vùng ven biển chóng sóng, xói

lở biển, hạn chế gió và thúc đẩy quá trình bồi tự phù sa Nhờ có bộ rễ phát triển và ănsâu xuống lòng đất, làm cho nền đất trở nên vững chắc, đồng thời tán lá rộng và cànhvững chắc giảm nhẹ xung động của sóng, giảm xung lực của sóng tác động vào bờbiển Sự phát triển của RNM và mở rộng diện tích đất bồi là hai quá trình luôn đi kèmnhau Ở những vùng đất mới bồi có độ mặn cao có các thực vật tiên phong là loàiMấm trắng, Bần đắng; vùng cửa sông với độ mặn thấp hơn có Bần chua, Mấm trắng

Rễ cây ngập mặn, đặc biệt là quần thể thực vật tiên phong mọc dày đặc có tác dụnglàm cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn, vừa ngăn chặn tác động của sóng biển, giảm tốc

độ gió, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng RNM còn có tác dụng hạn chế xói lở

và các quá trình xâm thực bờ biển

- Rừng ngập mặn cung cấp nơi ở, nguồn dinh dưỡng cho nhiều loài sinh vật ởcửa sông ven biển, đặc biệt là các loài chim: cung cấp chỗ cư ngụ và nguồn thức

ăn cho rất nhiều loại cá, động vật có vỏ (như nghêu, sò, cua, ốc ), chim và động vật có

vú Một vài động vật có thể được tìm thấy trong rừng ngập mặn bao gồm: nhiều loại

cá, chim, cua, sò huyết, nghêu, hàu, tôm, ốc, chuột, dơi và khỉ…đóng một vai trò đặcbiệt trong các hệ thống lưới thức ăn phức tạp Điều này có nghĩa là sự phá hủy rừngngập mặn có thể có tác động rất xấu và rộng đến đời sống thủy sinh và đại dương Sựsuy kiệt của rừng ngập mặn là một nguyên nhân chính dẫn đến suy kiệt đời sống thủysinh vì rừng ngập mặn không còn để đóng vai trò như vườn ươm hay chỗ kiếm ăn chonhững sinh vật thủy sinh nhỏ Kết quả là, trữ lượng thủy sản không thể được tái tạo.Sản lượng cá, tôm, động vật có vỏ và cua sẽ giảm khi diện tích rừng giảm Không cócác sinh vật thủy sinh nhỏ vào thời điểm này nghĩa là không có nguồn cá để đánh bắttrong tương lai

- Cung cấp nhiều sản phẩm trực tiếp cho người dân địa phương như gỗ, than,củi, tatin, phân xanh cải tạo đất hoặc dược liệu chữa bệnh

Không những vậy, rừng ngập mặn còn là nơi du lịch, giải trí và nghiên cứu khoahọc lý tưởng, bảo tồn các giá trị văn hóa và giá trị thiên nhiên Không những vậy,trong tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng như hiện nay, thì rừng ngập mặn

Trang 14

đóng vai trò to lớn trong việc hạn chế các tác hại của biến đổi khí hậu và giảm nhẹthiên tai do nước biển dâng.

1.2.2 Sự phân bố và diện tích của rừng ngập mặn

- Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới RNM phân bố chủ yếu ở vùng ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đớihai bán cầu, trong khoảng 32º Bắc và 38º Nam, dọc bờ biển Châu Phi, Châu ĐạiDương, Châu Á và Châu Mỹ

Năm 2010 các nhà khoa học cho biết sau khi phân tích dữ liệu từ Hệ thống vệtinh chụp ảnh Trái đất (Landsat) của NASA, họ ước tính RNM còn tồn tại chiếm12,3% diện tích bề mặt Trái đất (tương đương khoảng 137.760 km²) và phân bố trên

123 nước trên thế giới Các rừng ngặp mặn phân bố trong phạm vi rộng ở các vùngbiển ấm Vị trí xa nhất của RNM ở Bắc bán cầu là vịnh Agaba thuộc Hồng Hải (300B)

và Nam Nhật Bản (320B); ở Nam bán cầu là Nam Autralia (380N), đảo Chatham vàphía Tây New Zeyland (440N) Blasco F., 1975) [21]

Trong đó có khoảng 42% RNM trên thế giới được tìm thấy tại châu Á, theo sau

là châu Phi với 21%, 15% thuộc Bắc và Trung Mỹ, 12% tại châu Đại Dương và cuốicùng là Nam Mỹ với 11% Diện tích RNM lớn nhất là tại Indonesia chiếm tới 21%,Brasil chiếm khoảng 9% và Úc chiếm 7% tổng diện tích RNM trên thế giới Con sốtrên sẽ tiếp tục giảm trong tương lai, RNM toàn cầu đang biến mất nhanh chóng dobiến đổi khí hậu làm mực nước biển dâng cao, phá rừng để phát triển kinh tế ven biển,làm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Theo báo cáo mới đây của Liên Hợp Quốcnăm 2010, sự biến mất của các khu RNM nhanh hơn gấp 4 lần so với các khu rừngtrên cạn

Theo Đài Quan sát Trái đất (EO) của NASA, Indonesia có 17.000 hòn đảo nhỏ

và chiếm gần ¼ diện tích RNM trên thế giới Tuy nhiên, các khu rừng này đã bị giảmmột nửa trong ba thập kỷ qua - cụ thể giảm từ 4,2 triệu ha năm 1982 xuống còn 2 triệutrong năm 2000 Trong phần rừng còn lại, có gần 70% là “trong tình trạng nguy kịch

và bị thiệt hại nặng” [21]

- Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

Theo Đề án phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển giai đoạn 2008-2015của Bộ Nông nghiệp và Phát triển ông thôn (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệttại Công văn số 405/TTg-KTN ngày 16/3/2009), vùng ven biển nước ta có thể chia

Trang 15

làm 5 vùng Tổng diện tích quy hoạch cho mục đích phát triển rừng ngập mặn là323.712 ha [5]

Trong đó có 209.741 ha đã có rừng (152.131 ha là rừng trồng và 57.610 ha làrừng tự nhiên), phân bố tại các vùng như sau:

Vùng ven biển tỉnh Quảng Ninh và đồng bằng Bắc Bộ (QN&ĐBBB), gồm 5 tỉnh(Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình): 88.340 ha Trong đó,diện tích có rừng 37.651 ha Phân bố chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh

Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (BTB), gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, HàTĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế): 7.238 ha Trong đó, diện tích córừng 1.885 ha Phân bố chủ yếu ở tỉnh Thanh Hóa

Vùng ven biển Nam Trung Bộ (NTB): gồm 6 tỉnh (Đà Nẵng, Quảng Nam, QuảngNgãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa): 743 ha Trong đó, diện tích có rừng khôngđáng kể

Vùng ven biển Đông Nam Bộ (ĐNB): gồm 5 tỉnh (Ninh Thuận, Bình Thuận, BàRịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh): 61.110 ha Trong đó, diệntích có rừng là 41.666 ha Phân bố chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh

Vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): gồm 8 tỉnh (Long An, TiềnGiang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau): 166.282 ha.Trong đó diện tích có rừng 128.537 ha Phân bố chủ yếu ở các tỉnh Cà Mau và KiênGiang.[5]

Dựa vào các yếu tố địa lý, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám,Phan Nguyên Hồng (1991) [12] đã chia RNM Việt Nam ra làm 4 khu vực và 12 tiểukhu:

+ Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn

+ Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường+ Khu vực III: Ven biển Trung Bộ: Từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu+ Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải, Hà Tiên

Trang 16

Hình 1.1 Phân bố rừng ngập mặn dọc ven biển Việt Nam [12]

Ven biển Đồng Bằng Bắc Bộ còn được chia nhỏ thành 2 tiểu khu :

- Tiểu khu 1: Từ mũi Đồ Sơn đến cửa sông Văn Úc Đây là vùng chuyển tiếp giữa

khu vực I và II

Địa hình: từ Đồ Sơn đến bờ bắc sông Văn Úc, cửa sông có dạng hình phễu với

các đảo cát ngầm trước cửa sông, ngăn cản một phần cường độ của sóng, mặt khácmũi Đồ Sơn cũng góp phần che chắn, nên RNM có thể phân bố ở dọc các cửa sông

Do bờ biển bị xói lở nên không có dải cây ngập mặn cửa sông

Trang 17

Điều đáng lưu ý ở tiểu khu này, cũng như tiểu khu 2 là do tốc độ quai đê lấn biểntương đối nhanh, ngăn nước mặn vào sâu trong đất liền, do đó mà RNM chỉ phân bố ởtrong cửa sông.

Quần xã cây ngập mặn gồm những loài ưa nước lợ, trong đó loài ưu thế nhất

là bần chua phân bố ở vùng cửa sông (Kiến Thụy, Tiên Lãng), cây cao 5-10m Dưới tán của bần là sú và ô rô, tạo thành tầng cây bụi; một số nơi có xen lẫn hai loài sau

hoặc phát triển thành từng đám Trong những năm gần dây do phát triển đầm tôm nên

các rừng bầncũng bị phá nhiều và thu hẹp diện tích.

- Tiểu khu 2: Từ cửa sông Văn Úc đến cửa Lạch Trường, nằm trong khu vực bồi

tụ của hệ sông Hồng.

Ở đây cũng có một số điều kiện thuận lợi cho cây nước lợ như: địa hình phẳng,bãi triều rộng, giàu phù sa, lượng nước ngọt nhiều về mùa mưa Nhưng do địa hìnhtrống trải, các bãi tương đối bằng phẳng nên chịu tác động mạnh của sóng do gió bãotạo nên, đây là một yếu tố ngăn cản RNM hình thành tự nhiên ở vùng ven biển tiểukhu này

Dọc từ bờ nam của cửa sông Văn Úc (huyện Thụy Hải), trước đây rừng bần

chua phát triển mạnh, diện tích khá rộng Trong cửa sông như cửa sông Trà Lý, Ninh

Cơ, cửa sông Lèn, cửa Lạch Trường và một số lạch thì cây ngập mặn phát triển Quần

xã chủ yếu là sú và ô rô Thỉnh thoảng có xen lẫn ít trang và bần chua Tuy nhiên

phạm vi phân bố hẹp vì dòng sông ít dốc và chịu ảnh hưởng mạnh của nước ngọt

Do khai thác quá mức nên cây không phát triển được, thường là dạng bụi thấp,cằn cỗi Để bảo vệ đê, nhân dân ven biển huyện Thái Thụy, Tiền Hải (Thái Bình) và

huyện Giao Thủy (Nam Định) đã trồng được những dải rừng trang gần như thuần loại

ở phía ngoài đê Đây là một cuộc đấu tranh khốc liệt với thiên nhiên, tỷ lệ sống rất

thấp, nhưng với quyết tâm lớn những rừng trang với cây cao 4-5 m, đường kính 5-10

cm đã hình thành dọc theo đê biển, có tác dụng giữ đất bồi, bảo vệ đê mấy chục nămvừa qua Việc trồng trang cũng đã tạo điều kiện cho một số loài tái sinh tự nhiênnhư sú, bần chua; là môi trường sống cho nhiều hải sản và chim di cư.[12]

Trang 18

1.2.3 Các mối đe dọa chính đối với rừng ngập mặn ven biển

Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội và môi trường,nhưng nhiều nhà quản lý, nhà quy hoạch và hoạch định chính sách vẫn chưa hiểu hếtgiá trị nhiều mặt của nó, nên bằng cách này hay cách khác như cho đấu thầu đất làmđầm tôm, thiếu kiên quyết xử lý các vụ phá hoại, phát triển các khu công nghiệp, đô thịtrên vùng rừng ngập mặn… gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với hệ sinh thái cónăng suất cao nhưng rất nhạy cảm này

Những mối đe doạ đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng và phức tạpgồm cả các yếu tố tự nhiên và con người

Bão lụt, sóng thần, nước biển dâng là những đe doạ bất thường, song cũng chỉxay ra từng thời điểm, từng vị trí và mức độ đe doạ nhiều hay ít còn phụ thuộc vàokhông gian phân bố của thảm thực vật ngập mặn, thành phần, tuổi cây…

Còn tác động của con người, nhất là trong thời kỳ phát triển kinh tế đã trở thànhnhững nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự biến đổi, làm mất cân bằng và suy thoái của

hệ sinh thái rừng ngập mặn, làm giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật ven bờnơi mà dân cư tập trung đông đúc Chính vì vậy, con người đã trở thành mối đe doạlớn nhất khi hành động của họ nhằm đạt được lợi ích trước mắt hoặc cục bộ

- Sức ép về dân số

Do tính đặc thù của vùng địa lý bị chia cắt bởi các sông và kênh rạch, nên thườngnhững cộng đồng sống trong vùng rừng ngập mặn (RNM) không có điện, phương tiệngiao thông khó khăn; các hoạt động tinh thần, văn hoá, thông tin rất hạn chế; thanhniên lập gia đình sớm, tỷ lệ sinh đẻ cao; ít hiểu biết về môi trường; địa bàn xa cơ quanquản lý nên việc chặt phá RNM là khó tránh khỏi nếu không có biện pháp cải thiệncuộc sống của họ và tuyên truyền giáo dục kịp thời

- Khai thác quá mức nguồn lợi sinh vật

+ Lâm sản: Trong những năm gần đây, mặc dầu RNM đã bị suy thoái nghiêm

trọng, diện tích thu hẹp nhưng một số lâm trường (Cà Mâu) vẫn tiếp tục khai thác,nhiều gia đình ở Ngọc Hiển vẫn chặt trộm gỗ đước để đốt than.[18]

+ Hải sản: Bên cạnh việc phá rừng vì các mục đích kinh tế thì việc khai thác hải

sản quá mức trên các bãi lầy như đánh bắt cá bớp, cá thòi lòi, cua, còng, các loài thânmềm v.v…khiến cho tài nguyên cạn kiệt, mất nơi kiếm ăn của chim nước, chim di cưtrong đó có những loài quí, hiếm Việc sử dụng các lưới vây mắt nhỏ quanh các RNMtrồng, sử dụng xung điện, chất nổ trên các sông rạch đã làm cho nguồn lợi hải sảntrong vùng RNM cạn kiệt Cũng cần nói thêm là do chạy theo lợi nhuận trước mắt,

Trang 19

không có quy hoạch tổng thể để phát triển sản xuất ở vùng ven biển nên nhiều địaphương đã và đang cho đấu thầu những diện tích lớn bãi triều lầy có RNM để làm đầmtôm; đấu thầu các bãi cát – bùn trước RNM để nuôi vạng, nghêu; thu hẹp nơi kiếmsống hàng ngày của người dân nghèo nên bắt buộc họ phải dùng một số dụng cụ cótính huỷ diệt để đánh bắt hải sản.

- Ô nhiễm môi trường

RNM ở các vùng cửa sông, ven biển là nơi hứng chịu các chất thải sinh hoạt, y tế,các chất hoá học dư thừa trong nông nghiệp như thuốc trừ sâu, phân hoá học Phần lớncác chất thải công nghiệp chưa xử lý đều được đổ ra các cửa sông như khu côngnghiệp Biên Hoà đổ ra các cửa sông Sài Gòn và Đồng Nai, khu công nghiệp HảiPhòng – Quảng Ninh đổ ra cửa sông Bạch Đằng làm giảm chất lượng nước, ảnh hưởngxấu đến các tài nguyên động thực vật vùng RNM.[18]

Các vùng cửa sông cũng là nơi hoạt động của tàu bè Theo số liệu thống kê củaCục Môi trường (2002), từ năm 1995 đến tháng 6/2002 có 90 tai nạn tràn dầu với92.420 tấn dầu tràn đổ ra vùng ven bờ và biển Đông Nạn dầu tràn, đắm tàu, chở dầu ởkhu vực RNM Cần Giờ đã làm cho một số rừng mới trồng chết, các bãi nuôi nghêu, sòhuyết thiệt hại nặng Nếu không có biện pháp quản lý tốt thì sẽ làm mất nguồn hải sản

ở các vùng RNM và ảnh hưởng rõ rệt đến cuộc sống của người dân trong vùng.[18]

- Phá rừng ngập mặn để phát triển đô thị, cảng biển

Trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá đất nước, nhều vùng RNM ở ven biển, cửasông đã và đang bị lấp đất để xây dựng đô thị, khu công nghiệp, cảng biển như NghiSơn (Thanh Hoá), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Tuần Lễ (Khánh Hoà), thị xã Hà Tiên… Hiệnnay diện tích RNM đã bị thu hẹp mạnh, nếu không có biện pháp bảo vệ những dảiRNM còn lại ở một số địa phương thì không những làm mất đi nguồn tài nguyên quígiá mà còn mất cảnh quan đặc thù của vùng nhiệt đới Hiện tượng xói lở bờ sông, bờbiển khó tránh khỏi, kinh phí để chống xói lở có thể gấp hàng trăm lần tiền trồng vàbảo vệ rừng ngập mặn

Trang 20

- Những mối đe dọa khác :

+ Việc khai thác nước ngầm bừa bãi dùng trong sinh hoạt, tưới cây, đặc biệt làphục vụ cho việc nuôi tôm thâm canh ven biển đang là mối đe doạ lớn đối với hệ sinhthái RNM Hiện tượng suy thoái RNM do độ mặn nước triều quá cao đã và đang làmcho một số diện tích rừng trồng ở Quảng Ninh, Thái Bình bị chết hoặc bị hà bám dàyđặc rồi chết dần

Bên cạnh đó việc đắp đê ngăn mặn, đắp bờ bao ngăn lũ tràn ở đồng bằng sông CửuLong đã làm cho độ mặn ở vùng cửa sông, các con sông có nước lợ về mùa khô tăng

cao, ảnh hưởng lớn đến các loài động vật ưa nước lợ như bần chua (Sonneratia

caseolaris), dừa nước (Nypa fruticans) rất phong phú ở vùng này, một số loài thân

mềm, giáp xác và cá nước lợ cũng giảm dần

+ Xói lở bờ biển, bờ sông, các hồ chứa: Tình trạng chặt phá RNM để làm đầm tômđang gây ra xói lở ở các vùng bờ biển, cửa sông như Cửa Hội (Hà Tĩnh), cửa sôngTrần Đê (Sóc Trăng), bờ đầm Nại (Ninh Thuận).v.v…

+ Sử dụng các hoá chất tác động đến các sinh vật trong vùng rừng ngập mặn: Doviệc sử dụng hoá chất ở các trại tôm bán công nghiệp và công nghiệp thiếu kiểm soátnhư thuốc sát trùng, chất kháng sinh chloramphenicol, phân bón, thuốc trừ sâu, hoócmôn tăng trưởng cùng với các chất thải khác như thức ăn dư thừa, phân, CO2,amoniac, các kim loại nặng từ các đầm tôm được nước triều đem vào các cửa sông,kênh, rạch và vùng RNM đã phá huỷ chu trình dinh dưỡng trong hệ sinh thái RNM, vìcác chất này gây hại đến hệ vi sinh vật rất phong phú, nhưng rất quan trọng trong nướcbiển Hậu quả là nhiều động vật ăn mùn bã không sống được và ảnh hưởng dây chuyềnđến các động vật ăn thịt, những loài hải sản có giá trị cao ở vùng RNM

+ Nước biển dâng: Hiện tượng này được tạo ra bởi tổ hợp của nhiều yếu tố, đặcbiệt do sự tăng khí thải công nghiệp, nông nghiệp như CO2, CH4 và mất RNM Những

dự báo cho biết trong thế kỷ này, Trái đất sẽ ấm lên, mức nước biển sẽ dâng cao hơnmức hiện nay có thể từ 60-100cm Trong điều kiện đó nhiều vùng đất thấp ven biển,đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị chìm ngập trong nước biển, các rừng câyngập mặn, các đầm tôm cũng không còn nữa [18]

1.2.4 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn

Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Theo Bộ lâm nghiệp của chính phủ Goa (2007) [11], cấu trúc và sự sắp sếp củacác loài cây rừng ngập mặn ở cửa sông thay đổi theo ngưỡng độ mặn từ vùng cửa sông

Trang 21

đến thượng nguồn, trong đó loài mắm trắng là loài có biên độ chịu mặn rộng từ 7 35‰, loài đước đôi thích nghi tương tự từ 6 - 37‰, trong khi đó loài bần trắng lạithích hợp ở vùng đất mặn hơn từ 10 - 37‰ [17]

-Bảng 1.1: Thành phần loài cây rừng ngập mặn theo ngưỡng độ mặn Goa

(Bộ Lâm nghiệp Goa, 2007) [17]

Trong các nhân tố sinh thái thì độ mặn là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đếntăng trưởng, tỷ lệ sống, phân bố các loài De Hann (1931) (Trích dẫn từ Aksornkoae,1993) [21] cho rằng rừng ngập mặn tồn tại, phát triển ở nơi có độ mặn từ 10 - 30‰ vàcác tác giả đã chia thực vật ngập mặn thành hai nhóm, nhóm phát triển ở độ mặn từ 10

- 30‰ và nhóm phát triển ở độ mặn từ 0 - 10‰ Yếu tố giới hạn sự phân bố của rừngngập mặn là sự thiếu vắng muối trong đất và nước Mỗi loại cây ngập mặn chịu đựngmột độ mặn nhất định Khi độ mặn trong đất tăng và tầng bùn giảm thì cây còi cọc,cành ngắn, lá nhỏ và dày hơn (Rao A.N., 1986) [25]

Nhiều nghiên cứu cho thấy, cây ngập mặn có thể tồn tại được trong nước ngọtmột thời gian nào đó, nhưng sinh trưởng của cây giảm dần, sau vài tháng nếu khôngđược cung cấp một lượng muối thích hợp thì cây sinh trưởng rất kém, lá cây có nhiềuchấm đen và vàng do sắc tố bị phân hủy, lá sớm rụng Hầu hết các cây ngập mặn đềusinh trưởng tốt ở môi trường nước có độ mặn từ 25 - 50% độ mặn nước biển Khi độmặn càng cao thì sinh trưởng của cây càng kém, sinh khối của rễ, thân và lá đều thấpdần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự, 1983) (Trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Trí, 1999)

Trang 22

[6],.Khi nghiên cứu sự sinh trưởng của loài Trang (Kandelia candel (L.Druce) liên

quan đến độ mặn của môi trường, P Lin và X.M.Wei (1980) (Trích dẫn từ Rao A.N.,1986) [25] đã nhận thấy chúng phát triển tốt ở nơi có nồng độ muối từ 7,5 đến 21,2‰.Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và phân bốcây ngập mặn (Gledhill, 1963; Giglioli và King,1966; Clark và Hannonn, 1967;Aksornkoae S và cộng sự, 1985) (Trích dẫn Aksornkoae, 1993) [20]) Aksornkoae S.(1993) nghiên cứu đất ngập mặn ở Thái Lan, còn Karim A (1983, 1988) [23] nghiêncứu đất ngập mặn ở Sundarbans – Banglades có độ mặn của đất từ 3,3 - 17,3‰ và ôngchia đất ra làm 3 loại: Loại có độ mặn thấp dưới 5‰, loại có độ mặn trung bình từ 5-10‰ và loại có độ mặn cao trên 15‰

Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Trong luận án tiến sĩ khoa học “Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt

Nam” của Phan Nguyên Hồng (1991) [12] đã đề cập đến vấn đề phân bố, sinh thái,

sinh lý, sinh khối rừng ngập mặn Việt Nam

- Độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự sinhtrưởng, tỷ lệ sống của các loài và phân bố rừng ngập mặn Loại rừng này phát triển tốt

ở nơi có nồng độ muối trong nước từ 10 - 25‰

Theo Thái Văn Trừng, (1999) [14] có 3 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh rừngngập mặn: Thứ nhất là tính chất lý hóa của đất, thứ hai là cường độ và thời gian ngậpcủa thủy triều, thứ ba là độ mặn của nước

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn khác nhau, điều kiện chiếu sáng, phân bónđến sự nảy mầm và sinh trưởng của bần chua ở giai đoạn vườn ươm thì khi che bóngbần chua tăng trưởng kém hơn không che bóng và cây tăng trưởng tốt hơn ở độ mặn từ

5 - 10‰ (Lê Xuân Tuấn, 1995) [3]

Theo Hà Chí Tâm, (2005) [1] tại cồn trong cửa sông Ông Trang - Cà Mau, loàimắm trắng phân bố và chiếm ưu thế ở độ mặn trong đất từ 33 - 38‰, loài đước 30 -35‰

Mai Sy Tuan, (1995) [24] đã nghiên cứu phản ứng sinh lý, sinh thái của mắmbiển con trồng thí nghiệm ở các độ mặn khác nhau trong nhà kính cho thấy, trong điềukiện thí nghiệm ở độ mặn nước biển 25‰ thì mắm biển có sinh trưởng về đường kính

và chiều cao tốt nhất Sự tăng trưởng về đường kính và chiều cao giảm dần khi độ mặnnước biển tăng lên Cây mọc ở môi trường không có muối thì tỷ lệ sinh trưởng thấpnhất Quá trình quang hợp tỷ lệ nghịch với độ mặn của môi trường: Độ mặn càng cao

Trang 23

thì quang hợp càng giảm nhưng cây ngập mặn vẫn duy trì năng suất quang hợp dương

ở các độ mặn thí nghiệm kể cả ở 150% độ mặn nước biển

1.3 Tổng quan về tình hình quản lý nhà nước về rừng ngập mặn

Toàn bộ diện tích RNM hiện nay do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

(Bộ NN&PTNT) quản lý mà trực tiếp là Cục Lâm nghiệp và Cục Kiểm lâm Cục Kiểmlâm được Bộ giao nhiệm vụ theo dõi công tác bảo vệ rừng, diễn biến tài nguyên rừngtrong đó có RNM và trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý các vườn quốc gia, các khu bảotồn thiên nhiên Hiện nay hai loại vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có RNMđều phân cấp cho các tỉnh quản lý Cục Lâm nghiệp chịu trách nhiệm về các kế hoạchphụ hồi, phát triển rừng

- Ở cấp tỉnh, các khu RNM do Sở NN&PTNT quản lý, một số tỉnh Chi cục Lâmnghiệp trực tiếp quản lý Chi cục Kiểm lâm theo dõi việc bảo vệ rừng, thi hành cácpháp lệnh về bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng Ở một số tỉnh có vườnquốc gia (VQG) RNM như Nam Định, Cà Mau thì các VQG đó trực tiếp do uỷ bannhân dân (UBND) tỉnh quản lý Tuy nhiên các kế hoạch có liên quan tới lâm nghiệpcũng đều do các Sở NN&PTNT xem xét

- Theo quy định của Luật Đất đai, các huyện có trách nhiệm quản lý đất đai củahuyện, có thẩm quyền cấp đất, thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình dohuyện quản lý nên các diện tích RNM cũng do huyện quản lý Các Hạt Kiểm lâmhuyện chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề có liên quan lâm luật Diện tích RNM vàvai trò, chức năng chính của rừng ở miền Bắc và miền Nam có sự khác biệt nhất địnhnên hệ thống tổ chức quản lý RNM có các hình thức khác nhau [18]

1.4 Tổng quan về cây bần chua

1.4.1 Các đặc điểm sinh thái của rừng Bần chua

Trang 24

Hình 1.2: Hình ảnh cây bần chụp tại khu vực nghiên cứu.

Qua trình hình thành và phát triển của rừng ngập mặn luôn có mối quan hệ mậtthiết đối với các yếu tố về diều kiện môi trường, vì vậy mà chỉ có một số lượng rất ítcác loài cây có thể chịu được và phát triển trong điều kiện ngập thủy triều, đất bùn lấy

và mặn, trên thế giới đã liệt kê được có 84 loài, trong đó có 66 loài cây gỗ, 13 loài câybụi, 2 loài cây họ Cau dừa, và 3 loài cây dương xỉ [12]

Trong đó, tại vùng ven biển Đồng bằng bắc bộ Việt Nam rừng trồng chủ yếu làBần chua, Trang và rừng hỗn giao Trong đề tài nghiên cứu này tập chung vào rừngtrồng Bần, các đặc điểm sinh thái và đặc tính ính trưởng của rừng Bần

Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.), thuộc họ Bần, lớp Hai lá mầm,ngành Hạt kín Bần chua phân bố phân bố ở vùng rừng ngập mặn nhiệt đới và á nhiệtđới : Bangladesh, Brunei Darussalam, Cambodia, Trung Quốc (đảo Hainan), Ấn Độ,Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Sri Lanka, Thailand, Viet Nam, bắcAustralia, Papua New Guinea, quần đảo Solomon, Vanuatu, New Caledonia vàMaldives Nó phát triển ở vùng có lượng mưa hàng năm tương đối cao, nhiệt độ trungbình từ 20 – 27oC, pH từ 6,0 - 6,5 [11] Bần chua sống chủ yếu ở đoạn cửa sông xabiển trong vùng bãi triều thấp Đây cũng là loài tiên phong ở các bãi triều mới hìnhthành

- Cây bần chua hay còn gọi là cây Bần sẻ (danh pháp khoa học: Sonneratia

caseolaris) là một loài thực vật có hoa trong họ Lythraceae Cây bần là loài cây rừngngập mặn nhiệt đới, có nguyên sản ở vùng Nam Á và Đông Nam Á, được phát tán

rộng khắp Châu Á, Châu Phi và Châu Đại dương Hiện nay các nước có nhiều cây bần

Trang 25

mọc hoang và được trồng như: Châu Phi, Sri- Lanka, Mianma, Thái Lan, Việt Nam,Campuchia, Philippin, Indonesia, Timor, Đảo Hải Nam (Trung Quôc), ĐôngBắc Australia và một số nước ở Châu Đại dương như Niughnia, New Guinea,Solomon Islands, New Hebrides… (Little, 1983) [7]

Ở Việt Nam cây bần mọc hoang và được trồng ở rừng ngập mặn ven biển từ Bắcvào Nam nơi có nhiều bùn và bải bồi Ở Miền Bắc cây bần mọc thành rừng gần nhưthuần loại ven bờ biển và vùng cửa sông như ở Ninh Bình, Thái Bình, Hải Phòng,Nghệ An, Hà Tĩnh Ở Miền Nam cây bần là thành phần chính yếu của các rừng ngậpmặn tự nhiên ven biển và chúng mọc dày đặt ven sông rạch ở ĐBSCL

Loài cây này ưa sáng và mọc được nơi có nước mặn hay nước lợ ít nhất là mộtgiai trong năm Sự phong phú của quần thụ này tùy theo mức nước lợ và chế độ thủytriều Bần là cây tiên phong để phát triển rừng ngập măn ven biển và các bải bồi vensông

Cây bần chua phát triển kém ở những vùng có nước ngọt quanh năm

- Đặc điểm cây bần chua:

+ Thân: Bần chua thuộc loài thân gổ đại mộc, có nhiều cành Cây gỗ cao

10-15m, có khi cao tới25m Cành non màu đỏ, 4 cạnh, có đốt phình to Gổ xốp, bở, vỏthân chứa nhiều tanin

+ Rể: Rể gốc to, khỏe, mọc sâu trong đất bùn Từ rể mọc ra nhiều rễ thở (bất hay

Cạt bần (Nam Bộ) thành từng khóm quanh gốc

+ Lá: Lá đơn, mọc đối, dày, giòn, hơi mọng nước, hình bầu dục hoặc trái xoan

ngược hay trái xoan thuôn, thon hẹp thành cuống ở góc, cụt hay tròn ở chóp, dai, dài5-10cm, rộng 35-45mm Cuống và một phần gân chính màu đỏ, gân giữa nổi rõ ở cả 2mặt, cuống dài 0,5 - 1,5cm

+ Hoa: Cụm hoa ở đầu cành, có 2-3 hoa, rộng 5cm, có cuống hoa ngắn.

Đài hợp ở gốc, có 6 thùy dày và dai, mặt ngoài màu lục, mặt trong màu tím hồng.Cánh tràng 6, màu trắng đục, hình dải, thuôn về hai đầu Nhị có chỉ hình sợi, bao phấnhình thận Bầu hình cầu dẹt, vòi dài, đầu hơi tròn

+ Quả: Quả mọng hơi nạc, khi còn non cứng, dòn, khi chín quả mọng, thịt quả

mềm, ruột chứa nhiều hạt Quả có đường kính 5-10 cm, cao 2-3 cm, gốc có thùy đàixòe ra

Trang 26

+Hạt: Hạt nhiều, dẹt Khi chín quả rụng và trơi nổi theo nước thủy triều, hạt

sống lâu và phát tán mạnh trên các bải bồi Muốn trồng cây bần khơng cần gieo hạt(mặc dù hạt quả bần chí khi gieo cĩ thể mọc mầm trên 90%) Chỉ cần nhổ những câybần con mọc sắn trong tự nhiên (rất nhiều) để trồng

- Thành phần hĩa học của cây bần chua

Trong thân:

+ Vỏ thân và gỗ chứa archin (emodin), archinin (chrysophanic acid) và archicin.Trong quả cĩ chất màu, archin và archicin

+ Vỏ thân chứa nhiều tanin (10-20%) cĩ thể dùng thuộc da

+ Trong vỏ thân cĩ chất Emodin và axit chrysophanic cĩ thể làm các chất màutrong thực phẩm và thuốc thơ (Perry, 1980)

+ Gỗ bần xốp, tỷ lệ bột giấy thu hồi khoảng 52,7% (trong đĩ cĩ 8,5% lignin,17,6% pentosan cĩ màu nâu)

+ Ngồi ra trong gổ và vỏ thân cây bần cĩ cĩ hai chất archin (C15H10O5) vàarchinin (C15H14O12) cĩ thể khai thác làm chất màu thực phẩm (CSIR,1976)

Trong quả bần chín cĩ:

+ Cĩ hàm lượng pectin 11% ở dạng chất trong suốt (ZMB)

+ Cĩ 2 chất flavonọdes chống oxy hĩa được phân lập là: lutéoline và lutéoline

7-O-glucoside [7]

1.4.2 Giá trị sử dụng

- Giá trị kinh tế: Cây bần chua là nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành xây dựng,phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân thơng qua các sản phẩm từrừng như gỗ, củi, phấn hoa, mật ong, thực phẩm làm thuốc …… Là nơi cư trú để nuơirất nhiều lồi thủy sản nước lợ Đem lại nguồn kinh tế dồi dào cho người dân vùng venbiển Lá cây bần chua được dùng làm rau sống, quả bần chua được dùng làm mắm vàdấm, đem lại giá trị đặc trưng văn hĩa ẩm thực riêng cho khu vực ven biển

- Giá trị phịng hộ và bảo vệ mơi trường: hiện nay bờ biển Việt Nam đang đứngtrước nguy cơ xĩi mịn rất lớn Bần chua cĩ giá trị phịng hộ, đặc biệt là chống xĩimịn, sạt lở Ngồi ra trồng bần chua cịn cĩ tác dụng chắn sĩng, lắng phù sa, lấn biểnlàm giảm độ muối và độ phèn trong đất và cải thiện khí hậu Bảo vệ các cơng trìnhtrọng yếu trong đất liền và tính mạng con người

- Là nơi cư trú, sinh sản của các lồi chim nước, chim di cư và một số lồi độngvật quý hiếm khác Ngồi ra, lượng phân hủy từ lượng rơi của cây (lá, cành, hoa…)vừa là nguồn cung cấp thức ăn và cũng là yếu tố thu hút nhiều loại thủy hải sản đến cư

Trang 27

trú tại rừng đã tạo nên nguồn lợi thủy sản phong phú mang lại giá trị kinh tế cao chongười dân tại địa phương Bên cạnh đó, hệ sinh thái RNM còn là địa điểm du lịch sinhthái mới lạ, thu hút nhiều lượt khách du lịch tới đây, đem lại nguồn thu nhập cho ngườidân sống xung quanh khu vực.

- Sản xuất sinh khối và duy trì đa dạng sinh học: RNM có khả năng cố định phù

sa để mỗi năm lấn dần ra biển, diện tích đất phía trong dần được rửa mặn và phènthành đất canh tác Là nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật trên cạn và dưới nước.Chống lại sự gia tăng của biến đổi khí hậu: RNM có khả năng tích lũy một lượngcacbon trong sinh khối, nhằm giảm hiệu ứng nhà kính và điều hòa nhiệt độ, khí hậu.[7]

1.4.3 Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng tới sinh trưởng của rừng ngập mặn

a, Độ mặn

Trong các nhân tố sinh thái thì độ mặn là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đếntăng trưởng, tỉ lệ sống, phân bố các loài De Hann (1931) (Trích dẫn từ Aksornkoae,1993) [20] cho rằng rừng ngập mặn tồn tại, phát triển ở nơi có độ mặn từ 10 – 30 %% Hầu hết các cây ngập mặn đều sinh trưởng tốt ở môi trường nước có độ mặn từ 25 –50% độ mặn nước biển Khi độ mặn càng cao thì sinh trưởng của cây càng kém, sinhkhối của rễ, thân và lá đều thấp dần, lá sớm rụng

Độ mặn ảnh hưởng rất nhiều đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống của các loài và phân

bố RNM Rừng ngập mặn phát triển tốt ở nơi có độ muối trong khoảng 10-25‰ (PhanNguyên Hồng,1991) [12] Kích thước và số loài giảm đi khi độ mặn cao (40-80‰), ở

độ mặn 90‰ chỉ có một số loài mắm sống được nhưng sinh trưởng rất chậm Nhưngnhững nơi độ mặn quá thấp (<4‰) thì cũng không còn cây ngập mặn mọc tự nhiên.Các loài cây ngập mặn có khả năng thích nghi với biên độ mặn khác nhau, PhanNguyên Hồng (1991) [12] chia các loài cây ngập mặn Việt Nam thành 2 loại: có biên

độ muối rộng và biên độ muối hẹp

b, Chất hữu cơ trong đất:

Chất dinh dưỡng trong đất RNM được điều khiển bởi những quá trình sinh hóakhác nhau gồm chế độ triều, sự phân huỷ và tích tụ của những chất mùn Vị trí địa lý,

độ cao, tính chất của đất, và hoạt động của vi sinh vật nói chung gây ảnh hưởng đếnlượng chất dinh dưỡng trong đất RNM

- Nitơ trong RNM là một nhân tố giới hạn cùng với phospho Sự thay đổi mạnh

mẽ nhất của chất hữu cơ cùng với sự thay đổi nitơ và phospho xảy ra ở tầng đất mặt

Trang 28

Tỉ lệ nitơ giảm nhanh theo độ sâu, đồng thời động học nitơ và phospho có quan hệ chặtchẽ với việc giữ lại chất hữu cơ

- Chế độ ngập nước có ảnh hưởng rất lớn đến động thái dinh dưỡng trong RNM

Sự thay đổi tần suất ngập theo thuỷ triều ảnh hưởng đến nồng độ photpho trong trầmtích RNM Nồng độ phospho vô cơ hoà tan trong RNM nhìn chung thấp Mối quan hệgiữa vùng ngập và nồng độ photpho trong nước khi triều thấp được thể hiện rất rõ vàliên quan mật thiết với nhau vào mùa khô Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai thông sốtrên thấp vào mùa mưa

c, Nhiệt độ không khí

Rừng ngập mặn trên thế chủ yếu phân bố ở nơi có nhiệt độ trung bình của thánglạnh nhất trong năm lớn hơn 20oC và biên độ dao động của nhiệt độ không khí theomùa trong năm không vượt quá 10oC Tuy nhiên, đối với rừng ngập mặn tại Việt Namcũng phân bố tự nhiên ở vùng ven biển Đông bắc bộ, do đặc điểm thời tiết miền bắc cótới 4 tháng lạnh, có nhiệt độ không khí trung bình trong tháng dưới 20oC và tháng lạnhnhất trong năm có nhiệt độ trung bình dao động từ 14,7- 15,8oC Chính vì thời tiếtkhông có nhiều điều kiện thuận lợi, lại có nhiều tháng lạnh trong năm vì vậy mà ở đâyngèo nàn về số loài và mức độ sinh trưởng không cao bằng vùng ven biển Nam trung

bộ Tuy nhiên chưa thể đánh giá cụ thể được mối quan hệ giữa nhiệt độ và sự sinhtrưởng của từng loài tại ven biển Đông bắc bộ [17]

d, Lượng mưa hàng năm

Vùng ven biển Đồng bằng Bắc bộ (bao gồm vùng ven biển huyện Kim Sơn, tỉnhNinh Bình) có lượng mưa trung bình tăng dần từ ven biển phía Bắc xuống phía Nam,điều này có thể giải thích là do ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đớithường gây mưa lớn ở khu vực Bắc Trung bộ đến Trung Trung bộ, do đó mà lượngmưa trung bình hàng năm lên tới 1.700 - 2.400 mm, năm mưa nhiều nhất lên đến32.83.4 mm, số ngày mưa hàng năm từ 90 - 170 ngày Mưa tập trung nhiều vào cuốimùa hạ (hơn 80%) nhất là các tháng 8 và 9 Mùa đông chỉ mưa khoảng 200 - 500 mm

Vì xuất hiện mùa khô của các tháng 12, tháng 1 trong năm dẫn đến các điều kiệnkhông thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loài cây ngập mặn, hạn chế sự phân bố tựnhiên Chính vì vậy, chủ yếu tại miền ven biển Đồng bằng Bắc bộ chủ yếu là rừngtrồng ngập mặn Vì vậy để có thể bảo vệ và phát triển rừng trồng ngập mặn nói chung

Trang 29

và rừng Bần chua nói riêng ở miền ven biển huyện Kim Sơn cần phải nắm được rõ mốiquan hệ giữa lượng mưa và sinh trưởng của loài.

e, Hoạt động vủa bão và dông

Giông, bão hoạt động vào tháng 6, xảy ra nhiều vào cuối hè, ngoài ra còn xuấthiện nhiều tới tháng 11, tập chung chủ yếu và tháng 8 Trung bình hàng năm ở vùngven biển Đồng bằng Bắc bộ có 4.2 cơn bão Bão thường có gió và sóng lớn làm chocây ngập mặn sinh trưởng kém hoặc bị đỗ gẫy Do đó ở những vùng nhiều bão thìchiều cao của cây rừng ngập mặn thường không cao mà thấp

f, Hoạt động gió mùa

Vùng ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình nằm trong vùng nhiệt đới giómùa, chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam và ĐôngNam Gió mùa Đông bắc mang theo không khí lạnh từ cực Bắc tràn về, đặc biệt là ởvùng ven biển Quảng Ninh vè vùng ven biển Đồng bằng Sông Hồng Trong một năm

có khoảng từ 20 đến 25 đợt gió mùa Đông Bắc gây ra các hiện tượng sương muối, kìmhãm sự phát triển rừng ngập mặn, dẫn đến khả năng chết hàng loạt gây suy giảm rừng

và khả năng phòng hộ ven biển.[19]

1.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.5.1 Vị trí địa lý

Hình 1.3: Vị trí khu vực nghiên cứu

Trang 30

Huyện Kim Sơn nằm ở phía Đông Nam tỉnh Ninh Bình, có diện tích đất tự nhiên

là 213,27 km2, dân số trên 180.000 người

 Phía đông giáp huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định qua sông Đáy

 Phía tây nam giáp sông Càn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá

 Phía bắc và tây bắc giáp các huyện Yên Khánh, Yên Mô

 Phía nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển gần 18 km

- Kim Sơn có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao thấp dần ra phía biển,nghiêng theo hướng Bắc - Nam và Đông - Tây, độ cao trung bình so với mực nướcbiển khoảng 0,9 - 1,2 m Diện tích đất đai của huyện Kim Sơn được chia làm hai vùng

rõ rệt, đó là vùng đồng bằng và vùng ven biển

- Kim Sơn có hệ thống sông ngòi dày đặc, có 3 sông lớn: Sông Đáy nằm phíaĐông Nam huyện, chảy vào huyện Kim Sơn bắt đầu từ xã Xuân Thiện và đổ ra biểnĐông ở cửa Đáy và sông Đáy là ranh giới giữa huyện Kim Sơn và huyện Nghĩa Hưngtỉnh Nam Định với chiều rộng 200m; sông Càn nằm phía Nam huyện Kim Sơn, từ Yên

Mô chảy vào huyện Kim Sơn bắt đầu từ xã Lai Thành chảy qua các xã Định Hoá, VănHải, Kim Mỹ, Kim Hải và đổ ra biển Đông ở cửa Càn với chiều dài 9,3km, cùng vớisông Đáy tạo nên lượng lắng đọng phù sa rất lớn cho vùng đất Kim Sơn, góp phần vàoquá trình bồi tụ lấn ra biển Đông; sông Vạc bắt đầu từ huyện Hoa Lư chảy qua cáchuyện Yên Mô, Yên Khánh chảy vào huyện Kim Sơn, bắt đầu từ xã Yên Mật (thườnggọi là sông Trì Chính) chảy vào sông Đáy, qua cửa Đài Giang hay còn gọi là Kim Đài

đổ ra biển Đông Ngoài ra, còn có các con sông rất quan trọng khác như: Sông Yêmbắt đầu chảy từ sông Vạc (Yên Mô) chảy vào sông Cà Mâu với chiều dài 4,5km; sông

Ân chảy vắt ngang qua huyện Kim Sơn, bắt đầu từ xã Xuân Thiện qua các xã ChínhTâm, Kim Định, Hùng Tiến và chảy song song với quốc lộ 10 qua thị trấn Phát Diệmđến Lai Thành gặp sông Càn ở phía Tây Đây là con sông được đào vào thời kỳ đầuthành lập huyện (1829) Với tầm nhìn chiến lược từ con sông này, nhà doanh điền sứNguyễn Công Trứ đã cho làm hệ thống các sông nhánh, bình quân 250m-400m lại cómột sông, đây cũng là ranh giới giữa xã, thôn tạo nên đồng đất Kim Sơn theo lối chữ

"tỉnh" Tổng chiều dài các con sông lớn, sông nhỏ tới hơn 100km và các con sông nàyđều chịu ảnh hưởng của thuỷ triều Với hệ thống sông ngòi dọc ngang, tạo thuận lợi vàrất quan trọng cho việc phục vụ thuỷ lợi, sản xuất và giao thông.[19]

Trang 31

1.5.2 Đặc điểm cấu trúc RMN ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình

Rừng Ngập Mặn ven biển Huyện Kim Sơn được hình thành trên vùng châu thổcủa các cửa sông Đáy, sông Càn Nơi đây và toàn bộ vùng đất phía Nam vĩ tuyến 20của Ninh Bình vinh dự được UNESCO công nhận là vùng đệm và vùng chuyển tiếpcủa khu dự trữ sinh quyển Châu thổ song Hồng với hệ thống thực vật đa dạng độc đáođiển hình của Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng với hệ thống thực vật đadạng độc đáo điển hình của rừng ngập mặn Giá trị nổi bật của khu vực được thể hiện

ở tính đa dạng sinh học cao, có các hoạt động kiến tạo địa chất diễn ra mạnh mẽ tạothành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa.[19]

Rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình thuộc khu vực II (KVII)theo sự phân bố rừng ngập mặn tại Việt Nam [12], được chính phủ Việt Nam, NhậtBản và Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Bình trồng từ năm 1995 với hai loại cây banđầu là sú và vẹt Hiện nay thì các loài cây chính của rừng là cây bần chua, cây đước,cây trang, cây mắm biển và cây bần trắng Tổng diện tích rừng Kim Sơn gần 1300 ha,chủ yếu được trồng ở những bãi bồi ven biển Với vai trò quan trọng trong việc bảo vệthiên nhiên và đa dạng sinh học, nơi đây được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinhquyển thế giới châu thổ sông Hồng Bãi ngang Kim Sơn được Tổ chức BirdLife đánhgiá là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng ở vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ, đượckiến nghị công nhận là khu Ramsar do đáp ứng các tiêu chí: tập trung nhiều kiểu đấtngập nước còn khá nguyên trạng đặc trưng cho vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ, là nơitập trung chim nước với số lượng gần 28.000 cá thể

Việc bảo tồn đa dạng sinh học vùng lõi gắn liền với việc bảo tồn rừng ngập mặn

và những bãi bồi ven biển, cửa sông Không giống như các khu bảo tồn trong nội địa,vùng lõi trong khu dự trữ sinh quyển này vẫn thường xuyên chịu sức ép của việc khaithác và đánh bắt thuỷ sản Rừng ngập mặn là nơi nuôi dưỡng sinh đẻ của các loài hảisản Như một vườn ươm cho sự sống của biển, rừng ngập mặn cung cấp nguồn lợithuỷ sản phong phú cùng với 500 loài động thực vật thuỷ sinh và cỏ biển cung cấpnhiều loài thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, cá biển, vạng, trai, sò, cátráp, rong câu chỉ vàng v.v

Từ năm 2002, khi phong trào nuôi tôm sú vùng bãi bồi phát triển mạnh, conngười đã khai phá đất ven biển, chặt phá rừng phòng hộ để làm đầm trái phép Trướcthực trạng này, các ngành chức năng đã nghiên cứu các mô hình xây dựng rừng phòng

hộ ven biển và các mô hình lâm ngư kết hợp Nổi bật là các mô hình trồng rừng ngập

Trang 32

mặn phòng hộ đê biển và trồng cây bờ bao do Viện Khoa học Lâm nghiệp ViệtNam nghiên cứu, triển khai.

Huyện Kim Sơn có 3 xã ven biển , có rừng ngập mặn là : xã Kim Hải, Kim Trung

và Kim Đông Các rừng ngập mặn tại đây chủ yếu là rừng hỗn giao của 3 loài đó là :cây bần chua, cây trang và cây sú…trong đó chỉ có xã Kim Hải có rừng trồng thuầnbần, các xã còn lại có nhưng số lượng rất ít

Rừng Ngập Mặn ven biển huyện Kim Sơn chịu nhiều tác động về mặt tự nhiêncũng như xã hội Cho đến nay các nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tàinguyên thiên nhiên thường mang tính đơn lẻ, hoặc đứng trên quan điểm xã hội hoặcđứng trên quan điểm sinh thái học

1.5.3 Đặc điểm khí hậu

- Kim Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và thường xuyênchịu ảnh hưởng của mưa bão Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1.900mm, lượngbốc hơi trung bình/năm là 22mm, lượng mưa lớn nhất 457,5mm, trung bình 270mm.Nhiệt độ trung bình/năm là 23,40C (nhiệt độ cao nhất là 41,10C, thấp nhất 2,40C) Độ

ẩm không khí trung bình là 86% (độ ẩm cao nhất là 91%, thấp nhất là 61%) Tốc độgió lớn nhất là 4m/s, trung bình là 3,5m/s Bão thường đổ bộ vào Kim Sơn từ tháng 6đến tháng 9 hàng năm, bão mạnh nhất cấp 11 - 12

- Vùng biển Kim Sơn chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều không đều, biên độtrung bình 1,4m, lớn nhất có thể đạt 2m - 2,5m Trong tháng có 2 kỳ nước lớn, mỗi kỳ

14 ngày với biên độ 1,5m - 2,2m Trong thời kỳ nước cường đỉnh nhật triều trội hơn,mỗi ngày xuất hiện một đỉnh và một chân triều, tuy nhiên thời gian lên xuống và thờiđiểm xuất hiện đỉnh và chân triều không ổn định.[19]

1.5.4 Kinh tế - Xã Hội

- Về Phát Triển Kinh Tế

Trong sản xuất nông nghiệp đã hình thành các vùng lúa cao sản, vùng lúa chấtlượng cao, vùng lúa xen thuỷ sản, vùng lúa tái sinh, cây vụ đông, vùng nuôi trồng thuỷsản, các trang trại Tổng diện tích gieo trồng 2 vụ lúa toàn huyện là 16.394 ha Làhuyện luôn dẫn đầu của tỉnh về năng suất lúa Năm 2018, năng suất lúa đạt 61,75tạ/ha/vụ, tăng 15,75 tạ so với năm 1975 (46 tạ/ha), tăng 8,8 tạ so với năm 1987) (52,95tạ/ha) - năm đầu tiên thực hiện công cuộc đổi mới Tổng sản lượng lúa năm 2018 đạt101.196 tấn; sản lượng lương thực có hạt đạt 103.952 tấn

Trang 33

Đặc biệt từ năm 2016, thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giátrị gia tăng và phát triển bền vững theo Nghị quyết số 02-NQ/HU, ngày 11/8/2016 củaBan Chấp hành Đảng bộ huyện, Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 24/10/2016 của BCH

Đảng bộ tỉnh về “Phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng

dụng công nghệ cao, hình thức sản xuất tiên tiến, bền vững giai đoạn 2016- 2020, định hướng đến năm 2030” đã nâng giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp từ

57,17 triệu đồng năm 2008, lên 160 triệu đồng năm 2018

Là huyện duy nhất của tỉnh tiếp giáp với biển, Đảng bộ huyện xác định phát triểnkinh tế biển là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế chung củahuyện Hiện nay, nuôi trồng thủy sản bước đầu trở thành ngành sản xuất hàng hóa tập

trung, đã xây dựng được thương hiệu “Ngao Kim Sơn” Năm 2018, diện tích nuôi

trồng thủy sản là 4.116,6 ha, tổng sản lượng thuỷ, hải sản đạt 26.005 tấn tăng 16.134tấn so với năm 2010 (gấp 40 lần) so với năm 1993

Trong 3 năm gần đây, mô hình ươm nuôi, khai thác ngao khu vực Cồn nổi kháphát triển, trung bình 1 ha cho doanh thu trên 300 triệu đồng/năm Ngày 24/4/2015,UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 378/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế vùng ven biển Kim Sơn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

Từ đây sẽ mở ra hướng mới để kinh tế biển Kim Sơn phát triển bền vững, tương xứngvới tiềm năng, thế mạnh sẵn có của địa phương.[19]

- Công Nghiệp – Tiểu Thủ Công Nghiệp

Ngành Công nghiệp - xây dựng đạt mức tăng trưởng bình quân gần 10%/ năm.Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển Nghề thủ công có tínhtruyền thống, tạo ra những sản phẩm đặc sắc ở Kim Sơn là hàng mỹ nghệ cói Cácngành dịch vụ tiếp tục có bước phát triển Huyện đã phê duyệt quy hoạch khu trungtâm thương mại và kêu gọi 5 doanh nghiệp đầu tư tại khu Trung tâm hành chính mớicủa huyện.[19]

- Hệ Thống Giao Thông

+ Trên 90% đường giao thông nông thôn đã được cứng hóa; các tuyến đường dotỉnh làm chủ đầu tư cơ bản đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như đường ĐT481,ĐT480, đường tránh QL10, đường phía Nam sông Ân Hiện nay, một số dự án lớnđang được triển khai như: Tuyến đường bộ ven biển, tuyến đường Bái Đính - KimSơn

Trang 34

+ Đường Quốc lộ 10 là tuyến đường trục chính, chạy suốt từ thành phố NinhBình qua huyện Yên Khánh đến Kim Sơn, bắt đầu từ xã Ân Hoà đến xã Lai Thành vàhuyện Nga Sơn (Thanh Hoá) Đường 480 từ Lai Thành qua Yên Mô đi Tam Điệp;đường 481 từ Yên Lộc đi đê Bình Minh III; đường 480D từ Yên Mô qua Tân Thành điĐịnh Hoá; đường 480E từ Yên Khánh vào xã Yên Mật, đường Quy Hậu đi đò Mười.Ngoài ra còn các đường do huyện quản lý.[19]

- Văn Hóa - Y Tế - Giáo Dục

+ Các hoạt động văn hoá, thông tin, truyền thanh, thể dục thể thao phát triểnmạnh mẽ, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân Toàn huyện đã có 22nhà văn hóa xã, 276/298 nhà văn hóa thôn, xóm, khối, phố

+ Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm, cơ sở vậtchất, trang thiết bị y tế được tăng cường, chủ động kiểm tra, giám sát phòng ngừa dịchbệnh, vệ sinh môi trường nên trong những năm vừa qua không xảy ra dịch bệnh lớntrên địa bàn 27/27 xã thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế mức độ 1, trong đó 7/27 xã thịtrấn đạt chuẩn y tế mức độ 2, giai đoạn 2011-2020

+ Phong trào hiến tặng giác mạc được đông đảo nhân dân, nhất là đồng bào Cônggiáo tham gia Hết năm 2018, Kim Sơn có 10.946 người đăng ký hiến tặng giác mạcsau khi qua đời, đã có 287 người hiến giác mạc, được Nhà nước, Chính phủ, Bộ Y tếghi nhận và biểu dương đơn vị dẫn đầu toàn quốc

+ Chất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học được nâng lên TrườngTHPT Kim Sơn A và THPT Kim Sơn B được đánh giá và xếp thứ hạng cao trong cáctrường THPT về số lượng học sinh thi đỗ đại học năm 2017 trên toàn quốc Toànhuyện có 75/83 trường học đạt chuẩn Quốc gia, gồm: Mầm non 23 trường (trong đó có

02 trường đạt chuẩn mức độ 2: Thượng Kiệm và Như Hòa), Tiểu học 29 trường (trong

đó có 15 trường đạt chuẩn mức độ 2) và 23 trường THCS

Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình và trẻ em từng bước được xã hội hoá, tỷ lệsinh bình quân hàng năm giảm 0,25‰, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảmxuống dưới 12,5% Đời sống của người dân được cải thiện và từng bước nâng cao Cácchính sách xã hội được quan tâm đúng mức, tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 còn 6,38%, hộcận nghèo còn 8,26%, hộ có mức sống trung bình 21,63%; thu nhập bình quân đầungười năm 2018 đạt 35 triệu đồng.[19]

Trang 35

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Độ mặn của đất rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.+ Đặc điểm sinh trưởng của cây Bần Chua trồng tại xã Kim Hải, xã Kim Đông,

xã Kim Trung - Huyện Kim Sơn, Tỉnh Ninh Bình

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Vì huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình chỉ có 3 xã ven

biển và có rừng ngập mặn nên nghiên cứu được tiến hành tại xã Kim Hải, Kim Trung,

Kim Đông - Huyện Kim Sơn, Tỉnh Ninh Bình

Hình 2.1: Vị trí các xã thực hiện nghiên cứu

Trang 36

2.1.3 Thời gian thực hiện

Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 14/05/2020 đến 14/06/2020

- Thời gian thực địa: 14/05/2020 và 15/05/2020

- Thời gian hoàn thành: 16/05/2020 đến 14/06/2020

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp kế thừa, thu thập dữ liệu thứ cấp

- Thu thập tài liệu thứ cấp: thu thập các tài liệu về độ mặn, mức sinh trưởng tạirừng Trang trồng ven biển huyện Kim Sơn và các tài liệu liên quan khác

- Thu thập tài liệu sơ cấp: việc thu thập tài liệu sơ cấp có thể thông qua cácphương pháp sau:

+ Thu thập tài liệu, nghiên cứu đã được thực hiện trước có liên quan đến phươngpháp và nội dung nghiên cứu của đề tài

+ Phân tích và lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung nghiên cứu

+ Tài liệu và số liệu thu thập được thống kê, phân tích, xử lý để phục vụ cho cácmục đích nghiên cứu, thảo luận và so sánh với kết quả nghiên cứu của đề tài.[9]

2.2.2 Phương pháp xác định mật độ, chiều cao và đường kính thân cây

a) Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thiết lập một tuyến nghiên cứu vuông góc với đường bờ đê biển, trên mỗi tuyến

bố trí 3 ô tiêu chuẩn, mỗi ô có diện tích 10m*10m= 100 m2 (Nguyễn Thị Hồng Hạnh,2009) , khoảng cách giữa các tuyến khoảng 200- 300m Tổng số tuyến điều tra là 3,tổng số ô tiêu chuẩn là 9 [8]

Các vị trí tọa độ của các ô tiêu chuẩn được định vị bằng GPS cầm tay Các tuyến

và ô tiêu chuẩn nghiên cứu được thiết lập theo phương pháp của Phan Nguyên Hồng ,nhằm thu thập số liệu phản ánh tương đối đầy đủ đặc điểm cấu trúc, đa dạng, thànhphần loài của TTVNM tại các địa điểm nghiên cứu với các độ ngập triều cao, thấp vàtrung bình

Ngày đăng: 28/10/2020, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w