1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

The changes in the economy, culture and society of the inhabitant in cam dien commune, cam giang district, hai duong province under the impact

200 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 3,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIVIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN ---BÙI LAN CHI NHỮNG THAY ĐỔI VỀ KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI CỦA DÂN CƯ XÃ CẨM ĐIỀN, HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG DƯỚI T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

-BÙI LAN CHI

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI

CỦA DÂN CƯ XÃ CẨM ĐIỀN, HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI MỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

-BÙI LAN CHI

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI

CỦA DÂN CƯ XÃ CẨM ĐIỀN, HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI MỤC

ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT

ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

Mã số: 603160

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trương Quang Hải

Hà Nội-2012

Trang 3

Lời cam đoanTôi xin cam đoan bản luận văn thạc sĩ: “Những thay đổi về kinh tế, văn hóa

và xã hội của dân cư xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương dưới tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển các khu công nghiệp” là công trình nghiên cứu thực sự của tôi, do tôi viết và chƣa công bố Tôi

xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2012

Học viên

Bùi Lan Chi

3

Trang 4

Lời cảm ơn

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Việt Nam học vàKhoa học phát triển, các thầy cô tham gia giảng dạy chương trình cao học Việt Namhọc, các anh chị phòng Đào tạo, phòng Khoa học, phòng Hành chính đã tận tìnhgiúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành chương trình cao học

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sự kính trọng sâu sắc nhất đếnGS.TS Trương Quang Hải Thầy đã dành nhiều thời gian để hướng dẫn tận tình, chỉbảo những vấn đề mấu chốt và đưa ra nhiều lời nhận xét, góp ý sâu sắc trong suốtthời gian thực hiện đề tài này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bác, các chú, các anh chị làm việctại Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Giàng Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn tới bác Lê HuyKiên - Chủ tịch xã Cẩm Điền, anh Lê Huy Đoàn – Phòng Địa Chính, cô Lê Thị Lan– Văn phòng Ủy ban đã nhiệt tình hướng dẫn, cung cấp tài liệu về xã và các hộ giađình Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các bác Nguyễn Huy Nghĩa – trưởng thônHoàng Xá, bác Phạm Văn Lừng – trưởng thôn Hòa Tô, bác Nguyễn Huy Kển –trưởng thôn Mậu Tài đã cùng tôi đi phỏng vấn từng hộ gia đình Tôi xin cảm ơn các

hộ gia đình ở ba thôn Hoàng Xá, Hòa Tô và Mậu Tài đã nhiệt tình giúp đỡ và cungcấp thông tin cho tôi trong suốt thời gian thực địa tại xã

Tôi xin cảm ơn bạn Nguyễn Tiến Dũng – Cán bộ Sở Tài nguyên và Môitrường đã bỏ thời gian và công sức giúp tôi tìm kiếm tài liệu Tôi cũng xin cảm ơnanh Bùi Quang Hậu – trưởng Ban quản lý Khu công nghiệp Phúc Điền đã nhiệt tìnhhướng dẫn, cung cấp thông tin, số liệu về các khu công nghiệp

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình của tôi đãluôn động viên, chăm sóc, giúp đỡ về mặt vật chất cũng như tinh thần cho tôi trong

cả quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2012

Học viên

Bùi Lan Chi

Trang 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH

CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC

1.1 Cơ sở lý luận về chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho xây dựng

1.1.1 Khái niệm khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ

1.1.2 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình xây dựng

1.2 Thực trạng quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát

triển các khu công nghiệp ở xã Cẩm Điền giai đoạn 2001-2012

1.2.1.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên,

1.2.2 Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ cho các

1

Trang 6

1.2.2.1 Các đợt thu hồi đất 33

Chương 2: NHỮNG THAY ĐỔI VỀ KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ

HỘI Ở XÃ CẨM ĐIỀN DO CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG

2.1 Sự chuyển dịch về diện tích, cơ cấu các loại đất 40

2.8 Sự thay đổi về văn hóa, lối sống và các mối quan hệ xã hội 782.8.1 Thay đổi trong mối quan hệ trong gia đình và cộng đồng dân cư 78

2.8.3 Thay đổi trong thói quen sinh hoạt hàng ngày 84

Trang 7

2.8.6 Sự chuyển biến về an ninh trật tự tại địa phương 86

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ NÂNG CAO

ĐỜI SỐNG HỘ NÔNG DÂN XÃ CẨM ĐIỀN SAU CHUYỂN ĐỔI

MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ PHỤC VỤ XÂY DỰNG CÁC KHU

3.1.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong sinh kế của hộ

dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng các KCN 90

3.1.3 Cảm nhận và mong muốn của các hộ điều tra về cuộc sống

3.1.3.2 Mức độ hài lòng của các hộ điều tra về việc chuyển

3.1.3.3 Mong muốn của các hộ điều tra sau chuyển đổi mục

3.2 Các biện pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống hộ nông dân

Trang 8

3.2.3.2 Về ngành sản xuất nông nghiệp 114

3.2.4.1 Đối với các hộ gia đình có thu nhập giảm so với trước

3.2.4.2 Đối với những lao động từ 35 tuổi trở lên, người ngoài

Trang 9

Tỷ lệTrước thu hồiThu hồi đấtĐơn vịNhà xuất bản

5

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sử dụng đất đai ở xã Cẩm Điền giai đoạn từ 32

2002 đến 2012Bảng 1.2 Thống kê diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn xã 33

Cẩm Điền giai đoạn 2003 – 2008Bảng 1.3 Thống kê số lƣợt hộ gia đình Cẩm Điền bị thu hồi đất năm 35

2003, 2005 và 2008Bảng 1.4 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở xã Cẩm Điền đã bàn giao 37

cho các khu công nghiệpBảng 2.1 Các mô hình sinh kế của hộ điều tra năm 2012 52Bảng 2.2 Mục đích sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra 56Bảng 2.3 Biến đổi thu nhập bình quân/tháng/hộ ở các hộ điều tra chia 65

theo các mứcBảng 2.4 Mức chuẩn hộ nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015 66Bảng 2.5 Tình hình vay vốn của các hộ điều tra sau thu hồi đất nông nghiệp 69Bảng 2.6 Thay đổi tài sản trong gia đình ở các hộ điều tra từ 2002 đến 2012 74Bảng 2.7 Nhu cầu giải trí của các hộ gia đình đƣợc điều tra 2012 83Bảng 2.8 Thống kê vụ việc an ninh trật tự tại xã Cẩm Điền từ 2004 – 2011 87Bảng 3.1 Phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) ở 93

các hộ điều tra sau chuyển đổi mục đích sử dụng đấtBảng 3.2 Thống kê độ tuổi của chủ hộ khi bị thu hồi đất sản xuất nông 94

nghiệpBảng 3.3 Trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của công nhân 97

làm việc trong các KCN ở Cẩm Điền (thuộc các hộ điều tra)Bảng 3.4 Thống kê số lƣợng lao động đƣợc đào tạo lại và không đƣợc đào 99

tạo lại tại các doanh nghiệp trong các KCN ở các hộ điều traBảng 3.5 Cảm nhận về cuộc sống sau khi bị thu hồi đất của các hộ điều tra 102Bảng 3.6 Mức độ hài lòng của các hộ điều tra về quá trình thu hồi đất 103Bảng 3.7 Mong muốn của các hộ điều tra sau chuyển đổi mục đích sử 108

dụng đất

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ vị trí xã Cẩm Điền trong huyện Cẩm Giàng 28Hình 1.2 Bản đồ quy hoạch sử dụng đất xã Cẩm Điền 2010 30Hình 1.3 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở xã Cẩm Điền 34

tính theo cơ cấu các thôn năm 2003

Hình 1.4 Cơ cấu diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại Cẩm Điền đã 38

bàn giao cho các khu công nghiệp

Hình 2.1 Cơ cấu sử dụng đất ở xã Cẩm Điền giai đoạn 2002-2011 41Hình 2.2 Biến động bình quân diện tích đất nông nghiệp/người qua 42

các năm 2002, 2003 và 2008 ở Cẩm Điền

Hình 2.3 Biến đổi diện tích đất nông nghiệp ở các hộ điều tra (2002- 42

2012)

Hình 2.4 Thay đổi bình quân diện tích đất sản xuất nông 43

nghiệp/hộ/lao động/nhân khẩu ở các hộ điều tra

Hình 2.5 Biến động cơ cấu ngành nghề của các hộ điều tra giai đoạn 45

2002 – 2012

Hình 2.6 Tình hình biến động việc làm ở các hộ điều tra trước và 46

sau thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho các KCN

Hình 2.7 Biến đổi thu nhập bình quân ở các hộ điều tra trước và sau 60

khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất

Hình 2.8 Biến động thu nhập của các hộ điều tra sau chuyển đổi 64

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quá trình CNH-HĐH đất nước đã kéo theo sự phát triển không ngừng củacác KCN trong cả nước Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp để xâydựng và phát triển các KCN đang ngày càng tác động sâu sắc đến nông thôn, nôngnghiệp và nông dân Hiện nay, Việt Nam có khoảng 70,4% dân số là nông dân [86]

Vì vậy, song song với việc đẩy mạnh CNH-HĐH, vấn đề phát triển nông thôn ởnước ta cũng luôn được các cấp, các ngành quan tâm

Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Nhà nước, quá trình CNH-HĐH

ở nước ta được thúc đẩy nhanh chóng Quá trình này đã kéo theo sự phát triển mạnh

mẽ của hệ thống các KCN, KCX, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao Tuy nhiên, để

có được mạng lưới của hệ thống các KCN, KCX, cụm công nghiệp và khu công nghệcao trên cả nước như hiện nay, chúng ta đã phải thực hiện quá trình chuyển đổi mụcđích sử dụng đất “Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại, hơn 10 năm qua, cả nước đã dành khoảng 50.000ha đấttrồng lúa do chuyển đổi mục đích sử dụng sang làm các khu công nghiệp, khu đô thị,

xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi” [71] Việc chuyển đổi mục đích sử dụng

đất để xây dựng và phát triển các KCN đang tác động trực tiếp đến sự phát triển củanông nghiệp, bộ mặt nông thôn và chất lượng cuộc sống của nông dân: gia tăng tỷ lệngười thất nghiệp và thiếu việc làm, suy giảm chất lượng cuộc sống ở những hộ bị thuhồi đất, mất ổn định về an ninh trật tự xã hội,…

Cùng với xu hướng chung của cả nước, từ năm 2003 đến nay, xã Cẩm Điền,huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đã có 3 đợt thu hồi đất với hơn 170 ha diện tíchđất nông nghiệp được chuyển đổi sang mục đích xây dựng các KCN Phúc Điền,Cẩm Điền – Lương Điền Sau những đợt thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng cácKCN và một số công trình khác, hoạt động nông nghiệp, bộ mặt nông thôn và cuộcsống của người nông dân Cẩm Điền đã và đang có nhiều đổi thay Sự phát triển củacác KCN trên địa bàn xã cùng những yếu tố cơ bản như: cơ sở hạ tầng, dân số, môitrường giao tiếp được mở rộng… đã làm thay đổi về việc làm, thu nhập, đời sống,

Trang 13

cảnh quan làng xã và nhiều yếu tố khác Theo đó, những giá trị văn hóa truyềnthống đang đứng trước những thách thức lớn của quá trình chuyển đổi mục đích sửdụng đất để phục vụ các KCN.

Việc nghiên cứu những thay đổi của nông nghiệp, nông dân và nông thônCẩm Điền trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp như hiệnnay là một việc làm cần thiết để rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trìnhchuyển đổi mục đích sử dụng đất, phát triển công nghiệp, nông nghiệp ở địaphương Từ đó, tìm ra những hướng đi thích hợp cho từng nhóm hộ nông dân trong

xã Xuất phát từ tình hình thực tiễn tại xã Cẩm Điền, chúng tôi mạnh dạn chọn đề

tài nghiên cứu: “Những thay đổi về kinh tế, văn hóa và xã hội của dân cư xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương dưới tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển các khu công nghiệp”.

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề chuyển đổimục đích sử dụng đất để phục vụ các KCN và những tác động của quá trình này đếnđời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của nhân dân các địa phương có đất bị thu hồi

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất

ở xã Cẩm Điền, luận văn góp phần giúp các nhà quản lý và các doanh nghiệp thấyđược những tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất Từ đó, có nhữnggiải pháp và những hỗ trợ thích hợp nhằm tháo gỡ khó khăn cho nông dân

Đề tài sẽ góp phần giúp đỡ các cấp chính quyền và các hộ nông dân có đất bịthu hồi tìm được những giải pháp cơ bản nhằm ổn định và nâng cao đời sống saukhi chuyển đổi mục đích sử dụng đất

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3.1 Phạm vi cả nước

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về đời sống của nông dân sau khi

bị thu hồi đất là đề tài được nhiều cơ quan, các nhà nghiên cứu quan tâm

Năm 2007, tác giả Lê Du Phong có cuốn “Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ

9

Trang 14

tầng kinh tế - xã hội các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia” (NXB

Chính trị quốc gia) Nội dung chính của cuốn sách trình bày những vấn đề lý luận,thực tiễn và thực trạng về thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi.Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra quan điểm và các giải pháp để đảm bảo cho việclàm, thu nhập và đời sống của người có đất bị thu hồi

Năm 2008, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Vụ lao động – việc làm

xuất bản cuốn “Việc làm cho thanh niên ở khu vực chuyển đổi mục đích sử đụng đất nông nghiệp và nhu cầu tìm việc làm của thanh niên nông thôn ở khu công nghiệp tại Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Phòng” (NXB Lao động – Xã hội).

Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc làm của thanh niên ở khu vực chuyển đổi mụcđích sử dụng đất nông nghiệp và nhu cầu tìm việc làm của thanh niên nông thôn ởKCN, các tác giả đã đề xuất những giải pháp về vấn đề việc làm của thanh niên ởkhu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và nhu cầu tìm việc làm củathanh niên nông thôn ở KCN tại 4 tỉnh và thành phố: Hải Dương, Bắc Ninh, VĩnhPhúc và Hải Phòng Ngoài ra, các tác giả còn trình bày các văn bản pháp luật liênquan đến vấn đề việc làm cho thanh niên ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụngđất nông nghiệp và hỗ trợ thanh niên nông thôn tìm việc làm ở KCN Nội dung cuốnsách được trình bày bằng 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Anh

Năm 2009, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trường Cán bộ Phụ nữ Trung

ương cho xuất bản cuốn “Nhu cầu của phụ nữ tại địa bàn chuyển đổi mục đích sử dụng đất (nghiên cứu trường hợp 4 xã của Cẩm Giàng, Hải Dương và Đông Anh,

Hà Nội)” (NXB Phụ nữ) Nội dung chính của cuốn sách viết về thực trạng chuyển

đổi mục đích sử dụng đất tại các địa bàn nghiên cứu Trên cơ sở đó, các tác giả tìmhiểu những tác động của chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến một số vấn đề kinh

tế xã hội của các địa phương, sinh kế của phụ nữ trước và sau chuyển đổi mục đích

sử dụng đất và nhu cầu của phụ nữ tại địa bàn chuyển đổi mục đích sử dụng đất

Để nghiên cứu về tâm lý người nông dân bị thu hồi đất làm KCN, tác giả

Lưu Song Hà (chủ biên) đã viết cuốn sách “Điều tra điểm tâm lý nông dân bị thu hồi đất làm khu công nghiệp” do NXB Từ điển Bách Khoa xuất bản năm 2009 Tác

Trang 15

giả đã hướng tới làm rõ mặt lý luận và thực tiễn những thay đổi trong tâm lý củangười nông dân sau khi bị thu hồi đất để xây dựng các KCN tại 3 tỉnh: Hà Tây, HảiDương và Hưng Yên Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, tác giả đề ra kiến nghị giúpcác doanh nghiệp, các nhà quản lý địa phương giải quyết những vấn đề tâm lý nảysinh từ phía người nông dân do việc thu hồi đất và tạo điều kiện để họ thích ứng vớiđiều kiện mới.

TS Đỗ Đức Quân (chủ biên) đã trình bày những vấn đề lý luận về phát triển

bền vững nông thôn trong quá trình xây dựng và phát triển KCN trong cuốn “Một

số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp (Qua khảo sát các tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình)” (NXB Chính trị quốc gia, năm 2010) Phần được tập trung nghiên cứu là những thực trạng phát triển bền vững nông thôn Đồng bằng

Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển KCN Từ đó, các tác giả đã đề raphương hướng và một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn đồng bằngBắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN

Trong cuốn sách “Bàn về chính sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)” (NXB

Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2011), TS Nguyễn Văn Nhường (chủ biên) vàGS.TS Nguyễn Thành Độ đã trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về chínhsách an sinh xã hội đối với nông dân trong diện bị thu hồi đất để phát triển cácKCN, đánh giá thực trạng chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân BắcNinh trong diện thu hồi đất để phát triển các KCN Từ đó, các tác giả đã xây dựng

và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân trong diện thu hồiđất để phát triển các KCN ở Bắc Ninh

Tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở khu vựcchuyển đổi mục đích sử dụng đất, Viện Nghiên cứu khoa học dạy nghề đã xuất bản

cuốn “Mô hình dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất” (năm 2011, NXB Lao động – Xã hội) Cuốn sách được biên

soạn dựa trên cơ sở các tài liệu nghiên cứu, các tài liệu thực tế trong các đề tài, đề

11

Trang 16

án của Viện và của các tác giả, các cơ quan trong và ngoài nước Nội dung cuốnsách trình bày những vấn đề chung về quá trình đô thị hóa và những hệ lụy với nôngthôn Việt Nam nói chung và những người dân ở những khu vực bị mất đất dochuyển đổi mục đích sử dụng đất nói riêng; nhu cầu học nghề của người lao động

và những mô hình dạy nghề, giải quyết việc làm cho các nhóm lao động nông thônkhác nhau

Năm 2012, cuốn sách “Tác động xã hội vùng của các khu công nghiệp ở Việt Nam” (NXB Khoa học Xã hội) do tác giả Nguyễn Bình Giang chủ biên đã đi sâu

tìm hiểu những tác động của các KCN đến 8 vấn đề lớn: việc làm và nghề nghiệp;thu nhập và mức sống; mặt nhân khẩu học; cơ hội tiêu dùng và các dịch vụ côngcộng; đô thị hóa và cơ sở hạ tầng; trật tự an toàn xã hôị; môi trường và sức khoẻ;văn hóa và giá trị truyền thống

Ngoài những công trình lớn, những cuốn sách đã được xuất bản như đã nêutrên, vấn đề tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để xây dựng cácKCN cũng được nhiều tác giả quan tâm làm đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn,luận án Năm 2004, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương đã chủ

trì thực hiện đề tài “Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động sau khi bàn giao đất cho các cụm công nghiệp, khu công nghiệp và các khu đô thị mới trên địa bàn tỉnh Hải Dương” Đề tài được Phó giám đốc Sở Lao động – Thương

binh và Xã hội tỉnh Hải Dương – Nguyễn Văn Hưng trực tiếp làm chủ nhiệm Đềtài đã đánh giá thực trạng dân số - lao động - việc làm của các hộ sau khi bàn giaođất cho các cụm công nghiệp, KCN và khu đô thị mới, đánh giá nhu cầu đào tạonghề, giải quyết việc làm của nhân dân, năng lực đào tạo nghề của các cơ sở đào tạonghề, của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Từ đó, đề xuất các giải pháp để đàotạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động có đất bàn giao

Trong luận văn thạc sĩ kinh tế trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội “Định

hướng và các giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp sau khi bàn giao đất cho khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương” năm 2007, Nguyễn

Thị Thu Hương đã nghiên cứu về tình hình phát triển các KCN, thực trạng lao động,

Trang 17

việc làm của các gia đình trước và sau khi bàn giao đất cho các KCN trên địa bàntỉnh Hải Dương.

Luận văn tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp I Hà Nội “Nghiên cứu sinh kế của

hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệtp tại

xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình” năm 2009, Phí Thị Hương đã

tập trung trình bày thực trạng sinh kế của hộ nông dân xã Đông Mỹ sau khi bị thuhồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng KCN

Luận văn thạc sĩ kinh tế Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học kinh tế và

quản trị kinh doanh “Ảnh hưởng của các khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” năm 2009, Lê Thị Phương đã chỉ ra

những ảnh hưởng của các KCN đến đời sống hộ nông dân ở huyện Phổ Yên, tỉnhThái Nguyên trên các khía cạnh: đất đai, ngành nghề, lao động, việc làm, thu nhập,điều kiện sống, môi trường và các vấn đề xã hội Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra đánggiá về những ảnh hưởng của KCN đến đời sống hộ nông dân

Nhìn chung, nghiên cứu về tác động của việc thu hồi đất để xây dựng cácKCN đến đời sống người nông dân đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Hầuhết, các nghiên cứu đều đi sâu tìm hiểu sự thay đổi về thu nhập, việc làm, môitrường sống của người dân trước và sau khi bị thu hồi đất Các nghiên cứu về tácđộng của việc thu hồi đất để xây dựng KCN đến đời sống của người dân một cách

có hệ thống và toàn diện cả về mặt văn hóa, tinh thần vẫn chưa có nhiều Do đó, vìđặc điểm riêng của mỗi địa phương nên vẫn cần có những nghiên cứu sâu hơn ởtừng thôn, từng xã để từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể, phù hợp với đặc điểmriêng của địa phương đó

3.2 Phạm vi tỉnh Hải Dương

Trong những năm qua, Hải Dương là tỉnh có tốc độ khá nhanh trong việc thuhồi đất nông nghiệp để xây dựng các KCN Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu bắt đầuquan tâm, chú ý nghiên cứu những tác động của KCN và việc chuyển đổi mục đích

sử dụng đất đến đời sống của người dân Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về

vấn đề này ở Hải Dương có thể kể đến như: Việc làm cho thanh niên ở khu

13

Trang 18

vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và nhu cầu tìm việc làm của thanh niên nông thôn ở khu công nghiệp tại Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Phòng của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Vụ Lao động – Việc làm, NXB Lao động – Xã Hội xuất bản năm 2008; Nhu cầu của phụ nữ tại địa bàn chuyển đổi mục đích sử dụng đất (Nghiên cứu trường hợp 4 xã của Cẩm Giàng, Hải Dương và Đông Anh, Hà Nội) của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, trường cán bộ phụ nữ trung ương, NXB Phụ nữ xuất bản năm 2009; Luận văn thạc sĩ Định hướng

và các giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp sau khi bàn giao đất cho khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương của Nguyễn Thị Thu

Hương, trường Đại học Nông nghiệp 1 năm 2007, Đề tài nghiên cứu khoa học của

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương năm 2004 Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động sau khi bàn giao đất cho các cụm công nghiệp, khu công nghiệp và các khu đô thị mới trên địa bàn tỉnh Hải Dương do Nguyễn Văn

Hưng – Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương làm chủnhiệm đề tài

Nhìn chung, những nghiên cứu trên mới chỉ đi sâu tìm hiểu những biến đổi

về mặt kinh tế, thu nhập, việc làm của các hộ nông dân trước và sau khi bị thu hồiđất Những nghiên cứu biến đổi về xã hội – nhân văn như: văn hóa, lối sống, tôngiáo, tín ngưỡng,… vẫn chưa được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Vì vậy,nghiên cứu tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để xây dựng cácKCN đến các mặt: kinh tế, văn hóa, đời sống tinh thần… là một việc làm hết sứccần thiết để có được cái nhìn tổng quan về những tác động của việc chuyển đổi mụcđích sử dụng đất để xây dựng các KCN đến người nông dân

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

4 1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá tác động kinh tế - xã hội của quá trình chuyển đổi mụcđích sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển các KCN tại xã Cẩm Điền, huyệnCẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, đề xuất những giải pháp để phát huy mặt tích cực vàhạn chế mặt tiêu cực của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nâng cao hiệuquả hoạt động nông nghiệp, nâng cao đời sống của nông dân

Trang 19

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu các vấn đề về CNH, KCN, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và sinh kế của người dân

- Thu thập tài liệu, thông tin, dữ liệu thống kê đánh giá quá trình phát triểncác KCN, tình hình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở xã Cẩm Điền, huyện CẩmGiàng, tỉnh Hải Dương

- Phân tích, đánh giá những chuyển biến trong hoạt động sản xuất nôngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, KDDV, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần,… dưới tácđộng của quá trình phát triển các KCN ở xã Cẩm Điền

- Tìm hiểu, phân tích thực trạng sinh kế của người dân xã Cẩm Điền sau khi

bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả về kinh tế - xã hội ở địa phương trong quá trình chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Người viết đã tiến hành đi khảo sát thực tiễn vấn đề chuyển đổi mục đích sửdụng đất, vấn đề lao động, việc làm, đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần củangười dân xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương sau khi chuyển đổimục đích sử dụng đất

Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và kinh phí nên người viết chỉ có thểtiến hành nghiên cứu sâu 300 hộ gia đình trong tổng số 3341 hộ bị thu hồi đất.Trong đó, số hộ có diện tích đất canh tác bị thu hồi dưới 50%, từ 51 đến 70% vàtrên 70% tổng diện tích của hộ tương ứng là 1745 hộ, 896 hộ và 700 hộ

Trong 300 hộ gia đình được tiến hành nghiên cứu, người viết đã chia thành

3 nhóm hộ khác nhau về mức độ thu hồi đất nông nghiệp

Nhóm 1: 156 hộ bị thu hồi dưới 50% diện tích đất canh tác

Nhóm 2: 80 hộ bị thu hồi từ 51 đến 70% diện tích đất canh tác

Nhóm 3: 64 hộ bị thu hồi từ 71 đến 100% diện tích đất canh tác

15

Trang 20

Số lượng hộ được chọn mang tính chất đại diện vì nó phù hợp với tỷ lệ các

hộ bị thu hồi đất trên thực tế

cơ cấu các loại đất, việc làm và thu nhập, cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, chất lượngcuộc sống, lối sống và quan hệ xã hội Từ đó, đề tài đưa ra những giải pháp cơ bảnnhằm ổn định và nâng cao đời sống của các hộ nông dân sau khi chuyển đổi mụcđích sử dụng đất

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu tổng hợp và liên ngành

Nghiên cứu về những thay đổi về kinh tế, văn hóa và xã hội của dân cư xãCẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương dưới tác động của quá trình chuyểnđổi mục đích sử dụng đất để phát triển các KCN là một vấn đề phức tạp Đề tài đòihỏi phải tổng hợp kết quả nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, vănhóa, lịch sử, tâm lý,… Vì vậy để có được kết quả nghiên cứu một cách toàn diện vàsâu sắc, người viết phải vận dụng tổng hợp những phương pháp nghiên cứu của cácchuyên ngành khác nhau:

- Kết hợp phương pháp nghiên cứu của các ngành địa lý, sinh thái, địa chất đểtìm hiểu và đánh giá các điều kiện tự nhiên của địa bàn nghiên cứu Kết hợp phương phápnghiên cứu của các ngành lịch sử, dân tộc học, văn hóa học, kinh tế học để tìm ra đặc điểmnguồn gốc, kết cấu dân cư, cơ cấu nền kinh tế, chuyển biến nghề nghiệp, thu nhập, lao động,việc làm, mối quan hệ trong cộng đồng, chuyển biến về lối sống và văn hóa… Kết hợpphương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học như: tâm lý học, xã hội học để tìm ranhững tác động của quá trình chuyển đổi mục đích sử

Trang 21

dụng đất đến tâm lý cộng đồng và sự tác động ngược trở lại của tâm lý đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

- Kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu lịch đại với nghiên cứu đồng đại: sựkết hợp các phương pháp nghiên cứu lịch đại của các chuyên ngành dân tộc học, nhânhọc, lịch sử… với các phương pháp nghiên cứu đồng đại của các chuyên ngành xã hộihọc, tâm lý học… cho phép tác giả lý giải được những sự biến đổi của các nhóm đốitượng nghiên cứu

- Kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính:đưa ra các mẫu bảng hỏi và câu hỏi phỏng vấn sâu để lấy kết quả thống kê định lượng Trên

cơ sở đó, tác giả kết hợp với những tài liệu mang tính chất định tính

liên quan đến vấn đề nghiên cứu và quan sát thực tế để từ đó có những nhận địnhchính xác về các nhóm đối tượng được nghiên cứu

6.2 Phương pháp hồi cứu số liệu

Các số liệu được thu thập từ sách, báo, tạp chí, các văn kiện Nghị quyết, cácchương trình nghiên cứu đã được xuất bản, công bố của các cơ quan nghiên cứu,các nhà khoa học trong và ngoài nước,…

Thông tin thứ cấp được thu thập từ số liệu thống kê tại địa phương: Ủy BanNhân dân huyện Cẩm Giàng, Ban Quản lý dự án các KCN tỉnh Hải Dương, Sở Tàinguyên và Môi trường Hải Dương, Ủy Ban Nhân dân xã Cẩm Điền, Phòng ĐịaChính xã Cẩm Điền, các bài báo, tạp chí, luận án có liên quan đến đề tài…

Sau khi thu thập được tài liệu, kiểm tra độ tin cậy và chính xác của tài liệu

để xác định các thiếu sót về thông tin để tìm hiểu thêm Trên cơ sở đó, tiến hànhtổng hợp các thông tin và số liệu cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu

6.3 Phương pháp điều tra XHH

- Phương pháp phỏng vấn cấu trúc: để có được số liệu cần thiết phục vụ cho

đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành điều tra các hộ gia đình bằng phương phápphỏng vấn trực tiếp chủ hộ và có sự đóng góp ý kiến từ các thành viên khác trong giađình Điều này đảm bảo cho lượng thông tin mang tính đại diện và chính xác

17

Trang 22

- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: để thu thập các thông tin trực tiếp từcác cá nhân theo chiều rộng, tránh cho người được phỏng vấn cảm thấy nhàm chán, bị

ép buộc phải trả lời những câu hỏi có sẵn nên chúng tôi đã tiến hành áp dụng các câu hỏi

mở rộng để lấy thêm thông tin một cách chi tiết Sau phỏng vấn, phân tích các thông tin

đã thu được

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân(Paticipatory Rural Appraisal): nhằm thu thập những thông tin sơ cấp về đời sống củanông dân trước và sau thu hồi đất, quan điểm, thái độ của người dân về vấn đề chuyểnđổi mục đích sử dụng đất

- Phương pháp thảo luận nhóm: việc tập hợp được người dân là rất khó doquỹ thời gian của họ hạn chế Vì vậy, đã thực hiện được một số cuộc thảo luận nhóm với

số lượng khoảng 3 đến 5 người/nhóm Thông tin ở những buổi thảo luận nhóm chỉ dành

để tham khảo và kiểm chứng

- Phương pháp điều tra XHH định hướng bằng bảng hỏi: nhằm thu thập cácthông tin được xây dựng dựa trên các câu hỏi cụ thể theo cách thức có thể thực hiện đểphân tích, thống kê

- Phương pháp đối chiếu so sánh: đối chiếu, so sánh đặc điểm của đối tượngđiều tra theo thời gian để từ đó tìm ra những điểm khác nhau, nét đặc thù của đối tượngtrong từng giai đoạn cụ thể

6.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

6.4.1 Phương pháp chuyên gia

Thực hiện phỏng vấn một số chuyên gia ở cấp tỉnh và địa phương (huyện,xã), các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản lý, người sản xuất, kinh doanh giỏi có kinhnghiệm nhằm thu nhận những đánh giá sâu sát về những tác động của việc thu hồiđất sản xuất nông nghiệp đến đời sống của nông dân

6.4.2 Phương pháp chuyên khảo

Nghiên cứu, đối chiếu, so sách các tài liệu nghiên cứu mang tính chất lý luận

về KCN, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và tác động của chuyển đổi mục đích sửdụng đất để xây dựng các KCN đến đời sống của các hộ gia đình bị thu hồi đất

Trang 23

6.5 Phương pháp SWOT

Người viết tiến hành phương pháp SWOT để phân tích các điểm mạnh,điểm yếu, những cơ hội và thách thức đối với các hộ gia đình bị thu hồi đất ở CẩmĐiền để tìm ra chiến lược sinh kế của các hộ gia đình sau thu hồi đất và đánh giácác chiến lược sinh kế đó Người viết thực hiện ghi chép tất cả các yếu tố thu đượctrên cơ sở xác định về các mặt:

- Điểm mạnh (Strengths): những tố chất nổi trội về trình độ chuyên môn, kỹ thuật, độ tuổi, kinh nghiệm làm việc, sự năng động và nhạy bén …

- Điểm yếu (Weakness): những tố chất không phù hợp với công việc, tác phong nông nghiệp, thiếu trình độ chuyên môn kỹ thuật, độ tuổi cao,…

- Cơ hội (Opportunity): những đòn bẩy tiềm năng mang lại cơ hội thành côngcho các hộ gia đình bị thu hồi đất như nhu cầu việc làm trong các KCN, lợi thế vềmặt địa lý, nhu cầu về lương thực thực phẩm cung cấp cho các KCN, nhu cầu thuênhà trọ của công nhân trong các KCN…

- Thách thức (Threat): những yếu tố gây ra tác động tiêu cực đến các hộ giađình bị thu hồi đất như diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, phải cơ cấu và tổchức lại nghề nghiệp,…

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3chương nội dung như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng quá trình chuyển đổi mục đích sửdụng đất để phát triển các khu công nghiệp ở xã Cẩm Điền

Chương 2: Những thay đổi về kinh tế, văn hóa và xã hội ở xã Cẩm Điền dochuyển đổi sử dụng đất để phát triển các khu công nghiệp

Chương 3: Các giải pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống hộ nông dân

xã Cẩm Điền sau chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phục vụ xây dựng các khucông nghiệp

19

Trang 24

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở XÃ

1.1.1 Khái niệm khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp

Quá trình CNH-HĐH kéo theo sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của cácloại hình tổ chức lãnh thổ công nghiệp: KCN, KCX, khu công nghệ cao, cụm côngnghiệp, trung tâm công nghiệp

Hiện nay, trên thế giới, KCN được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.Theo Từ điển Bách khoa mở Wikipedia: “Khu công nghiệp, còn gọi là khu kỹ nghệ

là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằmđảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội -môi trường Khu công nghiệp thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệthống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng Những khu công nghiệp có quy mô nhỏthường được gọi là cụm công nghiệp” [87]

Ở nước ta, khái niệm về KCN được Chính phủ đề cập đến trong nhiều Nghịđịnh Khái niệm về KCN lần đầu tiên được định nghĩa tại Nghị định số 192/CP ngày25/2/1994 của Chính Phủ: “Khu công nghiệp là các khu vực công nghiệp tập trung, không códân cư, được thành lập với các ranh giới được xác định nhằm cung ứng các dịch vụ để hỗtrợ sản xuất” [66] Tiếp theo, tại Nghị định 36-CP ngày 24/4/1997, KCN được định nghĩanhư sau: “Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp

Trang 25

chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp,

có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủtướng Chính phủ quyết định thành lập, trong Khu công nghiệp có thể có doanhnghiệp chế xuất” [67] Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP: “Khu công nghiệp là khuchuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất côngnghiệp, có ranh giới địa lý xác định” [68]

Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005: “Khu công nghiệp là khu chuyênsản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, córanh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [4, tr.14]

Nhìn chung, KCN có những đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, KCN làmột khu vực có ranh giới địa lý xác định, có cơ sở hạ tầng sẵn có; Thứ hai, tập trungcác doanh nghiệp, xí nghiệp, công ty sản xuất hàng công nghiệp; Thứ ba, trongKCN không có dân cư sinh sống; Thứ tư, KCN được hưởng những ưu đãi đặc biệtcủa Nhà nước và địa phương, có một cơ chế quản lý thuận lợi

Bên cạnh các KCN, khu chế xuất cũng có những đóng góp đáng kể vào sựnghiệp CNH-HĐH đất nước “Khu chế xuất là khu công nghiệp đặc biệt chỉ dànhcho việc sản xuất, chế biến những sản phẩm để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc dànhcho các loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ liên quan đến hoạt độngxuất – nhập khẩu tại khu vực đó với các ưu đãi về các mức thuế xuất – nhập khẩuhay các ưu đãi về giá cả thuê mướn mặt bằng sản xuất, thuế thu nhập cũng như cắtgiảm tối thiểu các thủ tục hành chính KCX có vị trí, ranh giới được xác định từtrước, có các cơ sở hạ tầng như điện, nước, giao thông nội khu sẵn có và không códân cư sinh sống Điều hành, quản lý hoạt động chung của khu chế xuất thường domột Ban quản lý khu chế xuất điều hành” [85] Như vậy, về cơ bản, KCX cũng cónhững đặc trưng như KCN Tuy nhiên, sự khác biệt giữa KCX và KCN thể hiện ở 3điểm cơ bản: Thứ nhất KCX thông thường có quy mô nhỏ hơn so với KCN Thứhai, KCX chỉ chuyên sản xuất hàng xuất khẩu Thứ ba, nếu hàng hóa ở KCX đượctiêu thụ tại thị trường nội địa thì được coi là hàng hóa nhập khẩu và phải tuân thủcác quy định đối với hàng nhập khẩu Do đặc trưng của các KCX là chỉ chuyên sảnxuất hàng hóa dành cho xuất khẩu nên vị trí của các KCX thông thường phải ởnhững vị trí thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa: cảng biển, bến tàu, sân bay…

21

Trang 26

Bên cạnh KCN và KCX, khu công nghệ cao cũng đã và đang đóng góp vào

sự nghiệp CNH của đất nước “Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu pháttriển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhânlực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giớiđịa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.” [80] Một số khucông nghệ cao ở nước ta có thể kể đến như: khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu côngnghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh,…

Cụm công nghiệp thông thường có quy mô diện tích nhỏ hơn KCN “TheoQuy chế quản lý cụm công nghiệp ban hành kèm theo quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, cụm công nghiệp có quy

mô diện tích nhỏ hơn khu công nghiệp (không quá 50 ha, trường hợp cần thiết phải

mở rộng thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không quá 75 ha); chủ yếu dànhcho doanh nghiệp nhỏ và vừa; được thành lập căn cứ vào quy hoạch phát triển cụmcông nghiệp của tỉnh được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trong khi khu côngnghiệp được thành lập căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệpcủa cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Cụm công nghiệp do ngànhcông thương quản lý còn khu công nghiệp do các ban quản lý các khu công nghiệpcấp tỉnh quản lý” [17, tr.10]

Nhìn chung, KCN, KCX, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp có nhữngđặc điểm chung nhất như sau: 1 Có ranh giới địa lý xác định với cơ sở hạ tầng sẵn

có 2 Tập trung chủ yếu các cơ sở sản xuất công nghiệp 3 Được nhà nước ưu đãivới những chế độ, chính sách riêng

Từ những năm 1960, ở Việt Nam đã có nhiều nơi tập trung các nhà máy, xínghiệp sản xuất công nghiệp: Thượng Đình, Văn Điển – Pháp Vân (Hà Nội), BiênHòa (Đồng Nai), Hòa Khánh (Đà Nẵng)… Tuy nhiên, thời gian này, chúng ta chưa

có chính sách ưu đãi đối với các KCN và cũng chưa có sự quản lý chặt chẽ Đếnnăm 1991, KCN đầu tiên ở Việt Nam mới chính thức được thành lập và được đánhdấu bởi sự thành lập của KCX Tân Thuận (thành phố Hồ Chí Minh) “Tính đến năm

2012, cả nước đã có 283 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tựnhiên 76.000 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000

ha, chiếm khoảng 61% tổng diện tích đất tự nhiên Các khu công nghiệp được thành

Trang 27

lập trên 58 tỉnh, thành phố trên cả nước, được phân bố trên cơ sở phát huy lợi thếđịa kinh tế, tiềm năng của các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời phân bố ở mức độhợp lý một số khu công nghiệp ở các vùng có điều kiện, trình độ phát triển cụ thểcủa mỗi địa phương Quy mô trung bình của các khu công nghiệp, khu chế xuất đếntháng 12/2011 là 268 ha Các vùng có điều kiện tương đối khó khăn, ít có lợi thếphát triển công nghiệp có quy mô khu công nghiệp, khu chế xuất trung bình thấphơn so với các vùng khác, như vùng Trung du và miền núi phía Bắc (154,9 ha), TâyNguyên (157,6 ha); vùng Đông Nam Bộ có quy mô khu công nghiệp trung bình caonhất (378,3 ha)” [65].

Như vậy, trải qua hai thập kỷ hình thành và phát triển (1991 – 2011), KCN,KCX ở nước ta đã có những thành tựu to lớn, đóng góp đáng kể vào công cuộcCNH-HĐH đất nước Các KCN, KCX đã đóng góp nguồn vốn lớn cho ngân sáchnhà nước “Trong giai đoạn từ 2005 đến 2010, các khu công nghiệp, khu chế xuấtnộp 5,9 tỷ USD cho ngân sách nhà nước” [65]

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, những năm trở lại đây, HảiDương đã nổi lên là một trong những tỉnh thu hút phát triển công nghiệp Tính đếnnăm 2010, Hải Dương đã lập quy hoạch và được Chính phủ phê duyệt thành lập 14KCN với diện tích 2689,9 ha (chiếm 1,63% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh).Tổng số vốn đầu tư xây dựng hạ tầng các KCN ở Hải Dương đến nay đạt 2150 tỷđồng “Hiện đã có 131 dự án đầu tư vào 10 khu công nghiệp trên với số vốn đăng kýkhoảng 2 tỷ USD, thu hút gần 43 nghìn lao động” [5] Phát triển các khu, cụm côngnghiệp đã góp phần giúp Hải Dương thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến và xuấtkhẩu, đáp ứng các mục tiêu tạo đà tăng trưởng công nghiệp bền vững, tăng khả năngthu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.2 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình xây dựng và phát triển các KCN

Theo quy luật phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, khi xã hội càng pháttriển thì nhu cầu về đất phi nông nghiệp ngày càng tăng cao Thế nhưng, đất đai lànguồn tài nguyên có giới hạn nên quỹ đất của mỗi quốc gia là không đổi Vì vậy, muốn

có đất dành cho hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, chúng ta buộc phải thu hẹp diệntích đất sản xuất nông nghiệp Nói cách khác, trong quá trình thành lập,

23

Trang 28

xây dựng các KCN, KCX, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp, việc thu hồi đấtnông nghiệp hay chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một tất yếu khách quan.

Khi nghiên cứu quy luật phổ biến về tích lũy tư bản chủ nghĩa, Các Mác đã chỉ

ra tính tất yếu phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai trong quá trình hoàn thành các

đô thị khai sinh ra chủ nghĩa tư bản Trước hết, Các Mác cho rằng: “Bản chất của chế

độ tư bản chủ nghĩa có sự tách rời căn bản giữa người sản xuất với những tư liệu sảnxuất… Nếu không có sự tách rời đó thì chế độ tư bản chủ nghĩa cũng không thể xác lậpđược Vậy muốn cho chế độ tư bản chủ nghĩa xuất hiện thì phải thẳng tay tước đoạt tưliệu sản xuất của những người sản xuất, là những người đã dùng những tư liệu ấy đểthực hiện lao động của bản thân mình… sự chuyển biến lịch sử làm cho lao động táchrời các điều kiện bên ngoài của lao động, đó là cái bí mật của sự tích lũy gọi là tích lũynguyên thủy… Còn về phần người lao động, tức là người trực tiếp sản xuất muốn cóthể làm chủ được bản thân mình thì trước hết phải không bị trói buộc vào ruộng đấtnữa… trở thành người tự do bán lao động của mình” [25, tr.20] Để tước đoạt ruộngđất của nông dân, giai cấp tư bản đã sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau Các thủ đoạn

đó được Các Mác khái quát: “Chiếm đoạt những đất đai công cộng của nông dân vàđuổi họ ra khỏi mảnh đất mà họ cũng có quyền sở hữu phong kiến ngang với ngườichủ của họ Những hành động bạo lực đó

ở Anh phát sinh do các công trường thủ công sản xuất len ở Fơlanđơrơ phát đạt lên

và do sự tăng giá len mà sự phát đạt kia đưa tới Cuộc chiến tranh hai đóa hoa hồng lâudài đã tiêu diệt lớp quý tộc cũ, nên lớp quý tộc mới, con đẻ của thời đại của nó, coi tiềnbạc là quyền lực mạnh hơn tất cả các quyền lực khác Biến đồng ruộng thành đồng cỏ đó

là khẩu hiệu chiến đấu của lũ quý tộc mới… Từ năm 1801 đến 1831 nhân dân nông thôn

đã bị tước đoạt 3.511.770 acôrơ… thử hỏi có bao giờ dân cư nông thôn lĩnh được mộtđồng tiền bồi thường nào chăng” [25, tr.20] Như vậy,

ở thời kỳ khai sinh ra chủ nghĩa tư bản bằng các thủ đoạn khác nhau, giai cấp quýtộc mới đã chuyển đổi mục đích sử dụng đất đồng ruộng của nông dân thành đất đồng cỏ

để chăn nuôi cừu, làm cơ sở để phát triển ngành công nghiệp dệt

Ở Việt Nam, “việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị,kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia

ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ

Trang 29

nền kinh tế quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ những năm 1990, khi nền kinh tếnước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [41, tr.33].Trong những năm gần đây, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đang diễn ra vớiquy mô ngày càng lớn ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước Muốn có được diệntích đất đai để phục vụ xây dựng các KCN, Nhà nước buộc phải thu hồi một phầndiện tích đất nông nghiệp hoặc đất ở Vì vậy, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đấttất yếu phải diễn ra “Nhìn tổng quát chuyển đổi mục đích sử dụng đất là quá trình

từ việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lạiđất đã giao, đến việc giao đất cho các chủ dự án để sử dụng theo các mục đích mới

và giải quyết có hiệu quả các vấn đề phát sinh trong quá trình đó, bằng các hìnhthức, phương pháp thích hợp (bao gồm việc bồi thường đất, bồi thường và giải tỏacác tài sản hiện diện trên đất, tái định cư, hỗ trợ đào tạo, giải quyết việc làm mới, hỗtrợ ổn định thu nhập, đời sống của người bị thu hồi đất) nhằm mục tiêu thực hiện tốtquy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (đã được duyệt), ổn định và nângcao đời sống nhân dân, đảm bảo công bằng và an toàn xã hội” [25, tr.14] “TheoLuật đất đai 2003, chuyển đổi mục đích sử dụng đất là việc Nhà nước thu hồi đất đểphục vụ các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, mục đích công cộnghoặc phát triển kinh tế Ngoài ra, có một số hình thức chuyển đổi mục đích sử dụngđất khác, đó là chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chuyển từ đất nông nghiệpsang đất ở…” [51, tr.25]

Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ xây dựng và phát triểncác KCN ở nước ta trong những qua diễn ra không đồng đều ở các địa phương màchỉ chủ yếu tập trung ở những tỉnh, thành phố, địa phương có điều kiện thuận lợi đểphát triển các KCN: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai,Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình…

Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở nước ta đã mang lại rất nhiều hiệu quảcho nền kinh tế Trong những năm qua, cả nước đã xây dựng được hơn 200 KCN,KCX, cụm công nghiệp và khu công nghệ cao, thu hút được hàng trăm dự án đầu tư ởtrong và ngoài nước quy mô hàng chục tỷ USD mang lại hiệu quả hàng ngàn

25

Trang 30

tỷ đồng đóng góp cho ngân sách Nhà nước, giải quyết việc làm cho hàng triệu laođộng với mức thu nhập khá hoặc tương đối cao và ổn định [65].

Tuy nhiên, để có được thành tựu đó, chúng ta đã phải đánh đổi rất nhiều,phải đối diện với nhiều vấn đề hậu chuyển đổi mục đích sử dụng đất như: tình trạngthất nghiệp, thiếu việc làm của nông dân bị mất tư liệu sản xuất; tình trạng giảm sút

về thu nhập và chất lượng cuộc sống sau thu hồi đất; tình trạng bỏ đất hoang hóatrong các KCN,… Người nông dân bị mất đất sản xuất cũng có nghĩa là bị tướcđoạt đi nguồn sinh kế từ ngàn đời nay để lại Khi tư liệu sản xuất bị mất đi, nhiềungười nông dân do trình độ văn hóa thấp và tuổi tác đã cao nên không thể chuyểnđổi được nghề nghiệp và họ trở thành người bị mất việc làm hoặc thiếu việc làmthường xuyên Đời sống trong gia đình hộ nông dân vì thế cũng có những đổi thay

Nói một cách công bằng, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất để xâydựng hạ tầng các KCN là một việc làm hết sức cần thiết trong quá trình CNH-HĐHcủa đất nước; một mặt góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm vàtăng thêm thu nhập cho nhiều lao động; tuy nhiên, mặt khác, việc chuyển đổi mụcđích sử dụng đất cho các KCN khiến cho nhiều hộ gia đình, nhiều lao động bị rơivào hoàn cảnh dễ bị tổn thương và gặp vô vàn khó khăn để ổn định cuộc sống

Song song với quá trình xây dựng các KCN là quá trình thu hồi, chuyển đổimục đích sử dụng đất nông nghiệp Tốc độ xây dựng các KCN ngày càng nhanhcũng đồng nghĩa với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ngày càng nhiều “Theobáo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, giai đoạn 2000-2004, số diện tích đấtnông nghiệp của cả nước đã được chuyển đổi mục đích sử dụng là gần 157.000 ha,trong đó xây dựng các KCN, KCX gần 22.000 ha, xây dựng cụm công nghiệp vừa

và nhỏ gần 35.000 ha, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị gần 100.000 ha” [41, tr.50]

Cũng như các tỉnh và thành phố khác trong cả nước, quá trình chuyển đổimục đích sử dụng đất ở Hải Dương để xây dựng các KCN đã có những tác độngkhông nhỏ đến sản xuất nông nghiệp, diện mạo nông thôn và đời sống nông dân.Với tốc độ thu hồi đất nông nghiệp “bình quân 1.569 ha/năm” [72], Hải Dươngđược xếp vào tỉnh có tốc độ thu hồi đất nông nghiệp cao nhất ở khu vực phía Bắctrong những năm gần đây Để có diện tích đất xây dựng các KCN, một phần lớndiện tích đất nông nghiệp của Hải Dương đã bị thu hồi “Tỉnh Hải Dương có diện

Trang 31

tích đất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng tính đến 31/12/2006 là 3146

ha (trong đó giai đoạn 2001 – 2005 là 2503 ha và năm 2006 là 643 ha); trong đódiện tích đất nông nghiệp dành để phát triển cơ sở hạ tầng là 954 ha, dành cho xâydựng các khu công nghiệp, khu chế xuất là 1384 ha và dành cho việc xây dựng cụmkinh tế nhỏ (tiểu thủ công nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ), cụm công nghiệp làtrên 807 ha” [1, tr.19] Để có được 3146 ha đất nông nghiệp thu hồi để chuyển đổimục đích sử dụng, “tính đến 2006, tỉnh Hải Dương đã thu hồi đất nông nghiệp của30.539 hộ gia đình và có tới 64.003 lao động trong các hộ gia đình này chịu ảnhhưởng bởi việc thu hồi đất nông nghiệp” [59]

1.2 Thực trạng quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển các khu công nghiệp ở xã Cẩm Điền giai đoạn 2001-2012

1.2.1 Giới thiệu chung về xã Cẩm Điền

Cẩm Điền trước đây là một xã thuần nông thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh HảiDương Xã có 3 thôn: Hoàng Xá, Hòa Tô và Mậu Tài Trong 10 năm qua, từ khitiến hành thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp để phục vụ cácKCN, Cẩm Điền có những biến đổi lớn trong phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Xã Cẩm Điền nằm ở phía Tây huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Xã nằmdọc hai bên đường quốc lộ 5A, với tổng chiều dài hơn 3 km thuận lợi để giao lưutới các địa phương khác trong huyện và tỉnh

Phía Đông giáp xã Cẩm Phúc, phía Bắc giáp xã Lương Điền, phía Nam giápsông Kim Sơn (sông Sặt) và xã Vĩnh Tuy, xã Hùng Thắng, huyện Bình Giang, phíaTây giáp xã Hưng Thịnh, huyện Bình Giang

* Địa hình, đất đai

Diện tích đất tự nhiên của xã Cẩm Điền là 421 ha Đất canh tác phần lớn làđất phù sa màu mỡ, lại có nguồn nước dồi dào được cung cấp bởi con sông Sặt nênthuận lợi cho phát triển trồng trọt, canh tác lúa và các loại hoa màu

Năm 2002, diện tích đất nông nghiệp của xã là 289,68 ha, chiếm 68,9% diệntích đất tự nhiên của toàn xã Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp còn 118,72 ha,chiếm 28,2% diện tích đất tự nhiên

27

Trang 33

* Khí hậu, thủy văn

Cẩm Điền có khí hậu mang đậm tính chất đặc trưng của khu vực Đồng bằngBắc Bộ Xã nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Khí hậu trongnăm chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông Lượng mưa trung bình năm từ 1300 đến

1500 mm Nhiệt độ trung bình năm đạt 230C Điều kiện khí hậu thuận lợi cho sựphát triển cây trồng và vật nuôi, thuận lợi để phát triển nông nghiệp

Xã Cẩm Điền nằm giáp với Sông Sặt (sông Kim Sơn) nên rất dồi dào vềnguồn nước sinh hoạt và nước cho sản xuất nông nghiệp Đất đai khá màu mỡ, tạothuận lợi cho phát triển nông nghiệp

1.2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

* Dân số và lao động

Năm 2001, xã có 1345 hộ với khoảng 4800 nhân khẩu Hiện tại, tính đến năm 2012,toàn xã có 1393 hộ gia đình với 5142 khẩu Trong đó, có 2629 người trong độ tuổi laođộng (chiếm 51% dân số toàn xã) [57] Từ năm 2001 trở về trước, lao động của xã chủ yếu

là lao động nông nghiệp Tuy nhiên, sau 3 đợt chuyển đổi mục đích sử dụng đất năm 2003,

2005 và 2008, lao động nông nghiệp của xã có xu hướng giảm dần Từ đó đến nay, laođộng phi nông nghiệp không ngừng tăng lên Nhìn chung, nguồn lao động của Cẩm Điềndồi dào, người lao động cần cù, chịu khó và khá năng động

* Cơ sở hạ tầng

Đảng ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã Cẩm Điền cùng với cácban, ngành của xã đã tập trung lãnh đạo và huy động đóng góp của nhân dân kếthợp với sự hỗ trợ của cấp trên đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng khangtrang, kiên cố và hoàn chỉnh, tạo điều kiện để phát triển kinh tế, xã hội

Cả ba thôn của xã là: Hoàng Xá, Hòa Tô và Mậu Tài đều đã xây dựng nhàvăn hóa khang trang Cẩm Điền có ba trường học cao tầng, trong đó, trường Mầmnon Hoàng Hòa và Trường tiểu học Cẩm Điền đã đạt danh hiệu trường chuẩn quốcgia Xã có một trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia phục vụ chăm sóc sức khỏe cho nhândân toàn xã Xã đã xây dựng được 9,6 km đường bê tông liên thôn, liên xã; 1500

km kênh mương phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Ngoài ra, xã cònđầu tư thường xuyên về kinh phí để nâng cấp, tu bổ đường điện xây dựng năm

1992 chuyển sang cáp bọc năm 2010 Trên địa bàn xã Cẩm Điền, hiện nay đã có haiKCN tọa lạc: KCN Phúc Điền và KCN Cẩm Điền – Lương Điền Ngoài ra, còn cónhiều công ty, doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp

29

Trang 35

* Tình hình sản xuất kinh doanh

Với những lợi thế về vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng, Cẩm Điền đã và đang khaithác triệt để các tiềm năng để phát triển kinh tế Tổng giá trị sản phẩm (GDP) toàn

xã năm sau thường cao hơn các năm trước Năm 2010, GDP của xã đạt 63,16 tỷđồng, tăng 12% so với năm 2009 [57]

Cẩm Điền nằm ở vị trí tương đối thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh

tế Xã Cẩm Điền cách trung tâm thành phố Hải Dương 14 km, lại nằm dọc hai bênquốc lộ 5 nên thuận lợi để vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc đi vàđến các KCN

Địa hình đất đai của xã bằng phẳng, màu mỡ, nguồn nước dồi dào, lạ i cóchế độ khí hậu, thủy văn, điều kiện môi trường – sinh thái phù hợp để phát triểnnông nghiệp trồng cấy lúa, hoa màu và chăn nuôi

Điều kiện cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, giao thông đều hoàn chỉnh, khangtrang và kiên cố nên thuận tiện để phát triển kinh tế

Nền kinh tế của xã trong những năm gần đây có bước tăng trưởng cao Mứcsống của dân cư không ngừng được tăng lên Trong ngành sản xuất nông nghiệp,người nông dân Cẩm Điền có nhiều kinh nghiệm thâm canh các loại cây trồng như:lúa, ngô, khoai, sắn, đậu tương, lạc và các loại rau màu Nghề chăn nuôi đảm bảo

đủ thực phẩm cho nhân dân trong xã, chủ yếu là chăn nuôi gia cầm: vịt, gà và chănnuôi lợn Ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp đặc biệt phát triển, nhất là nghề sảnxuất đồ gỗ Hiện nay, toàn xã có tới 275 cơ sở sản xuất đồ gỗ với quy mô từ vài đếnvài chục lao động Ngành KDDV tương đối phát triển với hơn 100 hộ kinh doanh,buôn bán [57]

31

Trang 36

Bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Cẩm Điền

- DT đất canh

212,66 73,4 183,72 78,9 117,97 81,6 94,05 79,2tác

- DT mặt nước 68,75 23,8 40,59 17,6 18,29 12,7 16,4 13,9

1.2 Đất chuyên

79,26 18,8 137,4 32,7 225,47 53,5 251,23 59,6dùng

1.3 Đất thổ cư 35,58 8,4 35,72 8,4 35,77 8,4 35,82 8,51.4 Đất chưa sử

Trang 37

-32

Trang 38

Nguồn lao động của xã khá dồi dào, trẻ và năng động, có trình độ văn hóa đãđược phổ cập THCS Người lao động Cẩm Điền vốn có truyền thống đoàn kết,tương trợ lẫn nhau, có kinh nghiệm và sáng tạo trong sản xuất.

Về an ninh xã hội chưa thật ổn định bởi trong những năm gần đây ở CẩmĐiền đang nổi lên nhiều tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp

Lực lượng lao động của xã nhiều và trẻ nhưng trình độ của người lao độngchưa cao, chủ yếu mới đạt mức tốt nghiệp phổ thông trung học Lao động không cóviệc làm và thiếu việc làm còn nhiều

1.2.2 Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ cho các khu công nghiệp ở xã Cẩm Điền

1.2.2.1 Các đợt thu hồi đất

Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại xã Cẩm Điền diễn ra trong 3đợt: năm 2003, 2005 và 2008

Bảng 1.2: Thống kê diện tích đất nông nghiệp

bị thu hồi trên địa bàn xã Cẩm Điền giai đoạn 2003 – 2008

Năm Số diện tích bị thu hồi Tỷ lệ % so với diện tích

Trang 39

33

Trang 40

Tính đến hết năm 2003, toàn xã Cẩm Điền đã bị thu hồi 57,1 ha đất nôngnghiệp của 1068 hộ dân (bảng 1.2) Trong số diện tích đất nông nghiệp bị thu hồinăm 2003, thôn Hoàng Xá bị thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp nhất, khoảng25,9 ha (chiếm 45,4% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của toàn xã), tiếp theo làthôn Mậu Tài bị thu hồi 25,5 ha (chiếm 44,6%) Thôn Hòa Tô có ít diện tích đất bịthu hồi nhất so với hai thôn trên, chỉ bị thu hồi 5,7 ha chiếm 10% so với diện tíchđất nông nghiệp bị thu hồi của toàn xã Trong đó, thôn Mậu Tài bị thu hồi đất của

478 hộ gia đình Thôn Hoàng Xá bị thu hồi đất của 492 hộ gia đình Thôn Hòa Tô bịthu hồi đất của 98 hộ gia đình (hình 1.3)

Thôn Mậu Tài Thôn Hoàng Xá Thôn Hòa Tô

Hình 1.3: Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở xã Cẩm Điền

tính theo cơ cấu các thôn năm 2003 (Đ.v: phần trăm (%))

Nguồn: Tổng hợp báo cáo Phòng Địa chính xã Cẩm Điền

Ở đợt thu hồi đất năm 2003, toàn xã có 1068 hộ dân bị thu hồi đất (bảng 1.3).Trong đó, có 472 (44,1%) hộ bị thu hồi dưới 50% diện tích đất nông nghiệp, có 498

hộ (46,6%) bị thu hồi từ 51 đến 70%, có 98 hộ (9,3%) bị thu hồi từ 71 đến 100%.Như vậy, ở đợt thu hồi thứ nhất này, các hộ gia đình bị thu hồi từ 51 đến 70% diệntích đất nông nghiệp chiếm đa số

Trong năm 2005, toàn xã Cẩm Điền có 1197 hộ bị thu hồi đất nông nghiệpvới tổng diện tích đất bị thu hồi là 88,32 ha (bảng 1.3) Sau đợt thu hồi đất này, có

893 hộ (74,6%) đã bị thu hồi dưới 50%, có 211 hộ (17,6%) đã bị bị thu hồi từ 51đến 70%, có 93 hộ (7,8%) bị thu hồi từ 71 đến 100% diện tích đất sản xuất nông

Ngày đăng: 27/10/2020, 19:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w