Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả giảm đau và phục hồi tầm vận động khớp vai của kỹ thuật “kéo bóc tách viêm dính khớp vai dưới gây tê thần kinh trên vai” kết hợp vật lý trị liệu để điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng và đánh giá tác dụng không mong muốn của kỹ thuật trên.
Trang 11 Bệnh viện Quân y 103
Người phản hồi (Corresponding): Hoàng Tiến Ưng (bshoangtienungbvqy103@gmail.com)
Ngày nhận bài: 10/3/2018, ngày phản biện: 19/3/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2018
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA KỸ THUẬT “KÉO BÓC TÁCH VIÊM DÍNH KHỚP VAI DƯỚI GÂY
TÊ THẦN KINH TRÊN VAI” KẾT HỢP VẬT LÝ TRỊ LIỆU ĐỂ ĐIỀU TRỊ VIÊM QUANH KHỚP VAI THỂ ĐÔNG CỨNG
Hoàng Tiến Ưng 1 , Hà Hoàng Kiệm 1 , Bùi Văn Tuấn 1 , Hoàng Văn Thắng 1
TÓM TẮT
Viêm quanh khớp vai thể đông cứng (VQKVĐC) là thể bệnh hay gặp, các phương pháp điều trị bảo tồn chỉ giúp chống viêm giảm đau nhưng hạn chế tầm vận động khớp rất ít được cải thiện do bao khớp bị viêm dính, nhiều trường hợp phải phẫu thuật nội soi
để bóc tách dính bao khớp Kỹ thuật “kéo bóc tách viêm dính khớp vai dưới gây tê thần kinh trên vai” là sáng kiến của Bộ môn – Khoa Phục hồi chức năng BV 103, HVQY (tác giả Hà Hoàng Kiệm) rất có hiệu quả lại đơn giản rẻ tiền đã được Hội đồng Khoa học
và Y đức BV 103 cho phép thực hiện trong lâm sàng Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau và phục hồi tầm vận động khớp vai của kỹ thuật “kéo bóc tách viêm dính khớp vai dưới gây tê thần kinh trên vai” kết hợp vật lý trị liệu để điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng và đánh giá tác dụng không mong muốn của kỹ thuật trên Đối tượng và phương pháp: 64 BN VQKVĐC giai đoạn 2 được nghiên cứu Điều trị nền Mobic 7,5mg
× 2viên/ngày, VLTL 1 lần/ngày trong 1 tuần rồi tiến hành thủ thuật, sau thủ thuật điều trị tiếp phác đồ trên 1 tuần Đánh giá kết quả gồm mức độ đau theo thang điểm VAS, tầm vận động khớp đo bằng thước đo góc hai cành, phân loại mức độ hạn chế vận động theo McGill - McRomi Đánh giá tại 3 thời điểm ngay trước và sau thủ thuật, sau thủ thuật 1 tuần Kết quả và kết luận: Ngay sau thủ thuật mức độ giảm đau không khác biệt so với trước thủ thuật nhưng sau 1 tuần giảm đau rất tốt, không còn BN nào đau vừa và nặng, còn 89,06% BN đau nhẹ Tầm vận động dạng khớp vai thụ động trở về bình thường (180
Trang 2độ) 98,44%% ngay sau thủ thuật, sau 1 tuần về bình thường 100% BN Không gặp tác dụng không mong muốn nào sau thủ thuật.
STUDY OF EFFECTIVNESS AND SIDE EFFECTS OF
“CAPSULAR RELEASE TECHNIC OF ADHESIVE CAPSULITIS OF THE SHOUDER UNDER SUPRASCAPULAR NERVE BLOCK” AND
PHYSIOTHERAPY TO TREAT FROZEN SHOULDER
SUMMARY
Background: Frozen shouder is comon disease that treatment is still dificult The conservative treatment may be decreased of pain but range of motion of shouder is not progressive, somtime must to have arthroscopic capsular release “Capsular release technic of adhesive capsulitis of the shouder under suprascapular nerve block” was technical innovation of PhD.D Ha Hoang Kiem in Millitary hospital 103 which may be capsular release of adhesive capsulitis of the shoulder well Objective: Evaluation of effectivness and side effects of technic “Capsular release of adhesive capsulitis of the shouder under suprascapular nerve block” and physiotherapy to treat frozen shoulder Method: 64 patients with frozen shoulder in stage 2 were studied The patients were treated with Mobic 7,5mg × 2tab/day, physiotherapy 1 time/day in 1week, then making technic, afer technic the patients were continued treating the same befor Evaluation of pain according to VAS scale Evaluation of range of motion of the shoulder according
to classification of McHill-McRomi Evaluation at 3 times: befor and after technic and after technic 1 week Result and conclution: There were the pain relief well 1 week after technic, only 89,06% slight pain, no longer patients with average and severe pain At time after technic and after 1 week, range of motion of shoulder were become normal There were not any side effects after technic
Key words: Frozen shoulder, suprascapular nerve block, Capsular release of adhevive capsulitis.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm quanh khớp vai là thuật
ngữ dùng để chỉ các trường hợp viêm,
đau khớp vai do tổn thương phần mềm
(gân, cơ, dây chằng, bao khớp, bao hoạt
dịch) mà không có tổn thương ở sụn và
xương khớp vai, không do nhiễm khuẩn
và không do chấn thương mới Viêm
quanh khớp vai được chia làm 3 thể:
Viêm quanh khớp vai đơn thuần; viêm quanh khớp vai thể đông cứng còn được gọi là viêm dính khớp vai; hội chứng vai tay còn được gọi là hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm phản xạ [2] Trong ba thể bệnh trên, viêm quanh khớp vai thể đông cứng (VQKVĐC) là thể bệnh hay gặp, đặc trưng lâm sàng là đau và hạn chế tầm vận động khớp vai, việc điều trị còn
Trang 3gặp nhiều khó khăn Các biện pháp điều
trị bảo tồn chỉ có tác dụng giảm đau chống
viêm mà rất ít cải thiện tầm vận động
khớp vai, khi ngừng điều trị thì đau khớp
vai lại trở lại và việc điều trị thường phải
kéo dài hàng năm hoặc hơn Nhiều trường
hợp phải phẫu thuật nội soi khớp vai hoặc
kéo bóc tách viêm dính khớp vai dưới gây
mê, các kỹ thuật này chỉ thực hiện được ở
các bệnh viện lớn và tốn kém [3]
Xuất phát từ cơ chế bệnh sinh
của VQKVĐC là viêm màng hoạt dịch
và dính bao khớp ở nếp gấp nách gây bó
cứng khớp vai Vì vậy điều trị cần giải
quyết hai vấn đề là chống viêm và bóc
tách được dính bao khớp để trả lại tầm
vận động của khớp vai Bộ môn - Khoa
Phục hồi chức năng BV 103 đã đề xuất
kỹ thuật “kéo bóc tách viêm dính khớp
vai dưới gây tê thần kinh trên vai” để điều
trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng
Kỹ thuật đã được Hội đồng khoa học và
Y đức Bệnh viện 103 thông qua và chấp
nhận cho thực hiện trong lâm sàng ngày
22/4/2016, được công nhận sáng kiến
cấp Học viện Quân y (tác giả: Hà Hoàng
Kiệm, Hoàng Tiến Ưng, Bùi Văn Tuấn,
Hoàng Văn Thắng) hiện nay đã trở thành
kỹ thuật thường quy tại khoa Phục hồi
chức năng BV 103 Để đánh giá hiệu quả
và tính an toàn của kỹ thuật chúng tôi tiến
hành đề tài này với hai mục tiêu:
- Đánh giá hiệu quả giảm đau và
phục hồi tầm vận động khớp vai của kỹ
thuật “kéo bóc tách viêm dính khớp vai
dưới gây tê thần kinh trên vai” kết hợp vật
lý trị liệu để điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng
- Đánh giá tác dụng không mong muốn của kỹ thuật trên
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
64 BN được chẩn đoán xác định VQKVĐC giai đoạn 2 được điều trị tại khoa Phục hồi chức năng BV 103 từ 4/2016 đến 11/2016, tự nguyện tham gia nghiên cứu Tiêu chuẩn chẩn đoán: theo định nghĩa VQKVĐC giai đoạn 2 theo Codman EA [4] Tiêu chuẩn loại trừ: BN
có tổn thương xương khớp vai (Xquang), loãng xương vừa và nặng, mắc các bệnh nặng như suy tim, suy gan, suy thận, rối loạn nhịp tim…, BN đang có tăng HA, sốt, BN dị ứng với lidocain
Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu, can thiệp theo dõi dọc 2 tuần
Cách thức tiến hành: Bệnh nhân được điều trị nội khoa 1 tuần trước khi tiến hành kỹ thuật (Mobic 7,5mg × 2viên/ ngày, VLTL (Điện xung, paraffin, sóng ngắn, tập vận động khớp vai) 1 lần/ngày
để giảm đau, sau đó tiến hành kỹ thuật, sau kỹ thuật điều trị tiếp 1 tuần phác đồ như trước khi làm kỹ thuật
Các bước tiến hành kỹ thuật: gây
tê thần kinh trên vai bằng lidocain 40mg
× 2 ống (thử phản ứng trước) Gây tê bổ xung vào bao khớp vai tại hai vị trí: phía trên ngoài và phía trước mỗi vị trí 1 ống lidocain 40mg Sau gây tê 5-10 phút tiến hành kéo bóc tách: thì 1 BN nằm ngửa
Trang 4trên giường kỹ thuật, thì 2 một KTV dùng
tay cố định xương bả vai của BN, thì 3
người thực hiện thủ thuật một tay nắm bàn
tay BN, một tay nắm cánh tay BN, thì 4
người thực hiện kỹ thuật ngả người dùng
trọng lực (không dùng sức) kéo xuôi theo
người bệnh nhân rồi từ từ dạng và đưa cánh tay BN lên trên kết hợp xoay ngửa bàn tay BN, khi cánh ntay BN đạt 180 độ thì dừng lại đưa tay BN xuôi theo người, cho BN nghỉ 5-10 phút rồi dậy Đo mạch, huyết áp trước và ngay sau thủ thuật
Hình 2 Vị trí phong bế thần kinh trên vai (hai hình trái) và bao khớp vai (hai
hình phải).
Các thông số được thu thập tại 3
thời điểm ngay trước và sau kỹ thuật, sau
kỹ thuật 1 tuần: Đánh giá chức năng khớp
vai dựa vào 2 triệu chứng đau và hạn chế
vận động: Đau đánh giá theo thang điểm
VAS (0 điểm: không đau, đau nhẹ: 1-<5
điểm, đau vừa: 5-<8 điểm, đau nặng: 8-10
điểm) Tầm vận động khớp vai đo bằng thước đo góc hai cành theo phương pháp zero, đánh giá mức độ hạn chế vận động dạng khớp vai theo McGill - McRomi
2005 chia 4 độ: không hạn chế 180 độ, hạn chế nhẹ >150 độ, hạn chế vừa: 50 -150 độ, hạn chế nặng 0 - <50 độ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đặc điểm BN nghiên cứu
Bảng 3.1 Tuổi và giới (n=64)
Tuổi
< 0,05 (Anova)
Độ tuổi hay gặp nhất 51-60 tuổi, nam gặp nhiều hơn nữ, tỉ lệ nam/nữ = 1,9
Trang 5Bảng 3.2 Thời gian mắc bệnh và vị trí vai bệnh (n = 64)
Thời gian mắc
bệnh (tháng)
< 0,05 (Anova)
BN đến điều trị muộn trên 3 tháng gặp nhiều nhất, vai phải gặp nhiều hơn vai trái nhưng chưa thấy sự khác biệt (p>0,05)
Bảng 3.3 Các biện pháp đã được điều trị trước khi đến viện (n = 64)
Điều trị bằng thuốc non-steroid đơn thuần
hoặc có kết hợp tiêm corticoid vào khớp 15 23,44
Kết hợp giữa dùng thuốc và VLTL gặp nhiều nhất 60,93%
2 Kết quả điều trị
2.1 Mức độ đau khớp vai
Bảng 3.4 Mức độ đau (VAS)
Mức độ đau thuật n (%) Trước thủ
(1)
Ngay sau thủ thuật n (%) (2)
Sau thủ thuật
1 tuần n (%)
Nhẹ 22 (34,38) 15 (23,44) 57 (89,06) 2&1 >0,05; 3&1 <0,01 Trung bình 31 (48,44) 27 (42,18) 7 (10,94) 2&1 >0,05; 3&1 <0,05 Nặng 11 (17,18) 22 (34,38) 0 2&1 >0,05; 3&1 <0,01 Điểm
(x ± SD) 7,53 ± 1,2 7,49 ± 1,2 1.87 ± 0,5 2&1 >0,05; 3&1 <0,01
Trang 6Ngay sau thủ thuật mức độ đau không khác biệt so với trước thủ thuật, sau thủ thuật 1 tuần giảm đau rõ, không còn BN nào đau nặng, chỉ còn 89,06% bệnh nhân đau nhẹ (p<0,01)
3.2.2 Tầm vận động khớp vai
Bảng 3.5 Dạng khớp vai và đưa lên trên (theo phân loại McGill-McRomi)
Thời
điểm
Mức độ hạn chế
Chủ động
n (%)
P (so với trước TT)
Thụ động
n (%)
P (so với trước TT)
Ngay
trước thủ
thuật
Không
Hạn chế nhẹ 5 (7,81) 6 (9,37) Hạn chế vừa 49 (76,56) 50 (78,12) Hạn chế nặng 10 (15,63 8 (12,5)
Ngay sau
thủ thuật
Không hạn chế 49 (76,56)
<0,001
63 (98,44)
<0,00
Hạn chế nhẹ 10 (15,63) 1 (1,56)
Sau thủ
thuật 1
tuần
Không hạn chế 63 (98,43)
<0,001
64 (100)
<0,00
Ngay sau thủ thuật tầm vận động dạng khớp vai và đưa cánh tay lên trên chủ động đã trở về gần bình thường (do còn đau), nhưng tầm vận động thụ động đã trở về bình thường 98,44%, sau 1 tuần tầm vận động cả chủ động và thụ động đã trở về bình thường 100%
Trang 7Bảng 3.6 Xoay trong khớp vai (theo phân loại McGill-McRomi)
Thời
điểm
Mức độ hạn chế
Chủ động
n (%)
P (so với trước TT) Thụ động n (%)
P (so với trước TT)
Ngay
trước thủ
thuật
Không
Hạn chế nhẹ 21 (32,81) 21 (32,81) Hạn chế vừa 36 (56,25) 37 (57,81) Hạn chế nặng 7 (10,94) 6 (9,38)
Ngay sau
thủ thuật
Không hạn chế 36 (56,25)
<0,001
56 (87,5)
<0,001
Hạn chế nhẹ 21 (32,81) 8 (12,5)
Sau thủ
thuật 1
tuần
Không hạn chế 63 (98,43)
<0,001
64 (100)
<0,00
Ngay sau thủ thuật động tác xoay trong chủ động về bình thường 56,25%, số còn lại do đau Động tác thụ động về bình thường 87,5% Sau 1 tuần 98,43% vận động chủ động về bình thường, 100% vận động thụ động về bình thường
Trang 8Bảng 3.7 Xoay ngoài khớp vai (theo phân loại McGill-McRomi)
Thời
điểm
Mức độ hạn chế
Chủ động
n (%)
P (so với trước TT)
Thụ động
n (%)
P (so với trước TT)
Ngay
trước thủ
thuật
Không
Hạn chế nhẹ 10 (15,63) 11 (17,19) Hạn chế vừa 46 (71,87) 48 (75,0) Hạn chế nặng 8 (12,15) 5 (7,8)
Ngay sau
thủ thuật
Không hạn chế 46 (71,87)
<0,001
58 (90,63)
<0,001
Hạn chế nhẹ 10 (15,63) 6 (9,37)
Sau thủ
thuật 1
tuần
Không hạn chế 62 (96,88)
<0,001
64 (100)
<0,00
Ngay sau thủ thuật xoay ngoài
thụ động về bình thường 90,63%, sau
1 tuần xoay ngoài thụ động trở về bình
thường 100%
3.3 Tính an toàn của kỹ thuật
Theo dõi các tác dụng không
mong muốn gồm: Chảy máu khớp, rách
bao khớp, gãy xương, choáng ngất, dị ứng
thuốc, nhiễm khuẩn chỗ tiêm, chúng tôi không gặp trường hợp nào [7]
BÀN LUẬN
Viêm quanh khớp vai thể đông cứng là thể bệnh hay gặp, việc điều trị theo các phương pháp kinh điển thường kéo dài nhiều tháng có khi hàng năm hoặc
Trang 9hơn và tốn kém [5] Kỹ thuật kéo bóc tách
viêm dính khớp vai dưới gây tê thần kinh
trên vai là kỹ thuật đơn giản rẻ tiền, có thể
tiến hành được ở mọi cơ sở y tế giúp bóc
tách viêm dính bao khớp vai nhanh chóng,
hiệu quả và an toàn kết hợp với vật lý trị
liệu (VLTL) để chống viêm cho kết quả
điều trị rất tốt Mặc dù đã được điều trị
thuốc chống viêm giảm đau non-steroid
kết hợp VLTL 1 tuần nhưng không có
bệnh nhân nào hết đau, đau mức độ trung
bình và nặng vẫn chiếm tói 65,62%, tầm
vận động dạng thụ động khớp vai vẫn hạn
chế mức độ vừa và nặng 90,27% Ngay
sau kỹ thuật tầm vận động thụ động đã trở
về bình thường (180 độ) 98,44%, chỉ còn
1BN còn hạn chế nhẹ Tiếp tục điều trị
thuốc chống viêm giảm đau và VLTL sau
thủ thuật 1 tuần mức độ đau giảm nhiều
chỉ còn đau nhẹ 89,06%, không còn BN
nào đau nặng Tầm vận động dạng khớp
vai chủ động và thụ động đã trở về bình
thường 100% Chúng tôi không gặp bất
kỳ tác dụng không mong muốn nào của
kỹ thuật Có thể nói kỹ thuật kéo bóc tách
viêm dính khớp vai dưới gây tê thần kinh
trên vai nếu làm đúng chỉ định và đúng
kỹ thuật là an toàn và có thể thay thế hoàn
toàn cho các phương pháp can thiệp kinh
điển là bóc tách dưới gây mê và mổ nội
soi khớp vai [6]
KẾT LUẬN
Kỹ thuật kéo bóc tách viêm dính
khớp vai dưới gây tê thần kinh trên vai
kết hợp VLTL đạt hiệu quả rất tốt trong điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng Tầm vận động thụ động khớp vai ngay sau thủ thuật đã trở về bình thường 98,44%, sau thủ thuật 1 tuần về bình thường 100% Mức độ giảm đau sau
1 tuần rất tốt, chỉ còn đau nhẹ 89,06%, không còn bệnh nhân nào đau trung bình hoặc nặng, bệnh nhân trở lại sinh hoạt và lao động gần bình thường
Thực hiện đúng chỉ định và đúng
kỹ thuật thì kỹ thuật kéo bóc tách viêm dính khớp vai dưới gây tê thần kinh trên vai rất an toàn và hiệu quả, chúng tôi không gặp bất kỳ tác dụng không mong muốn nào trong nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Ngọc Ân (2002), Viêm quanh khớp vai, Bệnh thấp khớp Nhà xuất bản y học, trang 364- 374
2 Hà Hoàng Kiệm (2015), Viêm quanh khớp vai, chẩn đoán và điều trị NXB Thể dục thể thao, trang 76-82
3 Nguyễn Xuân Nghiên và CS (2002), Vật lý trị liệu − phục hồi chức năng, NXB Y học, Hà Nội, trang 50 - 62
4 Codman EA (1934), “The shoulder”, In Thomas T Rupture of the suprapinatus tendon and other lesions in
or about subacrominal Bursa, Boston
5 De Winter AF, Jans MP, Scholten RJ et al (1999), Diagnostic
Trang 10classification of shoulder disorders:
interobserver agreement and determinants
of disagreement”; Ann Rheum Dis, p58:
272-277
6 Frederic J Kottke F, Lehmam
JF (2006), Handbook of Physical
Medicine and Rehabilitation, W.B Saunders Company, pp 38 – 47
7 Reese NB, Bandy WD (2002), Joint range of motion and muscle length testing, W.B Saunders Company,
pp 20 - 24
(Tiếp theo trang 31)
KHẢO SÁT NHẬN THỨC CỦA BỆNH NHÂN
thiện rõ rệt Tuy nhiên giữa thời gian mang
bệnh của bệnh nhân và mức độ nhận thức
của người chăm sóc bệnh nhân TTPL có
sự tương quan tuyến tính thuận mức độ
cao; điều này có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc chăm sóc, quản lý và điều trị
bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Ngọc Hà (2014), „Nghiên
cứu kết quả điều trị bệnh tâm thần phân
liệt bằng sốc điện gây mê kết hợp với
thuốc an thần kinh“, Luận văn thạc sĩ Y
học, Học Viện Quân Y
2 Bùi Quang Huy, Cao Tiến Đức,
Phạm Văn Mạnh (2011), Tâm thần phân
liệt, Nhà xuấn bản Y học, Hà Nội
3 Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn
Ngân, Nguyễn Sinh Phúc và cs (2007),
„Tâm Thần phân liệt“, Tâm thần học và
tâm lý Y học (Giáo trình giảng dạy đại học), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân,
Hà Nội, tr 113-127
4 Tổ chức Y tế Thế giới (1992), Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (PLBQT- 10F) về các rối loạn tâm thần và hành vi,
Tổ chức Y tế Thế giới, Genever, Bản dịch tiếng Việt (Nguyễn Việt và cs),, tr 50-66
5 Sadock B J., Sadock V A., Ruiz P (2015), “Schizophrenia spectrum and other psychotic disorders”, Synopsis
of psychiatry, behavioral sciences/clinical psychiatry, 11th edition, Wolters Kluwer, London, tr 300-346
6 Stephen M S (2008),
“Psychosis and Schizophrenia”, Stahl’s Essential Psychopharmacology Neuroscientific basis and practical applications, Cambridge university press,
tr 247-325