Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu khoáng sản Việt Nam Trong những năm qua, hoạt động XNK của nước ta rất đa dạng và nhiềuchủng loại, tuy nhiên vẫn tập trung chủ yếu vào hàng nông, lâm, th
Trang 1Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và quy trình xuất khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu khoáng sản Việt Nam
1.1 Khái quát chung về hoạt động xuất khẩu khoáng sản Việt Nam
1.1.1 Khái niệm hoạt động xuất khẩu khoáng sản
- Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ trong nước cho một quốcgia khác thường dùng tiền tệ để thanh toán Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đốivới một quốc gia hay đối với hai quốc gia
Hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế, nóđược hình thành từ rất lâu đời và ngày càng phát triển cho đến giai đoạn hiệnnay Hoạt động xuất khẩu sơ khai chỉ là hàng đổi hàng và sau đó phát hiện ranhiều hình thức khác nhau như xuất khẩu trực tiếp, buôn bán đối lưu, xuất khẩu
uỷ thác
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian vàthời gian: nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song nó cũng có thể kéo dàihàng năm; nó có thể được tiến hành trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốcgia Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàngtiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị và công nghệ kỹ thuật cao.Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục đích đem lại lợi ích cho cácnước tham gia
- Xuất khẩu khoáng sản là hoạt động xuất khẩu trong đó hàng hóa đượcbán cho quốc gia khác là khoáng sản: than, thiếc, antimony…xuất khẩu khoángsản có thể dưới dạng quặng thô hoặc đã qua tinh chế
Trang 21.1.2 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu khoáng sản Việt Nam
Trong những năm qua, hoạt động XNK của nước ta rất đa dạng và nhiềuchủng loại, tuy nhiên vẫn tập trung chủ yếu vào hàng nông, lâm, thủy sản,nguyên và nhiên vật liệu Đối với ngành khoáng sản, việc xuất nhập khẩu củanước ta có một số đặc điểm sau:
- Nếu xét tổng thể ngành công nghiệp nặng và khoáng sản thì hàng nămxuất khẩu được khoảng 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu Điều này đolượng khoáng sản của nước ta ngày càng ít đi đặc biệt là quặng kẽm
- Hàng khoáng sản của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu dưới dạng thô,chưa qua chế biến Điều này rất đúng với tình hình của Việt Nam Nước ta vốn
là một nước nông nghiệp, chưa có trang thiết bị hiện đại để khai thác khoángsản cũng như chế biến mặt hàng này vì thế mà chất lượng không cao Mặt khácmặt hàng khoáng sản xuất khẩu của ta còn bị ảnh hưởng nhiều bởi sự cạnh tranh
vể giá cả và chất lượng của các quốc gia khác cùng xuất khẩu mặt hàng này.Hơn nữa lượng khoáng sản xuất khẩu không cao, mỗi năm chỉ được vài trăm tấn
và mặt hàng thiếc thỏi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực Doanh thu từ ngành nàykhông cao
- Một đặc điểm nổi bật trong ngành xuất khẩu khoáng sản này không phảixuất phục vụ cho hàng tiêu dùng mà cuối cùng là phục vụ cho ngành côngnghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Bạn hàng chủ yếu là Malaixia và Trung Quốc, hai nước nằm trong khuvực Châu Á và có nhu cầu về khoáng sản cao Ngoài ra còn có một số thịtrường khác như Nhật Bản và một số nước ở Châu Âu
Nhìn chung lượng xuất khẩu những mặt hàng thuộc ngành khoáng sản củanước ta là không cao, hơn nữa nó còn phục vụ cho ngành công nghiệp ở nước tatrong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế Bên cạnh ngành công nghiệp nặngđược Đảng và Nhà nước quan tâm thì ngành khoáng sản vẫn luôn được chú
Trang 3trọng và trong tương lai đẩy mạnh khai thác mặt hàng này Trong những nămqua Chính phủ đã có những qui định riêng về ngành khoáng sản, đã cho phépcác cơ sở sản xuất có mỏ được xuất khẩu mặt hàng này vì thế một số Công tythương mại tham gia xuất khẩu bị hạn chế Quặng sắt và thiếc thỏi luôn đượcxuất khẩu nhiều nhất và doanh thu từ mặt hàng này tương đối cao.
1.1.3 Hình thức xuất khẩu khoáng sản chủ yếu
Việt Nam xuất khẩu khoáng sản chủ yếu theo hình thức xuất khẩu trựctiếp Đây là hình thức xuất khẩu các hàng hoá - dịch vụ do chính doanh nghiệpsản xuất ra hoặc đặt mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất khẩucác sản phẩm này ra thị trường nước ngoài Người bán và người mua trực tiếpquan hệ với nhau bằng cách gặp mặt, qua thư từ, điện tín để bàn bạc, thoảthuận một cách tự nguyện Nội dung thoả thuận không có sự ràng buộc với lầngiao dịch trước việc mua không nhất thiết phải gắn liền với việc bán
Hoạt động xuất khẩu theo phương thức này chỉ khác với hoạt động nộithương ở chỗ: bên mua và bên bán có quốc tịch khác nhau, đồng tiền thanh toán
là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên, hàng hoá được di chuyển qua biêngiới Trong giao dịch, người ta làm một loạt các công việc như: nghiên cứutiếp cận thị trường, người mua hỏi giá và đặt hàng, người bán chào giá Sau đó
2 bên hoàn giá và chấp nhận giá, cuối cùng là ký kết hợp đồng
Về nguyên tắc mặc dù xuất khẩu trực tiếp có làm tăng thêm rủi ro trongkinh doanh song nó có những ưu điểm sau:
- Giảm bớt lợi nhuận trung gian sẽ làm tăng chênh lệch giữa giá bán và chiphí, tức là làm tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất
- Người sản xuất có liên hệ trực tiếp và thường xuyên với khách hàng, vớithị trường, biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng do đó có thểthay đổi sản phẩm và các điều kiện bán hàng trong điều kiện cần thiết Trong
Trang 4thương mại quốc tế ngày nay thì hình thức này có xu hướng tăng lên vì nó đảmbảo được các điều kiện an toàn chung hơn cho bên mua và bên bán.
1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu khoáng sản đối với nền kinh tế Việt Nam
* Vai trò của xuất khẩu hàng hóa
- Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu
và tích lũy phát triển sản xuất
Hoạt động xuất khẩu kích thích cho các ngành kinh tế phát triển, góp phầntăng tích lũy vốn, mở rộng sản xuất,tăng thu nhập cho nền kinh tế Ngoại tệ thuđược từ xuất khẩu sẽ là nguồn vốn quan trọng để mua máy móc, thiết bị, côngnghệ phục vụ cho sản xuất, cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đấtnước Đồng thời đây cũng là nguồn dự trữ ngoại tệ quan trọng, là điều kiện cầnthiết để giúp cho quá trình ổn định nội tệ và chống lạm phát
- Xuất khẩu góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Xuất khẩu tạo ra khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao nănglực sản xuất trong nước Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế nhằm cải tạonâng cao năng lực sản xuất, từ đó sản xuất thêm nhiều sản phẩm chất lượng caohơn góp phần cho tăng trưởng kinh tế của quốc gia Ngoài ra, để hàng xuất khẩucạnh tranh được với thị trường về giá cả và chất lượng đòi hỏi phải tổ chức lạisản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích ứng được với thay đổi của thịtrường Do đó xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển kéotheo sự phát triển nền kinh tế của đất nước
- Xuất khẩu đóng vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệpsản xuất
Xuất khẩu có vai trò chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, máy móc và nhữngnguyên vật liệu cần thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóađất nước
Trang 5- Xuất khẩu được đẩy mạnh sẽ tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tếngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánhcủa đất nước.
Theo lý thuyết thương mại thì các quốc gia nên tập trung chuyên môn hóasản xuất những sản phẩm mình có lợi thế sau đó trao đổi với quốc gia khác Sau
đó xuất khẩu lại có vai trò tác động trở lại làm sức cạnh tranh của hàng hóađược nâng lên, tăng trưởng kinh tế trở nên ổn định và bền vững và hơn nhờ cácnguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả hơn
- Xuất khẩu làm cho sản phẩm sản xuất của một quốc gia sẽ tăng thông quaviệc mở rộng thị trường tiêu thụ ra thị trường thế giới
Hoạt động sản xuất của quốc gia phát triển không những đáp ứng được nhucầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài các mặt hàng mà quốc gia đó cólợi thế Ngoài ra, các ngành sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện cho ngànhkhác có cơ hội phát triển thuận lợi như là các ngành cung cấp nguyên liệu đầuvào, ngành công nghiệp chế tạo thiết bị, ngành công nghiệp phụ trợ hàng xuấtkhẩu Như vậy, các sản phẩm sản xuất của quốc gia sẽ tăng lên nhờ hoạt độngxuất khẩu
- Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ có tác động tích cực đến việc nâng cao mức sốngcủa nhân dân, giải quyết vấn đề việc làm
Khi sản xuất phát triển, nhiều sản phẩm được xuất khẩu, quy mô sản xuấttăng lên, thu hút nhiều yếu tố đầu vào hơn trong đó có yếu tố lao động Ngườilao động có việc làm nên có thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo Xuất khẩucòn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống
và đáp ứng ngày càng phong phú nhu cầu của người dân Họ có cơ hội để lựachọn đa dạng sản phẩm, tiếp cận những sản phẩm tốt, chất lượng cao Đồngthời, xuất khẩu còn tác động tích cực đến trình độ tay nghề của người sản xuất
và thay đổi thói quen tiêu dùng
Trang 6- Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa cácnhà nước, nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Quan hệ ngoại giao là cơ sở cho các hoạt động thương mại phát triển trong
đó có xuất khẩu Khi các quan hệ thương mại phát triển thì việc xuất khẩu sảnphẩm ra thị trường quốc tế gắn liền với nó là xuất xứ của sản phẩm Sản phẩmxuất khẩu ngày càng phát triển thì vị trí của quốc gia đó trên trường quốc tếngày càng được nâng cao Mỗi bước phát triển của sản phẩm xuất khẩu là mộtbước tăng cường địa vị kinh tế của quốc gia đó
* Vai trò của xuất khẩu khoáng sản
Việt Nam là một trong những nước được thiên nhiên ưu đãi cho nguồn tàinguyên vô cùng quý giá là khoáng sản Khai thác và xuất khẩu khoáng sản làmột trong những ngành công nghiệp cung cấp đầu vào phục vụ cho các ngànhkinh tế khác Bên cạnh những vai trò của một mặt hàng xuất khẩu, hoạt độngxuất khẩu khoáng sản còn có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, xãhội, bảo vệ môi trường,…
Trang 7- Về kinh tế
+ Đảm bảo nhu cầu về nguyên, nhiên liệu cho một số ngành sản xuất kháctrong nền kinh tế như sắt thép, vật liệu xây dựng…Hàng năm một lượng lớnkhoáng sản được cung cấp cho các ngành công nghiệp luyện kim cũng nhưaphục vụ nhu cầu của các ngành công nghiệp khác
+ Đóng góp vào GDP của quốc gia thông qua lượng ngoại tệ thu về từ hoạtđộng xuất khẩu khoáng sản Mỗi năm giá trị xuất khẩu khoáng sản đem lại hàngngàn tỷ đồng đóng góp vào ngân sách quốc gia Không những thế trong hoạtđộng xuất khẩu khoáng sản cũng đem lại lượng ngoại tệ khá lớn 13,3 tỷ USDnăm 2008 ( nguồn Tổng cục thống kê)
- Về xã hội
+ Hoạt động xuất khẩu khoáng sản đã tạo thêm công ăn việc làm chongười lao động, giảm tỷ lệ người thất nghiệp trong nền kinh tế Hàng nghìnngười tham gia vào quá trình khai thác, xuất khẩu khoáng sản Nếu như tínhmỗi lao động của ngành nuôi thêm 1,5 – 2 người ăn theo thì trong thực tế hoạtđộng xuất khẩu khoáng sản đã nuôi sống hàng nghìn người
+ Tạo nhiều làng mỏ, khu công nghiệp nhỏ, công nghiệp phụ trợ thuận lợicho khai thác, tạo thêm công việc cho người dân địa phương Tại các khu khaithác mỏ sẽ hình thành các dịch vụ, các nghề sản xuất nhỏ để phục vụ và cungcấp cho công nhân do đó phát triển ngành công nghiệp phụ trợ Điều này đã tạocông ăn việc làm, thu nhập cho một bộ phận người dân đồng thời cũng góp phầnphân bố lại dân cư, giảm sức ép gia tăng dân số ở thành thị
- Về vấn đề bảo vệ môi trường
+ Khai thác khoáng sản là một trong những ngành nghề mang lại nhiều rủi
ro như nổ lò, sập hầm…Trong quá trình chế biến có thể gây ô nhiễm môi trườngảnh hưởng tới môi trường sống, môi trường sinh thái Do đó các mỏ khai tháckhoáng sản phải có cam kết bảo vệ quyền lợi cho người lao động, bảo vệ môi
Trang 8trường sinh thái, giảm thiểu ô nhiễm Với phương châm đặt ra trong công tácbảo vệ môi trường nên đã có rất nhiều hoạt động có ý nghĩa trong việc quản lýmôi trường và giảm thiểu ô nhiễm do các hoạt động khai thác Tuy nhiên có thểcông tác quản lý môi trường chưa triệt để nên vẫn gây ra những ô nhiễm do hoạtđộng khai thác.
1.3 Quy trình thực hiện hoạt động xuất khẩu khoáng sản của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam
Để đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu được thực hiện một cách an toàn vàthuận lợi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp xuất khẩu phải tổ chức tiến hành theo cáckhâu của quy trình xuất khẩu chung
Trong quy trình gồm nhiều bước có quan hệ chặt chẽ với nhau bước trước
là cơ sở, tiền đề để thực hiện tốt bước sau Tranh chấp thường xảy ra trong tổchức thực hiện hợp đồng là do lỗi yếu kém ở một khâu nào đó Để quy trìnhxuất khẩu được tiến hành thuận lợi thì làm tốt công việc ở các bước là rất cầnthiết Thông thường một quy trình xuất khẩu hàng hóa gồm một số bước sau
1.3.1 Nghiên cứu thị trường và khách hàng
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu thônghàng hoá, ở đâu có sản xuất và lưu thông và ở đó có thị trường Thị trường nướcngoài gồm nhiều yếu tố phức tạp, khác biệt so với thị trường trong nước bởi vậynắm vững các yếu tố thị trường hiểu biết các quy luật vận động của thị trườngnước ngoài là rất cần thiết phải tiến hành hoạt động nghiên cứu thị trường.Nghiên cứu thị trường có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển và nâng caohiệu quả kinh tế Nghiên cứu thị trường phải trả lời một số câu hỏi sau: xuấtkhẩu cái gì, ở thị trường nào, thương nhân giao dịch là ai, giao dịch theophương thức nào, chiến lược kinh doanh cho từng giai đoạn để đạt được mụctiêu đề ra
Trang 91.3.1.1 Nắm vững thị trường nước ngoài
Đối với các đơn vị kinh doanh xuất khẩu, nghiên cứu thị trường có ý nghĩacực kỳ quan trọng Trong nghiên cứu cần nắm vững một số nội dung: Nhữngđiều kiện chính trị, thương mại chung, luật pháp và chính sách buôn bán, nhữngđiều kiện về tiền tệ và tín dụng, điều kiện vận tải và tình hình giá cước Bêncạnh đó, đơn vị kinh doanh cũng cần phải nắm vững một số nội dung liên quanđến mặt hàng kinh doanh trên thị trường đó như dung lượng thị trường, tập quán
và thị hiếu tiêu dùng của người dân, giá thành và dự biến động giá cả, mức độcạnh tranh của mặt hàng đó
1.3.1.2 Nhận biết mặt hàng kinh doanh trước và lựa chọn mặt hàng kinh doanh
Nhận biết mặt hàng kinh doanh trước tiên phải dựa vào nhu cầu của sảnxuất và tiêu dùng về quy cách chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và thị hiếucũng như tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất Từ đó xemxét các khía cạnh của hàng hoá trên thị trường thế giới Về khía cạnh thươngphẩm phải hiểu rõ giá trị công dụng, các đặc tính, quy cách phẩm chất, mẫumã… Vấn đề khá quan trọng trong giai đoạn này là xác định sản lượng hànghoá xuất khẩu và thời điểm xuất khẩu để bán được giá cao nhằm đạt được lợinhuận tối đa
Hiện nay do chủ trương phát triển nền kinh tế với nhiều thành phần thamgiai kinh tế trên nhiều ngành nghề và nhiều lĩnh vực khác nhau từ sản phẩm thôsản xuất bằng phương pháp thủ công đến sản phẩm sản xuất bằng máy móc tinh
vi hiện đại Tuyến sản phẩm được mở rộng với mặt hàng phong phú, đa dạngtạo điều kiện cho các đơn vị khinh doanh xuất khẩu có được nguồn hàng ổnđịnh với nhiều nhóm hàng kinh doanh khác nhau
Trang 101.3.1.3 Tìm kiếm thương nhân giao dịch
Để có thể xuất khẩu được hàng hoá trong quá trình nghiên cứu thị trườngnước ngoài các đơn vị kinh doanh phải tìm đựơc bạn hàng Lựa chọn thươngnhân giao dịch cần dựa trên một số đặc điểm sau: uy tín của bạn hàng trên thịtrường, thời gian hoạt động kinh doanh, khả năng tài chính, cơ sở vật chất kỹthuật, mạng lưới phân phối tiêu thụ sản phẩm… được như vậy, đơn vị kinhdoanh xuất khẩu mới xuất khẩu được hàng và tránh được rủi ro trong kinhdoanh quốc tế
1.3.2 Lập phương án kinh doanh
Dựa vào những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thịtrường nứơc ngoài đơn vị kinh doanh xuất khẩu lập phương án kinh doanh.Phương án này là bản kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt được những mụctiêu xác định trong kinh doanh Xây dựng phương án kinh doanh gồm các bướcsau:
Bước 1: Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân, đơn vị kinh doanh
phải đưa ra được đánh giá tổng quan về thị trường nước ngoài và đánh giá chitiết đối với từng phân đoạn thị trường đồng thời cũng phải đưa ra những nhậnđịnh cụ thể về thương nhân nước ngoài mà đơn vị sẽ hợp tác kinh doanh
B
ước 2 : Lựa chọn mặt hàng thời cơ, phương thức kinh doanh.
Từ tuyến sản phẩm công ty phải chọn ra mặt hàng xuất khẩu mà công ty
có khả năng sản xuất, có nguồn hàng ổn định đáp ứng được thời cơ xuất khẩuthích hợp : khi nào thì xuất khẩu, khi nào thì dự trữ hàng chờ xuất khẩu … vàtuỳ thuộc vào khả năng của công ty mà công ty lựa chọn phương thức kinhdoanh phù hợp
Bước 3: Đề ra mục tiêu
Trang 11Trên cơ sở đánh giá về thị trường nước ngoài khả năng tiêu thụ sản phẩmxuất khẩu thị trường đó mà đơn vị kinh doanh xuất khẩu đề ra mục tiêu chotừng giai đoạn cụ thể khác nhau.
Giai đoạn1: Bán sản phẩm với giá thấp nhằm cạnh tranh với sản phẩmcùng loại, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có cơ hội dùng thử, chiếm lĩnh thịphần
Giai đoạn 2: Nâng dần mức giá bán lên để thu lợi nhuận Mục tiêu nàyngoài nguyên tố thực tế cần phù hợp với khả năng của công ty là mục đích đểcông ty phấn đấu hình thành và có thể vượt mức
Bước 4: Đề ra biện pháp thực hiện.
Giải pháp thực hiện là công cụ giúp công ty kinh doanh thực hiện cácmục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất, nhanh nhất, có lợi nhất cho công ty kinhdoanh
Bước 5: Đánh giá hiệu quả của việc kinh doanh.
Giúp cho công ty đánh giá hiệu quả kinh doanh sau thương vụ kinh doanh.đồng thời đánh giá được hiệu quả những khâu công ty kinh doanh đã và làm tốt,nhữngkhâu còn yếu kém nhằm giúp công ty hoàn thiện quy trình xuất khẩu
1.3.3 Đàm phám và kí kết hợp đồng
1.3.3.1 Đàm phám
Chúng ta đã biết rằng đàm phám thực chất là việc trao đổi, học thuật vừamang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật để sử dụng các kĩ năng, kĩ xảotrong giao dịch để nhằm thuyết phục đi đến việc chấp nhận những nội dung màđôi bên đưa ra Muốn đàm phán thành công thì khâu chuẩn bị đàm phán đónggóp một vai trò quan trọng như: chuẩn bị nội dung và xác định mục tiêu, chuẩn
bị dữ liệu thông tin, chuẩn bị nhân sự đàm phán chuẩn bị chương trình đàmphán