Chính vì vậy, doanh nghiệp cần xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào dự toán ngân sách để có những tác động, biện pháp phù hợp để giúp cho việc thực hiện dự toán ngân sách đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-*** -
ĐINH NGUYỄN TRẦN QUANG
ẢNH HƯỞNG CỦA
SỰ HỢP LÝ TRONG PHÂN PHỐI CỦA DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
VÀ SỰ HỢP LÝ TRONG QUY TRÌNH DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
ĐẾN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN
THÔNG QUA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH –
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-*** -
ĐINH NGUYỄN TRẦN QUANG
ẢNH HƯỞNG CỦA
SỰ HỢP LÝ TRONG PHÂN PHỐI CỦA DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
VÀ SỰ HỢP LÝ TRONG QUY TRÌNH DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
ĐẾN KẾT QUẢ CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN
THÔNG QUA SỰ THAM GIA VÀO DỰ TOÁN NGÂN SÁCH –
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số : 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN PHONG NGUYÊN
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài: “Ảnh hưởng của sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách
và sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách đến kết quả công việc của nhân viên thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách – bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” do chính tác giả thực hiện Đề tài không hề sao chép từ các công trình
nghiên cứu khoa học khác Nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và kết quả nghiên cứu trong thời gian qua Những nội dung trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các số liệu trong bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, chứng minh nhận xét được chính tác giả thu thập từ bộ dữ liệu sơ cấp thực
tế và các nguồn khác nhau có ghi trong tài liệu tham khảo
Đề tài được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Phong Nguyên, giảng viên Trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 03 năm 2018
Học viên
Đinh Nguyễn Trần Quang
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
2.2.1 Lý thuyết đại diện (agent theory) 23
2.2.2 Lý thuyết tâm lý (psychological theory) 24
2.2.3 Lý thuyết động viên (motivational theory) 26
Trang 5CHƯƠNG 3: 28
3.2.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 29
3.2.1.1 Mối quan hệ giữa sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách và sự tham gia vào dự toán ngân sách 29
3.2.1.2 Mối quan hệ giữa sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách và sự tham
3.2.1.3 Mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và kết quả công việc
3.2.3.1 Thang đo sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách 35
3.2.3.2 Thang đo sự hợp lý trong phân phối dự toán ngân sách 36
3.2.3.3 Thang đo sự tham gia vào dự toán ngân sách 36
3.2.3.4 Thang đo kết quả công việc 37
Trang 64.5 Thảo luận về kết quả kiểm định 48
5.4.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý 55
5.4.2 Hoàn thiện, đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, bộ máy tổ chức và điều hành
PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH CÁC ĐÁP VIÊN TRẢ LỜI BẢNG KHẢO SÁT 71
PHỤ LỤC 6: HỆ SỐ TƯƠNG QUAN – ĐƯỜNG DẪN MÔ HÌNH PLS 100
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thang đo sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách 35 Bảng 3.2 Thang đo sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách 36 Bảng 3.3 Thang đo sự tham gia vào dự toán ngân sách 36
Bảng 4.3 Ma trận tương quan đánh giá giá trị phân biệt của thang đo 46 Bảng 4.4 Kiểm định các giả thuyết trong mô hình theo đường dẫn PLS 47
Trang 8dự toán ngân sáchHiện nay, trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, việc lập và thực hiện dự toán ngân sách đã và đang được áp dụng trong hầu hết các doanh nghiệp Dự toán ngân sách đã có những đóng góp nhất định trong việc gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn những chi phí của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong quá trình nhà quản trị lên kế hoạch xây dựng dự toán ngân sách cho doanh nghiệp của mình, họ cần phải thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết để đưa ra một
dự toán ngân sách phù hợp đối với nguồn lực của doanh nghiệp và mục tiêu doanh nghiệp đặt ra (Maiga và Jacobs (2007) Những thông tin này bao gồm thông tin bên trong (nguồn lực tài chính, lợi thế cạnh tranh, mục tiêu của doanh nghiệp, năng lực, kiến thức, kỹ năng và định hướng nghề nghiệp của nhân viên…) lẫn thông tin bên ngoài (môi trường kinh tế vĩ mô, đối thủ cạnh tranh, cơ hội kinh doanh…) của doanh nghiệp
Ngân sách là một trong những mắt xích quan trọng của tiến trình đổi mới từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế khu vực, thế giới của Việt Nam Trong thời gian qua, hội nhập với những tiến trình đổi mới, lĩnh vực quản lý ngân sách và phân cấp quản lý ngân sách là một nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó không chỉ có ý nghĩa trong việc bồi dưỡng tập trung các nguồn thu, bố trí hợp lý các khoản chi mà còn nhằm phát huy vai trò quản lý Lĩnh vực này trong nhiều năm gần đây đã đạt được những thành tích đáng kể từ các nghiên cứu về
Trang 9- Tình trạng quản lý thu, chi vẫn còn xảy ra thất thoát do chưa bao quát hết các nguồn thu và các khoản chi, chưa có quan điểm xử lý rõ ràng về các khoản chi sai quy định Chưa tập trung đúng mức về dự toán ngân sách
- Công tác dự toán ngân sách là khâu rất quan trọng, nhưng chưa được quan tâm đúng mức
- Đội ngũ cán bộ làm công tác có liên quan đến dự toán ngân sách còn hạn chế
về chuyên môn, chậm đổi mới
Như vậy, có thể thấy rằng dự toán ngân sách và sự tham gia vào dự toán ngân sách có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện những mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra, nó làm tăng kết quả công việc, sự hài lòng, sự cam kết của nhân viên đối với doanh nghiệp Thông qua đó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể phát triển thành công hơn Chính vì vậy, doanh nghiệp cần xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào dự toán ngân sách để có những tác động, biện pháp phù hợp để giúp cho việc thực hiện dự toán ngân sách được dễ dàng hơn,
từ đó nâng cao kết quả công việc của nhân viên cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Lau và Roopnarain (2014) Từ việc nhận thức sự cần thiết của dự toán ngân sách và xem xét những yếu tố nào sẽ tác động đến sự tham gia
dự toán ngân sách của công ty trong bối cảnh hiện nay, tác giả đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách và sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách đến kết quả công việc của nhân viên thông qua sự tham gia vào dự toán ngân sách – bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” nhằm
giúp nhà quản trị, lãnh đạo công ty có cơ sở để thực hiện việc lập và thực hiện dự toán ngân sách để đem lại một kết quả công việc tốt nhất cho nhân viên và tổ chức
Trang 103
Nghiên cứu này bổ sung cho các nhà quản trị cơ sở để thiết lập dự toán ngân sách và thiết kế quy trình lập dự toán ngân sách với hiệu quả cao hơn, phân phối dự toán ngân sách một cách hợp lý hơn để mang lại kết quả công việc tốt hơn, từ đó đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp hướng đến Nghiên cứu của tác giả phần nào lấp đầy khe hổng nghiên cứu đã nêu ở phần trên bằng cách chứng minh 3 giả thuyết
mà tác giả đặt ra áp dụng cho các doanh nghiệp tại Việt Nam Nghiên cứu đã chứng minh rõ mối liên hệ giữa sự hợp lý trong quy trình lập dự toán ngân sách, sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách đối với sự tham gia vào dự toán ngân sách và mối liên hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách đối với kết quả công việc áp dụng đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
Nghiên cứu này còn ủng hộ lý thuyết đại diện (agent theory), lý thuyết tâm lý
(psychological theory) và lý thuyết động viên (motivational theory) thông qua kết quả
khảo sát thực tế trong bối cảnh xây dựng và thực hiện dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp ở Việt Nam
Nghiên cứu cũng đưa ra một cách nhìn khác so với kết quả nghiên cứu mà các tác giả Maiga và Jacobs (2007), Wentzel (2002), Lau và Roopnarain (2014), Parker
và Kyj (2006) và Shields và Shields (1998) đã đưa ra về mối quan hệ giữa sự hợp lý trong quy trình lập dự toán ngân sách, sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách đối với sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự tác động của sự tham gia vào
dự toán ngân sách đối với kết quả công việc đã chứng minh trong những nghiên cứu trước đây Cụ thể, thay vì xem sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách là kết quả của sự tham gia vào quá trình lập dự toán ngân sách như của tác giả Maiga và Jacobs (2007), nghiên cứu này đã đưa ra một góc nhìn ngược lại khi chứng minh rằng sự hợp
lý trong quá trình dự toán ngân sách lại là nhân tố thúc đẩy, tăng cường mức độ tham gia của nhân viên vào dự toán ngân sách (nếu doanh nghiệp đã thực hiện dự toán ngân
sách theo chiều từ dưới lên trên (bottom up approach) chi cho phép nhân viên cấp
dưới tham gia vào dự toán ngân sách) Qua đó, nghiên cứu đã đưa ra chuỗi PPP (cảm
nhận – tham gia – thực hiện) (Perceive - Participate – Perform) để kết nối có một
cách có hệ thống các mối quan hệ giữa sự hợp lý trong quy trình lập dự toán ngân
Trang 114
sách, sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách đối với sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đối với kết quả công việc trong điều kiện ở Việt Nam Đó cũng là một đóng góp mới của đề tài trên phương diện lý luận
Đề tài cũng bổ sung vào sự hiểu biết còn đang hạn chế của chúng ta về những nhân tố tác động đến việc thiết lập dự toán ngân sách và quy trình thiết lập dự toán ngân sách của doanh nghiệp tại Việt Nam Nghiên cứu này sẽ giúp cho các doanh nghiệp đang trong giai đoạn triển khai việc thiết lập dự toán ngân sách cái nhìn về các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc thiết lập dự toán ngân sách, từ đó giúp doanh nghiệp có biện pháp, kế hoạch phù hợp với điều kiện của mình nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, gián tiếp nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, đạt hiệu quả hoạt động kinh doanh vượt trội
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu nhằm giải thích tác động của các biến trong mô hình đối với hiệu quả của việc thiết lập dự toán ngân sách, đưa ra các bằng chứng thực nghiệm giúp cải thiện và nâng cao vai trò của các đối tượng có tham gia vào quá trình thiết lập dự toán ngân sách nhằm mang lại kết quả công việc tốt nhất Cụ thể các mục tiêu nghiên cứu như sau:
1 Kiểm định mối quan hệ giữa sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách và
sự tham gia vào dự toán ngân sách ở các doanh nghiệp Việt Nam
2 Kiểm định mối quan hệ giữa sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách và sự tham gia vào dự toán ngân sách ở các doanh nghiệp Việt Nam
3 Kiểm định mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và kết quả công việc ở các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 125
3 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu làm rõ tác động giữa sự hợp lý trong quy trình lập dự toán ngân sách, sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách đối với sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đối với kết quả công việc của nhân viên trong môi trường các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam
để lấp đầy khe hổng nghiên cứu nói trên cũng như đưa ra một số kiến nghị của đề tài, tác giả đặt ra ba câu hỏi như sau:
- RQ1: Sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách có tác động như thế nào đến sự tham gia vào dự toán ngân sách của cấp dưới?
- RQ2: Sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách có tác động như thế nào đến sự tham gia vào dự toán ngân sách của cấp dưới?
- RQ3: Sự tham gia vào dự toán ngân sách có tác động như thế nào đến kết quả công việc của cấp dưới?
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Pham vi nghiên cứu:
- Không gian: Các doanh nghiệp tại Việt Nam
- Thời gian: tháng 5/2017
Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng phân tích: sự hợp lý trong quy trình lập dự toán ngân sách, sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách, sự tham gia vào dự toán ngân sách, kết quả công việc của nhân viên
- Đối tượng khảo sát: các nhà quản trị cấp trung (Trưởng/phó các bộ phận,
phòng ban) và cấp thấp (tổ trưởng, nhóm trưởng, ) đã có kinh nghiệm
tham gia vào việc thiết lập và thực hiện dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 136
5 Tóm tắt phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được tác giả thực hiện theo trường phái thực chứng, sử dụng phương pháp định lượng, thống kê để chứng minh mô hình và các giả thuyết kiểm định trong mô hình Tác giả sử dụng các công cụ hỗ trợ gồm Survey Monkey để thu thập dữ liệu và Smart PLS3 để kiểm định, đánh giá mô hình và các giả thuyết kiểm định trong mô hình
Thang đo mà tác giả sử dụng trong nghiên cứu này được kế thừa từ những thang
đo được chấp nhận rộng rãi và được áp dụng trong các nghiên cứu trước đây của tác giả Maiga và Jacobs (2007), Wentzel (2002), Lau và Roopnarain (2014), Parker và Kyj (2006) và Shields và Shields (1998)…
6 Kết cấu của đề tài
Đề tài có cấu trúc như sau:
Phần mở đầu: Trình bày tổng quan nghiên cứu gồm tính cấp thiết và lý do chọn
đề tài, khe hổng nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, tầm quan trọng của nghiên cứu, tóm tắt đề tài
Chương 1: Trình bày các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây có liên quan đến đề tài
Chương 2: Trình bày các khái niệm liên quan đến nghiên cứu, lý thuyết nền tảng
có liên quan đến đề tài
Chương 3: Trình bày về phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu bao gồm phương pháp lấy mẫu, cách thức thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu
Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và bàn luận, các kết quả thống kê mô
tả, phân tích, kiểm định các giả thuyết và các nhận xét liên quan đến nội dung nghiên cứu
Trang 147
Chương 5: Trình bày tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đưa ra kết luận, giải pháp, kiến nghị của đề tài áp dụng cho các doanh nghiệp tại Việt Nam Những đóng góp về hàm ý lý thuyết và thực tiễn của đề tài Những điểm hạn chế của đề tài, định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo
Trang 15từ đó đến nay (Shields và Shields 1998)
Các nhà nghiên cứu kế toán từ lâu đã cố gắng tìm hiểu mối quan hệ giữa sự tham gia ngân sách và kết quả thực hiện công việc của các đối tượng có liên quan Một số nghiên cứu đề xuất rằng sự tham gia của ngân sách có tác động tích cực mạnh
mẽ đến kết quả công việc, tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm cho quan điểm này vẫn khá mơ hồ Trong khi một số nghiên cứu kết luận rằng mối quan hệ này là tích cực, một số nghiên cứu khác lại cho rằng một mối quan hệ tiêu cực hoặc không có tác động gì đáng kể giữa các yếu tố này
Theo nghiên cứu của tác giả Maiga (2005), sự tham gia vào dự toán ngân sách
đã được nghiên cứu rộng rãi trong các tài liệu kế toán và được xem như là một phương tiện để cải thiện kết quả hoạt động của các doanh nghiệp Tác giả Maiga (2005) trong nghiên cứu của mình đã đề xuất rằng: sự tham gia vào dự toán ngân sách cũng có chức năng thông tin quan trọng, qua đó các nhân viên, các cấp quản trị có thể thu thập, trao đổi và phổ biến thông tin liên quan đến công việc mà họ đang thực hiện cũng như truyền đạt các ý kiến cá nhân của họ đến các nhà quản trị cấp cao để tạo thuận lợi cho quá trình ra quyết định trong việc điều hành doanh nghiệp Hơn nữa, hành động tham gia vào quá trình lập ngân sách sẽ giúp thúc đẩy các cấp dưới chấp nhận và cam kết các mục tiêu ngân sách mà các nhà quản trị đặt ra
Trang 169
Một trong những lợi ích quan trọng nhất của việc tham gia vào quá trình dự toán ngân sách là chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi thông tin giữa cấp dưới và cấp trên trong các cuộc thảo luận ngân sách có thể mang lại cho cá nhân và tổ chức nhiều lợi ích đặc biệt quan trọng (Shields và Shields 1998) Khi có sự tham gia của các nhân viên trong quá trình xây dựng dự toán ngân sách, nhà quản trị sẽ có nhiều thông tin hơn để đưa ra quyết định của mình một cách hợp lý Kiến thức chuyên ngành và kinh nghiệm làm việc trực tiếp của những nhân viên sẽ bổ sung thêm cho nhà quản trị có sở để xác định dự toán ngân sách chính xác hơn, tránh gây ra sự lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp, hoặc lập dự toán ngân sách nằm ngoài khả năng thực hiện của nhân viên khiến cho kế hoạch hành động không đạt được như mong muốn
Quá trình lập dự toán ngân sách còn giúp cho các bộ phận, phòng ban, nhân viên trong doanh nghiệp có thói quen lập kế hoạch và kiểm soát chi phí của mọi hoạt động, khuyến khích tiết kiệm, đề cao tinh thần tập thể, thúc đẩy việc trao đổi thông tin, phối hợp giữa các cấp, bộ phận, phòng ban
Lý thuyết đại diện và lý thuyết tâm lý đều khẳng định rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách ảnh hưởng tích cực đến kết quả công việc Khi một người được tham gia vào quá trình thiết lập và điều chỉnh dự toán ngân sách, kiến thức và kỹ năng của
họ sẽ góp phần hoàn thiện dự toán ngân sách một cách hợp lý, họ sẽ có thêm động lực để hoàn thành nhiệm vụ của mình Theo lý thuyết tâm lý, việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia có tác động tích cực đến việc thực hiện thông qua các cơ chế tạo động lực và nhận thức (Shields và Shields 1998, Birnberg và Luft 2007)
Trong đề tài của mình, tác giả Shields và Shields (1998) đã kết luận rằng: do cơ chế động lực thúc đẩy, việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau sẽ làm tăng lòng tin, sự kiểm soát và sự gắn kết của các đối tượng này với
tổ chức, đồng thời hạn chế sự chống đối đối với các thay đổi, chấp nhận và cam kết hơn với dự toán ngân sách được đưa ra, qua đó cải thiện kết quả công việc
Trang 17sự tham gia vào dự toán ngân sách Có thể kể đến như:
Bài nghiên cứu của Shields và Shields (1998) đã chỉ ra rằng, yêu tố “sự truyền
thông về ngân sách” (budget communication) và “sự hiểu biết về ngân sách”
(understanding of the budget) có ảnh hưởng đến sự tham gia vào dự toán ngân sách
một cách trực tiếp Khi doanh nghiệp, nhà quản trị quyết định ngân sách và yêu cầu nhân viên thực hiện, yếu tố “sự truyền thông về ngân sách” có tác động dương đến
sự tham gia vào ngân sách Doanh nghiệp càng phổ biến cho nhân viên một cách kỹ càng, cụ thể thì nhân viên sẽ nắm rõ được ngân sách mà mình thực hiện, dẫn đến việc tham gia vào dự toán ngân sách nhiều hơn Điều này một lần nữa được khẳng định qua nghiên cứu của tác giả Maiga (2005), trong bài nghiên cứu này, tác giả đã đưa đến kết luận rằng sự thiếu hụt thông tin giữa của nhân viên và nhà quản trị sẽ thúc đẩy nhà quản trị tác động để nhân viên tham gia vào dự toán ngân sách nhiều hơn Trong nghiên cứu của Kohlmeyer III, Mahenthiran và cộng sự (2014), các tác giả đã chứng minh được giả thuyết rằng “phong cách lãnh đạo có tác động tích cực đối với sự tham gia vào dự toán ngân sách” Từ nghiên cứu này, ta có thể nhận thấy rằng phong cách lãnh đạo cũng là một yếu tố tác động đến sự tham gia vào dự toán ngân sách Một nhà lãnh đạo có phong cách lãnh đạo gần gũi với nhân viên, thường xuyên động viên nhân viên khi làm việc, tôn trọng nhân viên và có mối quan hệ tốt với cấp dưới thì sẽ có tác động tích cực đến sự tham gia vào dự toán ngân sách của nhân viên Trong môi trường làm việc, nhân viên thường có mong muốn được nhìn
Trang 1811
nhận đúng về những công việc mà mình thực hiện đã đóng góp vào kết quả chung của doanh nghiệp, nhà quản trị có cái nhìn chính xác và công bằng sẽ là nguồn động lực để nhân viên cố gắng cống hiến nhiều hơn cho doanh nghiệp thông qua việc tham gia vào ngân sách, thực hiện ngân sách… Kết luận này cũng được khẳng định lại qua nghiên cứu của các tác giả (Kyj và cộng sự, 2008)
Các tác giả Chong và Johnson (2007) trong nghiên cứu của mình đã kết luận rằng khả năng phân tích công việc càng thấp thì nhân viên càng nên tham gia vào dự toán ngân sách, sự tham gia vào dự toán ngân sách sẽ mang lại cho nhân viên thêm nhiều thông tin liên quan đến công việc mà mình thực hiện, từ đó tăng khả năng phân tích công việc của mình Cũng trong nghiên cứu này, tác giả cũng chứng minh rằng, nếu công việc của nhân viên có phát sinh nhiều đầu mục công việc không liên quan trực tiếp đến mô tả công việc thường ngày, họ sẽ cần tham gia nhiều hơn vào ngân sách để nắm rõ công việc mà họ có thể thực hiện
Tác giả Lindquist (1995) đề xuất việc đảm bảo sự công bằng như là một điều kiện tiên quyết trong việc lập dự toán ngân sách Tính công bằng gồm sự hợp lý trong phân phối và sự hợp lý trong quy trình đều có ảnh hưởng đến sự tham gia ngân sách Tác giả cho rằng khi các nhân viên đánh giá rằng cách thức phân bổ ngân sách là rõ ràng, công bằng giữa các bộ phận, phù hợp với nhu cầu, năng lực của nhân viên, họ
sẽ chủ động tham gia vào quá trình lập dự toán ngân sách, cũng như thực hiện dự toán ngân sách với một thái độ tích cực hơn
Qua khảo sát lý thuyết cho thấy, chưa có nghiên cứu nào đánh giá sự tác động giữa sự hợp lý dự toán ngân sách (về phân phối và quy trình) đối với sự tham gia vào
dự toán ngân sách của cấp dưới và sự tác động của sự tham gia này đến kết quả công việc họ trong điều kiện ở Việt Nam Đây chính là khe hổng nghiên cứu cần được lấp đầy Khe hổng nghiên cứu này là quan trọng bởi vì đánh giá được tác động qua lại giữa sự hợp lý dự toán ngân sách (về phân phối và quy trình) sách đối với sự tham gia của nhân viên vào dự toán ngân sách sẽ giúp cho các doanh nghiệp đang trong giai đoạn triển khai việc thiết lập dự toán ngân sách có cái nhìn đúng về các yếu tố
Trang 1912
tác động đến hiệu quả của việc thiết lập dự toán ngân sách, từ đó giúp doanh nghiệp
có biện pháp, kế hoạch phù hợp với điều kiện của mình nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, từ đó góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh, đạt hiệu quả hoạt động kinh doanh vượt trội
1.2 Khe hổng nghiên cứu
Trên thế giới đã có khá nhiều những nghiên cứu đánh giá sự tác động giữa sự hợp lý trong quy trình lập dự toán ngân sách, sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách đối với sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đối với kết quả công việc có thể kể đến như các nghiên cứu
“The influence of fairness perceptions and goal commitment on managers' performance in a budget setting” của tác giả Wentzel (2002), nghiên cứu “Budget participation's influence on budget slack: The role of fairness perceptions, trust and goal commitment” của tác giả Maiga và Jacobs (2007), nghiên cứu “Vertical information sharing in the budgeting process” của tác giả Parker và Kyj (2006) và nghiên cứu “The effects of nonfinancial and financial measures on employee motivation to participate in target setting” của tác giả Lau và Roopnarain (2014)… Tuy nhiên, những nghiên cứu này lại được thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, khiến cho việc áp dụng đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn còn thiếu tính thuyết phục
Tại Việt Nam, chúng ta có thể tìm kiếm được khá nhiều bài luận văn, nghiên cứu đề cập đến thực trạng việc lập dự toán ngân sách tại một đơn vị cụ thể có thể kể đến như các nghiên cứu của các tác giả Phạm Thị Phương Anh (2014), Trần Thị Hiền (2016), Lê Thu Hằng (2016) nhưng lại rất ít bài viết nghiên cứu đánh giá chung về những tác động của các yếu tố đến việc lập dự toán ngân sách
Với vốn kiến thức và hiểu biết của tác giả, xét trên môi trường kinh doanh tại Việt Nam hiện nay thì chưa có nghiên cứu nào đánh giá sự tác động giữa sự hợp lý trong quy trình lập dự toán ngân sách, sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách đối với sự tham gia vào dự toán ngân sách và sự tác động của sự tham gia vào
Trang 2013
dự toán ngân sách đối với kết quả công việc Đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam, các yếu tố nói trên có tác động qua lại với nhau như thế nào? Để giải thích sự khác biệt về mức độ tham gia vào dự toán ngân sách sẽ đóng góp vào kết quả công việc của nhân viên như thế nào trong môi trường doanh nghiệp Việt Nam Bằng nghiên cứu này, tác giả hy vọng sẽ lấp đầy được khe hổng này và đưa ra những kết luận giúp làm rõ tác động giữa các yếu tố nói trên đối với kết quả công việc, qua đó đưa ra hàm ý ứng dụng để các doanh nghiệp tại Việt Nam có cơ sở áp dụng tại đơn
vị mình
Trang 2114
CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
“Chương 2: Cơ sở lý thuyết” trình bày các khái niệm liên quan đến nghiên cứu
và các lý thuyết nền tảng có liên quan đến đề tài
2.1 Dự toán ngân sách
2.1.1 Khái niệm dự toán ngân sách
Tất cả doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định liên quan đến tài chính, doanh thu và chi phí, để đạt được những mục tiêu này, doanh nghiệp cần phải phân bổ các nguồn lực đang nắm giữ một cách phù hợp thông qua việc dự toán ngân sách Dự toán ngân sách sẽ giúp phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu cụ thể, từ đó các doanh nghiệp
có thể quản lý hoạt động của mình hiệu quả hơn và đảm bảo việc chi tiêu không vượt quá khả năng kiểm soát (Lebas 2015)
Dự toán ngân sách giúp ước tính chi phí, doanh thu và cân đối với nguồn lực của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, phản ánh việc dự đoán các biến động của môi trường bên ngoài trong tương lai để đạt được mục tiêu tài chính
mà doanh nghiệp hướng đến Bên cạnh đó, dự toán ngân sách còn giúp các doanh nghiệp có công cụ để thực hiện việc kiểm soát chi phí thực hiện mục tiêu một cách hiệu quả, lường trước những rủi ro về lãi/lỗ tiềm ẩn, chủ động có những biện pháp ứng phó kịp thời để hạn chế tối đa những thiệt hại có thể gặp phải (Masakala, Omol
và cộng sự 2017)
Dự toán ngân sách còn là một trong những công cụ hành chính quan trọng nhất,
là một kế hoạch hành động để đạt được các mục tiêu định lượng, tiêu chuẩn để đo lường hiệu suất và phương tiện để đối phó với các tình huống bất lợi có thể lường trước được Việc lập dự toán ngân sách có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của việc thực hiện mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra Quá trình lập
dự toán ngân sách còn giúp cho các bộ phận, phòng ban, nhân viên trong doanh
Trang 2215
nghiệp có thói quen lập kế hoạch và kiểm soát chi phí của mọi hoạt động, khuyến khích tiết kiệm, nâng cao tinh thần tập thể, thúc đẩy việc tương tác, trao đổi thông tin, phối hợp giữa các cấp bậc, các bộ phận, phòng ban
Quy trình dự toán ngân sách là quy trình mà các nhà quản trị thiết lập để đưa ra một dự toán ngân sách cho các kế hoạch tài chính, dự án… nhằm phân bổ, giới hạn
và kiểm các nguồn lực của doanh nghiệp được phép sử dụng trong từng kế hoạch, dự
án cụ thể với mục đích đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra Quy trình này đòi hỏi sự tham gia, phối hợp của nhiều phòng ban, bộ phận, các nhà quản trị các cấp
và cả các nhân viên trong doanh nghiệp để xây dựng được ngân sách phù hợp với nguồn lực doanh nghiệp và có khả năng thực hiện được Một quy trình dự toán ngân sách hoàn thiện và hợp lý sẽ giúp nhà quản trị đưa ra một dự toán ngân sách phù hợp với nguồn lực mà doanh nghiệp đang nắm giữ (Lindquist 1995, Wentzel 2002, Maiga
và Jacobs 2007)
Như vậy, dự toán ngân sách là quá trình mà doanh nghiệp ước tính, phân bổ các nguồn lực của mình đang nắm giữ để thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đạt được, kết quả quá trình này được gọi là ngân sách Ngân sách sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp có công cụ để kiểm soát, đánh giá cũng như lường trước những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong qua trình hoạt động, từ đó đưa
ra những giải pháp phù hợp để giảm thiểu thiệt hại, cũng như giúp cho doanh nghiệp tận dụng nguồn lực đang có với hiệu quả tốt nhất
2.1.2 Sự tham gia vào dự toán ngân sách
Theo nghiên cứu của tác giả Shields và Shields (1998), việc lập dự toán ngân sách đòi hỏi sự tham gia, phối hợp của nhiều phòng ban, bộ phận, các nhà quản trị các cấp và cả các nhân viên trong doanh nghiệp để thực hiện Sự tham gia vào dự toán ngân sách được định nghĩa là một quá trình mà nhà quản trị cùng các nhân viên tham gia và có ảnh hưởng đến việc thiết lập ngân sách mà họ đặt ra để thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp hướng đến
Trang 2316
Theo quan điểm của các tác giả Subramaniam và Mia (2001), sự tham gia vào
dự toán ngân sách còn liên quan đến mức độ mà các nhà quản trị cùng nhân viên tham gia vào việc thiết lập ngân sách của họ Sự tham gia ngân sách còn được định nghĩa như một phương tiện truyền thông và ảnh hưởng của các nhà quản trị trong quá trình ngân sách và mức độ ảnh hưởng của họ đối với việc thiết lập các mục tiêu ngân sách (Milani (1975); Brownell và Hirst (1986), Hassel và Cunningham (1996))
Như vậy, trong nghiên cứu này, có thể định nghĩa “sự tham gia vào dự toán
ngân sách” là việc các nhà quản trị, các nhân viên của các phòng ban, bộ phận trong
doanh nghiệp cùng phối hợp, tương tác và trao đổi thông tin để đưa ra một ngân sách phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện các kế hoạch tài chính, dự án
mà doanh nghiệp theo đuổi một cách có hiệu quả
2.1.3 Sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách
Các cơ quan, đơn vị phải lập dự toán tài chính thu và chi theo đúng quy định của Nhà nước các văn bản hướng dẫn lập dự toán của các cơ quan chức năng có liên quan ban hành hàng năm Ngoài ra việc lập dự toán thu và chi tài chính còn căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; tình hình công việc, nhiệm vụ của năm trước và kế hoạch dự kiến cho năm tới
Công việc quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị: Lập dự toán thu chi tài chính, quản lý việc chấp hành dự toán và quyết toán thu chi tài chính Trong quá trình quản lý tài chính của các cơ quan, đơn vị thì việc lập dự toán thu chi tài chính là tiền
đề quan trọng để định hướng đến toàn bộ các khâu, chuỗi trong quản lý tài chính của mỗi cơ quan, đơn vị
Nguyên tắc then chốt nhất của sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách là tổng thu về phải lớn hơn tổng chi thường xuyên, chi đầu tư và phát triển được tích lũy ngày một tăng từ một phần trong tổng ngân sách tích lũy được Trong trường hợp phát sinh bội chi thì phải bù đắp bằng nguồn vốn trong và ngoài cơ quan, đơn vị Đặc biệt trong trường hợp vay bù đắp bội chi phải đảm bảo nguyên tắc không được chi cho tiểu dùng mà chỉ sử dụng chi cho đầu tư và phát triển Khi sử dụng vốn vay bù
Trang 2417
đắp bội chi thì các cơ quan, đơn vị phải có kế hoạch sử dụng hợp lý, cân đối ngân sách để trả nợ được đúng hạn
Khi đơn vị có nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng có vốn đầu tư từ ngân sách
mà vượt quá ngân sách thì được phép huy động vốn đầu tư phù hợp với từng công trình, nhưng phải đảm bảo ngân sách có tổng chi không vượt quá tổng thu
Sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý tài chính của các cơ quan, đơn vị, cụ thể:
- Đánh giá được khả năng và nhu cầu tài chính của các cơ quan, đơn vị trong năm vừa qua và năm tiếp theo
- Thể hiện được nhu cầu thu chi, là công cụ quan trong cho sự điều hành của nhà quản lý các cơ quan, đơn vị
- Đánh giá được hiệu quả của việc lập dự toán trong các cơ quan, đơn vị Từ việc đánh giá hiệu quả có thể đúc rút các bài học kinh nghiệm để ngày càng hoàn thiện quy trình lập dự toán; cân đối ngân sách thu chi; cách thức huy động vốn và sử dụng vốn vay hiệu quả nhất
Quy trình dự toán ngân sách phải thể hiện đầy đủ các nội dụng sau:
- Làm rõ được các khoản thu, chi dự kiến theo đúng các văn bản pháp luật quy định của Nhà nước
- Lập dự toán phải theo từng lĩnh vực, đối với mỗi lĩnh vực cần làm rõ được các khoản thu và chi
- Ngân sách luôn được cân đối, việc thu chi phải thể hiện rõ được nguồn
- Sử dụng các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính để lập dự toán, thể hiện được đầy đủ các khoản thu chi
Trang 2518
- Khi lập dự toán phải dựa trên các tài liệu có liên quan: Báo cáo thuyết minh
cơ sở; các căn cứ tính toán (chủ yếu các các văn bản quy định theo từng ngành, lĩnh vực)
Quy trình lập dự toán tiến hành theo thứ tự sau:
- Thông số kiểm tra sẽ do các cơ quan tài chính cấp trên hướng dẫn và thông báo cho số kiểm tra dự toán Việc giao số kiểm tra sẽ thực hiện ở nhiều cấp ngân sách, các đơn vị ở các cấp khác nhau Số kiểm tra và các văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh phí sẽ được giao cho đơn vị dự toán
- Lập dự toán ngân sách được thực hiện dựa trên số kiểm tra và các văn bản hưởng dẫn mà đơn vị nhận được từ các cơ quan cấp trên
- Hoàn chỉnh dự toán và trình cấp trên được thực hiện sau khi các đơn vị hoàn thành lập dự toán của mình
Việc lập dự toán thu có ý nghĩa lớn trong việc lập dự toán chi và thực hiện nhiệm vụ thu, chi của đơn vị được chủ động Các đơn vị không có nguồn thu sự nghiệp thì đơn vị phải chủ động lập dự toán thu theo đúng quy định của Nhà nước và
cơ quan, phù hợp với lĩnh vực hoạt động của mình Các đơn vị có thêm nguồn thu sự nghiệp thì sẽ phải bổ sung thêm lập dự toán đối với nguồn thu nằm ngoài ngân sách
Việc lập dự toán chi phải thể hiện đầu đủ được các nội dung sau:
- Các khoản chi phải có nguồn đảm bảo và chi ổn định qua các năm
- Các khoản chi thường xuyên phải đi kèm với các hoạt động của đơn vị
- Khoản chi phải tuần thủ theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước và phải đạt kết quả cao với nguồn lực thấp nhất
Phòng Kế hoạch – Tài chính căn cứ vào dự toán thu, chi để lập báo cáo thuyết minh dự toán thể hiện đầy đủ các nội dụng: Các chỉ tiêu dự toán; đảm bảo việc thu,
Trang 2619
chi phù hợp với các quy định của Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan; làm rõ
sự thay đổi thu chi tài chính của năm kê hoạch so với năm báo cáo
Khó khăn lớn nhất trong việc lập dự toán cho năm kế hoạch là việc dự đoán được các hoạt động, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình trong năm tới
2.1.4 Sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách
Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Đào (2014), dự án ngân sách thực hiện việc phân phối thu nhập; các yếu tố đầu vào là các khoản vay, mượn, sử dụng quỹ hợp lý khi phân phối với đối tượng là các nguồn lực tài chính Sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách là xác định được các khoản thu chi của các cơ quan, đơn
vị sẽ phải thực hiện trong năm kế hoạch và các biện pháp đảm bảo cho kế hoạch năm
sẽ được hoàn thành
Các nghiệp vụ có liên quan đến quyền chủ sở thuộc phạm vi phân phối của ngân sách và được giới hạn từ việc phân phối nguồn lực tài chính và tài trợ vốn, phân phối thu nhập cho nhu cầu của các cơ quan và tổ chức kinh tế nằm trong cơ cấu bộ máy
Phân phối ngân sách thể hiện đầy đủ các nội dung sau:
- Phân phối dưới hình thức giá trị là tiền để chi trả
- Phân phối và tái phân phối được thực hiện do nguồn lực tài chính từ hệ thống ngân sách được thu chi cân đối
- Thực hiện phân phối kết quả của quá trình sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch
vụ chủ yếu thông qua các khoản chi ngân sách
- Nhà lãnh đạo là chủ thể quyết định trong các quan hệ phân phối có liên quan đến ngân sách, sử dụng quyền lực thực hiện chức năng phân phối của ngân sách Vai trò và chức năng của giám đốc được thể hiện cụ thể trong việc phân phối ngân sách như sau:
Trang 2720
+ Trong bất kỳ lĩnh vực, ngành nghề nào thì chức năng dự toán là một thuộc tính khách quan vốn có Việc giám sát, đôn đốc, kiểm tra bằng đồng tiền, tiến hành một cách thường xuyên, liên tục cùng với quá trình vận động của các đối tượng phân phối ngân sách trong quá hoạt động tại một cơ quan, đơn vị
+ Nhà lãnh đạo là người quyết định sau cùng của lập kế hoạch nhằm đảm bảo tính đúng đắn, chính xác và hợp lý hiệu quả của dự toán ngân sách, trong kế hoạch tài chính, của các dự toán tại các cơ quan đơn vị, từ đó điều tiết các chỉ tiêu kinh tế, bảo đảm ngân sách từ khi lập dự toán
+ Trong quá trình tiến hành thu - chi ngân sách, nhà lãnh đạo thực hiện kế hoạch tài chính và dự toán kinh phí vì thông qua kiểm tra thực hiện ngân sách, nhằm đảm bảo ngân sách thường xuyên cân đối Khi các khoản thu - chi ngân sách không bảo đảm quan hệ cân đối cục bộ hay toàn cục thì nhà lãnh đạo sẽ là người chịu trách nhiệm điều phối lại cho phù hợp
Vai trò quan trọng nhất của dự toán ngân sách là hướng vào việc đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm trong việc huy động cũng như sử dụng ngân sách và giữ kỷ luật tài chính, mang lại những ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự hợp lý trong phân phối
Chức năng của dự toán ngân sách có tầm quan trong lớn là do:
+ Đảm bảo tính hợp lý trong mối quan hệ giữa tích tụ và tập trung vốn, cũng như giữa tích lũy và tiêu dùng, đảm bảo việc phân phối ngân sách theo đúng kế hoạch của năm
+ Cho phép khai thác mọi khả năng tiềm tàng sẵn có trong các đơn vị, đảm bảo cân đối thu – chi đạt các chỉ tiêu của năm hoặc vượt mức kế hoạch
+ Đảm bảo các quan hệ cân đối trong quá trình phát triển kinh tế, từ đó xác lập
cơ cấu kinh tế hợp lý cho cơ quan, đơn vị của mình trong các năm kế tiếp, từ đó đảm bảo việc phân phối tài chính được thuận lợi
Trang 2821
+ Duy trì kỷ cương, pháp luật tài chính, chống tham nhũng và các hiện tượng gây lãng phí Từ đó sẽ phát hiện kịp thời những sai sót trong quá trình phân phối và tìm ra các giải pháp để điều chỉnh, đảm bảo cho hệ thống tài chính hoạt động bình thường
Chức năng phân phối và chức năng dự toán ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình hình thành và vận động của ngân sách Phân phối không những
là tiền đề, mà nó còn là nội tại cho sự hình thành, vận động và phát triển của chức năng dự toán Việc phân phối và quá trình kiểm tra giám sát có quan hệ tương hỗ cho nhau, cụ thể: phân phối được thực hiện nên việc giám sát, kiểm tra được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả; việc giám sát, kiểm tra là câu trả lời cho việc quá trình phân phối ngân sách có được thực hiện đúng quy định và hiệu quả không Như vậy có thể nói chức năng của dự toán ngân sách ra đời như một yếu tố khách quan của quy luật kinh tế, đảm bảo cho quá trình phân phối được thực hiện Như vậy, sự ra đời của dự toán ngân sách phải đi liền với quan hệ phân phối
- Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát
áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị, hay yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi một cách phù hợp
- Biết lựa chọn ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo các nhóm mục chi sao cho tổng số chi có giới hạn nhưng khối lượng công việc, công trình xây dựng vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điều này đòi hỏi phải có các phương
án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau Trên cơ sở đó mà lựa chọn phương án hiệu quả nhất
Trang 2922
Hiệu quả quản lý dự toán ngân sách là thực hiện cân đối hệ thống ngân sách Tính cân đối đó được bảo đảm bởi nhiều yếu tố tham dự: Luật ngân sách Nhà nước, quy trình ngân sách, phân cấp ngân sách, phương thức quản lý ngân sách, cơ chế điều hành ngân sách, các quy tắc tác nghiệp trong hoạt động của ngân sách Vì vậy khi đánh giá hiệu quả dự toán ngân sách cần có nhìn nhận và đánh giá toàn diện về các yếu tố cấu thành trong hoạt động của cá bên liên quan đến ngân sách
Để củng cố cho việc phân tích và kết quả kiểm định tác động qua lại giữa các yêu tố sự hợp lý của phân phối dự toán ngân sách, sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách, sự tham gia vào dự toán ngân sách cũng như sự tác động của các yếu tố
kể trên đến kết quả công việc của nhân viên nhằm đưa ra các kiến nghị thực tiễn là
cơ sở để các nhà quản trị áp dụng cho các doanh nghiệp tại Việt Nam, tác giả đã áp dụng các lý thuyết nền sau đây để biện luận cho mô hình và giả thuyết của đề tài
2.2.1 Lý thuyết đại diện (agent theory)
Lý thuyết đại diện (agent theory) xuất hiện lần đầu tiên vào đầu những năm
1970 với những nghiên cứu được tập trung vào vấn đề thông tin bất cân xứng và mâu thuẫn lợi ích giữa người chủ sở hữu và những người được thuê để quản lý doanh nghiệp
Theo các nghiên cứu trước đây của Jensen và Meckling (1976) và Alchian và Demsetz (1972), các cổ đông là các chủ sở hữu hoặc là người đứng đầu doanh nghiệp, thuê những người khác để thực hiện công việc quản lý và điều hành hoạt động của doanh nghiệp Những người đứng đầu ủy quyền hoạt động của doanh nghiệp cho các giám đốc hoặc những người quản lý, họ là các đại diện cho các cổ đông Các cổ đông
kỳ vọng những người quản lý sẽ hành động để tối đa hóa lợi ích của cổ đông trong doanh nghiệp, trong khi đó, những người quản lý lại không phải lúc nào cũng đưa ra quyết định chỉ để phụ vụ lợi ích của những cổ đông mà họ đại diện, từ đó hình thành một mối quan hệ mâu thuẫn giữa lợi ích của những người chủ sở hữu và những người được thuê để quản lý doanh nghiệp
Trang 3023
Lý thuyết đại diện một lần nữa được khẳng định trong nghiên cứu của tác giả Padilla (2002) Điều tương tự cũng xảy ra đối với các nhà quản lý cấp cao, cấp trung
và cấp cơ sở Các nghiên cứu ở trên đều nhấn mạnh rằng mâu thuẫn xảy ra chính là
do sự thiếu hụt về thông tin hai chiều giữa cổ đông và người đại diện Chính vì vậy, một trong những biện pháp để giảm thiểu những mâu thuẫn này là việc chia sẻ thông tin từ các phía thông qua việc cùng nhau thảo luận, trao đổi về các vấn đề và đưa ra phương án thực hiện phù hợp
Trong lĩnh vực kế toán hành vi nói chung và dự toán ngân sách nói riêng, việc tham gia vào dự toán ngân sách phần nào giúp thúc đẩy sự trao đổi thông tin giữa các cấp quản lý, đặc biệt là thông tin từ các nhà quản trị cấp thấp đến các nhà quản trị cấp cao và ngược lại (dòng thông tin theo chiều dọc, từ dưới đi lên và từ trên đi xuống), qua đó hạn chế được những mâu thuẫn có thể xảy ra do sự thiếu hụt thông tin Bên cạnh đó, dự toán ngân sách có được sự tham gia của nhiều cấp sẽ giúp cân bằng được lợi ích của cấp lãnh đạo và cấp thực hiện, qua đó cũng sẽ giảm bớt được mâu thuẫn
về lợi ích như đã nói ở trên
2.2.2 Lý thuyết tâm lý (psychological theory)
Theo Elton Mayo (1880 – 1949), ông cho rằng sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý của con người như muốn được người khác quan tâm, kính trọng, muốn có vai trò quan trọng trong sự nghiệp chung, muốn làm việc trong bầu không khí thân thiện giữa các đồng sự, v.v… có ảnh hưởng lớn đến năng suất và thành quả lao động của con người
Quan điểm cơ bản của lý thuyết này cũng giống như quan điểm của lý thuyết quản trị khoa học, họ cho rằng sự quản trị hữu hiệu tùy thuộc vào năng suất lao động của con người làm việc trong tập thể Tuy nhiên, khác với ý kiến của lý thuyết quản trị khoa học, lý thuyết tâm lý xã hội cho rằng, yếu tố tinh thần có ảnh hưởng mạnh đối với năng suất của lao động
Lý thuyết tâm lý (psychological theory) chỉ ra rằng việc thiết lập và vận hành
hệ thống kế toán hành vi trong doanh nghiệp phải xem xét tác động đến mối quan hệ
Trang 3124
con người trong doanh nghiệp (quan hệ cấp trên với cấp dưới, quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp với nhau) Điều này liên quan đến quá trình dự toán ngân sách, quá trình kiểm soát đánh giá và ra quyết định phải tạo được động lực và hướng đến việc nâng cao hiệu suất các bộ phận Ví dụ việc thiết lập các định mức chi phí và các chỉ tiêu đánh giá nếu chỉ quan tâm đến cắt giảm chi phí mà không chú ý đến nâng cao hiệu suất và giải quyết hài hòa lợi ích giữa các bộ phận trong doanh nghiệp có thể sẽ không huy động được mọi người trong doanh nghiệp nỗ lực phấn đấu giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận
Từ nhận thức đó, các nhà lý thuyết tâm lý quản trị cho rằng các nhà quản trị nên thay đổi quan niệm về người lao động Nhà quản trị phải cải thiện các mối quan hệ con người trong tổ chức, từ mối quan hệ giữa thủ trưởng với nhân viên, đến mối quan
hệ giữa các đồng sự ngang hàng, vì con người sẽ làm việc tốt hơn trong một môi trường quan hệ thân thiện
Trong những năm 1970, các nghiên cứu về kế toán hành vi đã bắt đầu sử dụng
lý thuyết nhận thức về tâm lý học để nghiên cứu cách thức các cá nhân xử lý thông tin kế toán để lập kế hoạch, kiểm soát quá trình và ra quyết định Ví dự như nghiên cứu mà các tác giả Mock, Estrin và cộng sự (1972) thực hiện đã đưa đến kết luận về những phản hồi của kế toán theo từng phong cách nhận thức của cá nhân để ảnh hưởng đến các quyết định điều hành như thế nào Kể từ đó, nhiều nghiên cứu đã sử dụng lý thuyết tâm lý học để giải thích và dự đoán cách áp dụng vào lĩnh vực kế toán hành vi như lập kế hoạch ngân sách, đánh giá hiệu quả hoạt động và bối cảnh tổ chức ảnh hưởng đến tâm trí và hành vi của cá nhân, đặc biệt là các quyết định, phán quyết,
sự hài lòng như thế nào…
Lý thuyết về tâm lý có thể được sử dụng để giải thích cả nguyên nhân và ảnh hưởng của thực tiễn kế toán hành vi Tuy nhiên, các câu hỏi nghiên cứu trong hầu hết các nghiên cứu đã được thực hiện còn vẫn chưa giải thích một cách rõ ràng được việc hiệu quả của các thực tiễn kế toán hành vi có tác động đến tư duy và hành vi của cá
Trang 3225
nhân như thế nào (ví dụ: ảnh hưởng của khó khăn khi thực hiện mục tiêu ngân sách đối với động lực)
Nghiên cứu của tác giả Birnberg, Luft và cộng sự (2006) ít nhiều đã làm sáng
tỏ được những ảnh hưởng của tâm trí và hành vi của con người đối với thực tiễn kế toán hành vi từ đó đưa ra đề xuất các phương án để gia tăng hiệu quả hoạt động thông qua việc tác động đến tâm lý, mối quan hệ giữa các nhân viên, cấp bậc trong doanh nghiệp
Trong lĩnh vực kế toán hành vi, cụ thể là việc thiết lập và thực hiện dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp, các tác giả Shields và Shields (1998) và Birnberg và Luft (2007) đã kết luận trong nghiên cứu của mình rằng: việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia của nhân viên sẽ tác động tích cực đến việc thực hiện dự toán ngân sách thông qua các cơ chế tạo động lực và nhận thức Do cơ chế này, việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia của nhân viên sẽ làm tăng lòng tin, sự kiểm soát và sự gắn kết bản thân nhân viên với tổ chức, đồng thời hạn chế xuất hiện sự chống đối đối với các thay đổi, chấp nhận và cam kết hơn với dự toán ngân sách được đưa ra, qua đó cải thiện kết quả công việc của nhân viên
2.2.3 Lý thuyết động viên (motivational theory)
Theo nghiên cứu của Herzberg (2005), tác giả đã đề xuất các nhân tố để duy trì
và động viên người lao động, bao gồm:
Nhân tố duy trì: điều kiện làm việc, tiền lương, an toàn…,
Nhân tố động viên: thành tích, sự tiến bộ, sự công nhận…
Theo tác giả, để cải thiện năng suất làm việc của nhân viên, các nhà quản lý cần phải động viên họ trong công việc thông qua việc giải quyết đồng thời cả hai nhân tố nói trên Việc này sẽ giúp nhân viên có thêm đông lực để hoàn thành công việc của mình Sự nhìn nhận đúng đắn của cấp trên đối với những thành tựu mà nhân viên đạt được chính là yếu tố thúc đẩy nhân viên cố gắng hơn trong việc đóng góp cho doanh
Trang 33có hợp lý hay không Trong trường hợp không cảm nhận được tính hợp lý, họ có thể
tự đặt ra yêu cầu tăng hay giảm nỗ lực của bản thân để duy trì “sự cân bằng” Vì vậy,
sự ghi nhận công việc kịp thời từ phía nhà quản lý là nhân tố động viên hàng đầu đối
với nhân viên
Qua trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu (sự tham gia vào dự toán ngân sách) cũng như các lý thuyết nền tảng bao gồm lý thuyết đại diện, lý thuyết tâm lý, lý thuyết động viên, tác giả có thể đưa ra cơ
sở để xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu, cũng như đưa ra những biện luận cho các giả thuyết giả thuyết trong mô hình Nội dung này sẽ được trình bày trong chương tiếp theo
Trang 34từ đó trả lời được các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu mà tác giả đặt ra với chất lượng,
độ tin cậy và khả năng áp dụng vào thực tế được nâng cao
Bên cạnh đó, các ứng viên tham gia khảo sát phải có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm liên quan đến việc thiết lập dự toán ngân sách cũng như thực hiện dự toán ngân sách để các câu trả lời mà họ đưa ra là phù hợp và chất lượng, phản ánh đúng thực trạng trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam
Việc thiết kế nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, bảng khảo sát phải đảm bảo các yêu cầu mà tác giả đặt ra trên đây
Nghiên cứu này đã được tác giả thực hiện với bước bao gồm: xây dựng và thử nghiệm bảng câu hỏi (pilot test) và gửi bản câu hỏi chính thức:
- Xây dựng và thử nghiệm bản câu hỏi: Thông qua việc tìm hiểu và tổng hợp các tài liệu, nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện trên thế giới, tác giả đã đưa ra được mô hình nghiên cứu đề xuất để thực hiện Bên cạnh đó tác giả đã kế thừa các thang đo từ các nghiên cứu trước để xây
Trang 3528
dựng ra bảng câu hỏi khảo sát Kế đó, tác giả gửi bản nháp bảng câu hỏi
khảo sát (pilot tested) 10 học viên cao học K26 ngành Kế toán của
Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh để hoàn thiện về mặt từ ngữ, văn phong, nội dung… Mục đích không phải là để điều chỉnh thang đo
mà chỉ là để đảm bảo rằng nội dụng của bảng khảo sát mà tác giả xây dựng là dễ hiểu đối với các đáp viên tiềm năng sẽ trả lời sau này
- Bản câu hỏi chính thức: Sau khi đã thiết kế bảng câu hỏi khảo sát và thử nghiệm bản câu hỏi, tác giả thực hiện việc thu thập dữ liệu thông qua email bằng công cụ Survey Monkey đến các đối tượng được xem là tiềm năng tại Việt Nam Với dữ liệu thu thập được, tác giả đã phân tích và kiểm định các thang đo, giả thuyết, độ tin cậy, độ phù hợp với dữ liệu thu thập được bằng công cụ Smart PLS3, từ đó đưa ra kết luận của đề tài
3.2 Thiết kế nghiên cứu
3.2.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
3.2.1.1 Mối quan hệ giữa sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách và
sự tham gia vào dự toán ngân sách
Bài viết của tác giả Argyris (1952) là một trong những nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên được công bố đề cập đến sự tham gia vào dự toán ngân sách, trong đó đánh giá tác động về phản ứng và hành vi của các nhà quản lý cấp dưới đối với sự tham gia vào dự toán ngân sách
Phân phối dự toán ngân sách đưa ra các sự phân bổ về nguồn lực, chi phí cho đơn vị, bộ phận, cá nhân… trong tổ thức để thực hiện các dự án, hoàn thành mục tiêu
mà tổ chức đặt ra Một phân phối dự toán ngân sách tốt phải đảm bảo ngân sách được đưa ra là phù hợp với khả năng của người thực hiện nhưng vẫn mang yếu tố thử thách nhằm kích thích người thực hiện phát huy thêm những tiềm năng của họ Ngoài ra, ngân sách cũng không được quá dư thừa so với nguồn lực mà tổ chức đang nắm giữ,
Trang 3629
sự dư thừa này sẽ gây ra những sự lãng phí không cần thiết trong việc sử dụng nguồn lực của tổ chức
Trong quá trình xây dựng dự toán ngân sách, sự tương tác giữa người thực hiện
dự toán ngân sách và cấp trên đảm bảo rằng dự toán ngân sách đã được xây dựng dựa trên những ý kiến đóng góp, phản hồi qua lại của nhiều đối tượng có liên quan, sự tương tác này cũng cho thấy sự tham gia vào dự toán ngân sách được tăng lên Ngoài
ra, điều này còn đảm bảo tính hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách (Argyris
1952, Wentzel 2002, Maiga và Jacobs 2007)
Khi phân phối của dự toán ngân sách đã được xác định một cách kỹ lưỡng, phù hợp với nhu cầu và năng lực của người thực hiện thì theo thuyết tâm lý và lý thuyết công bằng, nhân viên sẽ cảm thấy sự công bằng và có thêm động lực rằng họ có thể thực hiện dự toán ngân sách một cách thành công, khi đó khả năng họ tham gia vào việc xây dựng dự toán ngân sách sẽ tăng lên (Kren 1992)
Tương tự đối với mức độ ảnh hưởng và tầm quan trọng của nhân viên đối với
dự toán ngân sách, nếu nhân viên cảm nhận rằng mình có mức độ ảnh hưởng nhất định đến việc xây dựng dự toán ngân sách, họ sẽ có nhu cầu tham gia vào việc thiết lập dự toán ngân sách để chứng tỏ khả năng và tầm quan trọng của mình trong việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức (Lindquist 1995)
Trong quá trình thực hiện, cấp trên có sự quan tâm sát sao đối với người thực hiện khi thảo luận về các giới hạn dự toán ngân sách thì theo lý thuyết động viên, nhân viên cấp dưới sẽ cảm nhận được sự hỗ trợ và quan tâm này, từ đó gia tăng mức
độ tham gia vào dự toán ngân sách của họ
Qua những lập luận trên, có thể thấy rằng sự phân phối của dự toán ngân sách
có ảnh hưởng đến sự tham gia vào dự toán ngân sách, tác giả đề xuất giả thuyết như sau:
H1: Sự hợp lý trong phân phối của dự toán ngân sách có tác động dương đến sự
tham gia vào dự toán ngân sách
Trang 3730
3.2.1.2 Mối quan hệ giữa sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách và sự tham gia vào dự toán ngân sách
Nghiên cứu của Greenberg và Folger (1983) cho rằng: “Nếu quy trình được coi
là hợp lý thì có nhiều khả năng nó sẽ đưa đến một kết quả của hơp lý Sự hợp lý trong quy trình ảnh hưởng đến sự hợp lý trong phân phối được xem là hiệu quả của quy trình”, điều này có thể được hiểu là nếu quytrình dự toán ngân sách là một quy trình hợp lý thì sự phân phối dự toán ngân sách cũng sẽ hợp lý
Nghiên cứu của Thibaut và Walker (1975) cho rằng mọi người luôn quan tâm đến sự hợp lý trong các thủ tục và quy trình (sự hợp lý trong quy trình) vì nó có thể ảnh hưởng đến phản ứng của người tiếp nhận Nếu người tiếp nhận cảm thấy ngân sách được đưa ra dựa trên một quy trình hợp lý thì mức độ tin tưởng, khả năng thực hiện ngân sách sẽ được tăng lên, ngược lại, nếu họ cảm thấy quy trình không hợp lý,
sẽ có nhiều câu hỏi được đặt ra về tính hợp lý của ngân sách, liệu rằng ngân sách có phù hợp với nguồn lực của đơn vị, tính khả thi của ngân sách, sự công bằng giữa những bộ phận, cá nhân tiếp nhận ngân sách… Nói cách khác, sự hợp lý trong quy trình có thể có những ảnh hưởng cụ thể ngân sách được ban hành và tác động đến việc thực hiện ngân sách
Quy trình dự toán ngân sách hợp lý sẽ thu hút được nhiều người tham gia vào việc thiết lập dự toán ngân sách trong đó bao gồm cả những người nhận kết quả của việc dự toán ngân sách Quy trình lập dự toán ngân sách càng cho phép nhân viên chủ động hành động trong phạm vi công việc mà họ phụ trách thì sẽ làm tăng mức độ tham gia của họ trong việc xây dựng và thảo luận về dự toán ngân sách Lindquist (1995) cho rằng “các cá nhân được phép diễn đạt suy nghĩ của họ cảm thấy họ có giá trị, như là một thành viên có đầy đủ vai trò trong tổ chức”
Nghiên cứu của 2 tác giả Lind và Tyler (1988) lập luận tương tự rằng “cơ hội
để nói lên tiếng nói của mình chính là dấu hiệu rõ ràng về vai trò của một thành viên trong tổ chức , ngược lại, các phản ứng im lặng được xem là không công bằng bởi
vì họ dường như phủ nhận quyền thành viên đầy đủ của mình”
Trang 3831
Dựa vào các thảo luận ở trên, có thể kết luận rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách có mối tương quan với sự với nhận thức của cấp dưới đối với sự hợp lý trong quy trình Với sự giải thích đầy đủ của cấp trên về cách xác định mục tiêu dự toán ngân sách, nhân viên sẽ hiểu rõ hơn, nắm bắt được nhiều vấn đề hơn, qua đó nâng cao tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của họ đối với dự toán ngân sách
Libby (1999) đã nghiên cứu các mối quan hệ giữa sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách và kết quả hoạt động của cấp dưới, ông đã kết luận rằng sự kết hợp giữa sự tham gia và sự hợp lý về quy trình dẫn đến hiệu quả được cải thiện Nghiên cứu của Wentzel (2002) nhận thấy rằng sự tham gia của ngân sách không có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả công việc Đúng hơn, kết quả công việc bị ảnh hưởng gián tiếp thông qua nhận thức cao về sự hợp lý đã được chuyển thành cam kết cao hơn đối với các mục tiêu dự toán ngân sách
Qua những lập luận trên, đề tài đề xuất giả thuyết sau:
H2: Sự hợp lý trong quy trình dự toán ngân sách có tác động dương đến sự tham
gia vào dự toán ngân sách
3.2.1.3 Mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và kết quả công việc của nhân viên
Theo nghiên cứu của Argyris (1952), việc thiết lập dự toán ngân sách một cách chủ quan có thể gây ra các hậu quả tiêu cực đến kết quả công việc, vì vậy ông đã đề xuất sự tham gia của nhiều bộ phận, phòng ban, cá nhân… trong việc thiết lập dự toán ngân sách để cải thiện kết quả công việc Sự tham gia vào quy trình xây dựng
dự toán ngân sách với mức độ càng cao sẽ giúp kiểm soát tốt các vấn đề trong phạm
vi trách nhiệm của nhân viên Các cuộc thảo luận giữa cấp trên và cấp dưới liên quan đến dự toán ngân sách sẽ giúp gia tăng sự phối hợp và kiểm soát tốt các vấn đề trong phạm vi trách nhiệm của nhân viên
Lý thuyết đại diện và lý thuyết tâm lý đều khẳng định rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách ảnh hưởng tích cực đến kết quả công việc Khi một người được tham
Trang 3932
gia vào quy trình thiết lập và điều chỉnh dự toán ngân sách, kiến thức và kỹ năng của
họ sẽ góp phần hoàn thiện dự toán ngân sách một cách hợp lý, họ sẽ có thêm động lực để hoàn thành nhiệm vụ của mình
Theo lý thuyết tâm lý, việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia có tác động tích cực đến việc thực hiện thông qua các cơ chế tạo động lực và nhận thức (Shields
và Shields 1998, Birnberg và Luft 2007) Do cơ chế động lực thúc đẩy, việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia làm tăng lòng tin, sự kiểm soát và sự gắn kết bản thân với tổ chức, đồng thời hạn chế sự chống đối đối với các thay đổi, chấp nhận và cam kết hơn với dự toán ngân sách được đưa ra, qua đó cải thiện kết quả công việc (Shields
và Shields 1998) Do cơ chế nhận thức, lập dự toán ngân sách có sự tham gia là một quy trình trao đổi thông tin cấp trên – cấp dưới, giúp hiểu rõ hơn về tình hình và các nhiệm vụ phải hoàn thành cũng như mang lại những quyết định tốt hơn, dẫn đến kết quả công việc tốt hơn (Chenhall và Brownell 1988, Kren 1992, Parker và Kyj 2006) Thông qua việc cải thiện luồng thông tin giữa cấp trên và cấp dưới, sự tham gia vào dự toán ngân sách dẫn đến những quyết định có chất lượng cao hơn Nhìn từ những quan điểm này, sự tham gia dẫn đến động lực cao hơn, cam kết cao hơn, quyết định có chất lượng cao hơn và kết quả công việc cao hơn Với mỗi sự thay đổi về dự toán ngân sách, nếu các nhà quản trị cấp trên giải thích rõ ràng với nhân viên thì sẽ giúp cho việc lập kế hoạch thực hiện dự toán ngân sách và phối hợp hoạt động của nhân viên được cải thiện tốt hơn, qua đó nâng cao hiệu quả công việc
Nghiên cứu của Parker và Kyj (2006) cho rằng việc chia sẻ thông tin theo chiều dọc bao gồm cả việc truyền thông tin từ cấp dưới lên cấp trên và từ phía cấp trên xuống cấp dưới, sự không chắc chắn về nhiệm vụ làm gia tăng nhu cầu được tiếp nhận thông tin của cấp dưới, từ đó làm tăng mong muốn tham gia của họ
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách có tác động đến hoạt động của nhân viên (Argyris 1952, Becker và Green 1962, Hofstede 1968) thông qua cơ chế tạo động lực Cụ thể sự tham gia vào dự toán ngân sách dẫn đến
Trang 4033
động lực cao của nhân viên trong công việc, động lực cao trong công việc sau đó có tác động tích cực kết quả công việc
Các nghiên cứu của Chow, Cooper và cộng sự (1988), Murray (1990) và Lau
và Buckland (2000) đã đưa đến kết luận rằng: “Sự tham gia vào dự toán ngân sách có tác động đến hiệu quả và kết quả công việc, thông qua sự động viên và cam kết về hiệu suất, dẫn đến động cơ thúc đẩy và cam kết với dự toán ngân sách”, từ đó, tác giả
đề xuất giả thuyết như sau:
H3: Sự tham gia vào dự toán ngân sách có tác động dương đến kết quả công
việc
3.2.2 Mô hình nghiên cứu
Từ các giả thuyết nêu trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu
3.2.3 Thang đo
Thang đo cho các biến chủ đạo trong mô hình được kế thừa từ các nghiên cứu
đã được công bố trước đây theo như hệ thống cơ sở lý luận đã để cập ở trên
Kết quả công việc (JP) H1+
H2+
H3+