Trước thực tiễn hệ thống kế toán Việt Nam chưa có chuẩn mực về công cụ tài chính, NHNN đã đạt thành tựu nhất định trong nỗ lực vận dụng IAS/IFRS vào kế toán ngân hàng, đặc biệt với các c
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HIỀN
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 62.34.30.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 TS NGUYỄN VĂN LƯƠNG
2 PGS TS TRẦN THỊ GIANG TÂN
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Trang 3Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tập thể người hướng dẫn khoa học –
TS Nguyễn Văn Lương và PGS, TS Trần Thị Giang Tân đã nhiệt tình hướng dẫn Tác giả hoàn thành Luận án
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Hội đồng đánh già luận án ở Bộ môn, PGS,TS Nguyễn Thị Nhung, TS Vũ Hữu Đức, TS Lâm Thị Hồng Hoa, Ths Võ Anh Dũng, các Phản biện độc lập đã góp ý cho Tác giả sửa chữa Luận án
Tác giả xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Hồ Hoàng Vũ – Kế toán trưởng Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam đã hỗ trợ Tác giả thu thập dữ liệu thực tế về các ngân hàng thương mại
Tác giả xin cảm ơn các đồng nghiệp trong Khoa Kế toán – Kiểm toán, Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh và Bộ môn Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh cùng gia đình và người thân đã động viên, giúp đỡ Tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 4Chương 1: Tổng quan về kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương
mại……… 8
1.1 Công cụ tài chính……… 8
1.1.1 Lịch sử phát triển công cụ tài chính ……… 8
1.1.2 Bản chất công cụ tài chính ……… 11
1.1.2.1 Định nghĩa công cụ tài chính……… 11
1.1.2.2 Đặc điểm công cụ tài chính……… 13
1.2 Kế toán công cụ tài chính……… 14
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển chuẩn mực quốc tế về kế toán công cụ tài chính ……… 14
1.2.2 Nội dung kế toán công cụ tài chính theo chuẩn mực quốc tế về kế toán hiện hành……… 17
1.2.2.1 Phân loại công cụ tài chính……… 17
1.2.2.2 Ghi nhận và xóa bỏ ghi nhận công cụ tài chính………… 20
1.2.2.3 Đo lường công cụ tài chính……… 21
1.2.2.4 Kế toán tổn thất tài sản tài chính……… 23
1.2.2.5 Kế toán phòng ngừa rủi ro……… 23
1.2.2.6 Trình bày và công bố công cụ tài chính 25 1.2.3 Đối chiếu kế toán công cụ tài chính theo hệ thống kế toán của một số các quốc gia với chuẩn mực quốc tế về kế toán……… 27
1.2.3.1 Đối chiếu kế toán công cụ tài chính theo hệ thống kế toán Hoa Kỳ với chuẩn mực quốc tế về kế toán……… 28
1.2.3.2 Đối chiếu kế toán công cụ tài chính toán Trung Quốc với chuẩn mực quốc tế về kế toán……… 31
1.2.4 Đặc điểm kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại… 38
Trang 51.2.4.3 Những vấn đề kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng
thương mại………
1.2.4.4 Mối quan hệ giữa kế toán công cụ tài chính với quản trị rủi ro tài chính tại các NHTM 45 53 1.3 Bài học kinh nghiệm xây dựng kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại tại các quốc gia đang phát triển……… 55
Chương 2: Thực trạng kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam……… 63
2.1 Thực trạng công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam ……… 63
2.1.1 Hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam……… 63
2.1.2 Lược sử hình thành các công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam……… 70
2.1.3 Đánh giá thực trạng các công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam……… 74
2.1.3.1 Đánh giá cơ cấu và xu hướng tài sản tài chính… 75
2.1.3.2 Đánh giá nợ tài chính và công cụ vốn chủ sở hữu………… 78
2.2 Thực trạng kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam…… ……… 83
2.2.1 Cơ sở khảo sát và đánh giá thực trạng……… 83
2.2.1.1 Cơ sở pháp lý ……… 83
2.2.1.2 Cơ sở khảo sát thực tế ……… 89
2.2.2 Thực trạng kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam 91
2.2.2.1 Phân loại công cụ tài chính……… 91
2.2.2.2 Ghi nhận và xoá bỏ công cụ tài chính……… 98
2.2.2.3 Đo lường công cụ tài chính……… 101
Trang 62.3.1 Thành tựu……… 108
2.3.2 Tồn tại……… 110
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại……… 115
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam 124 3.1 Quan điểm hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam……… 124
3.2 Các giải pháp hoàn thiện cho giai đoạn 2009-2011……… 131
3.2.1 Phân loại và trình bày công cụ tài chính ……… 133
3.2.2 Ghi nhận và đo lường các công cụ tài chính……… 142
3.2.3 Kế toán phòng ngừa rủi ro……… 153
3.2.4 Công bố thông tin về công cụ tài chính ……… 156
3.3 Phương hướng hoàn thiện kế toán công cụ tài chính cho giai đoạn 2012-2015……… 162
3.4 Điều kiện thực hiện các kiến nghị ……… 165
Kết luận……… 172
Danh mục công trình của tác giả……… 174
Danh mục tài liệu tham khảo……… 175 Phụ lục
Trang 7Viết tắt Viết đầy đủ tiếng Việt Viết đầy đủ tiếng Anh
ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Asia Commercial Bank
ASU Cập nhật chuẩn mực kế toán Accounting Standards Updates
BIDV Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
Bank for Investment and Development of Viet Nam CAS Chuẩn mực kế toán Trung Quốc Chinese accounting standards
CCS Hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền Cross curency swap
CHINA
GAAP
Các nguyên tắc kế toán thừa nhận chung
của Trung Quốc
Genarally accepted accounting principles of China
CTG
Ngân hàng Thương mại cổ phần Công
thương Việt Nam
Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade
ED Dự thảo chuẩn mực kế toán quốc tế Exposure draft
EIB
Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất
nhập khẩu Việt Nam
Vietnam Export Import Commercial Joint Stock Bank
FASB Hộ đồng chuẩn mực kế toán tài chính
Financial Accounting Standards Board
FSB Hội đồng ổn định tài chính Financial Stability Board
Trang 8FVPL
Ghi theo giá trị hợp lý với thay đổi giá trị
hợp lý ghi nhận vào kết quả kinh doanh Fair value through profit or loss
GDB
Ngân hàng thương mại cổ phần Gia Định
GiaDinh Comercial Joint Stock Bank
GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross domestic product
HSBC Ngân hàng Thương mại TNHH một thành
viên HSBC Việt Nam
The Hong Kong and Sanghai Banking Corporation
IAS Chuẩn mực kế toán Quốc tế International Accounting Standards
IASB Hội đồng Chuẩn mực kế toán Quốc tế
International Accounting Standards Board
IASC Uỷ ban Chuẩn mực kế toán Quốc tế
International Accounting Standards Committee
IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
International fiannacial reporting Standards
IOSCO Tổ chức quốc tế các Uỷ ban Chứng khoán
International organization of securities commissions IRS Hoán đổi lãi suất một đồng tiền Interset rate swap
IVB Ngân hàng Liên doanh Indovina Bank Indovina Bank Ltd
MB Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội
Military Commercial Joint Stock Bank
MMDA Tài khoản tiền gửi trên thị trường tiền tệ Money market deposit account
Trang 9NOW Tài khoản giao dịch hưởng lãi Negoatible order of withdrawal
OCB Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương
Đông
Orient Commercial Joint Stock Bank
PNB Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương
Nam
SouthernCommercial Joint Stock Bank
ROE Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Return on Equity
SCB Ngân hàng Thương mại cổ phần Sai Gòn
Saigon Commercial Joint Stock Bank
SEAB Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông
Nam Á
Southeast Asia Commercial Joint Stock Bank
SFAS Chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ
Statements of financial accounting standards
SGB Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn
Thị trường giao dịch cổ phiếu của công ty
đại chung chưa niêm yết Unlisted Public Company Market
US Các nguyên tắc kế toán thừa nhận chung Genarally accepted accounting
Trang 10VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam Vietnamese Accounting Standards
VBARD
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam
Vietnam bank for Agriculture and Rural Development
VCB
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam Bank for Foreign Trade of Vietnam VPB Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoài
Quốc doanh
Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Private Enterprises WTO Tổ chức Thương mại Quốc tế World Trade Organization
TCTD Tổ chức tín dụng
VND Đồng Việt Nam
Trang 11Bảng 1.1: Các loại công cụ tài chính trên Bảng cân đối kế toán……… 18Bảng 1.2: Các chuẩn mực về công cụ tài chính theo China.GAAP và
IAS/IFRS……… 36Bảng 1.3: Các công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại ……… 41Bảng 1.4: So sánh công bố rủi ro theo IFRS và Basel II……… 53Bảng 2.1 Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế (giai
đoạn 2000-2008)……… ……… 66Bảng 2.2: Cơ cấu hệ thống ngân hàng tại Việt Nam (giai đoạn 1990-2008)… 66Bảng 2.3: Cơ cấu vốn điều lệ các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đến
tháng 6/2010……… 67Bảng 2.4: Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam (giai
đoạn 2005-2009) ……… 69Bảng 2.5: Khái quát tài sản tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt
Nam (giai đoạn 2005-2009) ……… ……… 76Bảng 2.6: Cơ cấu tài sản tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam
(giai đoạn 2005-2009)……… 77Bảng 2.7: Khái quát nợ tài chính và vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương
mại tại Việt Nam (giai đoạn 2005-2009)……… 79Bảng 2.8: Cơ cấu nợ tài chính trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai
đoạn 2005-2009……… 81Bảng 2.9: Văn bản pháp lý hiện hành về kế toán công cụ tài chính các ngân
Bảng 2.10: Danh sách các ngân hàng thương mại được khảo sát thực trạng kế
toán công cụ tài chính……… 90Bảng 2.11: Các loại công cụ tài chính và các văn bản pháp lý liên quan ……… 92Bảng 2.12: Phân loại tín dụng ngân hàng……… 96Bảng 2.13: Phân loại nợ tài chính của ngân hàng thương mại……… 97
Trang 12Bảng 3-1: Văn bản đề xuất ban hành, chỉnh sửa (giai đoạn 2009-2011) ……… 132Bảng 3-2: Kiến nghị phân loại công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại 139Bảng 3-3: Kiến nghị đo lường công cụ tài chính khi ghi nhận ban đầu……… 148Bảng 3-4: Kiến nghị đo lường công cụ tài chính sau ghi nhận ban đầu……… 150
Sơ đồ 3-1: Phân loại tài sản tài chính trong ngân hàng thương
mại……….………
135
Sơ đồ 3-2: Nguyên tắc tách công cụ phái sinh chìm……… 141
Sơ đồ 3-3: Nguyên tắc xoá bỏ tài sản tài chính……… 144
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hợp tác quốc tế là một xu hướng tất yếu trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước Hơn hai mươi năm qua kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới (1986), Việt Nam đã hội nhập dần với cộng đồng quốc tế trên nhiều lĩnh vực Sự kiện trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã khẳng định sự hội nhập toàn diện của Việt Nam với nền kinh tế toàn cầu Trong đó, ngành ngân hàng được đánh giá hội nhập nhanh hơn các lĩnh vực khác bởi các đặc thù trong kinh doanh ngân hàng và vị trí quan trọng của hệ thống ngân hàng đối với thị trường tài chính cũng như toàn bộ nền kinh tế
Thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã có nhiều thay đổi, từ chỗ toàn bộ thị trường được độc quyền bởi NHTM nhà nước, nay đã có các ngân hàng thuộc hình thức sở hữu khác, đặc biệt là các NHTM cổ phần tăng nhanh về số lượng, quy mô cùng với sự hiện diện của các ngân hàng có 100% vốn đầu tư nước ngoài
Dù đạt những thành tựu nhất định, nhưng NHNN đánh giá hệ thống NHTM chỉ mới đang ở giai đoạn đầu phát triển, năng lực tài chính còn thấp, vốn chủ sở hữu còn khiêm tốn so với các ngân hàng trong khu vực Chính vì vậy, thời gian qua hệ thống ngân hàng đã đẩy mạnh tăng vốn điều lệ từ phát hành Trái phiếu Chính phủ đặc biệt đối với các NHTM nhà nước và từ thị trường vốn đối với các NHTM cổ phần Trong cuộc đua tăng vốn, các NHTM cổ phần có tốc độ tăng trưởng vốn cao
do huy động vốn từ thị trường chứng khoán Vì thế, các NHTM nhà nước cũng đã
và đang thực hiện cổ phần hóa để có thêm vốn huy động từ thị trường này Như vậy, thị trường chứng khoán dần trở thành nơi cung cấp vốn chủ sở hữu chủ yếu cho các NHTM và cũng đòi hỏi khắt khe hơn về thông tin tài chính mà ngân hàng cần cung cấp cho các nhà đầu tư
Do hoạt động trên lĩnh vực tài chính, nhiều hoạt động của NHTM gắn với sự phát hành hay đầu tư công cụ tài chính Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa tạo điều kiện cho các giao dịch tài chính trên thị trường quốc tế dễ dàng du nhập vào thị
Trang 14trường tài chính của Việt Nam, làm đa dạng và gia tăng tính phức tạp của các công
cụ tài chính trong các NHTM, đồng thời cũng đòi hỏi có các nguyên tắc kế toán công cụ tài chính thích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của đối tượng sử dụng
Trước thực tiễn hệ thống kế toán Việt Nam chưa có chuẩn mực về công cụ tài chính, NHNN đã đạt thành tựu nhất định trong nỗ lực vận dụng IAS/IFRS vào
kế toán ngân hàng, đặc biệt với các công cụ phái sinh tiền tệ, chứng khoán kinh doanh và đầu tư…Tuy nhiên, đến nay Hệ thống kế toán các TCTD còn nhiều khác biệt so với IAS/IFRS về phân loại, ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố công
cụ tài chính Sự khác biệt này là rào cản đạt mục tiêu tăng năng lực tài chính, tạo tiền đề đạt mục tiêu của Đề án phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thông qua Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg
Do vậy, đề tài “Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các ngân hàng
thương mại tại Việt Nam” mang tính cấp bách, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin
của các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của NHTM, góp phần giúp ngành ngân hàng phát triển bền vững, đạt các mục tiêu đã đề ra
2 Tổng kết các nghiên cứu
Đến nay, các công trình nghiên cứu trong nước về kế toán ngân hàng, đặc biệt về công cụ tài chính không nhiều, chỉ mới có nghiên cứu của Đào Y (2005 và 2003), Nguyễn Thị Thanh Hương (2007, 2008) và Hà Thị Tường Vy (2009) Trong
số đó, đi tiên phong là nghiên cứu về “Hoàn thiện hệ thống kế toán ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế” (Đào Y, 2005) [34] và “Vận dụng chuẩn mực kế toán toán quốc tế vào hệ thống kế toán ngân hàng” (Đào Y, 2003) [33] tập trung phân tích các khác biệt giữa hệ thống kế toán ngân hàng với IAS/IFRS và định hướng hoàn thiện cho Hệ thống kế toán các TCTD
Tiếp theo, công trình “Giải pháp kế toán với phát triển thị trường phái sinh” của Nguyễn Thị Thanh Hương (2007) là nghiên cứu duy nhất riêng về kế toán công
cụ phái sinh, trong đó tác giả phân tích và chỉ ra sự cần thiết hài hoà giữa VAS với
Trang 15IAS/IFRS, nhưng chỉ dừng ở đề xuất vận dụng IAS 32, IAS 39 trong phân loại, ghi nhận và đo lường các tài sản tài chính, chưa đề cập các nguyên tắc kế toán công cụ phái sinh [14] Ngay sau đó, năm 2008 tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu tổng thể kế toán ngân hàng qua đề tài khoa học cấp ngành “Áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế trong lĩnh vực kế toán ngân hàng tại Việt Nam”
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương (2008) đề cập tới tất cả các đối tượng kế toán trong ngành ngân hàng, trong đó bao gồm công cụ tài chính Tác giả tóm tắt các nội dung chủ yếu của các chuẩn mực quốc tế là IAS 32, IAS 39
và IFRS 7 (trước khi ban hành IFRS 9) một cách riêng biệt Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đánh giá sự khác biệt giữa chế độ kế toán công cụ tài chính áp dụng cho các TCTD so với IAS/IFRS Nhưng cách tiếp cận của tác giả không xuất phát từ đánh giá mức độ hài hòa từng vấn đề cơ bản của kế toán công cụ tài chính mà tiếp cận theo từng nghiệp vụ ngân hàng, như kế toán dự phòng tín dụng, kế toán nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá, kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ, kế toán nghiệp vụ phát hành trái phiếu chuyển đổi và áp dụng lãi suất thực [15-tr 88-tr108] Ngoài ra mẫu khảo sát của nghiên cứu mới chỉ dừng ở 6 chi nhánh NHTM nước ngoài và 3 NHTM Việt Nam nên khó có thể bao quát hệ thống NHTM tại Việt Nam [15-tr5] Nhìn chung, công trình nghiên cứu chưa kết nối các chuẩn mực để khái quát toàn bộ các vấn đề về kế toán công cụ tài chính là phân loại, ghi nhận, xóa bỏ ghi nhận, đo lường, tổn thất, trình bày và công bố công cụ tài chính Ngoài ra, nghiên cứu này
cũng chưa đề cập thích đáng đến kế toán giá trị hợp lý (FVA: Fair value accounting), kế toán phòng ngừa rủi ro[15-tr31- tr45]
Đề tài nghiên cứu của tác giả Hà Thị Tường Vy (2009) “ Kế toán công cụ tài chính của thị trường chứng khoán Việt Nam” có đối tượng nghiên cứu tương tự nhưng lại giới hạn phạm vi nghiên cứu là thị trường chứng khoán Việt Nam, nên không đề cập đến các công cụ tài chính chủ yếu của các NHTM như cho vay, tiền gửi khách hàng[32] Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng chưa đề cập đến kế toán phòng ngừa rủi ro và kế toán giá trị hợp lý
Trang 16Ở nước ngoài, nhiều tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề của kế toán công cụ tài chính Trước hết, các nghiên cứu về cơ sở đo lường công cụ tài chính
theo giá trị hợp lý (FV: Fair value) của các tác giả Morris và Selon (1991); Nelson
(1996); Burkhardt (2006), Zhang (2008); Aslanertik (2009) Mặc dù có các ý kiến khác nhau, nhưng các tác giả đều ủng hộ đo lường công cụ tài chính theo giá trị hợp
lý và chỉ ra điểm yếu của cơ sở đo lường này là độ tin cậy của dữ liệu sử dụng trong ước tính giá trị hợp lý trên thực tiễn [36], [41], [67], [69]
Tiếp theo, là các nghiên cứu về kế toán phòng ngừa rủi ro và công cụ phái sinh của Wison và Bryan (1997); Heranandez (2003) Các nhà nghiên cứu cho rằng
kế toán phòng ngừa rủi ro và công cụ phái sinh là cần thiết, nhưng điều kiện áp dụng trên thực tế không dễ dàng và vì có những lựa chọn khác nhau đối với công cụ phái sinh trong kế toán phòng ngừa rủi ro nên dễ dẫn đến kết quả xử lý khác nhau của cùng một loại công cụ phái sinh [52], [85]
Với mẫu khảo sát là các NHTM, nghiên cứu về công bố công cụ tài chính của Tadesse (2006) chứng minh các quy định về công bố công cụ tài chính có ảnh hưởng tích cực đến tính ổn định của ngân hàng [81] Bên cạnh đó, Caedo & Tirado (2004) cho rằng đo lường và công bố rủi ro tác động đến doanh nghiệp sẽ cải thiện thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng sử dụng [42]
Một điểm chung của các nghiên cứu trên là mẫu nghiên cứu chủ yếu tại các quốc gia phát triển, chưa chú trọng đến các nước đang phát triển Trong số ít các nghiên cứu về các quốc gia đang phát triển phải kể đến nghiên cứu của Songlan Peng (2005) và Xiaoming Li (2006) về hài hòa của chuẩn mực kế toán Trung Quốc với IAS/IFRS hay công trình của Zeghal và Mhedbi (2006) về các nhân tố tác động đến áp dụng IAS/IFRS tại các quốc gia đang phát triển [60], [70],[88]
Dựa vào quan điểm của Tay & Parker (1990), thành công của quá trình hài
hòa kế toán được đánh giá ở cả hai khía cạnh là hài hòa về chuẩn mực và hài hòa
trong thực hành kế toán tại doanh nghiệp, Songlan Peng đã tổng kết các nghiên cứu
về hài hòa giữa CAS với IAS/IFRS và đi đến kết luận: sự hài hòa về chuẩn mực của
Trang 17CAS với IAS/IFRS là cao, nhưng việc thi hành các chuẩn mực này trên thực tế còn nhiều vấn đề, đặc biệt về áp dụng cơ sở đo lường giá trị hợp lý trên thực tiễn[70, tr.4] Tuy nhiên, mẫu các nghiên cứu cũng như các điều tra của Ủy ban chứng khoán Trung Quốc về áp dụng CAS mới tập trung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, chưa có đánh giá riêng về ngành ngân hàng
Chính vì vậy, nghiên cứu về kế toán công cụ tài chính trong các NHTM, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam không chỉ giúp nâng cao chất lượng thông tin kế toán ngân hàng, đảm bảo nhu cầu của các đối tượng sử dụng mà còn góp phần đánh giá tiến trình hài hòa kế toán giữa các quốc gia trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các NHTM ở Việt Nam trong những năm tới, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng kế toán công cụ tài chính trên thế giới cũng như đánh giá thực trạng kế toán công cụ tài chính trong các
NHTM ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu các nguyên tắc kế toán ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính với mục đích đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính trên báo cáo tài chính của các NHTM, đặc biệt các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là các công cụ tài chính trong NHTM, ngoại trừ các công cụ tài chính là hợp đồng bảo lãnh tài chính và cam kết cho vay và thuộc phạm vi điều chỉnh của các VAS hiện hành (VAS 25, VAS 07, VAS 08, VAS 06, VAS 19, VAS 11) cũng như các hợp đồng bảo lãnh tài chính
và cam kết cho vay
Trang 18- Phạm vi nghiên cứu của luận án là dữ liệu của các NHTM có hình thức
sở hữu và quy mô khác nhau trong thời gian từ năm 2004 đến 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phân tích thực tiễn theo quan điểm lịch
sử, toàn diện, gắn sự phát triển của công cụ tài chính và kế toán công cụ tài chính với những điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia trong từng thời kỳ, đồng thời không tách rời xu hướng chung của thế giới
Luận án sử dụng một số công cụ phân tích định lượng như thống kê mô tả,
so sánh nhằm đánh giá thực trạng về cơ cấu các NHTM theo hình thức sở hữu cũng như cơ cấu và xu hướng công cụ tài chính trong ngân hàng
Nguồn dữ liệu sử dụng cho phân tích, mô tả thông kê là từ báo cáo tài chính của 21 ngân hàng có quy mô, hình thức sở hữu khác nhau trong giai đoạn 2004-2009 cùng các dữ liệu của các nghiên cứu trước và dữ liệu từ các Báo cáo thường niên của NHNN
Ngoài ra, để đánh giá mức độ tuân thủ các quy định kế toán về công cụ tài chính của các NHTM, mẫu khảo sát bao gồm 12 ngân hàng: 5 NHTM cổ phần
đã niêm yết, 5 NHTM cổ phần giao dịch trên thị trường OTC, 1 NHTM nhà nước và 1 ngân hàng liên doanh
6 Những đóng góp chính của luận án
- Hệ thống quá trình tiến hóa của công cụ tài chính từ khi hình thành và qua các giai đoạn phát triển; trên cơ sở đó tổng hợp các đặc trưng của công cụ tài chính nói chung và công cụ tài chính trong NHTM
- Tổng hợp các nghiên cứu khác nhau về nguyên tắc ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố công cụ tài chính cũng như các yêu cầu của IAS/IFRS nhằm rút ra bản chất kế toán công cụ tài chính Đối chiếu kế toán công cụ tài
Trang 19chính của các quốc gia với IAS/IFRS để thấy được xu hướng chung trên thế giới cũng như đối với các quốc gia đang phát triển
- Đánh giá kế toán công cụ tài chính trong các NHTM tại Việt Nam trên
cả hai phương diện: hài hòa giữa hệ thống kế toán các TCTD với IAS/IFRS và mức độ tuân thủ các quy định kế toán trên thực tế của các NHTM
- Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các tồn tại trong kế toán công cụ tài chính hiện nay trong các NHTM và các bài học kinh nghiệm cho các quốc gia đang phát triển về xây dựng và phát triển kế toán công cụ tài chính là
cơ sở quan trọng hình thành quan điểm, phương hướng hoàn thiện kế toán công
cụ tài chính trong các NHTM tại Việt Nam cả giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài
- Các giải pháp hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong NHTM vừa góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin tài chính của các đối tượng sử dụng, đặc biệt các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán vừa góp phần thúc đẩy tiến trình hài hoà hệ thống kế toán Việt Nam với chuẩn mực quốc tế về kế toán
Trang 20Chương 1:
Tổng quan về kế toán công cụ tài chính trong ngân
hàng thương mại
1.1 Công cụ tài chính
1.1.1. Lịch sử phát triển công cụ tài chính
Để có được danh mục đa dạng và phức tạp như ngày nay, công cụ tài chính
đã trải qua hàng nghìn năm hình thành, phát triển, đặc biệt qua các trào lưu đổi mới tài chính trong hơn vài thập kỷ vừa qua
(1) Giai đoạn hình thành (từ 3.500 năm trước Công nguyên đến cuối thế kỷ XIX)
Tư liệu khảo cổ cho thấy, khoảng 3.500 năm trước Công nguyên đã có hoạt động giữ của cải dư thừa của công chúng tại các nhà thờ Hy Lạp [8, tr.59] Các sáng kiến của người gửi tài sản (tiền) là sử dụng giấy biên nhận gửi tài sản trong trao đổi và sáng kiến sử dụng tài sản (tiền) giữ hộ để cho vay của người giữ tài sản (tiền) chính là cơ sở hình thành các công cụ tài chính sơ khai - chứng thư (biên nhận gửi tài sản) và cho vay [2, tr.63] Ngày nay các chứng thư trở thành séc, còn tài sản và tiền của người gửi tại nhà thờ là tiền gửi của khách hàng tại các NHTM Sau đó, các công cụ tài chính khác được ra đời và phát triển nhằm mục đích tạo lập các phương thức giao dịch thuận lợi cho việc tìm và sử dụng vốn
Bằng cách mua lại các khoản phải thu sau khi các thương gia cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, ngân hàng đã hình thành một trong các sản phẩm tín dụng sớm nhất, đó là chiết khấu thương phiếu [79, tr.13]
Các công cụ tài chính phái sinh cũng đã được hình thành từ hàng nghìn năm nay, như quyền chọn liên quan đến sự vỡ nợ các khoản phải trả lãi được mô tả
trong Luật Hammurabi (Code of Hammurabi) xuất hiện vào 1.750 năm trước Công nguyên hay quyền chọn mua ô liu được mô tả trong Aristotle’s Politics vào 350
Trang 21năm trước Công nguyên Sau đó, các giao dịch quyền chọn phát triển tại Anh, Pháp
vào thế kỷ XII, XIII, các hợp đồng quyền chọn và kỳ hạn mua, bán hoa tulip tại Hà Lan xuất hiện vào thế kỷ XVII và các hợp đồng tương lai cũng được chính thức giao dịch khi sàn giao dịch Amsterdam ra đời vào năm 1611 [84]
Sang thế kỷ XI, thị trường chứng khoán đầu tiên hình thành tại Pháp giữa ngân hàng và các cá nhân nhằm thực hiện các giao dịch công cụ nợ [89] Trái phiếu
và cổ phiếu xuất hiện, phát triển vào thế kỷ XVI, nhất là sau khi thị trường trái phiếu tại Anh ra đời năm 1694, thị trường chứng khoán có đăng ký được thành lập năm 1.773 tại Luân Đôn [4, tr.59 & 68] Ngoài ra, cổ phiếu ưu đãi có cổ tức cố định hình thành từ những năm 1830, khi các công ty vận chuyển đường bộ và đường sông tại Hoa Kỳ có nhu cầu tăng vốn cho các dự án của mình [68]
Tóm lại, qua hàng nghìn năm, các công cụ tài chính khác nhau đã lần lượt ra đời và phát triển, từ những công cụ đơn giản như cho vay, tiền gửi, thương phiếu… đến các công cụ phái sinh phức tạp như giao dịch tương lai, kỳ hạn và quyền chọn
(2) Giai đoạn phát triển (từ đầu thế kỷ XX đến trước những năm 1970)
Đầu thế kỷ XX, hoạt động của các ngân hàng được đẩy mạnh, nhờ đó các công
cụ tài chính là các khoản cho vay, thương phiếu và chấp phiếu ngân hàng cũng phát triển theo
Ngoài việc mở rộng cho vay kinh doanh vào các năm 1920 -1930, các ngân hàng lớn như Citigroup, Bank of America bắt đầu thúc đẩy sản phẩm tín dụng khác
là cho vay tiêu dùng
Thương phiếu là công cụ tài chính có những biến động thăng trầm, điển hình như ở Hoa Kỳ Tại quốc gia này, thương phiếu có lịch sử phát triển dài: đầu thế kỷ
XX phát triển mạnh, ngưng vào cuối những năm 1920 cho đến kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ II, rồi sau đó phát triển trở lại vào những năm 1960 để cuối cùng một lần nữa gián đoạn khi Công ty vận tải Penn-Central của Hoa Kỳ tuyên bố phá sản ngày 21/6/1970 [43]
Trang 22Bên cạnh đó, thời kỳ đầu của giai đoạn này, các ngân hàng đã chú trọng đến phát triển chấp phiếu ngân hàng nhằm cạnh tranh với các thương phiếu của các công ty [43]
Ngoài các giao dịch kỳ hạn, tương lai và quyền chọn đã được hình thành từ giai đoạn trước và không ngừng phát triển, thị trường phái sinh tiếp tục được bổ sung bởi giao dịch hoán đổi tiền tệ vào những năm 1960 Các giao dịch phái sinh này giúp các công ty xuyên quốc gia chuyển đổi tiền tệ khi đầu tư vào một chi nhánh tại nước ngoài nhưng bị hạn chế bởi luật của các nước về việc chuyển đổi tiền tệ1
Trước nhu cầu sử dụng vốn gia tăng, các ngân hàng đã đa dạng hoá công cụ tài chính tạo lập vốn là chứng chỉ tiền gửi Năm 1962, Ngân hàng quốc gia thành phố New York (nay là Citibank) đã đưa ra thị trường một sản phẩm tiền gửi mới là
chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng (NCD: negotiable certificate of deposit)
Sản phẩm này đem lại nguồn vốn quan trọng cho các ngân hàng đồng thời tăng thêm tài sản tài chính cho các quỹ đầu tư [9, tr.22]
Như vậy, hầu hết các công cụ tài chính có quá trình hình thành và phát triển lâu dài Qua thời gian, các công cụ tài chính tiếp tục phát triển, phổ biến hơn và xuất hiện thêm các công cụ tài chính mới để tạo ra danh mục các công cụ tài chính ngày càng đa dạng về chủng loại và phức tạp hơn
(3) Giai đoạn đương đại với các trào lưu đổi mới tài chính (từ những năm 1970 đến nay)
Trong các thập kỷ 1970, 1980 và 1990 đã liên tục xuất hiện nhiều trào lưu đổi mới tài chính với việc hình thành nhiều công cụ tài chính hiện đại Trước hết,
những năm 1970 hàng loạt công cụ tài chính phái sinh mới ra đời: Giao dịch tương
lai tiền tệ (1972); Giao dịch quyền chọn cổ phiếu thường (1973); Giao dịch tương lai các công cụ nợ (1975); Giao dịch tương lai tín phiếu/ trái phiếu Kho Bạc (1976, 1977) [50], [84]
1Lịch sử công cụ tài chính –http://www.saga.vn/taichinh/congcu
Trang 23Sang thập kỷ 1980, sự kết hợp các giao dịch hoán đổi, quyền chọn và trái phiếu tạo ra các công cụ tài chính mới, phức tạp hơn, như: Giao dịch tương lai Eurodollar (Đô la châu Âu) - kỳ hạn 3 tháng; Giao dịch tương lai chỉ số cổ phiếu, chỉ số chứng khoán; Giao dịch quyền chọn lãi suất, tiền tệ, chỉ số cổ phiếu; Giao dịch quyền chọn tương lai trái phiếu, tương lai chỉ số cổ phiếu [84], [87]
Đến đầu những năm 1990, giao dịch phái sinh tín dụng hiện diện tại các NHTM lớn hay ngân hàng đầu tư tại Anh và nhanh chóng phát triển trên toàn cầu Đây là giao dịch được kết hợp giữa giao dịch kỳ hạn, hoán đổi hay quyền chọn với công cụ tài chính là trái phiếu công ty, các khoản cho vay lớn hay danh mục các khoản cho vay
nhỏ đồng nhất của các ngân hàng, điển hình như hoán đổi vỡ nợ tín dụng (credit-
defaut swap), hoán đổi toàn bộ thu nhập (total –return swap) [45] [76, tr.269]
Ngoài ra, trên thị trường tiền gửi cũng có những thay đổi đáng kể, xuất hiện các công cụ mới, giúp ngân hàng huy động vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn gia
tăng Đó là tài khoản giao dịch hưởng lãi (NOW: Negotiable order of withdrawal)
xuất hiện tại Anh vào những năm 1970, tài khoản tiền gửi trên thị trường tiền tệ
(MMDA: Money market deposit account) và tài khoản giao dịch hưởng lãi có lãi suất nằm giữa lãi suất tài khoản NOW và MMDA là Super NOW (Super negotiable order of withdrawal) ra đời tại Hoa Kỳ năm 1982 [24, tr.460-461]
Hình thành từ hàng nghìn năm nay, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, cùng các trào lưu đổi mới tài chính trong vài thập kỷ gần đây, công cụ tài chính dù ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp, nhưng tất cả đều nhằm mục đích tạo lập các phương thức huy động vốn và sử dụng vốn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
1.1.2 Bản chất công cụ tài chính
1.1.2.1 Định nghĩa công cụ tài chính
Công cụ tài chính bao gồm những loại đơn giản như các khoản cho vay, thương phiếu, trái phiếu, cổ phiếu… cho đến công cụ phái sinh phức tạp như hoán đổi, tương lai, kỳ hạn…dù có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài nhưng thuật ngữ công cụ tài chính dùng để bao quát tất cả các công cụ này chỉ được đưa ra sau
Trang 24khi xuất hiện các trào lưu đổi mới tài chính Và tuy không ít tài liệu, công trình nghiên cứu đề cập đến bản chất, đặc điểm cũng như quy định về kế toán của từng loại công cụ tài chính, nhưng hiếm khi đưa ra định nghĩa chung về chúng Dưới đây
là một số khái niệm về công cụ tài chính:
Theo Lanny G Chasteen và cộng sự, công cụ tài chính bao gồm: Tiền mặt; Bằng chứng về lợi ích của chủ sở hữu trong tổ chức; Hợp đồng mà theo thỏa thuận một bên có trách nhiệm chuyển giao tiền mặt hoặc công cụ tài chính khác hay thỏa thuận trao đổi công cụ tài chính với đối tác trong điều kiện bất lợi và đồng thời mang lại cho bên kia quyền nhận tiền mặt hoặc công cụ tài chính khác hay quyền trao đổi các công cụ tài chính với điều khoản có lợi [35, tr.608]
Với Loles P.T (2007), công cụ tài chính bao gồm cả quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, giúp trao đổi trực tiếp hay gián tiếp các công cụ thanh toán [64] Theo tác giả, điều kiện cần thiết để tồn tại một công cụ tài chính là quyền và nghĩa vụ được thoả thuận trong hợp đồng về giao dịch tài chính Trong đó, các điều khoản của hợp đồng được thoả thuận trực tiếp giữa hai bên liên quan, nhưng có thể được quy định chung bởi luật pháp giữa các bên (Walton et al, 1998) [78, tr.17]
Theo H.S Houthakker và P.J Williamson, người sở hữu công cụ tài chính có quyền theo thoả thuận đối với lãi và gốc khi nắm giữ trái phiếu, quyền đối với cổ tức có thể được trả trong tương lai hay giá trị còn lại của công ty phát hành sau khi trừ khoản nợ phải trả để được sở hữu cổ phần của công ty này; quyền đối với một lượng hàng hoá, tiền tệ hay cổ phần nhất định khi đầu tư vào hợp đồng tương lai….Chủ sở hữu các công cụ tài chính có quyền chuyển nhượng các quyền này khi chúng chưa đến hạn thanh toán hay chưa được thanh lý [53]
IAS 32 “Công cụ tài chính: Trình bày và công bố”, đoạn 11 định nghĩa:
“Công cụ tài chính là bất cứ hợp đồng nào mang lại tài sản tài chính cho một doanh nghiệp và nợ tài chính hay công cụ vốn cho doanh nghiệp khác”
Công cụ tài chính bao gồm các công cụ tài chính cơ sở, như các khoản phải thu, phải trả, trái phiếu, cổ phiếu… và các công cụ tài chính phái sinh (còn gọi là
Trang 25công cụ phái sinh) là các giao dịch hoán đổi, kỳ hạn, tương lai và quyền chọn Các
công cụ tài chính này được gọi là công cụ phái sinh (derivatives) vì các luồng tiền của chúng bắt nguồn (derive) từ sự thay đổi đại lượng cơ sở (underlying), như tỷ giá
hối đoái, lãi suất, giá hàng hoá, xếp hạng tín dụng…[71, tr.141]
IAS 39 “Công cụ tài chính: Ghi nhận và đánh giá”, đoạn 9 quy định: Công cụ phái sinh là công cụ tài chính đồng thời thỏa mãn ba điều kiện: (i)Giá trị của công
cụ này phụ thuộc vào đại lượng cơ sở; (ii)Không có khoản đầu tư thuần ban đầu hay nếu có thì rất nhỏ; và (iii)Được thanh toán trong tương lai
Trong các khái niệm và định nghĩa về công cụ tài chính có các điểm chung sau:
- Công cụ tài chính là các hợp đồng, trong đó các đối tác cùng thỏa thuận trực tiếp hoặc được quy định chung bởi người phát hành về phương thức trao đổi các luồng tiền hay công cụ tài chính khác trong tương lai
- Cách thức tính toán và trao đổi các luồng tiền hay công cụ tài chính thể hiện mối quan hệ tài chính giữa các bên tham gia hợp đồng và là cơ sở để quyết định bản chất của công cụ tài chính
- Giá trị của công cụ tài chính phụ thuộc vào cam kết thanh toán của người phát hành, tính thanh khoản cũng như các yếu tố thị trường
1.1.2.2 Đặc điểm công cụ tài chính
Từ quá trình hình thành và phát triển cũng như bản chất cho thấy, công cụ tài chính có các đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, hầu hết các tác nhân trong nền kinh tế đều có thể tham gia vào
giao dịch để tạo lập công cụ tài chính, trong đó, người phát hành là Chính phủ, các doanh nghiệp hay NHTM, còn bên sở hữu (đầu tư) là các cá nhân, doanh nghiệp, NHTM hay NHTW
Thứ hai, do không phải chịu phí lưu kho, bảo quản, vận chuyển như các tài
sản vật chất nên công cụ tài chính là tài sản tài chính có chi phí giao dịch thấp, tính thanh khoản cao và vì vậy hấp dẫn nhà đầu tư Chính vì vậy các công cụ tài chính
Trang 26thường phát triển nhanh, phổ biến khắp toàn cầu, dễ tạo ra các trào lưu đổi mới tài chính, nhưng cũng gây áp lực cho các nhà điều hành, giám sát thị trường
Thứ ba, kể cả khi phát hành hay đầu tư vào công cụ tài chính, các doanh
nghiệp/NHTM luôn đối mặt với các loại rủi ro khác nhau: (i)Rủi ro thanh khoản khi chịu áp lực thanh toán các khoản nợ tài chính; (ii)Rủi ro tín dụng khi bên phát hành không thực hiện được các cam kết thanh toán và (iii)Rủi ro thị trường do thay đổi lãi suất, tỷ giá hối đoái hay giá hàng hóa…[74, tr.26]
Thứ tư, sự kết hợp nhiều công cụ tài chính khác nhau tạo nên các công cụ
phái sinh mới, góp phần làm phong phú các công cụ phòng ngừa rủi ro, nhưng đồng thời làm tăng tính phức tạp của các công cụ này [84]
Thứ năm, mặc dù khi bắt đầu xuất hiện, công cụ phái sinh có vai trò chủ yếu
là phòng ngừa rủi ro, nhưng thực tế chúng đem lại cơ hội lớn về kinh doanh cũng như đầu cơ cho các nhà đầu tư Cùng một loại công cụ phái sinh, kể cả khi phát hành hay đầu tư, doanh nghiệp/NHTM có thể đạt các mục tiêu quản trị khác nhau: kinh doanh đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phòng ngừa rủi ro hay đầu cơ cho chính mình Vì vậy vai trò của nhà quản trị trong việc xác định rõ các mục tiêu này
là hết sức quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến cơ hội kinh doanh cũng như thực trạng tài chính hiện tại và tương lai của tổ chức
1.2 Kế toán công cụ tài chính
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển chuẩn mực quốc tế về kế toán công cụ tài chính
Tính đến tháng 6/2010, hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán bao gồm Khuôn mẫu lý thuyết về việc lập và trình bày báo cáo tài chính (IAS Framework),
41 IAS (29 IAS còn hiệu lực) và 9 IFRS cung cấp các hướng dẫn kế toán ghi nhận,
đo lường, trình bày và công bố các đối tượng kế toán, bao gồm cả công cụ tài chính
Trang 27Trong đó, các chuẩn mực về công cụ tài chính đã có lịch sử hình thành và phát triển qua nhiều năm [40], [54, tr.540-543]2
Tháng 10/1984, IASC bắt đầu nghiên cứu công cụ tài chính là các khoản đầu
tư và IAS 25 “Kế toán các khoản đầu tư” ra đời tháng 3/1986 Đây là IAS đầu tiên
về các công cụ tài chính, nhưng chỉ cung cấp các nguyên tắc kế toán các khoản đầu
tư của doanh nghiệp vào cổ phiếu và trái phiếu
Tiếp theo, IASC bắt đầu dự án xây dựng chuẩn mực mới về công cụ tài
chính từ 1988 và công bố Dự thảo (ED: Exposure draft) 40 “Công cụ tài chính” vào tháng 9/1991 Trước khi chuẩn mực chính thức ra đời, ED 48 thay thế cho ED
40 vào đầu năm 1994, theo đó IASC chia dự án về công cụ tài chính thành hai giai đoạn: (i)Trình bày và công bố công cụ tài chính và (ii)Ghi nhận và đo lường công cụ tài chính
Giai đoạn một của dự án hoàn thành vào năm 1995 với sự ra đời của IAS 32
“Công cụ tài chính: Trình bày và công bố” Bên cạnh đó, IASC tiếp tục nghiên cứu
dự án về ghi nhận và đo lường công cụ tài chính Sau khi nhận được ý kiến đóng góp về tài sản tài chính và nợ tài chính, IASC công bố ED 62 “Ghi nhận và đo lường công cụ tài chính” vào tháng 6/1998 và chính thức ban hành IAS 39 “Công
cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường” vào cuối năm đó Khi đó, IAS 32 (phiên bản 1998) cũng được chỉnh sửa cho phù hợp với IAS 39
Mặc dù mới ban hành nhưng IAS 39 (phiên bản 1998) bị đánh giá là có mô hình đo lường hỗn hợp và phức tạp Năm 2003, để vừa giảm tính phức tạp của
chuẩn mực, vừa bổ sung vấn đề “Lựa chọn đo lường theo giá trị hợp lý” (Fair value option), IASB (thay thế IASC từ 2001) công bố phiên bản mới của IAS 32 và IAS-
39 (phiên bản 2003)
Đến tháng 8/2005, cùng với việc ban hành IFRS 7 “Công cụ tài chính: Công
bố”, IASB huỷ bỏ các quy định về công bố công cụ tài chính trong IAS 32 và chính thức đổi tên chuẩn mực thành IAS 32 “Công cụ tài chính: Trình bày” Ngoài ra, để
2 : Nguồn http://www.iasplus.com và “IAS for banks: Application of IAS in practice” PwC Deutsche Revision, 2002, tr.70-75
Trang 28thống nhất các vấn đề về công cụ tài chính, IASB ban hành IAS 32 và IAS 39 (phiên bản 2005) thay thế phiên bản 2003
Sau đó, từ 2005 đến tháng 3/2009, IASB nhiều lần lấy ý kiến hiệu chỉnh các chuẩn mực về công cụ tài chính: Kế toán phòng ngừa rủi ro giá trị hợp lý đối với danh mục; Phòng ngừa rủi ro luồng tiền với các giao dịch nội bộ dự kiến; Lựa chọn giá trị hợp lý; Các hợp đồng bảo lãnh tài chính; Tái phân loại tài sản tài chính; Hợp đồng thanh toán bằng công cụ vốn chủ sở hữu; Các khoản mục được phòng ngừa rủi
ro thích hợp; Đầu tư vào công cụ nợ; Cải thiện các công bố về công cụ tài chính và công cụ phái sinh chìm
Dù được hiệu chỉnh nhiều lần nhưng IAS 39 vẫn bị cho là phức tạp và khó
áp dụng vào thực tiễn Sau khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ và toàn cầu năm 2008,
các nhà lãnh đạo nhóm G-20 và Hội đồng ổn định tài chính (FSB: Financial Stability Board) hối thúc các tổ chức lập quy (IASB và FASB) cố gắng giảm tính
phức tạp của các chuẩn mực về công cụ tài chính Tháng 4/2009, IASB chính thức thông báo xúc tiến xây dựng IFRS mới về công cụ tài chính Kế hoạch xây dựng IFRS này bao gồm ba giai đoạn: (i)Phân loại và đo lường công cụ tài chính; (ii)Tổn thất tài sản tài chính và (iii)Kế toán phòng ngừa rủi ro Tháng 11/2009, IFRS 9
“Công cụ tài chính” ra đời đánh dấu hoàn tất phần đầu thuộc giai đoạn đầu của dự
án và cung cấp nguyên tắc kế toán tài sản tài chính IASB dự kiến hoàn tất Dự án vào cuối năm 2010, đầu năm 2011 Khi đó IFRS 9 sẽ thay thế IAS 39
Hiện nay, IASB đã công bố một số Dự thảo nhằm hoàn tất phần còn lại của
dự án IFRS 9 và các chuẩn mực khác liên quan đến công cụ tài chính: ED/2009/05
về “Đo lường giá trị hợp lý”, ED/2009/3 về “Xóa bỏ ghi nhận công cụ tài chính”; ED/2009/12 về “Công cụ tài chính: nguyên giá phân bổ và tổn thất”; ED/2010/4 về
“Lựa chọn giá trị hợp lý đối với nợ tài chính” Các chuẩn mực quốc tế về kế toán công cụ tài chính có quy mô lớn, phức tạp nên đã được IASB xây dựng, hiệu chỉnh nhiều lần trong một thời gian dài Đến nay IASB đã tạo được khung cơ bản về kế toán công cụ tài chính, từ việc phân loại, ghi nhận, xoá bỏ ghi nhận, đo lường, trình
Trang 29bày và công bố toàn bộ công cụ tài chính do doanh nghiệp/NHTM phát hành cũng như đầu tư
1.2.2 Nội dung kế toán công cụ tài chính theo chuẩn mực quốc tế về kế toán hiện hành
Các chuẩn mực quốc tế hiện hành về kế toán công cụ tài chính bao gồm IAS 32
“Công cụ tài chính: Trình bày”; IAS 39 “Công cụ tài chính: Ghi nhận, đo lường”, IFRS 7 “Công cụ tài chính: Công bố” và IFRS 9 “Công cụ tài chính” (Phụ lục 1)
IAS 39 đề cập các nguyên tắc về ghi nhận và đo lường nợ tài chính và một số hợp đồng mua bán các tài sản phi tài chính Các yêu cầu trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính lần lượt được đề cập trong IAS 32 và IFRS 7 Cuối cùng, IFRS 9 quy định các nguyên tắc phân loại, ghi nhận và đo lường tài sản tài chính
Dù có vai trò riêng, nhưng cả bốn chuẩn mực trên cùng cung cấp các nguyên tắc ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố các công cụ tài chính trong doanh nghiệp/NHTM Những nội dung cơ bản của kế toán công cụ tài chính theo IAS/IFRS bao gồm:
- Phân loại công cụ tài chính làm cơ sở xây dựng nguyên tắc ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố cho từng loại;
- Nguyên tắc ghi nhận ban đầu và thanh lý (xoá bỏ) công cụ tài chính;
- Đo lường công cụ tài chính khi ghi nhận ban đầu và khi lập báo cáo tài chính;
- Tổn thất tài sản;
- Kế toán phòng ngừa rủi ro;
- Trình bày và công bố công cụ tài chính
1.2.2.1 Phân loại công cụ tài chính
Công cụ tài chính đa dạng về chủng loại, từ các công cụ đơn giản như tiền, khoản phải thu, khoản phải trả… đến các công cụ phức tạp như công cụ phái sinh, công cụ phức hợp Vì vậy, trước hết cần phân loại các công cụ tài chính theo các
Trang 30tiêu chí khác nhau để thấy được bản chất kinh tế của từng loại Đó cũng là cơ sở hình thành nguyên tắc ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố thông tin đối với từng loại công cụ tài chính
(1) Phân loại công cụ tài chính thành các yếu tố trên Bảng cân đối kế toán
Từ các yếu tố của Bảng cân đối kế toán theo Khuôn mẫu lý thuyết về việc lập và trình bày báo cáo tài chính và định nghĩa công cụ tài chính của IAS 32 cho thấy công cụ tài chính bao gồm tài sản (tài sản tài chính), nợ phải trả (nợ tài chính)
và vốn chủ sở hữu Từng loại công cụ tài chính này được mô tả trong Bảng 1.1-Các loại công cụ tài chính trên Bảng cân đối kế toán Và đây là cách phân loại cơ bản giúp cho việc nhận diện các công cụ tài chính khi trình bày chúng trên Bảng cân đối kế toán
Bảng 1.1- Các loại công cụ tài chính trên Bảng cân đối kế toán
Tài sản tài chính Nợ tài chính Công cụ vốn
chủ sở hữu
- Tiền
- Công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị
khác
- Các quyền theo hợp đồng nhận tiền
hay một tài sản tài chính khác, hoặc
trao đổi tài sản tài chính hay nợ tài
chính với đơn vị khác trong điều
kiện thuận lợi
- Một số hợp đồng được thanh toán
bằng vốn chủ sở hữu của đơn vị
- Các nghĩa vụ theo hợp đồng giao tiền hay một tài sản tài chính khác, hoặc trao đổi tài sản tài chính hay nợ tài chính với đơn vị khác theo điều kiện bất lợi
- Một số hợp đồng được thanh toán bằng vốn chủ
sở hữu của chính đơn vị
- Hợp đồng cho phép hưởng lợi ích còn lại trong các tài sản của một đơn vị sau khi trừ hết nợ phải trả của đơn vị
đó
Nguồn: IAS 32- đoạn 11
(2) Phân loại công cụ tài chính theo nguồn gốc
Căn cứ vào nguồn gốc, công cụ tài chính bao gồm công cụ tài chính cơ sở (còn gọi là công cụ tài chính phi phái sinh) và các công cụ phái sinh
- Các công cụ tài chính cơ sở như tiền, cho vay, cổ phiếu, trái phiếu, khoản
phải thu, khoản phải trả…
Trang 31- Các công cụ phái sinh là công cụ tài chính có luồng tiền bắt nguồn từ các
đại lượng cơ sở như tỷ giá, lãi suất, chỉ số chứng khoán, giá chứng khoán…Các
công cụ phái sinh rất đa dạng và phức tạp, có thể là công cụ phái sinh cơ sở (basis derivatives) hay công cụ phái sinh hiện đại, có thể độc lập hay được gắn chìm trong công cụ tài chính khác (Embedded derivatives) Các giao dịch tương lai, quyền
chọn, hoán đổi và kỳ hạn còn được gọi là công cụ phái sinh cơ sở Với mỗi đại lượng cơ sở như tỷ giá hối đoái, lãi suất, xếp hạng tín dụng…tạo nên nhóm công cụ phái sinh tương ứng như công cụ phái sinh tiền tệ, phái sinh lãi suất, phái sinh tín dụng…Trong khi đó, các công cụ phái sinh hiện đại được tạo nên từ kết hợp giữa các công cụ phái sinh nền tảng với nhau, như quyền chọn tương lai trái phiếu hay giữa công cụ phái sinh nền tảng với công cụ tài chính cơ sở như trái phiếu, các khoản cho vay, như công cụ phái sinh tín dụng Các công cụ phái sinh chìm thường khó nhận biết hơn cả bởi vì được gắn với một hợp đồng cơ sở, như quyền chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu trong hợp đồng trái phiếu chuyển đổi Công cụ tài chính là hợp đồng cơ sở có chứa công cụ phái sinh chìm được gọi là công cụ tài
chính phức hợp hay công cụ tài chính hợp thể (Hybrid instrument)
Cách phân loại trên giúp cho việc phân tích được bản chất kinh tế, các luồng tiền trong tương lai của các công cụ tài chính, và đây là điều kiện quan trọng để lựa
chọn cơ sở đo lường thích hợp đối với từng loại công cụ tài chính
(3) Phân loại công cụ tài chính theo yêu cầu đo lường và công bố thông tin
IAS 39 và IFRS 9 quy định về cách phân loại các tài sản tài chính và nợ tài chính để trên cơ sở đó xây dựng nguyên tắc đo lường đối với từng loại Đó cũng chính là yêu cầu của IFRS 7 về phân loại công cụ tài chính cho mục đích thuyết minh thông tin chi tiết về từng loại công cụ tài chính Theo đó, công cụ tài chính bao gồm:
- Tài sản tài chính luôn được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch do thay
đổi giá trị hợp lý được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh (FVPL: Fair
Trang 32value through profit or loss) bao gồm: (i)Tài sản tài chính kinh doanh và (ii)Tài
sản tài chính được lựa chọn ghi theo FVPL ngay từ khi ghi nhận ban đầu
- Tài sản tài chính được đo lường sau ghi nhận ban đầu theo nguyên giá phân bổ (AC: Amortised cost)
- Tài sản tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý
được ghi nhận vào thu nhập hoãn lại (FVOCI: Fair value through other comprehensive income)
- Nợ tài chính luôn được đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch do thay đổi giá trị hợp lý được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh (FVPL) Trong đó bao gồm (i)Nợ tài chính để kinh doanh và (ii)Nợ tài chính được lựa chọn ghi theo FVPL ngay từ khi ghi nhận ban đầu
- Nợ tài chính được đo lường sau ghi nhận ban đầu theo nguyên giá phân bổ (AC)
- Các công cụ tài chính thuộc kế toán phòng ngừa rủi ro
Cơ sở quan trọng để phân loại công cụ tài chính như trên là (i)Bản chất các luồng tiền của công cụ tài chính và (ii)Mục tiêu quản trị công cụ tài chính của doanh nghiệp/NHTM Như vậy, các công cụ tài chính được sắp xếp trong cùng một nhóm không chỉ có cùng bản chất kinh tế ban đầu mà còn được doanh nghiệp/NHTM đầu
tư hay phát hành với cùng mục đích như nhau Cách phân loại này là cơ sở quan trọng để xây dựng nguyên tắc ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố phù hợp với từng loại công cụ tài chính
1.2.2.2 Ghi nhận và xóa bỏ công cụ tài chính
Nguyên tắc ghi nhận công cụ tài chính phải phù hợp với yêu cầu ghi nhận các đối tượng kế toán theo Khuôn mẫu lý thuyết về việc lập và trình bày báo cáo tài chính hay nói cách khác việc ghi nhận phải căn cứ vào các điều kiện ghi nhận các yếu tố của Bảng cân đối kế toán được quy định trong Khuôn mẫu lý thuyết
IAS 39, đoạn 14 và IFRS 9, đoạn 3.1 quy định tài sản tài chính và nợ tài chính được ghi nhận vào thời điểm doanh nghiệp trở thành một bên đối tác của hợp
Trang 33đồng Nguyên tắc này được Hague (2004) diễn giải đó là thời điểm công cụ tài chính tạo ra quyền và trách nhiệm thỏa mãn định nghĩa về tài sản và nợ phải trả [50]
Chuyển nhượng tài sản tài chính là một trong các vấn đề phức tạp của kế toán công cụ tài chính vì có những trường hợp sau khi chuyển nhượng, bên chuyển nhượng vẫn còn quyền hay nghĩa vụ đối với tài sản Chẳng hạn mua/bán chứng khoán với thỏa thuận bán/mua lại sau đó (repo chứng khoán) Căn cứ để xem xét xoá bỏ tài sản tài chính theo IAS 39 là khả năng chuyển giao lợi ích kinh tế cùng rủi
ro gắn với quyền sở hữu tài sản và quyền kiểm soát tài sản Thời điểm xóa bỏ ghi nhận nợ tài chính được quy định là khi hợp đồng hết hiệu lực hay nghĩa vụ hợp đồng đã được thực hiện, bị hủy bỏ, hết hạn
1.2.2.3 Đo lường công cụ tài chính
Vào những năm 1980, khi các công cụ phái sinh phát triển nhanh, cơ sở đo lường truyền thống - giá gốc được đánh giá là khó có khả năng phản ánh được rủi ro phát sinh từ chúng, vì vậy giá trị hợp lý được bổ sung vào đo lường các công cụ tài chính [72]
Mặc dù đã được kế toán nêu ra từ thế kỷ XIX, được sử dụng làm cơ sở đo lường công cụ tài chính hay các đối tượng kế toán khác trong IAS/IFRS và hệ thống
kế toán của nhiều quốc gia nhưng đến nay, giá trị hợp lý vẫn được xem là khó hiểu, khó vận dụng và chưa được chấp nhận rộng rãi như giá gốc Kế toán giá trị hợp lý (còn gọi là kế toán giá thị trường) hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu nhưng lại bị hạn chế trong thực hành và trở thành tâm điểm của nhiều tranh cãi [36], [67]
Hague (2004) và Bradbury (2003) cùng cho rằng IAS 39 đo lường công cụ tài chính theo giá trị hợp lý là thích hợp nhất, đặc biệt với công cụ phái sinh Hague
và Bradbury lý giải, công cụ phái sinh có giá gốc rất nhỏ hoặc không có nhưng lợi ích hay tổn thất chúng gây ra cũng như giá trị thanh toán các công cụ này phụ thuộc vào giá trị hợp lý của chúng Do vậy, không đo lường các công cụ tài chính này theo giá trị hợp lý đồng nghĩa với việc không trình bày chúng trên Bảng cân đối kế toán trong khi chúng ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng tài chính của tổ chức Ngoài
Trang 34ra, thông tin về giá trị hợp lý của công cụ phái sinh giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được bản chất rủi ro và cách thức doanh nghiệp quản trị rủi ro có thể phát sinh từ các công cụ này [40], [50]
Cũng tán đồng quan điểm trên, nhưng Morris & Selon (1991) cho rằng điểm yếu của kế toán giá trị hợp lý đối với doanh nghiệp/NHTM là tính đáng tin cậy của
dữ liệu sử dụng cho các ước tính và vì thế có thể tác động đến lợi nhuận [67] Trong khi đó, Beaver (1992) lưu ý rằng để thực hiện kế toán giá trị hợp lý đối với công cụ tài chính cần có thị trường vốn hoàn hảo [69] Sau đó, nhiều công trình khác đã nghiên cứu về độ tin cậy của giá trị hợp lý và đi đến kết luận không phải tất cả, nhưng có những công cụ tài chính sẽ rất khó xác định được giá trị hợp lý một cách đáng tin cậy (Bradbury và Hague, 2002; Walker và Jones, 2003) [40]
Kế toán công cụ tài chính theo IAS 39 (Phiên bản trước khi ban hành IFRS 9) được đánh giá là mô hình hỗn hợp bởi dù chú trọng sử dụng giá trị hợp lý nhưng chuẩn mực quy định đo lường một số công cụ tài chính theo nguyên giá phân bổ hay giá gốc Đặc biệt cùng một loại công cụ tài chính nhưng doanh nghiệp có thể lựa chọn cơ sở đo lường khác nhau Mô hình đo lường hỗn hợp có thể che mờ bản chất phòng ngừa rủi ro tự nhiên giữa tài sản tài chính và nợ tài chính khi đo lường chúng trên hai cơ sở khác nhau [76, tr.1] Mô hình đo lường các công cụ tài chính được xem đã giảm tính phức tạp, giảm các lựa chọn khi đo lường tài sản tài chính sau khi IFRS 9 ra đời vào tháng 11/2009
Như vậy, hiện nay IAS 39 quy định về đo lường nợ tài chính còn IFRS 9 cung cấp các nguyên tắc đo lường các tài sản tài chính Trong đó, nợ tài chính được
đo lường theo FVPL hay AC; còn các tài sản tài chính sẽ được đo lường theo FVPL, FVOCI hay AC
Tóm lại, IASB cho rằng giá trị hợp lý là lựa chọn tốt nhất để đo lường công
cụ tài chính Trong khi đó, nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ cơ sở đo lường giá trị hợp
lý áp dụng với công cụ tài chính về lý thuyết, nhưng điểm yếu của cơ sở đo lường này là độ tin cậy của dữ liệu sử dụng để ước tính Đó cũng là lý do IASB đang tiến
Trang 35hành dự án “Đo lường giá trị hợp lý” với mục đích ban hành hướng dẫn tốt nhất
nhằm đảm bảo tính minh bạch và đáng tin cậy của thông tin về giá trị hợp lý của các đối tượng kế toán bao gồm cả công cụ tài chính
1.2.2.4 Kế toán tổn thất tài sản tài chính
Xác định tổn thất tài sản tài chính cũng là đo lường tài sản này vào ngày lập báo cáo tài chính khi chúng có dấu hiệu tổn thất do không thể thu hồi IAS39/IFRS 9 xem xét tổn thất đối với các tài sản tài chính đo lường theo nguyên giá phân bổ Các vấn đề về tổn thất tài sản theo quy định của IAS 39 bao gồm [58]:
- Định kỳ, khi lập báo cáo tài chính cần đánh giá tổn thất tài sản có thể phát sinh do không thể thu hồi;
- Hướng dẫn cơ chế nhận diện tổn thất tài sản và đưa ra các ví dụ minh họa
cụ thể về các bằng chứng khách quan dẫn đến tổn thất tài sản;
- Đánh giá tổn thất tài sản cho khoản mục cụ thể hay nhóm các khoản mục;
- Đo lường và ghi nhận lỗ do tổn thất tài sản tài chính (Phụ lục 2)
1.2.2.5 Kế toán phòng ngừa rủi ro
Công cụ tài chính không chỉ giúp cho tạo lập vốn và sử dụng vốn, đem lại cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp/NHTM mà còn tiềm ẩn nhiều loại rủi ro, từ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản đến rủi ro thị trường Vai trò của công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro đã được phân tích ở mục 1.1.2.2, trong đó lý giải tại sao các chuẩn mực kế toán về phòng ngừa rủi ro thường được gắn cùng với kế toán các công cụ phái sinh trong chuẩn mực quốc tế về kế toán cũng như hệ thống chuẩn mực kế toán các quốc gia
Tại Hoa Kỳ, SFAS 133 “Kế toán công cụ phái sinh và hoạt động phòng ngừa”(1986) được FASB ban hành sớm hơn so với IAS 39 và được nhiều nhà nghiên cứu kế toán quan tâm, đánh giá việc áp dụng sau khi chuẩn mực ra đời Kết quả nghiên cứu của Pirchegger (2006) chỉ ra cần có mô hình hợp lý để giải thích được cả mục tiêu phòng ngừa rủi ro và mục tiêu đầu cơ của tổ chức [72]
Trang 36Khía cạnh khác được các nhà nghiên cứu hướng tới là tính so sánh của thông tin khi áp dụng các quy định về kế toán phòng ngừa rủi ro Điển hình, nghiên cứu của Wilson (1998) và Hermandez (2003) chứng minh rằng kế toán cùng một công
cụ phái sinh được sử dụng làm công cụ phòng ngừa rủi ro có thể cho kết quả khác nhau giữa các doanh nghiệp/NHTM; bởi vì một công cụ phái sinh (như hoán đổi lãi suất từ lãi suất cố định sang lãi suất thả nổi) vừa có thể sử dụng làm công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất đối với phòng ngừa rủi ro giá trị hợp lý cho khoản mục được phòng ngừa là tài sản tài chính có lãi suất cố định, vừa có thể làm công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất đối với phòng ngừa rủi ro luồng tiền cho khoản mục được phòng ngừa là nợ tài chính có lãi suất thả nổi [52]
Theo Crawford, Wilson & Bryan (1997), mặc dù khi hình thành, các công cụ phái sinh được sử dụng phổ biến nhất là để quản trị rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hay rủi ro giá hàng hoá; nhưng doanh nghiệp/NHTM có thể sử dụng chúng vào mục đích đầu cơ khi tin rằng thị trường sẽ vận động theo đúng hướng đã dự đoán [85]
Các công cụ phái sinh ngày càng đa dạng về chủng loại và phát triển nhanh
Để có được các nguyên tắc kế toán vừa đảm bảo tính hữu ích của thông tin vừa giảm chi phí xây dựng các nguyên tắc cho công cụ phái sinh mới, Crawford, Wilson
& Bryan (1997) cho rằng cần thiết xây dựng các quy định kế toán cho công cụ phái sinh theo mục đích sử dụng chúng thay vì theo từng loại để có thể vận dụng các nguyên tắc đã xây dựng cho các công cụ phái sinh mới [85]
Chính vì vậy, kế toán công cụ phái sinh theo US.GAAP và IAS/IFRS đều được xây dựng trên cơ sở mục đích sử dụng các công cụ này, bao gồm: (i)Nguyên tắc kế toán công cụ phái sinh đưa vào kinh doanh và (ii)Nguyên tắc kế toán công
cụ phái sinh sử dụng cho mục đích phòng ngừa rủi ro (bao gồm phòng ngừa rủi ro giá trị hợp lý và phòng ngừa rủi ro luồng tiền) Các điểm chính của kế toán phòng ngừa rủi ro được quy định tại IAS 39, đoạn 71-102, bao gồm:
- Các thuật ngữ về phòng ngừa rủi ro giá trị hợp lý, phòng ngừa rủi ro luồng tiền;
Trang 37- Các quy định về các công cụ phái sinh được sử dụng làm công cụ phòng ngừa rủi ro và các khoản mục được phòng ngừa rủi ro;
- Các điều kiện cần và đủ để được phép thực hiện kế toán phòng ngừa rủi ro trên thực tế: (i)Quy định rõ ràng bằng văn bản về loại phòng ngừa rủi ro, công cụ phòng ngừa rủi ro, khoản mục được phòng ngừa rủi ro và bản chất của rủi ro cần phòng ngừa, (ii)Hiệu quả phòng ngừa rủi ro được đo lường một cách đáng tin cậy, cao và được đánh giá ngay từ đầu cũng như mỗi khi lập báo cáo tài chính;
- Nguyên tắc kế toán đối với từng loại phòng ngừa rủi ro giá trị hợp lý và phòng ngừa rủi ro luồng tiền;
- Quy định về chấm dứt kế toán phòng ngừa rủi ro
1.2.2.6 Trình bày và công bố công cụ tài chính
(1) Trình bày công cụ tài chính
Các công cụ tài chính ngày càng phức tạp bởi sự kết hợp của nhiều công cụ tài chính khác nhau, điển hình như: công cụ tài chính vừa có đặc điểm của nợ phải trả, vừa có đặc điểm của vốn chủ sở hữu (cổ phiếu ưu đãi); công cụ phái sinh mới (kết hợp từ các giao dịch phái sinh khác nhau); công cụ phức hợp có công cụ phái sinh gắn kèm, vì vậy, việc nhận biết và trình bày các công cụ tài chính ngày càng trở nên khó khăn hơn
Theo Frischman (1990), cổ phiếu ưu đãi thường được trình bày thiếu rõ ràng giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu [40]; hay Young (1996) đã chỉ ra khó khăn trong phân biệt các công cụ tài chính mới khi chúng được kết hợp giữa giao dịch quyền chọn với giao dịch tương lai hay kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ tài chính [87]
Vì thế, IAS 32 yêu cầu khi trình bày phải tách công cụ tài chính phức hợp vừa có đặc trưng của nợ phải trả vừa có đặc trưng của vốn chủ sở hữu thành các bộ phận cấu thành là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu phù hợp với định nghĩa của từng loại trong chuẩn mực IAS 32 quy định các nguyên tắc cơ bản về trình bày công cụ tài chính như sau:
Trang 38- Công cụ tài chính do chính tổ chức phát hành khi trình bày trên Bảng cân đối kế toán cần tuân thủ nguyên tắc tôn trọng nội dung hơn hình thức;
- Cổ phiếu quỹ do doanh nghiệp mua vào được yêu cầu ghi giảm trực tiếp vốn chủ sở hữu;
- Tài sản tài chính và nợ tài chính chỉ được bù trừ cho nhau và ghi giá trị ròng trên Bảng cân đối kế toán, khi và chỉ khi doanh nghiệp có quyền pháp lý bù trừ hoặc có ý định thanh toán trên cơ sở ròng do tài sản và nợ phải trả được thanh toán cùng lúc
(2) Công bố thông tin về công cụ tài chính
Công cụ tài chính ngày càng đa dạng và phức tạp khiến cho yêu cầu công bố thông tin về chúng của các đối tượng sử dụng thông tin ngày càng đòi hỏi khắt khe hơn Vì thế, công cụ tài chính càng phức tạp thì càng được yêu cầu công bố thông tin nhiều hơn
Tuy có nhiều quy định về công bố công cụ tài chính, nhưng lại có ít nghiên cứu thực nghiệm về giá trị kinh tế của các quy định này (Healy và Palepu, 2001) Với mẫu nghiên cứu là các ngân hàng, Tadesse (2006) chứng minh các quy định
về công bố công cụ tài chính có ảnh hưởng tích cực đến tính ổn định của ngân hàng [81]
Bên cạnh đó, do luôn tiềm ẩn nhiều loại rủi ro, quy định về công bố rủi ro gắn với công cụ tài chính là rất quan trọng Bởi lẽ, theo Cea (1992), thông tin về rủi
ro mà doanh nghiệp/NHTM đang gánh chịu có thể gây ảnh hưởng đến lợi nhuận trong tương lai nên cần công bố cho người sử dụng báo cáo tài chính Tương tự, Cebado & Tirado (2004) cho rằng các thông tin về rủi ro tác động đến doanh nghiệp cùng với việc đo lường tác động của các rủi ro này sẽ cải thiện tính hữu ích của báo cáo tài chính đối với người sử dụng [42]
Chính vì thế, IASB hết sức chú trọng đến việc công bố thông tin về rủi ro
từ các công cụ tài chính IFRS 7 yêu cầu công bố đủ thông tin về công cụ tài
Trang 39chính để người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá được: (i)Tầm quan trọng của công cụ tài chính đối với tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và (ii)Bản chất, quy mô rủi ro phát sinh từ công cụ tài chính tác động đến doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh và vào ngày lập báo cáo, cùng với cách thức quản trị rủi ro của doanh nghiệp; cụ thể:
- Công bố bổ sung thông tin để làm rõ các khoản mục công cụ tài chính đã trình bày trên Bảng cân đối kế toán;
- Công bố thông tin về thu nhập lãi/chi phí lãi3 của công cụ tài chính hiện có của doanh nghiệp và lãi/lỗ phát sinh từ công cụ tài chính đã thanh lý trong kỳ;
- Công bố thông tin (định tính và định lượng) về rủi ro có thể phát sinh từ công cụ tài chính, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường;
- Với mỗi loại phòng ngừa rủi ro, cần công bố thông tin mô tả từng loại phòng ngừa rủi ro, công cụ tài chính được chỉ định là công cụ phòng ngừa rủi ro và bản chất của rủi ro cần được phòng ngừa
Đến nay, ngoài một số vấn đề còn tồn tại đang và sẽ được khắc phục bởi các
dự án sắp tới, IAS/IFRS đã cung cấp được cơ sở nền tảng về kế toán công cụ tài chính, bao gồm thuật ngữ, các nguyên tắc ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố Các chuẩn mực này sẽ là cơ sở tốt cho các quốc gia khi xây dựng kế toán về công
cụ tài chính cũng như góp phần quan trọng trong quá trình tiến tới hài hòa về kế toán giữa các quốc gia
1.2.3 Đối chiếu kế toán công cụ tài chính theo hệ thống kế toán của một
số quốc gia với chuẩn mực quốc tế về kế toán
Để rút ra những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác nhau, luận án giới hạn nghiên cứu, đối chiếu các chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính của Hoa Kỳ
và Trung Quốc với IAS/IFRS bởi các lý do sau:
Hoa Kỳ là quốc gia có nền tài chính phát triển, nơi khởi nguồn của các trào lưu đổi mới tài chính và phát triển các công cụ tài chính, đặc biệt là các công cụ
3 Thu nhập lãi từ các hoạt động tín dụng ngân hàng, chi phí lãi phải trả cho hoạt động tín dụng huy động vốn.
Trang 40phái sinh Trong hơn vài thập kỷ qua, hệ thống kế toán Hoa Kỳ đã ban hành nhiều chuẩn mực kế toán về các loại công cụ tài chính khác nhau Chính vì vậy, FASB có nhiều kinh nghiệm khi xây dựng các nguyên tắc kế toán công cụ tài chính Như vậy quá trình thiết kế các nguyên tắc kế toán công cụ tài chính của Hoa Kỳ là tư liệu tham khảo bổ ích cho nhiều quốc gia khác
Bên cạnh đó, Trung Quốc là quốc gia đang phát triển, có quá trình cải tổ hệ thống kế toán nhằm hài hòa với IAS/IFRS tương tự như Việt Nam (bắt đầu vào thập
kỷ 1990) Đến nay Trung Quốc đã ban hành các chuẩn mực về công cụ tài chính và đưa vào áp dụng từ 01/01/2007 Kinh nghiệm xây dựng kế toán công cụ tài chính của quốc gia như thế là bài học cho các nước đang phát triển như Việt Nam
1.2.3.1 Đối chiếu kế toán công cụ tài chính theo hệ thống kế toán Hoa Kỳ với chuẩn mực quốc tế về kế toán
Từ năm 1973 đến trước tháng 6/2009, FASB đã ban hành 167 Thông báo về
các chuẩn mực kế toán tài chính (SFAS: Statements of financial accounting standards) và gần một phần tư số chuẩn mực đã ban hành là các chuẩn mực về công
cụ tài chính Sau khi ban hành SFAS 168 “Sự hệ thống hóa chuẩn mực kế toán của FASB (được gọi là Codification) và hệ thống cấp bậc các nguyên tắc kế toán được
thừa nhận chung thay thế SFAS 162” (FASB Accounting standards Codification TM and hierarchy of Generally Accepted Accounting Principles a replacement of FASB Statement No 162) vào tháng 6/2009, các SFAS trước đó được đưa vào hệ thống
này, trừ các SFAS 164, 166, 167 và 168 Sau ngày có hiệu lực của SFAS 168 (ngày 15/9/2009), FASB bắt đầu ban hành các thông tin nhằm cập nhật chuẩn mực kế toán
(ASU: Accounting Standards Updates) Hiện nay có 31 SFAS về công cụ tài chính
được đưa vào hệ thống (Codification) và 4 ASU liên quan đến hiệu chỉnh kế toán công cụ tài chính còn hiệu lực (Phụ lục 3)
Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu các chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính theo US.GAAP và IAS/IFRS, tài liệu so sánh IAS/IFRS với US.GAAP tại trang