2.1.3 Tính tương thích giữa tài sản và nguồn vốn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai 2.1.4 Hiệu quả sử dụng và khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành 2.2 Tì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ THỦY TIÊN
QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN CÁC CÔNG
TY CỔ PHẦN NGÀNH NHỰA TRÊN SÀN HOSE – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÔNG
TY CỔ PHẦN BAO BÌ NHỰA TÂN TIẾN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60.31.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN TẤN HOÀNG
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN 1 1.1 Tài sản ngắn hạn và đặc điểm của tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến quản trị tài sản ngắn
1.1.1 Tài sản ngắn hạn-Các thành phần tài sản ngắn hạn 1 1.1.2 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến việc quản trị tài sản ngắn hạn 1 1.2 Quản trị tài sản ngắn hạn – Sự cần thiết phải quản trị tài sản ngắn hạn 2 1.2.1 Sự cần thiết phải quản trị tài sản ngắn hạn 2 1.2.2 Quản trị tài sản ngắn hạn 3 1.2.2.1 Quản trị hàng tồn kho 3
1.2.2.3 Quản trị khoản phải thu 9 1.3 Nghiên cứu các mô hình quản trị tài sản ngắn hạn ở một số nước trên thế giới-Bài học kinh nghiệm cho các công ty cổ phần ngành nhựa 14
1.3.2 Mô hình ABC (Activy-Based-Costing)-Phương pháp phân bổ chi phí 16 1.3.3 Mô hình Lean-Quản lý sản xuất tinh gọn 17 1.3.4 Quản lý tiền mặt thông qua hệ thống ngân hang 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1 Tình hình tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-201022 2.1.1 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến tình hình đầu tư tài sản ngắn hạn của các công ty
cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010 22
2.1.1.2 Đặc thù ngành nhựa quyết định cơ cấu tổng tài sản 25
Trang 32.1.3 Tính tương thích giữa tài sản và nguồn vốn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai
2.1.4 Hiệu quả sử dụng và khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành
2.2 Tình hình quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn
2.2.1 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến tình hình quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty
cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010 35 2.2.2 Hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn
2.3 Nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần bao bì nhựa Tân Tiến trong quản trị tài sản ngắn hạn giai đoạn 2008-2010 37 2.3.1 Tổng quan về công ty cổ phần bao bì nhựa Tân Tiến 37 2.3.2 Phân tích sự tương thích giữa tài sản và nguồn vốn của công ty cổ phần bao bì nhựa
Trang 4nhựa trên sàn HOSE 63 3.1.1 Giải pháp quản trị tiền mặt 63 3.1.1.1 Lập kế hoạch quản lý dòng tiền 63 3.1.1.2 Xây dựng và phát triển các mô hình dự báo tiền mặt 64 3.1.2 Giải pháp quản trị khoản phải thu 65 3.1.2.1 Tăng cường công tác thu hồi công nợ 65 3.1.2.2 Giải pháp quản lý khoản phải thu 66 3.1.3 Giải pháp quản trị hàng tồn kho 67 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần bao bì nhựa
3.2.1 Giải pháp quản trị tiền mặt 68 3.2.1.1 Tăng tốc độ thu hồi tiền mặt 68 3.2.1.2 Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt 69 3.2.1.3 Dự báo chính xác nhu cầu tiền mặt 70 3.2.1.4 Thiết lập mức tồn quỹ mục tiêu 73 3.2.2 Giải pháp quản trị hàng tồn kho 75 3.2.3 Giải pháp quản trị khoản phải thu 79 Kết luận chương 3
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN 1.1 Tài sản ngắn hạn và đặc điểm của tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến quản trị tài sản ngắn hạn
1.1.1 Tài sản ngắn hạn-Các thành phần tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu, tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào giá thành sản phẩm làm ra Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu
Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm
1.1.2 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến việc quản trị tài sản ngắn hạn
Các tài sản ngắn hạn có ba đặc điểm sau: thay đổi hình thái vật chất ban đầu, tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào giá thành sản phẩm nên những đặc điểm này có ảnh hưởng đến việc quản trị tài sản ngắn hạn
Tiền mặt
Các khoản phải thu
Tồn kho nguyên liệu
Tồn kho thành phẩm
Trang 6Theo chu kỳ hoạt động giản đơn, tiền mặt của doanh nghiệp sẽ được thay thế bằng tồn kho nguyên liệu và tồn kho thành phẩm Khi hàng hóa được bán đi, hàng tồn kho sẽ trở thành các khoản phải thu và sau cùng là trở thành tiền mặt khi khách hàng thanh toán các khoản nợ phải thu Sau khi tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn sẽ bị thay đổi hình thái vật chất so với ban đầu và chuyển toàn bộ giá trị vào giá trị sản phẩm làm ra
Thời gian mà tài sản ngắn hạn tồn tại dưới dạng hàng tồn kho và khoản phải thu càng lâu thì doanh nghiệp sẽ bị khó khăn trong thanh toán, giá trị của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút Vì vậy, ở mỗi giai đoạn, doanh nghiệp phải đưa ra các quyết định tối ưu để làm tăng giá trị của doanh nghiệp; chẳng hạn doanh nghiệp
sẽ quyết định tồn quỹ bao nhiêu là tối ưu để không ảnh hưởng đến việc thanh toán cho các khoản nợ do mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, tồn kho hàng hoá bao nhiêu là tối ưu để chi phí tồn trữ là thấp nhất và không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp; và khi hàng hóa tồn kho được bán cho khách hàng thì doanh nghiệp quyết định xem có nên bán chịu cho khách hàng không
1.2 Quản trị tài sản ngắn hạn – Sự cần thiết phải quản trị tài sản ngắn hạn 1.2.1 Sự cần thiết phải quản trị tài sản ngắn hạn
Giá trị các loại tài sản ngắn hạn của công ty thường chiếm 25% đến 50% tổng giá trị tài sản Quản trị và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của công ty Các
vụ phá sản trong kinh doanh có thể là do nhiều yếu tố, nhưng nếu công ty không hoạch định và kiểm soát một cách thích đáng các loại tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn thì cũng sẽ dễ dẫn đến thất bại
Vì vậy, quản trị tài sản ngắn hạn để tối ưu hóa cơ cấu tài sản sao cho tổng
chi phí đạt được tối thiểu mà vẫn duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh bình
thường của công ty
Trang 7• Sự cần thiết phải dự trữ hàng tồn kho
Hàng hóa tồn kho gồm có ba loại: nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm Nguyên vật liệu là những nguyên liệu và bộ phận, linh kiện rời do các công ty mua và sử dụng trong quá trình sản xuất Trong sản xuất nếu công ty mua nguyên liệu với số lượng quá lớn hay quá nhỏ đều không đạt hiệu quả tối ưu Bởi nếu mua với số lượng quá lớn sẽ chịu nhiều chi phí tồn trữ và rủi ro do hàng hóa
bị hư hao, mất mát Mặt khác, nếu mua nguyên liệu với số lượng quá nhỏ có thể dẫn đến gián đoạn sản xuất
Do đó, công ty sẽ có lợi khi mua vừa đủ nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây chuyền sản xuất Thông thường, không thể có sự đồng bộ hoàn toàn giữa các công đoạn sản xuất, bởi các bộ phận sản xuất không thể có cùng công suất hoạt động trong mọi thời điểm Bởi vậy, mỗi công đoạn sản xuất đều có một lượng tồn kho riêng, nếu không có một lượng nguyên liệu hay bán thành phẩm
dự trữ nào đó thì một công đoạn sẽ hoàn toàn bị lệ thuộc vào các bộ phận đứng trước đó Do đó, các loại nguyên vật liệu tồn kho có tác dụng tạo ra sự thông suốt
và tính hiệu quả trong quá trình sản xuất Dây chuyền sản xuất càng dài, và các công đoạn sản xuất càng nhiều sẽ dẫn tới nhu cầu tồn kho càng lớn
Trang 8Cuối cùng, thành phẩm tồn kho tạo thành khoảng an toàn cần thiết giữa sản xuất và tiêu thụ Những công ty có đặc điểm kinh doanh mang tính mùa vụ và có quy trình sản xuất tốn nhiều thời gian thường có thành phẩm tồn kho lớn, bởi nhu cầu đối với sản phẩm trong những mùa tiêu thụ vượt quá năng lực sản xuất của công ty và ngược lại Do đó, các công ty cần phải có sản phẩm dự trữ
Bên cạnh tác dụng duy trì khả năng hoạt động thông suốt của dây chuyền sản xuất và các hoạt động phân phối, các loại hàng hóa tồn kho còn có tác dụng ngăn chặn những bất trắc trong sản xuất Chẳng hạn, nguyên liệu tồn kho cần được duy trì để làm giảm tính không chắc chắn của sự chậm trễ ngoài dự kiến trong vận chuyển, giao hàng Dĩ nhiên sự chậm trễ này có thể xảy ra bởi rất nhiều
lý do như sự mất khả năng cung ứng đột ngột của nhà cung cấp, do thiên tai hay
do sự chậm trễ trong vận chuyển
• Mục tiêu của việc quản trị hàng tồn kho
Hàng tồn kho là một trong những tài sản có giá trị lớn nhất trong tổng giá trị tài sản của một công ty, thông thường giá trị hàng tồn kho chiếm 40% tổng giá trị tài sản của công ty
Bản thân vấn đề tồn kho luôn có hai mặt trái ngược nhau, với quan điểm của người sản xuất người ta luôn tìm cách giảm phí tổn bằng cách giảm lượng tồn kho, còn với quan điểm của người tiêu thụ thì sẽ luôn mong muốn có nhiều hàng
dự trữ để không có sự thiếu hụt
Vì vậy, mục tiêu của việc quản trị hàng tồn kho là xác định một mức độ cân
bằng giữa mức độ đầu tư cho hàng tồn kho phục vụ sản xuất và thỏa mãn các nhu
cầu của khách hàng một cách kịp thời đúng lúc với chi phí tối thiểu nhất
• Các chi phí liên quan đến việc dự trữ hàng tồn kho
Chi phí tồn trữ là những chi phí liên quan đến việc tồn trữ hàng hóa, gồm
những khoản sau: chi phí cho việc bảo quản hàng tồn kho, chi phí cho các trang thiết bị bảo quản hàng tồn kho, chi phí bốc xếp hàng hóa, chi phí hư hỏng và thiệt
Trang 9hại do hàng tồn kho bị lỗi thời, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế và chi phí đầu tư vào hàng tồn kho, tiền lương trả cho nhân viên trong kho và nhân viên điều hành
Chi phí đặt hàng hay chi phí chuẩn bị cho việc thực hiện một đơn hàng bao
gồm: chi phí hoa hồng cho người giới thiệu, chi phí cho liên lạc giao dịch, chi phí đàm phán ký hợp đồng, chi phí nhận và kiểm tra hàng hóa, chi phí hải quan, vận chuyển…
Chi phí thiệt hại khi không có hàng (hàng tồn kho hết): xảy ra khi công ty
không có khả năng giao hàng vì nhu cầu hàng lớn, lượng vật liệu tồn kho không
đủ để duy trì sản xuất thì chi phí thiệt hại do không có nguyên liệu sẽ bao gồm chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do ngừng trệ sản xuất
• Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả-Mô hình EOQ (Economic Ordering
Quantity)
Mô hình EOQ là một mô hình quản trị hàng tồn kho mang tính định lượng
và có thể sử dụng để tìm mức tồn kho tối ưu cho công ty
Khi áp dụng mô hình EOQ thì phải thỏa mãn hai điều kiện là nguồn hàng cung cấp cho công ty phải ổn định và số liệu kế toán phải trung thực, số liệu thống kê phải đầy đủ thì thông tin về các khoản chi phí mới được phản ánh chính xác, từ đó lượng tồn kho xác định mới chính xác
Mô hình EOQ được xây dựng dựa trên một số giả thuyết căn bản sau:
- Công ty phải dự đoán chính xác nhu cầu sử dụng các loại hàng hóa
- Công ty phải biết trước khoảng cách giữa hai lần đặt hàng
- Sản lượng đơn đặt hàng được công ty thực hiện trong một chuyến hàng tại một thời điểm đã định trước
- Công ty không được chiết khấu theo số lượng mua hàng, dù hàng mua nhiều hay ít đều không được giảm giá
Trang 10- Chỉ có hai loại chi phí phù hợp là chi phí đặt hàng và chi phí tồn trữ còn chi phí mua hàng thì không đổi
- Công ty có thể xác định chính xác khi nào cần phải đặt hàng nên không có
sự thiếu hụt hàng trong kho
Mô hình EOQ được thiết lập nhằm tìm mức tồn kho tối ưu cho công ty hay nhằm tối thiểu hóa tổng phí tồn kho
Công thức:
C
SO
Q * = 2 Tổng chi phí tồn kho thấp nhất = Chi phí tồn trữ + Chi phí đặt hàng
=
Q
SxOQxC +
2
Trong đó: Q*: lượng hàng dự trữ tối ưu
S : lượng nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ
O : chi phí cho mỗi lần đặt hàng
C : chi phí lưu trữ cho mỗi đơn vị tồn kho
Với sản lượng Q* thì tổng chi phí tồn kho là thấp nhất
• Mô hình cung ứng đúng thời điểm-Just-in-time
Hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng thời điểm Just-in-time là một phần của quá trình quản lý sản xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thời gian sản xuất bằng cách loại bỏ bớt những công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí
Hệ thống cung ứng đúng thời điểm (tồn kho bằng 0) cho rằng tất cả các mặt hàng cần thiết có thể được cung cấp trực tiếp cho các giai đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chính xác cả về thời điểm giao hàng lẫn số lượng hàng được giao thay vì phải dự trữ thông qua tồn kho
Mô hình tồn kho bằng 0 hiệu quả nhất đối với các công ty có những hoạt động sản xuất mang tính lặp đi lặp lại Việc sử dụng hệ thống tồn kho just-in-time đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp, bởi vì bất kỳ một sự gián đoạn nào trong quá trình cung ứng cũng có thể gây tổn thất cho nhà
Trang 11sản xuất vì nhà sản xuất sẽ gánh chịu các chi phí phát sinh do ngừng trệ sản xuất hay mất doanh thu bán hàng
1.2.2.2 Quản trị tiền mặt
• Sự cần thiết phải dự trữ tiền mặt
Cũng giống như hàng tồn kho, việc dự trữ tiền mặt là để làm thông suốt quá trình sản xuất kinh doanh Có ba động cơ để công ty duy trì tồn quỹ, đó là:
Động cơ hoạt động, giao dịch là một việc bình thường ở mọi công ty, mức
tồn quỹ tiền mặt được hoạch định nhằm đáp ứng kịp thời các khoản chi tiêu phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh như trả tiền hàng, trả lương, nộp thuế…
Động cơ đầu cơ là một phản ứng trước dự báo khan hiếm, biến động giá cả
hàng hóa nguyên vật liệu hoặc biến động tỷ giá hối đoái trên thị trường như mua nguyên vật liệu giảm giá tức thời…để gia tăng lợi nhuận
Động cơ dự trữ là một hành động dự phòng trước khả năng gia tăng nhu cầu
chi tiêu do tăng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhanh chóng đáp ứng những cơ hội kinh doanh đột xuất
• Mục tiêu của việc quản trị tiền mặt
Mặc dù tiền mặt là tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, nhưng tồn quỹ tiền mặt làm mất đi cơ hội sinh lời của đồng tiền Để không đánh mất cơ hội sinh lời của tiền, công ty sẽ chuyển những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi vào đầu tư chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ nhằm mục đích sinh lời Nhưng việc chuyển đổi từ tiền mặt sang chứng khoán đầu tư ngắn hạn và ngược lại phải tốn kém một số chi phí giao dịch nhất định
Vì vậy, mục tiêu của việc quản trị tiền mặt là tối thiểu hóa số lượng tiền mặt
tồn quỹ để duy trì cho các hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của công
ty
• Kiểm soát thu chi tiền mặt
Một nguyên tắc đơn giản trong quản trị tiền mặt là tăng tốc độ thu hồi những
Trang 12tấm séc được nhận và chậm viết séc chi trả Nguyên tắc này cho phép công ty duy trì mức chi tiêu tiền mặt trong nhiều giao dịch kinh doanh ở một mức thấp hơn,
do đó có nhiều tiền hơn cho đầu tư Tăng tốc độ thu hồi và giảm tốc độ chi tiêu là hai khuynh hướng có liên quan chặt chẽ với nhau trong quản trị tiền mặt
• Các chi phí liên quan đến việc lưu giữ tiền mặt
Quản trị tiền mặt giống như quản trị hàng tồn kho vì cả hai đều là nguyên vật liệu dùng trong sản xuất Vì vậy, các chi phí liên quan đến việc quản trị tiền mặt cũng giống như quản trị hàng tồn kho, cụ thể như sau:
Khi lượng tiền mặt xuống thấp, công ty sẽ bán chứng khoán để thu tiền về,
do đó công ty phải mất phí giao dịch cố định cho mỗi lần bán chứng khoán và loại chi phí này tương đương với chi phí đặt hàng trong quản trị hàng tồn kho Khi dự trữ tiền mặt, công ty sẽ mất đi chi phí cơ hội, tức là mất lãi suất tiền gửi và chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ trong quản trị hàng tồn kho
• Mô hình quản trị tiền mặt hiệu quả-Mô hình EOQ
Các mô hình thường được dùng để quản trị tiền mặt là mô hình EOQ, mô hình Miller-Orr Các mô hình đều xem tiền mặt như một loại hàng hóa tồn kho và mỗi hoạt động giao dịch sẽ làm thay đổi nguồn tiền mặt đang nắm giữ Trong một thời điểm, các mô hình sẽ giúp xác định khối lượng và thời gian chuyển đổi qua lại giữa tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn
Mô hình tối ưu hóa tồn quỹ tiền mặt thực chất là sự cân bằng giữa tồn quỹ
tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn theo thời gian
Mô hình EOQ dựa trên các giả định:
- Công ty định kỳ nhận được một lượng tiền mặt ổn định, nhưng đồng thời cũng phải liên tục chi tiền ra theo một tỷ lệ ổn định
- Nhu cầu tiền mặt trong một thời điểm (tháng, quý, năm) của công ty có thể
dự báo trước một cách chính xác
Trang 13- Khi số dư tiền mặt ban đầu giảm xuống bằng khơng hay ở mức an tồn tối thiểu thì số dư tiền mặt lập tức sẽ được tăng lên do việc bán chứng khốn với khối lượng xác định nhằm đạt được số dư tiền mặt ban đầu
Nếu gọi S là tổng thanh tốn tiền mặt trong năm, F là chi phí cho mỗi lần giao dịch bán chứng khốn, i là lãi suất và Q* là lượng dự trữ tiền mặt tối ưu Cơng thức như sau:
Trong thực tế, các cơng ty khơng thể ước tính dịng tiền mặt thu vào và chi
ra từng ngày Do đĩ, nhà quản trị tài chính cĩ thể cho phép một mức tồn quỹ tối thiểu nào đĩ và sẽ tiến hành các giao dịch mua hay bán chứng khốn khi quỹ tiền mặt tăng hay giảm đến mức tồn quỹ này Các cơng ty cĩ vị thế tài chính thấp thường mức tồn quỹ tối thiểu cao hơn những cơng ty lớn, cĩ tiềm lực tài chính mạnh, bởi họ cĩ thể mua hay bán chứng khốn ngay thời điểm cần thiết
Mơ hình Miller-Orr xác định khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạn dưới là:
Giới hạn trên là tín hiệu mua vào một giá trị chứng khốn đủ để làm tiền mặt
dư thừa giảm xuống mức tồn quỹ tối thiểu
Giới hạn dưới là tín hiệu bán ra một giá trị chứng khốn đủ để làm số dư tiền mặt tăng lên đến mức tồn quỹ tối thiểu
Khoảng cách = 3 3
suất lai
khoán chứng bán lần môi phí chi x toán thanh mặt tiền sai phương 3/4
x
1.2.2.3 Quản trị khoản phải thu
• Sự cần thiết của việc gia tăng khoản phải thu
Các cơng ty bán hàng thích thu tiền mặt hơn là bán chịu, nhưng các áp lực cạnh tranh trên thị trường buộc hầu hết các cơng ty phải cung cấp tín dụng cho khách hàng, tức bán chịu hàng hĩa cho khách hàng Nếu khơng bán chịu hàng
Trang 14hóa thì công ty sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó mất đi lợi nhuận Khi bán chịu cho khách hàng, hàng hóa sẽ được gửi đi, hàng tồn kho sụt giảm và một khoản phải thu được tạo lập Vì vậy, hầu hết các công ty đều phải chấp nhận bán chịu Khoản phải thu của công ty phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố như tình hình kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm và chính sách bán chịu của công ty
• Rủi ro tín dụng từ việc gia tăng khoản phải thu
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ công ty do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soát nổi Khi công ty chấp nhận bán chịu cho khách hàng, cho dù thời gian chậm thanh toán dài hay ngắn thì cũng có nghĩa là chấp nhận sự tồn tại của rủi ro về việc khách hàng không trả được nợ Vì vậy, kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro Nếu công ty bán chịu hàng hóa quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng có nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng Vì vậy, công ty cần có chính sách bán chịu cho phù hợp
• Mục tiêu của việc quản trị khoản phải thu
Khoản mục khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán là tài khoản theo dõi tình hình bán chịu của công ty Đối với các công ty thường xuyên bán chịu cho khách hàng, khoản phải thu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản
Dưới góc độ quản trị, các giám đốc tài chính có thể gia tăng giá trị cho vốn
cổ đông bằng cách tác động đến việc đầu tư vào khoản phải thu, xác định thời hạn bán chịu và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn bán chịu Bởi vì, một khoản tỷ lệ khoản phải thu cao cũng là một tín hiệu cho thấy công ty có nhiều khoản phải thu thanh toán không đúng hạn hoặc thậm chí là nợ xấu, khó đòi hoặc nếu công ty xây dựng một chính sách bán chịu không phù hợp sẽ mất khách hàng, giảm
Trang 15doanh thu hoặc không thu hồi được nợ, làm giảm tính thanh khoản của công ty và giá trị vốn cổ đông
Quản trị tốt khoản phải thu sẽ làm tăng giá trị vốn cổ đông, quản trị kém sẽ
có tác dụng ngược lại
Vì vậy, mục tiêu của khoản trị khoản phải thu là kiểm soát nợ xấu và những
khoản phải thu hiện hành nhằm duy trì khả năng linh hoạt về tài chính cho công
ty, tối ưu hóa cơ cấu tài sản, chuyển khoản phải thu thành tiền đúng thời hạn, phân tích rủi ro khách hàng và quyết định đáp ứng yêu cầu mua chịu của khách hàng
• Các chi phí liên quan đến quản trị khoản phải thu
Khi công ty bán chịu cho khách hàng có thể làm tăng chi phí trong hoạt động của công ty, chi phí đòi nợ, chi phí phải trả cho nguồn tài trợ để bù đắp cho
sự thiếu hụt ngân quỹ Thời gian bán chịu càng dài thì chi phí càng lớn
• Các mô hình quản trị khoản phải thu
Quản trị khoản phải thu (khoản bán chịu) bao gồm: thiết lập chính sách bán chịu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, hướng dẫn, giám sát và kiểm soát toàn diện khoản bán chịu
Ở mỗi mô hình được đề cập dưới đây, công ty phải xem xét trên nhiều khía cạnh: thực hiện mô hình đó thì ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận, chi phí như thế nào? Lợi nhuận có đủ bù đắp cho chi phí, hoặc giảm chi phí có đủ bù đắp thiệt hại do giảm lợi nhuận không? Khi đã trả lời được một cách thỏa đáng các câu hỏi thì công ty sẽ đề ra quyết định đúng đắn
Trang 16MH1 - Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu
MH2 - Mô hình thắt chặt chính sách bán chịu
MH3 - Mô hình mở rộng thời hạn bán chịu
Trang 17MH4 - Mô hình rút ngắn thời hạn bán chịu
MH5 - Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu
MH6 - Mô hình giảm tỷ lệ chiết khấu
Trang 18MH7 - Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu có xét đến ảnh hưởng của rủi
ro từ bán chịu
MHTQ - Mô hình tổng quát để ra quyết định quản trị khoản phải thu
1.3 Nghiên cứu các mô hình quản trị tài sản ngắn hạn ở một số nước trên thế giới-Bài học kinh nghiệm cho các công ty cổ phần ngành nhựa
1.3.1 Mô hình Pareto
Vào năm 1897, Vilfredo Pareto, một nhà kinh tế học người Italia, trong khi đang học về sự phân bố của cải và thu nhập tại nước Anh trong thế kỷ 19, đã phát hiện ra, phần lớn diện tích đất đai và thu nhập được kiểm soát bởi một lượng nhỏ
số người trong xã hội Trên thực tế, 20% dân số kiểm soát đến 80% của cải và thu nhập
Trang 19Richard Kock, người sáng lập ra Bain&Co và BCG Consultant, từng khẳng định rằng: “20% việc chúng ta làm tạo ra 80% kết quả, nhưng 80% công việc còn lại chỉ tạo ra được 20% kết quả cuối cùng mà thôi Chúng ta đang phí phạm 80% thời gian của mình vào những việc kém hiệu quả”
Trong kinh doanh, chúng ta nhận thấy rằng chỉ có khoảng 20% khách hàng đem lại hầu hết lợi nhuận cho công ty, còn 80% khách hàng còn lại thì không đem lại nhiều lợi nhuận
Vì vậy, dựa vào quy luật Pareto, kỹ thuật phân tích ABC được đề xuất để phân loại hàng tồn kho thành 3 nhóm A, B, C dựa vào giá trị hàng năm của chúng
Giá trị hàng năm được xác định bằng cách lấy tích 2 thừa số: Nhu cầu hàng năm của loại hàng tồn kho và phí tổn cho mỗi đơn vị hàng tồn kho và tính theo từng loại hàng
Tiêu chuẩn cụ thể của từng nhóm hàng tồn kho được xác định như sau:
Nhóm A: Bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm cao nhất, chúng có giá trị từ 70-80% so với tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng về mặt số lượng chúng chỉ chiếm 15% tổng số hàng tồn kho
Trang 20Nhóm B: Bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm ở mức trung bình, chúng có giá trị từ 15-25% so với tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng về mặt số lượng chúng chỉ chiếm 30% tổng số hàng tồn kho
Nhóm C: Bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm nhỏ, giá trị hàng năm chỉ chiếm khoảng 5% tổng giá trị hàng tồn kho, tuy nhiên số lượng chúng chiếm khoảng 55% so với tổng số hàng tồn kho
Việc phân nhóm hàng tồn kho là cơ sở để đề ra các chính sách hoạt động kiểm soát riêng biệt những loại hàng tồn kho
Các công ty cổ phần ngành nhựa có thể dựa vào mô hình này để phân loại nhóm khách hàng đem lại nhiều doanh thu cho công ty để tập trung nguồn lực vào nhóm khách hàng này và phân loại hàng tồn kho để kiểm soát từng nhóm hàng, trong đó hàng tồn kho thuộc nhóm A thì cần được ưu tiên đầu tư thích đáng
1.3.2 Mô hình ABC (Activy-Based-Costing)-Phương pháp phân bổ chi phí
ABC là một mô hình tập hợp những thông tin tài chính và phi tài chính gắn liền với những hoạt động cần thiết trong công ty để sản xuất các sản phẩm, bằng cách nối kết việc tiêu thụ tài nguyên trong công ty với sản phẩm và dịch vụ được sản xuất ra và được chuyển giao cho các khách hàng
Phương pháp ABC xác định toàn bộ nguồn chi phí hoạt động, sau đó phân
bổ chi phí đó theo sản phẩm hay dịch vụ dựa trên khối lượng hoạt động hay giao dịch xảy ra trong quá trình cung cấp dịch vụ hay sản phẩm
Mô hình ABC được áp dụng phân bổ chi phí cho tất cả các hoạt động của công ty Nhưng do phạm vi nghiên cứu hạn hẹp, nên ở đây mô hình ABC chỉ đề cập đến quản trị tài sản ngắn hạn
Mô hình ABC có thể được dùng như một sự thay thế cho phương pháp định giá hàng tồn kho truyền thống hoặc được dùng như là một mô hình riêng biệt chỉ được thiết kế để thu thập thông tin chính xác hơn cho các quyết định quản trị
Trang 21Nếu mô hình ABC thay thế hệ thống định giá truyền thống với giá thành toàn bộ thì mô hình này sẽ trở thành phương pháp định giá hàng tồn kho và khi đó mô hình ABC chạy xuyên suốt vĩnh viễn trong các tài khoản tồn kho của doanh nghiệp Nếu ABC được dùng như là một mô hình riêng biệt để hỗ trợ ra các quyết định quản trị, thì sẽ được xác định 1 lần trong năm, và khi đó ABC không được dùng trong định giá hàng tồn kho của doanh nghiệp
Trong quản trị hàng tồn kho, mô hình ABC giúp tập hợp các chi phí liên quan đến từng loại hàng tồn kho, từ đó công ty sử dụng mô hình EOQ để xác định được mức tồn kho tối ưu cho từng loại hàng tồn kho
Với phương pháp ABC, công ty có thể xác định chính xác lợi nhuận mỗi khách hàng mang lại và giúp định vị sản phẩm và dịch vụ tương ứng Sau khi trừ chi phí sản phẩm và chi phí phục vụ cho từng khách hàng sẽ tính được lợi nhuận khách hàng mang lại Từ mô hình này, công ty có thể phân tích các nhóm khách hàng và sản phẩm có thể đem lại lợi nhuận cho công ty và tập trung vào nhóm này
1.3.3 Mô hình Lean-Quản lý sản xuất tinh gọn
Kỹ thuật Lean tập trung loại bỏ tất cả những lãng phí trong quá trình sản xuất Khoa thực nghiệm thiết kế Hệ thống sản xuất của Trường Đại Học Massachusetts (Mỹ) đã đưa ra định nghĩa như sau: “Kỹ thuật Lean là sự tập trung vào việc loại bỏ những lãng phí tại mọi khu vực của sản xuất bao gồm: những mối liên hệ với khách hàng, thiết kế sản phẩm, hệ thống phân phối và hoạt động quản lý của nhà máy Mục tiêu của kỹ thuật Lean là kết hợp nguồn nhân lực ít, hiệu quả, giảm thiểu tồn kho, giảm thiểu thời gian phát triển sản phẩm, ít không gian thừa để dễ dàng đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong khi vẫn sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tốt trong việc sử dụng hiệu quả những nguồn lực hạn chế của doanh nghiệp.”
Trang 22Khi áp dụng phương pháp Lean, công ty phải nhận dạng được các lãng phí
và từng bước loại bỏ chúng một cách có hệ thống Các lãng phí thường hiện diện
đa dạng dưới những hình thức sau đây:
- Sản xuất dư thừa: sản xuất ra nhiều hơn yêu cầu của khách hàng
- Tồn kho: dư thừa nguyên liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm…
- Chờ đợi: do thiếu nguyên phụ liệu, linh kiện, hướng dẫn, thông tin, chờ xét duyệt…
- Vận chuyển: nguyên vật liệu để ở một nơi xa dây chuyển sản xuất, phải tốn nhân lực và máy móc để vận chuyển
- Thao tác: tìm kiếm vật dụng, thiết bị, di chuyển hoặc thao tác không hợp lý gây mệt mỏi…
- Gia công quá mức cần thiết so với yêu cầu khách hàng, sửa chữa hàng bị lỗi…
- Chất lượng: không ổn định, phế phẩm, công nhân ở các giai đoạn sau phải chờ đợi do không có chi tiết để làm , kéo dài thời gian tạo ra sản phẩm gây lãng phí
- Lãng phí con người: chất xám, kiến thức, kinh nghiệm của nhân viên không được tiếp thu, tập hợp, chia sẻ…
Khi công ty quyết định bắt tay vào thực hiện Lean, bước đầu tiên là phải ghi nhận lại các hoạt động cụ thể xảy ra trong suốt tiến trình cung cấp sản phẩm, dịch
vụ Quá trình lập sơ đồ chuỗi giá trị sẽ giúp công ty nhìn thấy hiện trạng hoạt động bao gồm các bước thực hiện công việc, quá trình di chuyển của thông tin và giấy tờ, thời gian xử lý ở từng công đoạn; tổng thời gian thực hiện một giao dịch đối với khách hàng Sau khi đã có thông tin để nhận ra sự lãng phí cũng như nhìn thấy các cơ hội cải tiến, công ty sẽ thiết lập mô hình hoạt động trong tương lai để cải thiện theo từng giai đoạn mỗi sáu tháng hay một năm Mỗi công ty có thể cùng lúc có nhiều sơ đồ chuỗi giá trị tùy vào tính chất đặc thù của các nhóm sản
Trang 23phẩm, dịch vụ hay nhóm đối tượng khách hàng Trường hợp công ty nhận thấy có quá nhiều vấn đề phải cải tiến trong khi thời gian và nguồn lực lại có hạn, hãy tập trung vào các vấn đề đơn giản trước nhằm tạo động lực ban đầu
Đối với các công ty cổ phần ngành nhựa, nguyên liệu chủ yếu là nhập khẩu nên các công ty thường dự trữ nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất Nếu hàng tồn kho quá nhiều sẽ làm tăng chi phí, gây lãng phí Vì vậy, các công ty ngành nhựa có thể áp dụng mô hình Lean để loại bỏ những lãng phí trong quá trình sản xuất, gia tăng thêm lợi nhuận cho công ty
1.3.4 Quản lý tiền mặt thông qua hệ thống ngân hàng
• Chi hộ lương-hoa hồng đại lý
Công ty sẽ nhờ các tổ chức mà công ty mở tài khoản giao dịch tại đó chi hộ lương-hoa hồng cho nhân viên, hoa hồng cho đại lý của công ty theo yêu cầu của công ty bằng cách ghi nợ tài khoản tiền gửi thanh toán tại các ngân hàng
Khi ngân hàng chi hộ lương cho công ty thì sẽ thu phí theo biểu phí của ngân hàng trong từng thời kỳ Ngân hàng có thể chi bằng tiền VND, USD hay ngoại tệ khác tùy theo công ty chỉ định
Các hình thức chi hộ của ngân hàng:
- Chi trả bằng tiền mặt tại văn phòng, trụ sở của công ty hoặc tại các địa điểm do công ty chỉ định
- Chi trả bằng chuyển khoản
Khi công ty sử dụng sản phẩm này sẽ có những tiện ích sau:
- Tiết kiệm quản lý tiền mặt, chi phí nhân công, công cụ và phương tiện làm việc
- Tiết kiệm thời gian kiểm đếm đồng thời tránh được rủi ro vận chuyển tiền mặt Hưởng được các dịch vụ hỗ trợ miễn phí như: SMS Banking, eBanking, Home Banking…
- Bảo mật thông tin về tiền lương cho nhân viên
Trang 24- Chi tiền nhanh chóng, chính xác
- Nhân viên sử dụng thẻ ATM để rút tiền
• Thu chi hộ tiền mặt
Thu hộ tiền mặt
Công ty sẽ đăng ký sử dụng dịch vụ thu hộ tiền mặt Qua đó, ngân hàng mà công ty mở tài khoản giao dịch thực hiện thu tiền mặt từ các văn phòng, trụ sở công ty hoặc từ các địa điểm do công ty chỉ định và chuyển vào tài khoản của công ty tại ngân hàng giao dịch
Mục đích của việc thu hộ tiền mặt giúp công ty có doanh số thu tiền mặt lớn nhanh chóng đưa tiền vào tài khoản phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh
Khi sử dụng sản phẩm này, công ty sẽ có tiện ích:
- Giảm thiểu rủi ro trong việc lưu trữ, vận chuyển, kiểm đếm tiền mặt
- Công ty được hưởng lãi trên số dư tiền mặt
- Tập trung tiền mặt về tài khoản thường xuyên, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
- Tiết kiệm thời gian và chi phí
Chi hộ tiền mặt
Công ty sẽ đăng ký sử dụng dịch vụ chi hộ tiền mặt với ngân hàng Qua đó ngân hàng thực hiện trích tiền từ tài khoản của công ty tại ngân hàng mở tài khoản giao dịch để chi trả tiền mặt tại văn phòng, trụ sở của công ty hoặc các địa điểm do khách hàng chỉ định
Mục đích của việc chi hộ tiền mặt giúp công ty có nhu cầu thanh toán tiền hàng cho đối tác của công ty tại trụ sở của đối tác
Khi sử dụng sản phẩm này, công ty sẽ có tiện ích:
- Giảm thiểu rủi ro do vận chuyển và kiểm đếm tiền mặt
- Tiết kiệm thời gian và chi phí
- Chi tiền nhanh chóng, chính xác và hiệu quả
Trang 25Kết luận chương 1
Thông qua chương 1 tác giả đã trình bày một số nội dung liên quan đến quản trị tài sản ngắn hạn như quản trị hàng tồn kho, quản trị tiền mặt và quản trị khoản phải thu Nghiên cứu các mô hình quản trị tài sản ngắn hạn trên thế giới, bài học kinh nghiệm cho các công ty cổ phần ngành nhựa Với các nội dung cơ
sở lý luận mà tác giả đã trình bày làm tiền đề để nghiên cứu, đánh giá thực trạng của các công ty cổ phần ngành nhựa trên sàn HOSE-nghiên cứu trường hợp Công
ty cổ phần bao bì nhựa Tân Tiến, từ đó tác giả đề xuất các giải pháp cải thiện
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÁC CÔNG TY
CỔ PHẦN NGÀNH NHỰA TRÊN SÀN HOSE 2.1 Tình hình tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010
2.1.1 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến tình hình đầu tư tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010
Ngành nhựa Việt Nam hiện đang đầu tư và phát triển trên tất cả các lĩnh vực với cơ cấu sản phẩm đa dạng được chia làm 4 nhóm ngành chính:
• Nhóm sản phẩm nhựa bao bì: dẫn đầu thị trường với 39% thị phần của ngành bao gồm các sản phẩm như: bao bì rỗng (chai nhựa, lọ nhựa), bao bì đơn, bao bì kép, bao bì nhựa phức hợp, các loại thùng nhựa…
• Nhóm sản phẩm nhựa dùng trong vật liệu xây dựng: chiếm khoảng 21% thị phần bao gồm các sản phẩm: ống nước và các phụ kiện ống nước, tấm lợp, tấm trần…
• Nhóm sản phẩm nhựa gia dụng: chiếm khoảng 21% thị phần bao gồm các sản phẩm: đồ dùng gia dụng (bàn ghế, tủ kệ, chén dĩa nhựa…), đồ chơi nhựa, giày dép…
• Nhóm sản phẩm nhựa kỹ thuật cao: chiếm 19% thị phần bao gồm các sản phẩm như phụ kiện nhựa dùng trong lắp ráp ôtô, xe máy, các thiết bị nhựa dùng trong ngành điện, điện tử, giả da, nhựa PU, composite…
Trang 27Theo ước tính, nhóm ngành bao bì nhựa sẽ đạt mức tăng trưởng cao nhất so với mức tăng trưởng của các dòng sản phẩm khác do nhu cầu tăng cao Cơ cấu sản phẩm ngành nhựa đang dịch chuyển theo xu hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm nhựa bao bì
Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất Hiện nay, mỗi năm ngành nhựa cần trung bình khoảng 2,2 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS…tương đương với khoảng 2,1 tỷ USD/năm và hàng trăm loại hóa chất phụ trợ khác nhau; trong khi khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 450.000 tấn nguyên liệu Theo báo cáo của Hiệp hội nhựa Việt Nam, hiện nay gần 80-90% nguyên liệu nhựa phải nhập khẩu, việc nhập khẩu các loại nguyên liệu nhựa đã không ngừng tăng về số lượng cũng như giá trị nhập khẩu Như vậy, ngành nhựa mới chỉ chủ động được khoảng 10–20% nguyên liệu đầu vào, còn lại phải nhập khẩu hoàn toàn khiến cho hoạt động sản xuất của ngành bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu từ nước ngoài
Bên cạnh đó, giá thành sản xuất của ngành nhựa cũng bị biến động theo sự biến động của giá cả nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặt biệt là sự biến động về giá của 2 loại nguyên liệu được sử dụng nhiều trong sản xuất là PP và PE Giá nhập khẩu các loại nguyên liệu nhựa luôn có sự biến động theo sự biến động của giá dầu thế giới Sự tăng mạnh của giá nguyên liệu đã tạo sức ép lớn đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp nhựa Việt Nam, làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm nhựa Việt Nam trên thị trường nội địa cũng như trên thị trường xuất khẩu, do giá nguyên liệu thường chiếm 75-80% giá thành của sản phẩm Vì vậy, các doanh nghiệp nhựa phải cân đối, dự trữ nguồn nguyên liệu đầu vào để phục vụ cho sản xuất
Trang 28Do ngành nhựa Việt Nam phải nhập khẩu 80%-90% nguyên liệu đầu vào, vì vậy, tỷ giá hối đoái và giá nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu tỷ giá tăng thì chi phí đầu vào của doanh nghiệp cũng sẽ tăng theo, nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến giá nguyên vật liệu đầu vào, giá thành sản phẩm và làm giảm hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của doanh nghiệp
Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành không cao: Do sự phân bổ không đồng đều của các doanh nghiệp trong cả nước nên mức độ cạnh tranh cũng khác nhau ở những khu vực khác nhau Khoảng 76% các doanh nghiệp trong ngành tập trung ở khu vực phía Nam, nên mức độ cạnh tranh cao hơn so với khu vực miền Bắc và miền Trung Hầu hết các doanh nghiệp ngành nhựa đều có những sản phẩm đa dạng và những phân khúc thị trường khác nhau
và những khách hàng truyền thống nên sự cạnh tranh trực tiếp là rất thấp
Quy mô ngành nhựa Việt Nam trong những năm gần đây có sự phát triển nhanh chóng Đến nay toàn ngành có khoảng 2.000 doanh nghiệp trải dài từ Bắc vào Nam và tập trung chủ yếu tại TP.HCM (chiếm hơn 80%), đa số thuộc thành phần kinh tế tư nhân Đến hết năm 2010 có 16 doanh nghiệp ngành nhựa niêm yết trên thị trường chứng khoán, trong đó có 5 doanh nghiệp với vốn điều lệ trên
100 tỷ đồng (BMP, RDP, TPC, TTP và NTP) Do đó, ROE và ROA cao, hiệu quả
sử dụng tài sản của ngành nhựa tốt, các doanh nghiệp có sự linh hoạt và thuận tiện trong việc quản lý các hoạt động của mình
Các doanh nghiệp ngành nhựa ít đầu tư tài chính như các ngành nghề khác nên lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính khá thấp hoặc không có
Toàn thị trường bình quân tỷ lệ nợ luôn chiếm lớn hơn 50% tổng tài sản, nhưng ngành nhựa con số này chỉ xấp xỉ 30%, tức các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính một cách thận trọng và an toàn, đa phần các doanh nghiệp nhựa tài trợ cho tài sản bằng vốn chủ sở hữu
Trang 292.1.1.2 Đặc thù ngành nhựa quyết định cơ cấu tổng tài sản
Với những đặc thù của ngành nhựa thì trong cơ cấu tổng tài sản của một
doanh nghiệp trong ngành, tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với tài sản
Qua thực tế đặc thù của ngành nhựa cho thấy:
• Ngành nhựa đang có tốc độ phát triển cao nên các doanh nghiệp phải sản
xuất với số lượng lớn đủ đáp ứng cho nhu cầu thị trường -> đầu tư sản xuất khối
lượng thành phẩm lớn
• Nguồn nguyên liệu nhập khẩu đến 90%, chiếm 80% giá vốn hàng bán, biến động tỷ lệ thuận với giá dầu, tỷ giá hối đoái Do đó, các doanh nghiệp nhựa phải
dự trữ hàng tồn kho lớn để đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu sản xuất cung cấp cho
thị trường và phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá -> đầu tư dự trữ tồn kho nguyên
vật liệu lớn
• Tiêu thụ sản phẩm thông qua đại lý phân phối, cửa hàng bán lẻ và gia công cho các ngành khác nên các khách hàng hầu hết là khách hàng truyền thống nên
luôn phải có chính sách bán chịu để giữ chân khách hàng -> khoản phải thu lớn
• Nhu cầu thị trường ngày càng nhiều trong bối cảnh nguyên vật liệu ngày càng biến động, có hệ thống phân phối rộng khắp nên cácchi phí liên quan đến
tiền rất cao -> tiền rất cần thiết để duy trì cho các hoạt động của công ty diễn ra
một cách liên tục
Trang 30Như vậy, qua phân tích cho thấy: tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh
hàng ngày của doanh nghiệp chủ yếu gắn liền với các khoản mục tài sản ngắn
hạn
Do đó có thể nói: tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với tài sản dài
hạn trong cơ cấu tài sản của các doanh nghiệp ngành nhựa
2.1.1.3 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến đầu tư tài sản ngắn hạn
Từ đặc thù của ngành nhựa, các công ty trong ngành sẽ quyết định đến việc
đầu tư tài sản ngắn hạn như thế nào và chú trọng vào nguồn tài sản ngắn hạn nào:
hàng tồn kho, khoản phải thu hay tiền mặt? Hay nói cách khác, nguồn tài sản
ngắn hạn nào sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của các công ty
ngành nhựa Tỷ số khả năng thanh toán được sử dụng để đánh giá nguồn tài sản
ngắn hạn nào chiếm tỷ trọng lớn
Bảng 2.1: Tỷ số thanh toán trung bình ngành nhựa
Tỷ số thanh toán hiện hành 2.39 2.42 2.90
Tỷ số thanh toán nhanh (trừ hàng tồn kho) 1.46 1.50 1.60
Tỷ số thanh toán nhanh (trừ khoản phải thu) 1.39 1.52 1.67
Tỷ số thanh toán nhanh (trừ tiền mặt) 2.09 2.03 2.66
(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)
Từ bảng thống kê 2.1 cho thấy: tỷ số thanh toán trung bình của toàn ngành
qua các năm 2008-2010 lần lượt là: 2.39, 2.42, 2.9 Tỷ số khả năng thanh toán
của công ty khá cao và tăng qua các năm, điều đó cho thấy khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn của các công ty trong ngành là khá tốt Nhưng vấn đề quan tâm ở
đây không phải là khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của các công ty trong ngành
Trang 31mà là tìm hiểu với đặc thù ngành nhựa thì tỷ trọng các thành phần trong tài sản ngắn hạn, thành phần nào chiếm ưu thế
Xem xét các tỷ số thanh toán nhanh (trừ khoản mục hàng tồn kho), tỷ số thanh toán nhanh (trừ khoản mục khoản phải thu), tỷ số thanh toán nhanh (trừ khoản mục tiền mặt) trung bình toàn ngành từ năm 2008-2010 nhận thấy:
So với tỷ số thanh toán hiện hành khi có hàng tồn kho thì tỷ số thanh toán nhanh đã loại bỏ hàng tồn kho chỉ bằng khoảng 60%, lần lượt năm 2008 là 61%, năm 2009 là 62%, năm 2010 là 55% -> hàng tồn kho các công ty trong ngành chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu tài sản ngắn hạn Điều này phù hợp với đặc thù ngành khi mà các công ty phụ thuộc nhiều vào biến động giá nguyên vật liệu sản xuất, không chủ động được nguồn nguyên vật liệu nên phải duy trì hàng tồn kho lớn, tránh rủi ro trong việc tăng giá sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu lợi nhuận
Xem xét tiếp đến tỷ số khả năng thanh toán nhanh (đã trừ khoản phải thu) so với khả năng thanh toán hiện hành của toàn ngành qua các năm 2008-2010 nhận thấy: tỷ số này bằng 60% so với tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ số này bằng tỷ số thanh toán nhanh (đã trừ hàng tồn kho)
Và khi xem xét đến tỷ số khả năng thanh toán nhanh (đã trừ tiền mặt) với tỷ
số khả năng thanh toán hiện hành thì biến động không cao Các tỷ số này gần bằng với tỷ số khả năng thanh toán hiện hành, chỉ ít hơn khoảng 13%
Như vậy, qua việc xem xét các tỷ số thanh toán trung bình toàn ngành, có thể chứng minh rằng: với đặc thù ngành nhựa có những đặc điểm riêng biệt đã quy định các công ty trong ngành phải:
- Tỷ trọng hàng tồn kho và khoản phải thu là lớn nhất, trong đó tỷ trọng hàng tồn kho lớn nhằm tránh biến động giá cả
- Tiếp theo là tỷ trọng tiền mặt
Tuy nhiên có phải các công ty trong ngành đều theo xu hướng này? Ta xem xét chi tiết hơn các công ty ngành nhựa trên sàn HOSE:
Trang 321 Nhựa Tân Đại Hưng 15.25% 10.18% 16.24%
2 Nhựa Tân Hoá 3.29% 2.28% 0.71%
3 Nhựa Đông Á 3.59% 0.64% 0.89%
4 Nhựa Bình Minh 5.30% 17.14% 9.46%
5 Nhựa Rạng Đông 7.30% 3.06% 4.86%
6 Nhựa Tân Tiến 25.73% 34.64% 8.80%
(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)
Nhìn vào bảng thống kê tỷ trọng tiền mặt so với tổng tài sản ngắn hạn của các công ty ngành nhựa nhận thấy: tiền mặt chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản ngắn hạn của các công ty Mỗi công ty có tỷ trọng dự trữ tiền mặt khác nhau Các công ty dự trữ tiền mặt để thanh toán tiền hàng, lãi vay và xử lý những tình huống khẩn cấp…Đặc trưng của các doanh nghiệp sản xuất thường duy trì lượng tiền mặt một thời gian dài vì vòng quay tiền mặt chậm hơn các ngành khác do bị chiếm dụng vốn cao
• Về khoản phải thu
Nhìn vào bảng thống kê tỷ trọng khoản phải thu 2.3 có thể thấy được chính sách quản lý khoản phải thu của các doanh nghiệp Trung bình tỷ trọng khoản phải thu của các doanh nghiệp qua các năm lần lượt là 2008 chiếm khoảng 42.49%, năm 2009 chiếm khoảng 40.59%, năm 2010 chiếm khoảng 41.07% giá trị tài sản ngắn hạn
Trang 33Bảng 2.3: Tỷ trọng khoản phải thu/Tài sản ngắn hạn các công ty ngành
nhựa từ năm 2008-2010
Khoản phải thu/TSNH
2008 2009 2010
1 Nhựa Tân Đại Hưng 48.49% 35.90% 37.35%
2 Nhựa Tân Hoá 32.26% 57.39% 47.42%
3 Nhựa Đông Á 66.92% 45.79% 35.86%
4 Nhựa Bình Minh 26.43% 24.47% 42.45%
5 Nhựa Rạng Đông 26.99% 32.61% 31.79%
6 Nhựa Tân Tiến 53.86% 47.39% 51.53%
(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)
Ta thấy năm 2008 công ty nhựa Đông Á bị chiếm dụng vốn nhiều nhất, tỷ
trọng khoản phải thu chiếm 66.92% giá trị tài sản ngắn hạn Công tác quản trị tín
dụng của công ty không tốt, để vốn bị chiếm dụng nhiều, bán hàng không thu
được tiền Nhưng đến năm 2009, 2010, tỷ trọng khoảng phải thu của công ty lần
lượt giảm 45.79%; 35.86% do công ty đã chú trọng hơn việc quản trị khoản phải
thu, tránh để vốn bị chiếm dụng, làm giảm khả năng thanh toán của công ty
1 Nhựa Tân Đại Hưng 30.45% 24.25% 36.16%
2 Nhựa Tân Hoá 52.37% 32.41% 34.77%
3 Nhựa Đông Á 25.95% 52.15% 61.30%
4 Nhựa Bình Minh 55.21% 48.99% 43.08%
5 Nhựa Rạng Đông 63.65% 60.98% 61.61%
6 Nhựa Tân Tiến 19.33% 17.38% 39.40%
(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)
Hàng tồn kho luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn do đặc thù
Trang 34ngành là trong giá thành sản phẩm phụ thuộc vào 80% giá nguyên vật liệu và điều này ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy mà các doanh nghiệp thường duy trì hàng tồn kho cao Nếu dự trữ hàng tồn kho cao sẽ gây ứ đọng vốn, dự trữ thấp có thể bị rủi ro như không đủ hàng bán, hoặc thiếu nguyên vật liệu để sản xuất khi đơn hàng tăng đột xuất, dẫn đến mất lợi thế cạnh tranh Nhìn vào bảng thống kê cho thấy công ty nhựa Tân Tiến hàng tồn kho chiếm tỷ trọng tương đối thấp, chứng tỏ công ty kinh doanh tốt, bán được nhiều hàng Ngược lại, với công ty nhựa Rạng Đông tỷ trọng hàng tồn kho luôn chiếm hơn 60% giá trị tài sản ngắn hạn
2.1.2 Tình hình tài sản ngắn hạn trong cơ cấu tài sản của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010
Ở đây chỉ khảo sát một số doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM như:
- Công ty cổ phần nhựa Tân Đại Hưng-TPC
- Công ty cổ phần nhựa Tân Hoá-VKP
- Công ty cổ phần tập đoàn nhựa Đông Á-DAG
- Công ty cổ phần nhựa Bình Minh-BMP
- Công ty cổ phần nhựa Rạng Đông-RDP
- Công ty cổ phần bao bì nhựa Tân Tiến-TTP
Với những đặc trưng của ngành nhựa đã quyết định tỷ trọng tài sản ngắn hạn cao hơn tài sản dài hạn trong tổng tài sản của một công ty Để chứng minh cho điều này, ta xem xét bảng thống kê 2.5 dưới đây về cơ cấu tài sản ngắn hạn
Trang 35Bảng 2.5: Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản các công ty ngành nhựa từ năm 2008-2010
Đơn vị tính: triệu đồng
Giá trị trọng Giá Tỷ trị trọng Giá Tỷ trị trọng Tỷ
1 Nhựa Tân Đại Hưng 213.670 64,99% 270.194 73,75% 278.556 76,98%
2 Nhựa Tân Hoá 134.002 45,33% 124.101 41,56% 114.188 42,00%
3 Nhựa Đông Á 103.417 47,88% 162.804 57,77% 184.192 54,19%
4 Nhựa Bình Minh 341.933 60,41% 550.257 66,76% 708.383 72,13%
5 Nhựa Rạng Đông 135.113 40,71% 198.343 50,81% 261.862 58,64%
6 Nhựa Tân Tiến 368.982 76,18% 411.643 76,61% 522.576 79,73%
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính các công ty từ năm 2008-2010)
Dựa vào bảng thống kê cho thấy: tài sản ngắn hạn chiếm trung bình 60% tổng tài sản của các doanh nghiệp, cụ thể năm 2008 là 55.9%, 2009 là 61.2%,
2010 là 63.9% Quy mô tài sản ngắn hạn của các công ty ngành nhựa có xu hướng tăng qua các năm Đặc biệt có 3 doanh nghiệp nhựa là nhựa Bình Minh và nhựa Tân Tiến, nhựa Tân Đại Hưng thì tỷ trọng tài sản ngắn hạn còn cao hơn trung bình toàn ngành, lần lượt là 66%, 77.5%, 71.9% Và cũng có những doanh nghiệp tỷ trọng này lại thấp hơn trung bình toàn ngành như nhựa Tân Hóa, Đông
Á, Rạng Đông, trung bình lần lượt là 43%, 53%, 50% Các công ty với quy mô lớn nhỏ khác nhau, dòng tiền đầu tư cho tài sản ngắn hạn và dài hạn cũng có sự chênh lệch lớn Tuy nhiên nếu xét về tỷ trọng từng loại tài sản so với tổng tài sản
ở mỗi công ty thì tỷ trọng này có độ lệch chuẩn ít hơn rất nhiều, biến động xoay quanh trung bình của toàn ngành, hay nói cách khác là biến động phù hợp với đặc điểm ngành đều đầu tư lớn vào tài sản ngắn hạn
Trang 362.1.3 Tính tương thích giữa tài sản và nguồn vốn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010
Trên bảng cân đối kế toán gồm có tổng tài sản và nguồn vốn Ở đây ta tính tổng giá trị chung từng khoản mục của các công ty niêm yết trên sàn HOSE
Bảng 2.6: So sánh tính tương thích giữa tài sản và nguồn vốn các công ty ngành nhựa từ năm 2008-2010
Đơn vị tính: triệu đồng
2008 2009 2010 2008 2009 2010
TSNH Nợ ngắn hạn 1.297.117 1.717.342 2.069.757 541.839 710.977 868.947
TSDH Nợ dài hạn
102.109 137.269 145.459
Vốn CSH 925.528 981.380 987.985
1.578.697 1.850.476 2.043.336
Tổng tài sản Tổng nguồn vốn 2.222.645 2.698.722 3.057.742 2.222.645 2.698.722 3.057.742
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính các công ty từ năm 2008-2010)
Từ bảng thống kê 2.6 cho thấy: tổng tài sản và tổng nguồn vốn của các công
ty tăng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước, phù hợp với tốc độ phát triển của các công ty qua từng năm
Trong cơ cấu nguồn vốn toàn ngành bên cạnh việc sử dụng vốn chủ sở hữu thì có sử dụng cả nợ ngắn hạn, nợ dài hạn để tài trợ cho các hoạt động của công
Trang 37thấy rằng các công ty tài trợ tài sản ngắn hạn chỉ bằng 41% là từ vay nợ ngắn hạn
Và khi xem xét đến tài sản dài hạn và nợ dài hạn cho thấy: nợ dài hạn rất nhỏ so với tài sản dài hạn Năm 2008 chỉ có 11% tài sản dài hạn được tài trợ từ
nợ dài hạn, năm 2009 là 14% và 2010 là 14.7% Nguồn nợ dài hạn của các công
ty trong ngành nhìn chung rất thấp và cũng không có khả năng tài trợ cho tài sản ngắn hạn
Và chỉ còn lại vốn chủ sở hữu, nhìn vào bảng thống kê ta thấy: 59% tài sản ngắn hạn còn lại được tài trợ từ vốn chủ sở hữu và phần lớn tài sản dài hạn cũng được tài trợ từ nguồn vốn chủ sở hữu
Như vậy, từ đặc thù của ngành nhựa là giá cả nguyên vật liệu biến động mạnh theo sự biến động của giá dầu và tỷ giá thế giới, giá nguyên vật liệu chiếm 90% giá thành sản phẩm nên các công ty ngành nhựa chịu rủi ro kinh doanh Do
đó, các công ty trong ngành hạn chế sử dụng nợ ngắn hạn và dài hạn để tài trợ cho tài sản của mình nhằm tránh rủi ro tài chính Vì vậy, các công ty đã lựa chọn phương án tài trợ phần lớn bằng vốn chủ sở hữu Mặc dù bỏ qua việc sử dụng đòn bẩy để gia tăng lợi nhuận nhưng đó lại là giải pháp an toàn cho các công ty trong ngành vì không thể cùng lúc phải gánh chịu cả hai loại rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh, dễ dẫn đến mất khả năng chi trả cho các nghĩa vụ tài chính khi đáo hạn
Mặc dù, các công ty sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu nhưng khi có sự không ổn định của giá nguyên vật liệu do đặc thù ngành quyết định thì các công
ty vẫn sử dụng nợ vay và chủ yếu là nợ vay ngắn hạn Sử dụng nợ vay ngắn hạn
có tính tạm thời, khi cần thì vay và chi phí sử dụng nợ ngắn hạn rẻ hơn nợ dài hạn
Trang 382.1.4 Hiệu quả sử dụng và khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn của các công
ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010
Để đánh giá tình hình sử dụng và khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn của các công ty ngành nhựa, ta xem bảng sau:
Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng và khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn các công
6 Nhựa Tân Tiến 2,82 2,54 2,55 18,19% 20,38% 16,34%
(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)
Dựa vào bảng thống kê 2.7 ta thấy:
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của các công ty nhựa giảm qua các năm Điều này cho thấy việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn ngày càng nhiều nhưng đổi lại doanh thu lại không tương xứng Tốc độ tăng trưởng doanh thu ít hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của tài sản ngắn hạn Do đó, các công ty trong ngành cần phải xem xét việc đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm nhằm gia tăng doanh thu
Việc gia tăng doanh thu không đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận Ta thấy
tỷ suất sinh lợi tài sản ngắn hạn của các công ty giảm qua các năm trong khi tài sản ngắn hạn tăng do từ năm 2008-2010 giá của nguyên vật liệu biến động mạnh, giá thành sản phẩm tăng cao làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty Trong
đó có công ty nhựa Tân Hóa liên tục bị lỗ trong hai năm 2009 và 2010
Trang 392.2 Tình hình quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010
2.2.1 Đặc thù ngành nhựa ảnh hưởng đến tình hình quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành nhựa giai đoạn 2008-2010
Đặc thù ngành nhựa đã làm cho các công ty trong ngành phải đầu tư tài sản ngắn hạn theo một xu hướng nhất định và sẽ quyết định đến việc quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty trong ngành
• Đối với quản trị tiền mặt
Hầu hết các công ty ngành nhựa đều phải lập báo cáo dòng tiền thu chi hàng tuần, hàng tháng, hàng quý nhằm mục đích tối thiểu hóa lượng tiền mặt mà công
ty dùng để duy trì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường
Các công ty quản trị tiền mặt chủ yếu dưới hình thức tiền gửi ngân hàng
Để bù đắp cho việc thiếu hụt tiền mặt, các công ty trong ngành bổ sung bằng nguồn chứng khoán ngắn hạn hoặc từ vốn chủ sở hữu
• Đối với quản trị khoản phải thu
Đặc thù ngành nhựa là sản phẩm gia công cho các ngành công nghiệp khác nên việc quản trị khoản phải thu phụ thuộc vào các công ty này Thông thường, các khoản công nợ được thanh toán trong khoảng thời gian từ 30 ngày 90 ngày tùy vào uy tín của từng khách hàng trong quan hệ tín dụng đối với công ty
Các công ty trong ngành đều có áp dụng hạn mức tín dụng cho từng khách hàng và kiểm tra trường xuyên
Các công ty đề ra tiêu chuẩn cấp tín dụng cho khách hàng căn cứ vào mức vốn, khả năng trả nợ, giá trị tài sản thế chấp, thái độ và hành vi của khách hàng
Để khuyến khích khách hàng trả nợ trước hạn, các công ty có áp dụng hình thức chiết khấu cho khách hàng, với tỷ lệ chiết khấu trung bình ngành từ 2-3% nếu thanh toán trước hạn hoặc mua hàng số lượng lớn… Thường chiết khấu ngay trên hóa đơn hoặc chiết khấu trong thanh toán
Trang 40Các công ty đều có bộ phận chuyên trách về quản lý thu nợ và theo dõi công
nợ, phân theo ngành nghề kinh doanh, vị trí địa lý và giá trị công nợ
• Đối với quản trị hàng tồn kho
Ngành nhựa chủ yếu nhập khẩu 80-90% nguyên liệu từ nước ngoài nên các
công ty có chính sách dự trữ hàng tồn kho trung bình 1-2 tháng để phục vụ sản
xuất
Có bộ phận nghiên cứu biến động giá nguyên vật liệu để đưa ra kế hoạch dự
trữ và sản xuất
Các công ty chủ yếu quản trị hàng tồn kho bằng hình thức xây dựng bộ mã
và kiểm soát bằng phần mềm máy vi tính chứ không quản trị hàng tồn kho theo
mô hình EOQ
2.2.2 Hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn của các công ty cổ phần ngành
nhựa giai đoạn 2008-2010
Bảng 2.8: Các tỷ số hoạt động trung bình ngành nhựa từ 2008-2010
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số vòng quay tiền mặt (lần) 20,42 13,28 23,21Chu kỳ vòng quay tiền mặt (ngày) 17,63 27,11 15,51
Số vòng quay khoản phải thu (lần) 6,17 5,72 4,59
Kỳ thu tiền bình quân (ngày) 58,35 62,95 78,50
Số vòng quay hàng tồn kho (lần) 6,58 5,58 4,35
Số ngày luân chuyển hàng tồn kho (ngày) 54,75 64,49 82,82
(Nguồn: Số liệu tính toán dựa trên các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành nhựa)
Số vòng quay tiền mặt càng cao tương ứng với chu kỳ vòng quay tiền mặt
càng thấp Số vòng quay tiền mặt cao cho thấy các công ty trong ngành dự trữ
tiền mặt thấp Do đó mà thời gian công ty bổ sung tiền mặt càng ngắn So với số
vòng quay khoản phải thu và số vòng quay hàng tồn kho thì số vòng quay tiền
mặt là cao nhất Điều đó chứng minh tỷ trọng tiền mặt là thấp nhất trong cơ cấu
tài sản ngắn hạn, phù hợp xu hướng chung của toàn ngành, là ngành sản xuất nên
luôn dự trữ tiền mặt thấp