Báo cáo tốt nghiệp với đề tài “Khảo sát nhu cầu và khó khăn trong việc học tiếng anh chuyên ngành của sinh viên đại học chính quy khóa 2014 khoa Dược trường Đại học Nguyễn Tất Thành” là
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC
TPHCM - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
ĐÀO THỊ NGÂN
KHẢO SÁT NHU CẦU VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC HỌC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC CHÍNH QUY KHÓA 2014 KHOA DƯỢC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NGUYỄN TẤT THÀNH
Chuyên ngành: Sản xuất và phát triển thuốc
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC
Hướng dẫn khoa học: ThS Phan Thanh Thủy
TPHCM - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêutrong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 10 năm
2018Sinh viên thực hiện
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗtrợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốtthời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rấtnhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng tri ân sâusắc nhất, em xin gửi đến quý thầy cô Khoa Dược – Trường Đại học Nguyễn TấtThành đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quýbáu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắcđến cô Phan Thanh Thủy – GV bộ môn tiếng Anh chuyên ngành, đã trực tiếp tậntình hướng dẫn và theo dõi sát sao đầy tinh thần trách nhiệm trong suốt quá trình emviết Báo cáo tốt nghiệp, cũng như cung cấp những tài liệu thông tin khoa học cầnthiết cho luận văn này
Báo cáo tốt nghiệp với đề tài “Khảo sát nhu cầu và khó khăn trong việc học tiếng anh chuyên ngành của sinh viên đại học chính quy khóa 2014 khoa Dược trường Đại học Nguyễn Tất Thành” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng
của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của các thầy cô, bạn bè vàngười thân; cùng sự tham gia nhiệt tình của các bạn sinh viên Khóa 14 khoa Dược.Qua trang viết này em xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ em trong thờigian học tập – nghiên cứu khoa học vừa qua
Trong quá trình nghiên cứu, do kiến thức và trình độ lý luận còn hạn hẹp,khó tránh khỏi sai sót; mong các Thầy, Cô bỏ qua và rất mong nhận được ý kiếnđóng góp từ phía Thầy, Cô để em học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoànthành tốt hơn
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp cao quý!
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về tiếng Anh chuyên ngành 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Phân loại 5
1.1.3 Tình hình dạy và học TACN tại Việt Nam 7
1.2 Nhu cầu và khó khăn của người học TACN 9
1.2.1 Nhu cầu 9
1.2.2 Khó khăn 14
1.3 Vai trò của tiếng Anh đối với sinh viên ngành Dược 17
1.4 Thiết kế giáo trình TACN Dược 1 và 2 trường ĐH Nguyễn Tất Thành 21 1.4.1 Tiếng Anh chuyên ngành 1 21
1.4.2 Tiếng Anh chuyên ngành 2 22
1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24
1.5.1 Tài liệu nước ngoài 24
1.5.2 Tài liệu trong nước 24
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng tham gia nghiên cứu 25
2.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp lấy số liệu 25
2.3.1 Khảo sát online 25
2.3.2 Phỏng vấn 27
2.4 Quy trình thu thập và phân tích số liệu 27
Trang 6CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 29
3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 29
3.2 Nhu cầu học tập TACN của sinh viên 30
3.2.1 Nhận thức của SV về mục đích học và tầm quan trọng của TACN 30
3.2.2 Đánh giá của SV về tầm quan trọng của các kĩ năng và tính hiệu quả của khóa học TACN trong việc nâng cao các kĩ năng 32 3.2.3 So sánh với kết quả phỏng vấn 34
3.3 Những khó khăn của sinh viên khi học TACN 35
3.3.1 Khó khăn liên quan đến người học 35
3.3.2 Khó khăn liên quan đến giảng viên 37
3.3.3 Các yếu tố khác 38
3.3.4 So sánh với kết quả phỏng vấn 40
3.4 Đánh giá các mục tiêu môn học 43
3.4.1 Tầm quan trọng và mức độ đạt được các mục tiêu môn học 43
3.4.3 So sánh với kết quả phỏng vấn 47
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
4.1 Những kết quả chính 49
4.2 Những kiến nghị và đề xuất 50
4.2.1 Về phía sinh viên 50
4.2.2 Về phía giảng viên 50
4.3 Những hạn chế và hướng phát triển tiếp theo của đề tài 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu khảo sát PL-1 Phụ lục 2: Câu hỏi phỏng vấn PL-2
Trang 7giáo dụcEGAP English for General Academic Purposes Tiếng Anh cho Mục Đích
Học Tập Chung
EMP English for Medical Purposes Tiếng Anh ngành Y tếEOP English for occupational purposes Tiếng Anh nghề nghiệpESAP English for Specific Academic Purposes Tiếng Anh cho Mục Đích
Học Tập Cụ ThểESP English for Specific Purposes Tiếng Anh chuyên ngànhESS English for Social Sciences Tiếng Anh Khoa học Xã
hộiEST English for Science and Technology Tiếng Anh Khoa học Kỹ
thuậtEVP English for vocational purposes Tiếng Anh nghề nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê khảo sát thông tin SV 29
Bảng 3.2 Tóm tắt thống kê SV đánh giá về tầm quan trọng của các kỹ năng 32
Bảng 3.3 Tóm tắt thống kê SV đánh giá về tinh hiệu quả của khóa học trong việc
nâng cao các kỹ năng 32
Bảng 3.4 Tóm tắt thống kê kết quả phỏng vấn SV đánh giá tầm quan trọng của các
kỹ năng 34
Bảng 3.5 Tóm tắt thống kê SV đánh giá về những khó khăn liên quan đến người
học TACN 35
Bảng 3.6 Tóm tắt thống kê SV đánh giá về khó khăn liên quan đến giảng viên 37
Bảng 3.7 Tóm tắt thống kê SV đánh giá về những vấn đề khó khăn khác 38
Bảng 3.8 Thống kê KQPV những khó khăn SV thường gặp 40 Bảng 3.9 Thống kê phỏng vấn đánh giá chung của SV về các mặt của khóa học 42
Bảng 3.10 Thống kê SV đánh giá về tầm quan trọng của các mục tiêu môn học 43 Bảng 3.11 Tóm tắt thống kê SV đánh giá mức độ khóa học giúp người học đạt
được các mục tiêu môn học 43
Bảng 3.12 Thống kê kết quả phỏng vấn mức độ khóa học giúp SV đạt được các
mục tiêu 47
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Cây ELT rút gọn (Wen, 1996) 6
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ giới tính sinh viên 29
Biểu đồ 3.2 Số năm sinh viên đã học tiếng Anh 29
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ phần trăm sinh viên lựa chọn mục đích học TACN 30
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ phần trăm sinh viên đánh giá tầm quan trọng của TACN đối với nghề nghiệp tương lai 31 Biểu đồ 3.5 Đánh giá tầm quan trọng và tính hiệu quả của khóa học trong việc nâng cao các kĩ năng 33 Biểu đồ 3.6 Đánh giá của sinh viên về những khó khăn liên quan đến người học TACN 36 Biểu đồ 3.7 Đánh giá của SV về những khó khăn liên quan đến giảng viên 38
Biểu đồ 3.8 Đánh giá của SV về những khó khăn gây ra do các yếu tố khác 39
Biểu đồ 3.9 Đánh giá của SV về tầm quan trọng và mức độ khóa học giúp người
học đạt được các mục tiêu môn học 45
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ đại học - Năm học 2013 – 2018 KHẢO SÁT NHU CẦU VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC HỌC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC CHÍNH QUY KHÓA 2014 KHOA
DƯỢC TRƯỜNG ĐH NGUYỄN TẤT THÀNH
Đào Thị Ngân Hướng dẫn khoa học: ThS Phan Thanh Thủy
Mở đầu
Trong những năm gần đây, việc dạy và học tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành(TACN) tại các trường đại học Việt Nam đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của sinh viên, giáo viên và các cơ quan liên quan vì hiệu quả giảng dạy không cao Mục đích chínhcủa nghiên cứu này là để tìm hiểu nhu cầu học tập, những khó khăn sinh viên thường gặp
và đánh giá khóa học hiện tại Từ đó đưa ra một số khuyến nghị để nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập TACN tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trường ĐH Nguyễn Tất Thành
Kết quả
tập và công việc tương lai Phần lớn các sinh viên đều đánh giá tất cả các kỹ năng đều ởmức quan trọng hoặc rất quan trọng Tuy nhiên, tính hiệu quả của khóa học chưa đồngđều trong việc nâng cao các kỹ năng
Anh tổng quát chưa cao, thường gặp nhất thuộc hai lĩnh vực từ vựng chuyên ngành vàgiao tiếp Các yếu tố khác ít được chú ý hơn
chung, các mục tiêu này được sinh viên đánh giá là chỉ “đạt được một phần”
Kết luận
Nghiên cứu đã làm rõ được một phần những nhu cầu và khó khăn của sinh viên, cũng như đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục những khó khăn này, đạt được các mục tiêu chínhcủa nghiên cứu
Từ khóa: nhu cầu ESP, khó khăn ESP, đánh giá khóa học, Tiếng Anh chuyên ngành
Dược, đại học Nguyễn Tất Thành
Trang 11Final assay for the degree of BS Pharm - Academic year: 2013 - 2018
NEEDS AND DIFFICULTIES IN LEARNING ENGLISH FOR PHARMACY OF STUDENTS OF ACADEMIC YEARS 2014-2019 AT NGUYEN TAT THANH
UNIVERSITY Dao Thi Ngan Supervisor: M.S Phan Thanh Thuy Introduction
In recent years, teaching and learning English, especially English for specific purposes(ESP) at Vietnamese universities has received a lot of attention from students, teachers,and relevant authorities because of low educational effectiveness The main aim of thisstudy is to find out students‟ needs and difficulties and to evaluate the current English forPharmacy courses Then, we give some recommendations for improving the effectiveness
of teaching and learning English for Pharmacy at Nguyen Tat Thanh University
Materials and methods
2014-2019 at Nguyen Tat Thanh University
(Questionnaires) and Qualitative research (Interviews)
Results
academic studies and target careers A strong majority of students considered all skills
of English to be „quite important‟ or „very important‟ But the efficiency of the course
is not equal in improving these skills
Students have a lot of difficulties in learning/using English skills due to low proficiencylevels of general, mostly in the two language areas of pharmaceutical vocabulary andcommunication Other factors are less noticeable
The results suggest that the stated objectives of the current English for Pharmacy coursewere very important and appropriate, but overall, these objectives were just partiallyachieved
Conclusion
The study has reached a number of findings, produced a profile of needs and difficulties aswell as provided some suggestions, which help to answer the research questions andachieve the main objectives of the study
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, tiếng Anh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển khoahọc, công nghệ, chính trị, văn hóa và quan hệ quốc tế Chính vì vậy, nhu cầu dạy vàhọc tiếng Anh để phục vụ cho những ngành nghề nhất định ngày càng gia tăng.Không chỉ dừng lại ở việc học tiếng Anh giao tiếp đơn thuần, nhiều người đã tìmđến những khóa học tiếng Anh chuyên ngành với mong muốn nâng cao kiến thứcphục vụ cho lĩnh vực nghiên cứu, học tập và làm việc của mình Chính vì vậy, tiếngAnh chuyên ngành (ESP - English for Specific Purposes) càng ngày càng được quantâm nhiều hơn Việc dạy tiếng Anh chuyên ngành (TACN) đang trở thành một trongnhững nội dung cơ bản của quá trình giảng dạy tiếng Anh Hutchison và Waters(1987) đã đề cập rằng, hiện nay TACN đang trở thành một phương pháp giảng dạyngoại ngữ trong đó tất cả các quyết định liên quan tới nội dung giảng dạy và phươngpháp dạy-học đều phải dựa trên nhu cầu học tập của người học, phục vụ cho mụcđich học tập của họ Nó tập trung vào việc sử dụng tiếng Anh hiệu quả cho các lĩnhvực cụ thể như kinh tế, ngân hàng, luật, y-dược, các môn khoa học tự nhiên, khoahọc xã hội, vv… Tuy nhiên, cho đến giờ, việc giảng dạy và học tập TACN vẫn chưađáp ứng được những kỳ vọng đặt ra Với những đặc điểm và nội dung của nó, so vớitiếng Anh giao tiếp đơn thuần, TACN vẫn được coi là một môn học khó đối với cảngười học lẫn người dạy
Ở trường Đại học Nguyễn Tất Thành, sinh viên hệ Đại học nói chung và
khoa Dược nói riêng thường được học TACN vào năm thứ 3 Mục tiêu của việc họcTACN Dược là sinh viên phải được trang bị vốn từ vựng cơ bản, ôn tập lại những kiếnthức ngữ pháp đã học, củng cố các kỹ năng để đọc hiểu, dịch tài liệu, giao tiếp hoặcviết một số báo cáo có liên quan đến chuyên ngành mà họ đang theo học Tuy nhiên,với khá nhiều thách thức mà giảng viên và sinh viên gặp phải trong quá trình giảng dạy
và học tập môn TACN nên mục tiêu của khóa học chưa đạt được như kỳ vọng Sinhviên thường học một cách thụ động thông qua những giải thích của giảng viên Thêmvào đó, thời lượng dành cho một học phần khá ít nên không đủ để sinh viên có thể nhớ
và luyện tập những kiến thức đã học Hơn thế, một lớp học
Trang 13TACN lại quá đông, gồm nhiều sinh viên với kiến thức đầu vào khác nhau đã tạo ranhiều thách thức cho việc dạy và học.
Chính vì những lí do kể trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Khảo sát nhu cầu và khó khăn trong việc học tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên Đại học chính quy khóa 2014 khoa Dược Trường Đại học Nguyễn Tất Thành” với mục đích
tìm hiểu nhu cầu học tập và những khó khăn sinh viên thường gặp phải khi học mônTACN Dược, từ đó sẽ có những kiến nghị, đề xuất nhằm điều chỉnh chương trìnhgiảng dạy hiện tại để phù hợp với nhu cầu của sinh viên và khắc phục những khókhăn để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập
Nội dung nghiên cứu
- ND 1: Nhu cầu học tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên Khóa 14 – Khoa
Dược trường Đại học Nguyễn Tất Thành
- ND 2: Những khó khăn thường gặp khi sinh viên học tiếng Anh chuyên ngành.
- ND 3: Sinh viên đánh giá như thế nào về môn TACN đang được thực hiện tại
trường ĐH Nguyễn Tất Thành
Cấu trúc của đề tài
PHẦN I: Mở đầu, cung cấp tổng quan về đề tài.
PHẦN II: Tổng quan vấn đề nghiên cứu, trình bày các vấn đề cơ sở về TACN,
nhu cầu và khó khăn trong học tập TACN
PHẦN III: Phương pháp nghiên cứu, trình bày các vấn đề về đối tượng khảo sát,
phương pháp, quy trình thu thập và xử lý số liệu
PHẦN IV: Kết quả nghiên cứu, trình bày kết quả thu được thông qua các phương
pháp lấy số liệu và thảo luận
PHẦN V: Kết luận và kiến nghị, trình bày những kết quả chính mà đề tài đạt
được, những kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và họctập môn TACN Dược, những hạn chế và hướng phát triển của đề tài, và kếtluận chung về đề tài
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Tổng quan về tiếng Anh chuyên ngành
1.1.1 Định nghĩa
1.1.1.1 Tiếng Anh chuyên ngành (TACN)
Tiếng Anh chuyên ngành (ESP) nổi lên từ những năm 1960 khi con người trởnên ngày càng nhận thức được rằng các khóa học tiếng Anh tổng quát không đápứng được nhu cầu của người học Khi tiếng Anh tiếp tục thống trị trong hầu hết cácngành như công nghệ, kinh doanh, truyền thông, giáo dục v.v , nhu cầu về TACNngày càng tăng nhanh, đặc biệt là ở các nước không thuộc Châu Âu - nơi tiếng Anhđược sử dụng chủ yếu
TACN được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi các nhà nghiên cứu.Theo Strevens (1988) [39], TACN là một khái niệm ám chỉ việc dạy hay học tiếngAnh nhằm phục vụ cho một nghề nghiệp hay chuyên ngành nhất định nào đó và nóđược biết đến là một phương pháp giảng dạy tiếng Anh như là một ngoại ngữ hoặcngôn ngữ thứ hai lấy người học làm trung tâm Nó nhằm đáp ứng những nhu cầucủa người học ở độ tuổi trưởng thành - những người cần học ngoại ngữ để áp dụng
nó cho những lĩnh vực cụ thể như khoa học, kỹ thuật, y học, học thuật hay thậm chí
là giải trí
Theo Hutchinson và Walters (1987) [19], TACN là một phương thức giảngdạy ngôn ngữ trong đó tất cả các quyết định về nội dung và phương pháp giảng dạyđều dựa trên mục đích học tập của người học Điều này có nghĩa rằng TACN khôngliên quan tới một phương pháp dạy ngôn ngữ hay một tài liệu cụ thể nào Việc dạyTACN cần phải dựa trên nguyên tắc đầu tiên là giảng dạy và học tập hiệu quả
Robinson (1980) lập luận rằng một khóa học ESP nên tập trung vào sự thànhcông của người học, đó là họ có thể vận dụng tốt trong các tình huống nghề nghiệphoặc học tập Ngoài ra, khóa học nên được thiết kế riêng và dựa trên phân tích mộtcách chi tiết các nhu cầu của người học Sự nhấn mạnh của Robinson đối với nhucầu của người học là phù hợp với Hutchinson & Waters
Theo Strevens (1988) [39], TACN có những đặc điểm sau đây:
Trang 15- Được thiết kế để đáp ứng những nhu cầu cụ thể của người học;
- Liên quan giữa nội dung (chuyên đề hay chủ đề) với những nguyên tắc và hoạt động cụ thể;
- Tập trung vào ngôn ngữ phù hợp với ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa, v.v , và với phân tích diễn ngôn;
- Tương phản với tiếng Anh phổ thông (General English);
- Có thể hạn chế các kỹ năng học tập (ví dụ: chỉ tập trung vào kỹ năng đọc hoặc viết);
- Có thể không cần dạy theo một phương pháp đã vạch sẵn
T Dudley - Evans và M.J.St John (1998) cũng có chung những ý kiến nhưtrên, tuy nhiên, hai ông có bổ sung thêm một số đặc điểm Họ đã mô phỏng rằng:
- TACN có thể liên quan tới hoặc được thiết kế cho những môn học cụ thể;
- TACN có thể sử dụng những phương pháp giảng dạy khác với phương pháp giảng dạy tiếng Anh phổ thông trong những tình huống cụ thể;
- TACN thường được thiết kế cho những người học ở độ tuổi trưởng thành, cóthể là học sinh phổ thông, cũng có thể là những người học ở cấp độ lớn hơnnhư sinh viên đại học hay những người học để phục vụ mục đích nghềnghiệp Tuy nhiên, nó cũng có thể được dạy cho học sinh ở trình độ thấphơn
- TACN thường được dạy cho những người học ở trình độ cao hoặc trình độtrung cấp Hầu hết các khóa học TACN đều yêu cầu người học phải cónhững hiểu biết cơ bản về hệ thống ngôn ngữ Trong một vài trường hợp cụthể, nó có thể được dạy cho những người mới học
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng TACN có thể được dạycho tất cả các đối tượng người học ở tất cả các độ tuổi và bất kể trình độ ngôn ngữnào Nó không có một nguyên tắc cụ thể nào cho tất cả các trường hợp Từ việc xemxét những đặc điểm kể trên của TACN, chúng ta có thể thấy mức độ đa dạng củaTACN và những định nghĩa về nó ngày càng trở nên phức tạp
Trang 161.1.1.2 Tiếng Anh cho ngành y tế
Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ quốc tế trong ngành y học [25], [12] Do
đó, những người có ý định tham gia vào lĩnh vực y tế hoặc chăm sóc sức khỏe “cầntiếng Anh như là một phương tiện để làm việc một cách hiệu quả và tiếp tục nângcao chuyên môn của họ” [21] Do đó, việc sử dụng tiếng Anh trong ngành y dượckhông chỉ giới hạn ở những quốc gia có tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ Nó có thể là ngônngữ trung lập được sử dụng bởi các bác sĩ và dược sĩ không phải là người bản xứtrong các bệnh viện ở các nước không nói tiếng Anh
Tiếng Anh cho ngành y tế (EMP - ENGLISH FOR MEDICAL PURPOSES)xuất hiện vào năm 1960 [26], là một phần của ESP [28], [10], [2], [18] Maher địnhnghĩa tiếng Anh cho mục đích y học là “dạy tiếng Anh cho bác sĩ, y tá và nhân viênkhác trong ngành y tế” [26], sau đó tiếp tục giải thích rằng EMP:
Được thiết kế để đáp ứng nhu cầu tiếng Anh chuyên ngành của người học
về y tế (ví dụ: y tá, nha sĩ);
Tập trung vào các đề tài và chủ đề cụ thể cho lĩnh vực y tế;
Tập trung vào các kỹ năng có phạm vi bị hạn chế mà người học có thể yêucầu (ví dụ: để viết một bài báo y khoa, chuẩn bị một cuộc nói chuyện chomột cuộc họp y tế)
1.1.2 Phân loại
Hutchinson và Walters (1987) đã sử dụng “cây ELT” (Tree of ELT) để môphỏng cho mối quan hệ của tiếng Anh chuyên ngành với tiếng Anh phổ thông [19].Theo các tác giả này, TACN được chia thành ba nhánh chính: Tiếng Anh cho nhữngngành khoa học và kỹ thuật (EST), tiếng Anh cho thương mại và kinh tế (EBE) vàtiếng Anh cho ngành khoa học xã hội (ESS) Mỗi nhánh này phân chia thành hainhóm: tiếng Anh học thuật (EAP) và tiếng Anh nghề nghiệp (EOP/EVP) Một ví dụ
về tiếng Anh học thuật thuộc nhánh TACN thương mại, kinh tế là “TACN cho sinhviên y khoa”; ví dụ cho tiếng Anh nghề nghiệp thuộc nhánh TACN thương mại,kinh tế là “TACN cho quân đội”
Trang 17Biểu đồ 2.1 Cây ELT rút gọn (Wen, 1996)
David Carter (1983) chia TACN thành ba nhóm: tiếng Anh như một ngônngữ thu hẹp, tiếng Anh cho mục đích học thuật và nghề nghiệp, tiếng Anh chonhững chủ đề cụ thể Nhóm tiếng Anh thứ hai của Carter được Robert Jordan (1997)phân chia thành hai nhóm TACN chính là EOP và EAP Sau đó, nhóm EAP lạiđược phân thành tiếng Anh cho mục đích học thuật chuyên ngành (ESAP) và tiếngAnh cho mục đích học thuật nói chung (EGAP) Cây phả hệ TACN của PaulineRobinson lại phân chia nó thành EOP và EAP/EEP (tiếng Anh cho mục đích giáodục) Mặc dù có sự khác nhau trong việc phân chia các nhóm TACN giữa Carter,Robinson, Jordan cũng như Hutchinson & Walters, nhưng có hai nhóm EAP vàEOP trong lĩnh vực TACN là được công nhận một cách rộng rãi trong lĩnh vựcgiảng dạy TACN ngày nay
Hutchinson và Walters (1987) chỉ ra rằng, không có sự phân chia rạch ròigiữa tiếng Anh học thuật (EAP) và tiếng Anh nghề nghiệp (EOP) [19] “Người ta cóthể vừa làm việc, vừa học tập cùng lúc; do vậy mà trong nhiều trường hợp, ngônngữ đã được học ở mức độ trung cấp trong một môi trường học tập có thể sẽ được
sử dụng sau này khi người học tiến đến cấp độ cao hơn hoặc khi họ tham gia làmviệc” Có lẽ điều này giúp giải thich lí do Carter phân loại EAP và EOP đều cùng
Trang 18một loại TACN Điều đó ám chỉ rằng mục đích cuối cùng của cả EAP và EOP đềugiống nhau, đó là phục vụ cho công việc Tuy nhiên, mặc dù mục đích cuối cùng làgiống nhau, nhưng phương thức để đạt được mục tiêu cuối cùng này lại hoàn toànkhác nhau.
1.1.3 Tình hình dạy và học TACN tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, giảng dạy tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anhchuyên ngành tại các trường đại học Việt Nam đã nhận được rất nhiều sự quan tâmcủa sinh viên, giáo viên và các cơ quan liên quan vì hiệu quả giảng dạy không cao.Điều này dẫn đến thực tế là sinh viên sau khi tốt nghiệp không đáp ứng yêu cầutiếng Anh của nhà tuyển dụng, do đó tỷ lệ thất nghiệp trở nên nghiêm trọng hơn.Đây là một tình huống đáng báo động vì tiếng Anh đang trở thành ngôn ngữ giaotiếp gần như không thể thiếu của giới trẻ ngày nay
Trong xu hướng hiện đại hóa và hội nhập, tiếng Anh là ngôn ngữ được sửdụng rộng rãi thứ ba trên thế giới với 335 triệu người dùng làm ngôn ngữ mẹ đẻ và
110 quốc gia sử dụng ngôn ngữ chính thức Ngoài ra, các lớp học tiếng Anh thu hút
số lượng học viên lớn nhất trên thế giới với 1,5 tỷ người theo học Nó đóng một vaitrò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của khoa học, công nghệ, chính trị,kinh tế, văn hóa và quan hệ quốc tế Do đó, nhu cầu dạy và học tiếng Anh, đặc biệt
là tiếng Anh chuyên ngành đang tăng lên, không chỉ cho mục đích giao tiếp Cáckhóa học tiếng Anh chuyên ngành đang nhận được rất nhiều sự chú ý, đặc biệt làtrong các trường đại học
Tuy nhiên, trên thực tế, việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Namvẫn không hiệu quả và không đáp ứng được nhu cầu của xã hội Theo Bộ Giáo dụcĐại học Việt Nam, chỉ có khoảng 49,3% sinh viên sau khi tốt nghiệp đáp ứng yêucầu tiếng Anh của người sử dụng lao động; gần 19% những người không đáp ứngyêu cầu tiếng Anh của nhà tuyển dụng; và gần 32% cần được huấn luyện thêm.Ngay cả đối với các chuyên ngành liên quan chặt chẽ đến tiếng Anh như Báo chíTruyền hình (Học viện Báo chí và Truyền thông), có hơn 1/3 sinh viên làm lại bàikiểm tra tiếng Anh chuyên ngành Bên cạnh đó, trình độ và phương pháp giảng dạy
Trang 19của giáo viên; thiếu thời gian; các lớp học với quá nhiều sinh viên; không thườngxuyên cập nhật sách giáo khoa, v.v , đặt ra nhiều thách thức cho việc dạy và họcmôn này.
Hiện nay, chương trình giảng dạy tiếng Anh đại học được xây dựng trongkhuôn khổ của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam Có 90-210 lớp học; và chủ yếutập trung vào ngữ pháp, đọc tài liệu hoặc giao tiếp cấp cơ bản, không phát triển kỹnăng tiếng Anh Ngoài ra, số lượng các lớp học tiếng Anh nói chung luôn luôn lớnhơn so với ESP Kết quả là, ngữ pháp tiếng Anh của học sinh Việt Nam thường tốt;trong khi đó, khả năng giao tiếp của họ vẫn còn yếu Vì vậy, tỷ lệ thất nghiệp vẫncao Khoảng 50,7% sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng yêu cầu tiếng Anh của nhàtuyển dụng (Theo Bộ Giáo dục Việt Nam, 2015)
Ngoài ra, thiếu tài liệu giảng dạy và nội dung sách giáo khoa không đầy đủ làmột vấn đề lớn đối với việc dạy học ESP Thực tế là sách giáo khoa ESP chỉ tậptrung vào ngữ pháp và từ vựng; và đôi khi được biên soạn từ nhiều nguồn khác nhauhoặc sử dụng tài liệu nước ngoài Điều này làm cho nội dung sách giáo khoa khôngphù hợp và không phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam
Giảng dạy ESP vẫn không hiệu quả vì giáo viên không được đào tạo kiếnthức chuyên môn Nhiều giáo viên tiếng Anh nói chung thừa nhận rằng họ khôngthể dạy ESP vì bản thân họ không hiểu đầy đủ thuật ngữ chuyên ngành Ngay cảgiáo viên tiếng Anh phổ thông tại các trường trung học phổ thông cũng không đápứng các yêu cầu về trình độ giảng dạy Theo thống kê, tại thành phố Hồ Chí Minh,chỉ có 5% cho cả hai trường trung học cơ sở và trung học phổ thông đáp ứng yêucầu giảng dạy
Dự án giảng dạy ESP đã được thực hiện từ năm 2010 Theo đó, tính đến năm2015-2016, 60% sinh viên đại học, cao đẳng và trung học phải được dạy ESP,nhưng trên thực tế chỉ có 35-40% Do đó, rất khó cho sinh viên Việt Nam nâng caotrình độ tiếng Anh toàn cầu (số 8/20 khả năng đọc và viết 18/20 khả năng nghe nói,Hội đồng Anh năm 2011) Tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp không tự tin với kỹnăng tiếng Anh của họ là rất cao
Trang 201.2 Nhu cầu và khó khăn của người học TACN
1.2.1 Nhu cầu
1.2.1.1 Định nghĩa và đặc điểm
Thuật ngữ “nhu cầu” đã được đưa ra rất nhiều khái niệm khác nhau bởi cácnhà nghiên cứu: Robinson (1991: 23), Brindley (1984: 29), Richterich và Chancerel(1987: 9) Nó có thể bao gồm một loạt các ý nghĩa trong ngữ cảnh ESP như mụctiêu, mong muốn, yêu cầu, sở thích, những thiếu sót, động lực… của người học Đốivới nhiều người, thuật ngữ 'nhu cầu' có nghĩa là một khoảng trống được bắc cầugiữa trạng thái hiện tại và tương lai mong muốn, hoặc sự tiến tới mục tiêu mongmuốn, hoặc sự thay đổi đạt được [3], [15] Theo đó, mục đích của khóa học TACNnhằm thu hẹp khoảng cách này, giúp người học đạt được hiệu quả thay đổi tốt hơn
Phân tích nhu cầu lần đầu tiên được phổ biến trong thập niên 1960 tại Hoa
Kỳ, ủng hộ trách nhiệm và sự liên quan trong các chương trình giáo dục, mối quan
hệ chặt chẽ giữa học tập và mục đích của nó Bước đầu tiên trong việc xây dựng bất
kỳ giáo trình hoặc khóa học ngôn ngữ nào là để xác định mục tiêu Bất cứ khi nào
có thể, chúng sẽ dựa trên một phân tích về nhu cầu của những người học
“Tất cả các khóa học đều phải dựa trên nhu cầu của người học, kể cả cáckhóa học giao tiếp đơn thuần” [19] Những gì bài nghiên cứu muốn nhấn mạnh ởđây chính là đề xuất của hai tác giả trên: “Cái quan trọng không phải là bản chất củanhu cầu học tập - dùng để phân biệt tiếng Anh chuyên ngành với tiếng Anh giao tiếp
- mà là nhận thức về nhu cầu đó” để có thể giao tiếp bằng tiếng Anh Do vậy, khimuốn thiết kế một giáo trình cho người học một chuyên ngành nào đó thì việc đầutiên chúng ta cần nghĩ tới là phân tích nhu cầu người học
Theo Hutchinson và Waters (1987: 55), nhu cầu có thể được chia thành nhu cầumục tiêu và nhu cầu học tập [19] Nhu cầu mục tiêu là những gì một người sẽ có thểlàm trong tình huống sử dụng ngôn ngữ mục tiêu: (i) những gì học sinh/người học cầnbiết để hoạt động hiệu quả trong một ngữ cảnh cụ thể; (ii) những trở ngại mà họcsinh/học viên sẽ phải đối mặt trong bối cảnh cụ thể này; và (iii) những gì học sinh/họcviên thấy là quan trọng hoặc thú vị và muốn học Nhu cầu
Trang 21học tập là những gì học sinh/học viên cần phải làm để học hỏi Để phù hợp vớiHutchinson và Waters (1987), nhu cầu học tập cũng phải được phản ánh bằng cáchhọc tập (tài liệu), và không chỉ nhu cầu mục tiêu như thường là trường hợp.
Phân tích nhu cầu chỉ ra rằng điều quan trọng đối với các học viên là sử dụngngôn ngữ một cách hiệu quả trong một bối cảnh chuyên nghiệp và đặc biệt, để: (i)phát triển các kỹ năng giao tiếp chung; (ii) tìm hiểu về các nền văn hóa của kháchhàng của họ, đặc biệt là khi liên quan đến (sử dụng) thuốc; và (iii) học thuật ngữ y tếcùng với các từ vựng chuyên ngành khác bằng các ngôn ngữ khác nhau
Trước khi quyết định cần dạy những kiến thức tiếng Anh chuyên ngành nào,chúng ta cần phải xem xét đến những yếu tố như sự cần thiết, các khía cạnh kiếnthức còn thiếu và những gì người học muốn học một cách cụ thể Theo Hutchinson
& Waters, sự cần thiết có thể được hiểu là “những gì người học cần phải nắm được
để hiểu những tình huống đích một cách hiệu quả” [19].Điều này có nghĩa là hiểuđược từ vựng “thường sử dụng trong những tình huống xác định” Chính vì vậy,việc xác định những gì người học đã biết rồi cũng rất quan trọng Sự thiếu vốn kiếnthức là khoảng cách giữa những kiến thức mà người học đã biết và những gì mà họcần phải trang bị Điều đó có nghĩa là phải xác định được lượng từ nào trong sốnhững từ thường được sử dụng trong những ngữ cảnh cụ thể là lượng từ người học
đã biết và những từ nào cần được dạy
Do vậy, những khía cạnh khách quan của nhu cầu đích cần được quan tâm,nhưng người học cũng có những mong muốn của riêng họ Bởi vi hứng thú củangười học rất quan trọng đối với cả quá trình dạy và học nên những mong muốn củangười học cũng là một khía cạnh cần sự quan tâm đặc biệt của người giáo viên khidạy tiếng Anh chuyên ngành Nói một cách ngắn gọn “nếu người học không cảmnhận được vốn từ vựng được học là hữu ích thì rất khó để khuyến khích sự hứng thúcủa họ và do đó, hiệu quả của việc học những kiến thức khác cũng sẽ bị giảm đangkể” [13]
Tóm lại, ESP là một cách tiếp cận để giảng dạy ngôn ngữ dựa trên nhu cầucủa người học có thể được xác định bằng phân tích nhu cầu Những nhu cầu được
Trang 22xác định này có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc phát triển chương trình giảngdạy ESP.
Mặc dù các mô tả nhu cầu của người học khác nhau, hầu hết (Trim, 1980;Brown 1995; Harding, 2007; Cooke và Simpson, 2008; Reguzzoni, 2008) đồng ýrằng nhu cầu:
- Đa dạng hoặc nhiều mặt;
- Có thể thay đổi;
- Không cố định;
- Thay đổi từ người này sang người khác tùy thuộc vào mỗi cá nhân và môi trường, hoạt động của họ;
- Không hoàn toàn độc lập;
- Luôn được nâng cao;
- Có thể được xác định và phân tích
Tuy nhiên, sự mơ hồ của thuật ngữ và ý nghĩa đa nghĩa của nó không nênđược xem là một vấn đề lớn Trong nghiên cứu này, các nhu cầu của học viên ESPđược hiểu là bao gồm lý do học ESP, khả năng hiện tại của họ trong các kỹ năngngôn ngữ chính, nhiệm vụ ngôn ngữ tiếng Anh, chức năng và hoạt động sẽ được sửdụng cả trong nghiên cứu học tập và mục tiêu nghề nghiệp của họ Trình độ tiếngAnh trong mỗi kỹ năng chính cần thiết trong nghiên cứu học tập và mục tiêu nghềnghiệp, phương tiện dạy và học ESP, ví dụ các ưu tiên về phương pháp và tài liệu,khó khăn hoặc các vấn đề gặp phải khi học và sử dụng tiếng Anh và thông tin vềhoàn cảnh mà tiếng Anh được học và sẽ được sử dụng
1.2.1.2 Phân loại
Nhu cầu thực tế và nhu cầu lý tưởng
De Escorcia (1985: 229) phân biệt giữa hai loại nhu cầu: nhu cầu thực tế vànhu cầu lý tưởng [9] Ông mô tả nhu cầu thực tế, hoặc theo Harding (2007: 17) gọi
là nhu cầu trước mắt [16], là những gì được nhận ra trong hầu hết các trường hợpnghề nghiệp của người học Điều này có ba ý nghĩa Đầu tiên, người học có thểkhông cảm thấy thực sự cần thiết hoặc cần ngay lập tức cho chuyên ngành tiếng
Trang 23Anh tại thời điểm học ESP; do đó điều quan trọng là nâng cao nhận thức của họ vềtình hình mục tiêu và thực tế liên quan của nó Thứ hai, họ thường không đưa rađược những đánh giá đúng đắn về nhu cầu thực sự của họ, bởi vì, như Scrivener(2005: 71) lập luận, sinh viên thực sự không biết họ cần gì hoặc muốn gì [38].Richterich và Chancerel (1987: 3) cũng quan sát thấy rằng “kinh nghiệm cho thấy,nói chung người học ít nhận thức được nhu cầu của mình và đặc biệt, họ không thểdiễn đạt chúng một cách rõ ràng” [35] Điều này cũng cho thấy rằng giáo viên hoặcngười hướng dẫn có trách nhiệm điều tra nhu cầu của người học và nâng cao nhậnthức của họ về việc thể hiện nhu cầu và giải thích nhu cầu và khó khăn gặp phải.Thứ ba, nhu cầu thực tế thường được xem là liên quan chặt chẽ đến những gì xảy ratrong tình huống mục tiêu, trái ngược với nhu cầu lý tưởng, như ngụ ý của nó, ámchỉ một tình huống lý tưởng hay trạng thái mà họ mong đợi.
Rõ ràng, nhu cầu lý tưởng có thể thay đổi tùy theo quan điểm và hoàn cảnh
cụ thể của mỗi người, trong khi nhu cầu thực tế, theo De Escorcia, là tri thức tốithiểu mà người học phải có để thành công trọng việc học một cách dễ dàng
Nhu cầu khách quan và nhu cầu chủ quan
Một số học giả (ví dụ: Brindley 1989; Brown, 1995; Tudor, 1996; Van
Avermaet và Gysen, 2006) xác định có 2 loại nhu cầu: khách quan và chủ quan [5],[7], [41], [42] Một mặt, Brindley (1989: 70) và Van Avermaet và Gysen (2006: 20)nói rằng nhu cầu khách quan là những nhu cầu có thể lấy từ thông tin thực tế vềngười học, việc sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp thực tế, trình độthông thạo ngôn ngữ hiện tại và những khó khăn về ngôn ngữ [5], [42] Điều này cónghĩa rằng, nhu cầu khách quan được thu thập từ dữ liệu khách quan quan sát được[7] Có nghĩa là nhu cầu khách quan có xu hướng chủ yếu là quan tâm đến các yếu
tố ngôn ngữ cụ thể Mặt khác, nhu cầu chủ quan là những nhu cầu của người họctrong tình huống học tập của họ, xuất phát từ cả hai yếu tố nhận thức và cảm nhận,
ví dụ như tự nhận thức, nhận thức về tình huống mục tiêu, thái độ đối với việc họctiếng Anh, mong muốn và kỳ vọng trong giảng dạy [5], [4] Nói cách khác, nhu cầuchủ quan đề cập đến những yếu tố không thể kiểm soát như sự mong muốn [7] Có
Trang 24thể nói rằng các thuật ngữ như “sự tự nhận thức”, “thái độ”, “mong muốn” và “kỳvọng” là khái niệm rộng hơn trong nhu cầu và có thể không chỉ các yếu tố ngôn ngữ
mà còn là các yếu tố không phải ngôn ngữ
Brindley (1989: 70) cho rằng có thể thu thập dữ liệu về cả hai nhu cầu chủquan và khách quan [5], trong khi Graves (1996a: 14) chỉ ra rằng nhu cầu kháchquan cũng quan trọng như nhu cầu chủ quan vì nhu cầu khách quan có thể khôngđược thỏa mãn nếu không xem xét nhu cầu chủ quan [14] Điều này cho thấy rằngkhi thiết kế khóa học ESP, nhu cầu khách quan và chủ quan cần được xác định vàcân nhắc
Nhu cầu mục tiêu và nhu cầu học tập
Hutchinson và Waters (1987: 54) phân biệt giữa nhu cầu mục tiêu và nhu cầuhọc tập [19] Nói chung, nhu cầu mục tiêu là những gì người học yêu cầu trong tìnhhuống mục tiêu, tức là kiến thức và khả năng họ phải có để có thể thực hiện đếnmức độ năng lực và trình độ yêu cầu trong tình huống mục tiêu Chambers (1980:30) mô tả đây là những nhu cầu thực tế và lâu dài Hutchinson và Waters (1987: 55)chia nhu cầu mục tiêu thành ba loại [19]:
1) Sự cần thiết: Những nhu cầu này dựa trên những yêu cầu của tình huống
mục tiêu, tức là những gì người học cần biết để hoạt động hiệu quả trongtình huống đích (ví dụ: các tính năng ngôn ngữ: diễn ngôn, chức năng, cấutrúc, từ nguyên) Sự cần thiết thể hiện đích đến
2) Những thiếu sót: Điều quan trọng là phải so sánh giữa năng lực mục tiêu
đối với khả năng hiện tại của người học Khoảng trống này là những gìngười học còn thiếu, ví dụ: để đọc tài liệu chuyên ngành Sự thiếu sótđược coi là điểm khởi đầu của một hành trình hướng tới đích đến
3) Mong muốn: Chúng đại diện cho quan điểm của người học về nhu cầu của
họ, nghĩa là họ cần gì, chúng có thể khác hoặc trái ngược với quan điểmcủa những người có liên quan như người thiết kế khóa học, giáo viên vàngười hướng dẫn (ví dụ: mục đích các nhân khi học tiếng Anh) Mongmuốn được cho là gây ra nhiều tranh cãi để xác định đích đến thực sự
Trang 25Dường như cả „sự cần thiết‟ và „những thiếu sót‟ đại diện cho nhu cầukhách quan, trong khi „mong muốn‟ đại diện cho những chủ quan; nhưng nhận thức
về nhu cầu cụ thể là khách quan hay chủ quan có thể thay đổi từ người này sangngười khác
1.2.2 Khó khăn
Tiếng Anh chuyên ngành, cùng với những đặc điểm và nội dung của nó, vẫnđược coi là một môn học khó đối với cả người dạy lẫn người học Bởi vậy, việc xácđịnh rõ những khó khăn trong quá trình học là vô cùng cần thiết
Có một số nghiên cứu trên thế giới về những khó khăn trong dạy học ESP.Chúng được chia thành 03 nhóm chính: (1) những khó khăn liên quan đến sinh viên;(2) những khó khăn liên quan đến giảng viên; và (3) những vấn đề khác
1.2.2.1 Những khó khăn liên quan đến giảng viên
Thứ nhất, có một sự nhầm lẫn của các giảng viên ESP về các mục tiêu củaESP: “giảng dạy kiến thức chuyên môn” hay “những kỹ năng ngôn ngữ” Sự nhầmlẫn này là do phương pháp dạy tập trung nhiều vào ngữ pháp và từ vựng hiện đangrất phổ biến trong việc dạy và học ESP không chỉ ở Việt Nam mà còn ở những nềnvăn hóa khác [29]
Trong các khóa học ESP hiện nay, hầu hết các tài liệu được thiết kế để pháttriển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và dịch, nhưng một số giảng viên cho rằng chỉ từvựng tốt là đủ cho sinh viên Do đó, một số tài liệu do giáo viên biên soạn khôngđem lại nhiều hứng thú cho SV, vì chỉ tập trung vào kỹ năng đọc và các bài tập từvựng Theo Lâm (2011), sinh viên thường quên những từ đã học ngay sau mỗi kỳthi [23]
Những khó khăn liên quan đến giảng viên bao gồm: khác biệt về trình độ củagiảng viên, khác biệt về phương pháp giảng dạy, đặc biệt là thiếu kiến thức chuyênmôn vì họ không được tham gia các khóa bồi dưỡng về phương pháp và kiến thứcdạy học ESP Đối với bản chất và mục tiêu của giáo dục ESP, thực tế đã đượcchứng minh rằng giảng viên ngôn ngữ EFL phù hợp cho việc dạy ESP hơn là giảng
Trang 26viên về các môn học chuyên ngành (Tabatabaei, 2007); do đó, sự thiếu hụt kiến thức chuyên môn là vấn đề nổi bật nhất đối với giáo viên ESP.
Theo Ho (2011), giáo viên cũng phải đối mặt với các vấn đề liên quan đếnviệc thiết kế khóa học, nhiệm vụ, bài tập và phương pháp giảng dạy [17] Trong lớphọc, sinh viên phải tham gia vào các hoạt động nhóm, thuyết trình, viết tiểu luận vềchủ đề bài học Tuy nhiên, do thiếu thời gian, buổi học đôi khi không đạt đượchiệu quả cao
1.2.2.2 Những khó khăn liên quan đến sinh viên
Trình độ tiếng Anh: sự khác biệt về trình độ tiếng Anh của SV có tác động
tiêu cực đến việc giảng dạy ESP Bên cạnh đó, khu vực sinh sống cũng có tác độngđáng kể đến trình độ tiếng Anh của SV Thông thường, sinh viên từ các tỉnh nhỏ cótrình độ ngoại ngữ thấp hơn so với SV ở những thành phố lớn vì dạy tiếng Anh cấptrung học ở nhiều khu vực Việt Nam vẫn còn yếu và không đầy đủ
Thiếu vốn từ vựng: Maruyama (1996) đã đưa ra danh sách 60 từ kỹ thuật cho
112 sinh viên chuyên ngành kỹ thuật điện ở Nhật Bản yêu cầu xác định các từ và ýnghĩa của chúng [27] Tuy nhiên, có 20 từ không ai trong số các sinh viên biết, một
số từ được biết đến bởi một vài sinh viên và chỉ có 1 từ mà tất cả 112 sinh viên đềuhiểu Kể từ đó, Maruyama (1996) đã chỉ ra lý do dẫn đến việc SV thiếu vốn từ vựng[27]: (1) SV nghĩ rằng họ không cần biết nhiều từ vựng vì chúng không phổ biến,thậm chí hiếm khi được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày; (2) Vì vậy, họ không
có động lực để học từ, và (3) Hầu hết các giáo viên tiếng Anh không thể truyền đạthết cho SV bởi vì bản thân giáo viên cũng không quen với những thuật ngữ khoahọc này Đánh giá của Maruyama có nhiều điểm tương đồng với tình hình thực tế ởViệt Nam Nhiều sinh viên nghĩ rằng các thuật ngữ ESP hiếm khi được sử dụng, đặcbiệt là trong cuộc sống hàng ngày của họ, vì vậy họ không có động lực để học vàghi nhớ chúng
Thiếu vốn từ vựng, đặc biệt là các thuật ngữ ESP, khiến nhiều sinh viên phụthuộc vào từ điển và gặp khó khăn bất cứ khi nào họ gặp phải một từ mới [27] Cụthể, khi họ nhìn thấy một từ hoàn toàn mới, họ không thể đoán được ý nghĩa của nó
Trang 27và cũng không thể bỏ qua nó để hiểu được văn bản Đó là bởi vì sinh viên không cókiến thức về từ nguyên tiếng Anh, vì vậy họ không thể hiểu ý nghĩa của một câu khi
họ không biết ý nghĩa của một từ hoặc một vài từ trong đó Kết quả là, sự phụ thuộcnày hạn chế sự linh hoạt và trí tưởng tượng của người học
Liên quan đến kỹ năng đọc, Rezaei, Rahimi và Talepasan (2012) cho thấyhầu hết người học đều gặp khó khăn trong việc xác định và hiểu cú pháp câu [34].Điều này làm cho việc đọc tiếng Anh trở nên khó khăn hơn và đôi khi người học cóthể sai ý nghĩa câu sai Lý do là có quá ít bài báo khoa học bằng tiếng Anh trong cáctrường Đại học, vì vậy sinh viên cảm thấy không quen thuộc với các tài liệu ESP
Liên quan đến kỹ năng viết, Lâm (2011) tin rằng hầu hết SV đều phải đốimặt với các vấn đề liên quan đến từ vựng, lên ý tưởng, ngữ pháp và chính tả [23]
Họ thường thiếu kiên nhẫn để phác thảo, lên ý tưởng một cách hợp lý và kết nốichúng lại với nhau trong các bài viết của họ Điều này làm cho văn bản ESP củasinh viên rất sơ sài, lủng củng và đôi khi thậm chí giống hệt bản sao các văn bảnkhác
Liên quan đến kỹ năng nghe và nói, sinh viên thực hành hai kỹ năng này rất
ít trong lớp vì họ dành phần lớn thời gian để học ngữ pháp, từ vựng và đọc văn bản.Giáo viên không chú ý đến các hoạt động nghe và nói; và thường cung cấp cho sinhviên các bài giảng hai ngôn ngữ (tiếng Việt và tiếng Anh) Do đó, SV chỉ nhớnhững từ riêng lẻ mà không thể diễn đạt ý kiến bằng tiếng Anh chuyên ngành
Như một kết quả không thể tránh khỏi của phương pháp dạy và học lấy giáoviên làm trung tâm, phụ thuộc giáo khoa ở bậc trung học, sinh viên buộc phải thay đổicác phương pháp học tập thụ động để thích nghi với môi trường đòi hỏi cao hơn
ở bậc đại học [29]
1.2.2.3 Những yếu tố khác
Các vấn đề khác đối với cả học viên và chuyên gia ESP ở Việt Nam là thiếunguồn tài liệu và thời gian phân bố không đầy đủ Utsumi và Đoàn gọi việc thiếu tàiliệu, tài nguyên thư viện và thiếu cơ hội phát triển chuyên môn cho giáo viên ESP lànhững thách thức chính cần được giải quyết [22]
Trang 28Vì không có tài liệu tiêu chuẩn được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam côngnhận, nên các trường đại học được phép tự quyết định các tài liệu sử dụng trong cáckhóa học Trong trường hợp này, có hai giải pháp khả thi: sử dụng sách nước ngoàihoặc tài liệu được biên soạn bởi các giảng viên ESP.
Thời gian trung bình cho một khóa học ESP tại các trường Đại học ở ViệtNam là 15 tuần với chín tiết học mỗi tuần Sinh viên phải hoàn thành hai hoặc bahọc phần ESP trước khi tốt nghiệp Lượng thời gian này không đủ cho lượng lớnkiến thức được đưa vào môn học và thực hành các kỹ năng ngôn ngữ
1.3 Vai trò của tiếng Anh đối với sinh viên ngành Dược
Có thể nói trong bất kỳ một ngành nghề nào Tiếng Anh đều đóng vai tròquan trọng Tiếng Anh được xem như một tiêu chuẩn tuyển dụng ở hầu hết các vị trícông việc, ngành nghề Đặc biệt, đối với ngành Y Dược thì Tiếng Anh lại vô cùngquan trọng Và hầu hết các trường ĐH, CĐ hiện nay đều yêu cầu sinh viên đạtchuẩn đầu ra về Tiếng Anh trước khi tốt nghiệp ra trường Đối với sinh viên ngànhDược thì Tiếng Anh là một trong những yếu tố cần thiết để có thể dễ dàng xin đượcviệc sau khi tốt nghiệp
Nếu một vài năm trước, khả năng sử dụng tiếng Anh giao tiếp thành thạo,hay một điểm số cao trong kì thi IELTS/TOEFL đủ để đánh bóng một bộ hồ sơ xinviệc hay xin học bổng, thì bây giờ dường như số lượng ứng viên có trình độ tiếngAnh tương đối đã vượt hẳn số người không biết tiếng Anh Sự phổ biến của ngônngữ toàn cầu này trở đã trở thành một xu hướng tất yếu của thời đại, khiến khả năng
sử dụng ngoại ngữ này dần dần không còn là “điểm mạnh” mà thay vào đó là “điềukiện cần thiết” của một ứng viên trong nhiều lĩnh vực ngành nghề bao gồm cảngành y tế
Việc trang bị cho mình một vốn Tiếng Anh tốt sẽ giúp cho những người làmngành Dược dễ dàng tiếp cận được với tri thức, với những phát minh, tiến bộ mớitrong ngành Trên thực tế, những tài liệu nghiên cứu Dược, những phát minh hayứng dụng mới đều được công bố ra thế giới bằng Tiếng Anh Các tài liệu chuyênngành Dược hầu hết đều xuất phát từ các quốc gia có nền Y học phát triển và được
Trang 29viết bằng Tiếng Anh Việc chờ dịch giả biên dịch chỉ làm lãng phí thời gian áp dụngnhững tri thức mới vào thực tiễn Chính vì vậy sinh viên ngành Dược giỏi TiếngAnh thì sẽ dễ dàng và thuận lợi trong việc tiếp cận cũng như nắm bắt kiến thức từcác nguồn tài liệu Đặc biệt có những loại thuốc được nhập khẩu từ nước ngoài, dù
đã được dịch ra Tiếng Việt, nhưng nếu đọc hiểu được tiếng Anh bạn cũng sẽ biếtđược cặn kẽ hơn những gì mà loại thuốc đó viết Ngoài ra, khi học ngành Dược córất nhiều tài liệu chuyên ngành được viết bằng tiếng Anh mà nếu như không thôngthạo tiếng Anh bạn rất khó để tham khảo các loại tài liệu này Theo một báo cáongày 24 tháng 7 năm 1995 trên tờ US News and World Report, khoảng 25.000 từtiếng Anh mới được đặt ra hàng năm, trong đó 4% được đưa vào từ điển
Hội nhập TPP tạo điều kiện cho những doanh nghiệp nước ngoài và đẩymạnh đầu tư vào Việt Nam đặc biệt là ngành Dược, Việc này kéo theo nhu cầutuyển dụng nhân sự cũng tăng lên Hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài khi tuyểndụng thì họ đều yêu cầu ứng viên phải có năng lực Tiếng Anh nhất định Chính vìthế, nếu học giỏi Tiếng Anh sẽ giúp bạn dễ dàng tìm được một công việc có mứcđãi ngộ tốt
Sự toàn cầu hoá ngành dược phẩm, với sự tăng trưởng về nhập khẩu và xuấtkhẩu, đòi hỏi sự gia tăng trong việc sử dụng tiếng Anh để giao tiếp Tại Việt Nam, cómột số ít các nhà sản xuất dược phẩm, với năng lực sản xuất chỉ dừng ở mức thôngthường khiến gần 55% nhu cầu dược phẩm trong nước phải đáp ứng bằng nguồn nhậpkhẩu Theo báo cáo của Công ty cổ phần Nghiên cứu ngành và Tư vấn Việt Nam(VIRAC), nhập khẩu dược phẩm của Việt Nam đang có xu hướng tăng mạnh trongnhững năm gần đây Năm 2016, giá trị nhập khẩu dược phẩm ước tính khoảng 2,5 tỷUSD, tăng 10% so với năm trước Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng trong ngànhdược phẩm làm tăng nhu cầu của các dược sĩ công nghiệp sử dụng tiếng Anh để giaotiếp quốc tế Trình độ tiếng Anh hạn chế có thể dẫn đến các dược sĩ sản xuất gặp nhiềuvấn đề trong công việc của họ Ví dụ, trong quá trình chứng nhận của nhà sản xuất bởicác cơ quan y tế nước ngoài, các dược sĩ phải sử dụng kĩ năng nghe và nói để chào đón,thảo luận, tương tác và đàm phán trong các cuộc
Trang 30họp, kiểm tra và các chuyến tham quan Thất bại trong giao tiếp tiếng Anh có thểphát sinh trong quá trình đánh giá, chẳng hạn như không có khả năng trả lời rõ ràngcâu hỏi, cung cấp giải thích cho thấy sự tuân thủ của các công ty Hậu quả có thể làdẫn đến kết quả kiểm định bất lợi, trì hoãn quá trình phê duyệt cho giấy phép sảnxuất Do đó, các vấn đề giao tiếp tiếng Anh trong bối cảnh công việc của các dược
sĩ sản xuất cần được giải quyết, để họ có thể sử dụng tiếng Anh hiệu quả và chuyênnghiệp
Nói về tiếng Anh trong công việc của một Dược sĩ, chủ yếu sẽ gồm 2 phầnchính: Tiếng Anh chuyên ngành và tiếng Anh giao tiếp
Tiếng Anh chuyên ngành là phần cốt lõi nhất, bởi vì dù bạn có làm việc tạinhà máy, trong viện nghiên cứu, trong bệnh viện hay là một trình dược viên, bạnvẫn phải liên tục tìm hiểu, cập nhật các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực bạn phụtrách Đối với các lĩnh vực liên quan đến nghiên cứu, chắc hẳn các bạn đã nắm rất
rõ tầm quan trọng của tiếng Anh chuyên ngành Ở đây chỉ muốn nói rõ vai trò củatiếng Anh chuyên ngành trong các lĩnh vực phân phối/kinh doanh
Có một số quan điểm trước đây cho rằng trình dược viên (TDV) không sửdụng nhiều đến kiến thức chuyên ngành Dược, nói gì đến tiếng Anh chuyên ngành.Điều đó hoàn toàn sai lầm Để đáp ứng yêu cầu đem lại thông tin có ích cho các bác
sĩ nhằm hỗ trợ việc điều trị bệnh nhân, hiện nay các TDV thường xuyên phải đàosâu các nghiên cứu về sản phẩm của mình, đồng thời tìm tòi các thông tin về lĩnhvực điều trị của thuốc mình phụ trách Mà các thông tin đó hầu hết bằng tiếng Anh
Xu hướng hiện nay tại các cty lớn, là các bạn TDV thường xuyên tổ chức các buổi
tự training, đọc và tóm tắt các nghiên cứu đọc được, phổ biến cho nhóm mình.Những bạn giỏi ngoại ngữ sẽ có lợi thế hơn trong việc cập nhật kiến thức, tăng hiệuquả công việc và tạo ấn tượng với các cấp quản lý
Kế đến, những TDV trẻ có mong muốn thăng tiến trong công việc, thì tiếngAnh càng là một yêu cầu thiết yếu Các vị trí ở bộ phận Marketing, Medical,Clinical đều đòi hỏi khả năng tiếng Anh, bao gồm cả tiếng Anh chuyên ngành Bởi
vì hàng ngày bạn sẽ nhận và gửi các email bằng tiếng Anh, đọc và viết các báo cáo,
Trang 31project bằng tiếng Anh, tổng hợp và tạo ra các tư liệu làm việc cho TDV bằng việcnghiên cứu các dữ liệu lâm sàng bằng tiếng Anh, trình bày các kế hoạch kinh doanhhoàn toàn bằng tiếng Anh Các bạn sẽ phải làm việc với các chuyên gia nước ngoài
để mời về giảng bài trong nước, trao đổi với họ những vấn đề mà các Bác sĩ ở ViệtNam quan tâm v.v…
Nói về tiếng Anh giao tiếp, thì không chỉ các bạn làm trong các công ty nướcngoài, mà giao tiếp bằng tiếng Anh giỏi còn là một lợi thế lớn đối với cả các bạnlàm việc trong bệnh viện, xí nghiệp, hay viện nghiên cứu Với xu hướng hội nhậpngày nay, các hoạt động hợp tác quốc tế thường xuyên diễn ra giữa các tổ chức, cácbệnh viện nước ngoài với Việt Nam Việc bạn giỏi tiếng Anh sẽ khiến bạn trở thànhnhân tố cần thiết, quan trọng cho tổ chức, và bản thân bạn lại có cơ hội được cọ xát,học hỏi nhiều hơn Ngoài ra, các Dược sĩ làm tại các bệnh viện tư, có nhiều bệnhnhân nước ngoài như FV, Columbia, SOS thì cũng phải giỏi tiếng Anh giao tiếp
để tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân người nước ngoài
Những cơ hội mở ra đối với sinh viên hay những người công tác trong ngành
y tế không chỉ giới hạn ở việc đọc hiểu tài liệu hay xin việc Đối với sinh viên, đó là
cơ hội xin nhập học, xin học bổng từ những trường đại học, bệnh viện có danh tiếngtrên thế giới như học bổng VEF của Mỹ, MEXT của Nhật,… Do đặc trưng củangành nghề có yêu cầu cao nên bằng cử nhân y dược của Việt Nam chưa được chấpnhận để học lên cao hơn ở nhiều trường đại học hàng đầu Để đáp ứng đủ điều kiệntheo học ở những ngôi trường này, nhiều người đã chọn giải pháp thi lấy bằngchuyển đổi (MCAT), hoặc lựa chọn khoá học “bước đệm” tại các nước láng giềngnhư Thái Lan, Malaysia, Indonesia vì bằng cấp về y tế của các nước này được chấpnhận Ngoài ra, đối với những người đang công tác trong lĩnh vực y tế, bên cạnhnhững yêu cầu công việc, đó hẳn là cơ hội được đào tạo chuyên môn cao hơn (họcbổng DAAD của Đức), cơ hội hợp tác trong các dự án quốc tế về y tế (ACWP,VWAM, Operation Smile,…), hoặc giao lưu với những chuyên gia trong lĩnh vựccủa mình qua các hội thảo, hội nghị quốc tế (hội nghị GMS, )
Trang 32Không thể giao tiếp với bệnh nhân bằng cùng ngôn ngữ có thể gây ra vấn đềnghiêm trọng, theo Dược sĩ trưởng Hiệp hội Dược phẩm Quốc gia (NPA) LeylaHannbeck, những điều này có thể dẫn đến việc bệnh nhân hiểu sai lời khuyên hoặchướng dẫn cách sử dụng thuốc Có rất nhiều rủi ro: bao gồm cả tuân thủ kém và rủi
ro cho sự an toàn của bệnh nhân
1.4 Thiết kế giáo trình TACN Dược 1 và 2 trường ĐH Nguyễn Tất Thành
1.4.1 Tiếng Anh chuyên ngành 1
Sách “Tiếng Anh chuyên ngành” (Bộ Y tế - 2009) được biên soạn dựa trênchương trình Giáo dục của trường Đại học Y Hà Nội trên cơ sở chương trình khung
đã được phê duyệt Sách được các nhà giáo giàu kinh nghiệm và tâm huyết của bộmôn Ngoại ngữ Trường Đại học Y Hà Nội biên soạn với phương châm: Kiến thức
cơ bản, hệ thống, nội dung chính xác, khoa học, cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹthuật hiện đại và thực tiễn Việt Nam
Sách “Tiếng Anh chuyên ngành” đã được Hội đồng chuyên môn thẩm địnhsách và tài liệu dạy – học khối ngành Khoa học Sức khỏe của Bộ Y tế thẩm địnhnăm 2009 Bộ Y tế quyết định ban hành là tài liệu dạy – học đạt chuẩn chuyên môncủa ngành Y tế trong giai đoạn hiện nay
Mục tiêu của cuốn sách nhằm giới thiệu các cấu trúc ngữ pháp cơ bản, cácthuật ngữ và các cấu trúc ngữ pháp trong y học thông dụng thông qua các bài đọchiểu, bài hội thoại, bài tập ngữ pháp và bài đọc thêm
Sách “Tiếng Anh chuyên ngành” bao gồm 19 bài (UNIT):
Trang 33UNIT 18: TRADITIONAL MEDICINE
UNIT 19: FIRE SAFETY
Mỗi bài gồm 3 phần (Section 1, 2, 3) Nội dung các phần như sau:
+ Section 1: Các bài đọc hiểu và câu hỏi kiểm tra kỹ năng đọc hiểu.
+ Section 2: Các bài hội thoại có cấu trúc câu để luyện kỹ năng giao tiếp
trong văn phong Khoa học Sức khỏe
+ Section 3: Các bài tập ngữ pháp đi từ dễ đến khó, bao trùm các cấu trúc
ngữ pháp cơ bản của tiếng Anh và bài đọc thêm để học viên tự nghiên cứu
1.4.2 Tiếng Anh chuyên ngành 2
“English for the Pharmaceutical Industry” (Oxford University Press) - TiếngAnh cho ngành dược phẩm được biên soạn nhằm đáp ứng nhu cầu đặc biệt chonhững người cần giao tiếp hiệu quả bằng tiếng Anh trong ngành dược phẩm Cuốnsách sẽ trang bị cho người học các kỹ năng ngôn ngữ và từ vựng chuyên ngành cầnthiết để hiểu các tình huống hàng ngày trong môi trường làm việc của họ
Sách “English for the Pharmaceutical Industry” gồm 6 bài và bao gồm toàn
bộ quá trình phát triển thuốc Bài 1 giới thiệu các chủ đề cụ thể cho lĩnh vực này.Bài 2 đề cập đến nghiên cứu và phát triển thuốc, và bài 3 bao gồm kiểm soát chấtlượng và kiểm nghiệm Bài 4 xem xét các giai đoạn thử nghiệm khác nhau, và sau
đó chuyển sang các yêu cầu về an toàn và các quy định về thuốc trong bài 5 Bài
Trang 34cuối cùng đề cập đến việc sản xuất và đóng gói thuốc Các bài học được trình bày theo một trình tự logic:
UNIT 1: THE KICK-OFF MEETING
Job profiles, professions, and departments
New drug development and launches
Cultural differences in marketing drugs and medicine
UNIT 2: SUBSTANCE DISCOVERY AND PRODUCT
DEVELOPMENT A new chemical entity (NCE)
Drug dosage forms
Categories of drugs
UNIT 3: QUALITY ASSURANCE AND
AUDITING Good pharmaceutical industry
practice (GxP) Quality assurance audits
Laboratory safety systems
Standard operating procedures
UNIT 4: READY FOR TESTING IN LIVE ORGANISMS
Preclinical testing
Clinical testing
Dealing with authorities
Experimental drugs on trial
UNIT 5: DRUG SAFETY AND REGULATORY
AFFAIRS Pharmacovigilance
Regulatory documentation
Patient information
Counterfeit medicines
UNIT 6: PRODUCTION AND
PACKAGING Safety requirements
Production processes
Packaging challenges
Trang 351.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.5.1 Tài liệu nước ngoài
Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu và tài liệu viết về lĩnhvực giảng dạy và học tập tiếng Anh chuyên ngành như Hutchinson and Waters(1987), Dudley-Evans.T and St John M J (1987), Douglas, D (2000), Allen, V F.(1983) Các tác giả này đã đề cập đến nhiều khía cạnh giảng dạy môn TACN nhưphân tích nhu cầu người học, thiết kế giáo trình, các phương thức đánh giá ngườihọc TACN, những yếu tố chủ quan và khách quan mà người dạy và học môn TACNthường phải đối mặt Từ đó, các tác giả này đã đưa ra rất nhiều nguyên lý giảng dạykiến thức ngôn ngữ TACN Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này đều thực hiện ởtầm vĩ mô trên những đối tượng nghiên cứu rất rộng
1.5.2 Tài liệu trong nước
Hơn nữa, ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu có liên quan đến việcgiảng dạy tiếng Anh chuyên ngành như Nguyễn Thị Việt Huyền (2005), NguyễnThị Ngọc Tuyết (2010) Các nghiên cứu này đã tìm hiểu những khó khăn gặp phảitrong việc giảng dạy - học tập và đề xuất một số phương pháp giảng dạy tiếng Anhchuyên ngành cho sinh viên một số trường cao đẳng, đại học trong nước Tuy nhiên,hầu hết những đề xuất của các nghiên cứu này chỉ phù hợp với đối tượng sinh viên
cụ thể trong bối cảnh nghiên cứu được thực hiện, nên không thể áp dụng cho sinhviên của trường Đại học Nguyễn Tất Thành
Trên cở sở đánh giá, xem xét các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước,
đề tài này là công trình nghiên cứu đầu tiên tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
đi sâu tìm hiểu một số nhu cầu học tập và khó khăn trong việc học TACN cho sinhviên Dược để từ đó có các kiến nghị đề xuất cần thiết nhằm nâng cao chất lượnggiảng dạy và học tập môn TACN
Trang 36CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng tham gia nghiên cứu
Sinh viên Dược năm thứ 4 (Khóa 2014 – 2019) ĐH chính quy - Trường ĐHNguyễn Tất Thành đã tham gia học tập Tiếng Anh chuyên ngành 1 và 2 trước thờigian tiến hành khảo sát
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Khảo sát nhu cầu, khó khăn trong việc học Tiếng Anh chuyên
ngành của sinh viên Đại học chính quy khóa 2014 khoa Dược Trường ĐHNguyễn Tất Thành
- Thời gian: từ tháng 07/2018 đến tháng 09/2018.
2.3 Phương pháp lấy số liệu
Bài nghiên cứu sử dụng 2 phương pháp để thu thập dữ liệu: định tính (phỏngvấn) và định lượng (khảo sát online)
2.3.1 Khảo sát online
2.3.1.1 Xây dựng bảng câu hỏi
Việc xây dựng bảng câu hỏi bao gồm một vài bước Đầu tiên, phải xem xétcác tài liệu liên quan Bước tiếp theo tạo bảng câu hỏi dự kiến và gửi đến 5 sinhviên khoa Dược khóa 14, kèm lời yêu cầu nhận xét về hình thức và nội dung các câuhỏi Cuối cùng, sau khi tham khảo ý kiến của GVHD, bảng câu hỏi hoàn chỉnh đãđược sử dụng trong việc thu thập dữ liệu
Áp dụng công thức xác định cỡ mẫu với dân số xác định:
Trang 37Kết luận: Cần khảo sát tối thiểu 174 SV Số lượng bảng câu hỏi thu về được là 201.
2.3.1.2 Nội dung bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi khảo sát được mở đầu bằng lời kêu gọi SV tham gia vào nghiêncứu bằng cách giải thích rằng sự tham gia của họ là rất quan trọng và hữu ích, và yêu cầu SV đưa ra những câu trả lời trung thực Đồng thời mô tả mục đích của nghiên cứu, đảm bảo ẩn danh, cùng lời cảm ơn đến những người tham gia
https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSd3M_pL7ZGJpjo0XkLQKb1_ll7Y0r gwnMWM0IbLN_4GpRU5Ig/viewform
Bảng câu hỏi khảo sát gồm 10 câu (Xem PL-1), bao gồm:
2 câu hỏi mở: câu 2 và câu 10
8 câu hỏi đóng, bao gồm: 1 câu hỏi phân đôi (câu 1), 1 câu hỏi nhiều lựa chọn (câu 3) và 6 câu hỏi đánh giá dựa trên thang đo Likert 4 điểm
buộc lựa chọn, nhằm hạn chế trường hợp một số người tham gia lựachọn mức trung gian thay vì đưa ra ý kiến rõ ràng (Brown, 2001;
- Mục đích học TACN
- Đánh giá tầm quan trọng của TACN
- Đánh giá tầm quan trọng của mỗi kỹ năng (Speaking, Listening,Reading, Writing, Pronunciation, Grammar, Pharmaceutical
Vocabulary) Câu 6: Đánh giá khóa học trong việc nâng cao những kỹ năng Câu 7: Những khó khăn trong việc học TACN Gồm 21 câu hỏi nhỏ được
chia thành 3 nhóm
- Những khó khăn liên quan đến SV (11 câu đầu): Động lực học và kiến
thức nền (Trình độ tiếng Anh tổng quát)
- Những khó khăn liên quan đến giảng viên (4 câu tiếp): Phương pháp dạy
và trình độ của giảng viên
Trang 38- Những vấn đề khác (6 câu cuối): Thời gian, tài liệu tham khảo, giáo
trình, số lượng SV mỗi lớp
Câu 8, 9: Đánh giá khóa học dựa trên mục tiêu trong đề cương chi tiết Bao
gồm 9 câu hỏi nhỏ dựa trên 3 mục tiêu:
- Kiến thức (3 câu đầu): Ngữ pháp và từ vựng.
- Kỹ năng (4 câu tiếp): Nghe, nói, đọc, viết TACN và áp dụng một cách
Lời mời tham gia phỏng vấn với đảm bảo ẩn danh được gửi đến 10 sinh viên
đã tham gia khảo sát online, sau khi nhận được sự đồng ý, nội dung câu hỏi (xemPL-2) được gửi đến các bạn trước khi phỏng vấn khoảng 20 phút Người nghiên cứutrong vai trò là người phỏng vấn tổ chức cuộc phỏng vấn dưới dạng cuộc trò chuyệnnhằm tạo không khí thoải mái cho người được phỏng vấn
2.4 Quy trình thu thập và phân tích số liệu
Tạo bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến với 10 câu hỏi Bảng câu hỏi khảo sátsau đó được gửi đến sinh viên Khóa 14 – Khoa Dược trường Đại học Nguyễn TấtThành và cung cấp đủ thời gian cho các bạn đọc và trả lời cẩn thận Sau thời gian 1tuần, các biểu mẫu trả lời được gửi về sẽ được xem xét và tiến hành phỏng vấn trựctiếp một số SV đối với những câu hỏi chưa xác định số liệu cụ thể