1.1 DLCĐvà đề án phát triển du lịch cộng đồng 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của DLCĐ(DLCĐ) * Khái niệm DLCĐ: Du lịch là một hành động di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên của con người đến những vùng miền mới trong nội địa hoặc nước ngoài nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ như tham quan, tìm hiểu, giải trí… trong một khoảng thời gian đã được định trước. Hiện nay trên thế giới, dựa vào những yếu tố khác nhau mà hình thành nên nhiều hình thức du lịch khác nhau phục vụ cho các nhu cầu của con người. Ví dụ căn cứ vào phạm vị lãnh thổ chúng ta có loại hình du lịch quốc tế hay du lịch nội địa; Căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách mà có loại hình du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi giải trí, du lịch thể thao, du lịch tôn giáo, du lịch khám phá; Căn cứ vào phương tiện giao thông chúng ta có loại hình du lịch bằng xe đạp, du lịch tàu hỏa, du lịch biển, du lịch hàng không; căn cứ vào đặc điểm địa lý có du lịch miền biển, du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch đồng quê; căn cứ hình thức du lịch có du lịch theo đoàn, du lịch cá nhân..... DLCĐlà một loại hình du lịch ra đời và phát triển từ những năm 80 của thập kỷ trước. Nguồn gốc của DLCĐ(DLCĐ) phát sinh từ các thuật ngữ có trước như “du lịch nông thôn”, “du lịch làng” vốn là những mô hình phát triển kinh tế nông thôn. Do nhu cầu ngày càng gia tăng về sự tham gia hiệu quả của cộng đồng vào những mô hình phát triển du lịch nông thông nói trên, thuật ngữ “Du lịch cộng động” bắt đầu phát triển. Hiện nay, DLCĐ trở thành một thuật ngữ căn bản trong từ vựng chuyên ngành du lịch và quy hoạch phát triển. Về định nghĩa du lịch cộng đồng, hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Có định nghĩa cho rằng "DLCĐ là một hình thức du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương" . Còn có một quan điểm khác thì cho rằng du lịch cộng đồng là một “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội. DLCĐ do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ” . Theo tiếng Anh thì DLCĐ được viết là Community – Based toursm. “Community” có nghĩa là cộng đồng hay hiểu một cách khác nghĩa là một nhóm người có chung một đặc điểm, thường theo tiêu chí về địa lý, chủ yếu để nói về cộng đồng nông thôn, địa phương riêng biệt hoặc có mối kết nối về di sản văn hóa. “Based toursm “ là du lịch có nền tảng, có nguồn gốc. DLCĐ được khởi xướng là mục tiêu cơ bản trong quá trình thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương. Bên cạnh đó DLCĐ cũng hướng tới bảo tồn văn hóa và môi trường hay góp phần nâng cao năng lực quản lý địa phương, tạo lập nguồn vốn xã hội. Việc phát triển các sản phẩm DLCĐ là phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng nhu cầu khám phá của đông đảo du khách muốn tìm hiểu văn hóa dân tộc đặc sắc. Tuy nhiên, muốn phát triển DLCĐ thì cần phải giữ được giá trị cốt lõi của cộng đồng. Giá trị cốt lõi đó chính là việc gìn giữ nguyên gốc văn hóa bản địa, và phải có trách nhiệm với xã hội. Từ các khái niệm nêu trên có thể hiểu: DLCĐ là một hình thái du lịch do cộng đồng sở hữu, trong đó giữ nguyên gốc văn hoá bản địa, tôn trọng cộng đồng, hướng tới phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sống tại địa phương, và người dân phải được hưởng lợi từ sự phát triển du lịch của địa phương. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN VÂN HỒ
Trang 1du lịch nội địa; Căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách mà có loại hình du lịchchữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi giải trí, du lịch thể thao, du lịch tôn giáo, du lịch khám phá; Căn cứ vào phương tiện giao thông chúng ta có loại hình du lịch bằng
xe đạp, du lịch tàu hỏa, du lịch biển, du lịch hàng không; căn cứ vào đặc điểm địa
lý có du lịch miền biển, du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch đồng quê; căn cứ hình thức du lịch có du lịch theo đoàn, du lịch cá nhân
DLCĐlà một loại hình du lịch ra đời và phát triển từ những năm 80 của thập
kỷ trước Nguồn gốc của DLCĐ(DLCĐ) phát sinh từ các thuật ngữ có trước như
“du lịch nông thôn”, “du lịch làng” vốn là những mô hình phát triển kinh tế nông thôn Do nhu cầu ngày càng gia tăng về sự tham gia hiệu quả của cộng đồng vào
Trang 2những mô hình phát triển du lịch nông thông nói trên, thuật ngữ “Du lịch cộng động” bắt đầu phát triển Hiện nay, DLCĐ trở thành một thuật ngữ căn bản trong
từ vựng chuyên ngành du lịch và quy hoạch phát triển
Về định nghĩa du lịch cộng đồng, hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau
Có định nghĩa cho rằng "DLCĐ là một hình thức du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương"1 Còn có một quan điểm khác thì cho rằng du lịchcộng đồng là một “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội DLCĐ do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ”2 Theo tiếng Anh thì DLCĐ được viết là Community – Based toursm “Community”
có nghĩa là cộng đồng hay hiểu một cách khác nghĩa là một nhóm người có chung một đặc điểm, thường theo tiêu chí về địa lý, chủ yếu để nói về cộng đồng nông thôn, địa phương riêng biệt hoặc có mối kết nối về di sản văn hóa “Based toursm “
là du lịch có nền tảng, có nguồn gốc
DLCĐ được khởi xướng là mục tiêu cơ bản trong quá trình thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương Bên cạnh đó DLCĐ cũng hướng tới bảo tồn văn hóa và môi trường hay góp phần nâng cao năng lực quản lý địa phương, tạo lập nguồn vốn
xã hội Việc phát triển các sản phẩm DLCĐ là phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứngnhu cầu khám phá của đông đảo du khách muốn tìm hiểu văn hóa dân tộc đặc sắc Tuy nhiên, muốn phát triển DLCĐ thì cần phải giữ được giá trị cốt lõi của cộng đồng Giá trị cốt lõi đó chính là việc gìn giữ nguyên gốc văn hóa bản địa, và phải
có trách nhiệm với xã hội
1 Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas, Nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng cộng đồng, 2009
2 Tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997)
Trang 3Từ các khái niệm nêu trên có thể hiểu:
DLCĐ là một hình thái du lịch do cộng đồng sở hữu, trong đó giữ nguyên gốc văn hoá bản địa, tôn trọng cộng đồng, hướng tới phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sống tại địa phương, và người dân phải được hưởng lợi từ sự phát triển du lịch của địa phương.
Tính bền vững của DLCĐđược thể hiện qua 3 khía cạnh:
Thứ nhất là kinh tế bền vững: Kinh tế được xem là bền vững nếu như cộng đồng có thể tự tạo lập cuộc sống của mình dựa trên những công cụ và cơ sở vật chất được cung cấp.Việc tạo ra thu nhập cần phải nằm trong chính cộng đồng vì lợiích của người địa phương
Thứ hai là xã hội bền vững: Bất kỳ một thay đổi nào ở một địa bàn nhỏ cũng
sẽ làm thay đổi tình hình xã hội tại địa bàn đó Xã hội chỉ bền vững nếu sự thay đổi
do tác động của DLCĐ vẫn đảm bảo có thể chấp nhận được về mặt xã hội và có thểgóp phần hợp lý vào lợi ích của cộng đồng và tạo dựng nguồn vốn xã hội cho tương lai
Thứ ba là môi trường bền vững: Nghĩa là du lịch cộng góp phần nâng cao bảo tồn các giá trị văn hóa, môi trường cảnh quan nơi diễn ra hình thức du lịch
* Điều kiện phát triển DLCĐ:
DLCĐ là loại hình du lịch tương đối mới mẻ, nó dựa trên sự tò mò, mong muốn của khách du lịch để tìm hiểu thêm về cuộc sống hàng hằng ngày của người dân từ các nền văn hóa khác nhau Như vậy, ở đâu có thể phát triển được du lịch cộng đồng?
- DLCĐ có thể phát triển được tại nơi có tài nguyên du lịch – nơi có thể làm
Trang 4du lịch Tài nguyên du lịch ở đây được chia thành hai nhóm chính bao gồm tài nguyên liên quan đến yếu tố văn hóa và tài nguyên liên quan đến nguồn tự nhiên
Tài nguyên văn hóa bao gồm: Dân tộc thiểu số/ hoặc có tính chất đa văn hóa; Các màn biểu diễn tại địa phương; Điểm tham quan lịch sử; Nghệ thuật và hàng thủ công; Cảnh quan văn hóa; Cây trồng đặc biệt và thực hành làm nông; Đặcsản ẩm thực; Hoạt động thường ngày của cộng đồng
Tài nguyên thiên nhiên: Công viên/ khu vực thiên nhiên; Đường xá; Động thực vật; Các điểm tham quan đặc biệt; Hoạt động thể thao…DLCĐ cần sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên thiên nhiên, duy trì các tiến trình sinh thái chủ yếu và giúp bảo tồn nguồn tự nhiên và hệ sinh thái được thừa hưởng
- Để hình thành và phát triển được DLCĐ thì ngoài nguồn tài nguyên du lịchcòn phải có các yêu tố hạ tầng cơ sở tốt như chỗ ở, giao thông, thông tin liên lạc, dịch vụ lưu trú, toàn toàn, nguồn nhân lực …
- Muốn phát triển loại hình du lịch cộng đồng, cần phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể đối với cộng đồng nhằm tạo ra một định hướng đúng và bước đi đúng đắn Các yêu cầu đó bao gồm:
+ Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực hiện và quản lý, đầu tư và có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng Bởi lẽ mở đầu
của quá trình quy hoạch, nguồn lực ban đầu để phát triển sản phẩm du lịch không thể bỏ qua sự đóng góp của cộng đồng cư dân trong việc đưa ra các ý tưởng, các phương án thực thi, sự kỳ vọng của mô hình Vì gắn liền với quyền lợi của chính dân cư trong cộng đồng nên mức độ phát triển cộng đồng đóng góp vào quá trình thành công của đề án du lịch
+ Phù hợp với khả năng của cộng đồng DLCĐ là một quá trình hay nói
Trang 5đúng hơn là một sản phẩm du lịch, nó được tổng hòa giữa du lịch tổng quát và du lịch cụ thể để hướng tới phát triển bền vững Vì vậy phát triển loại hình du lịch nàycần phải xem xét đến khả năng đáp ứng của cộng đồng đối với sản phẩm để thiết
kế sản phẩm phù hợp, không vượt quá tiềm năng của cộng đồng để các mối liên kết trong cộng đồng không bị phá vỡ và được vững bền Do vậy DLCĐ cần phải phát triển theo hướng đặc thù của mỗi vùng, miền, địa phương, thường sẽ tổ chức riêng lẻ, quy mô nhỏ, có mức độ thương mại vừa phải và phải do chính cộng đồng địa phương quản lý
+ Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng Trong bối cảnh của DLCĐ , du
lịch có thể được hiểu theo nghĩa rộng đầy đủ bao gồm cả sự nghỉ ngơi/ giải trí trong ngày, học hỏi, giao dục, từ thiện, tâm linh và tình nguyện Bản chất hoạt động du lịch chính là kinh doanh vì vậy bất kỳ một sản phẩm du lịch nào cũng không thể thiếu tính khả thi về kinh tế Tham gia vào DLCĐ có 4 thành phần chínhliên quan là cộng đồng cư dân, thành phần tư nhân, quản lý địa phương và các tổ chức đào tạo, các thành phần này đều tham gia vào quá trình phát triển DLCĐ nên
sẽ phải nhận được lợi ích từ hoạt động đó Nếu như một trong những thành phần này không nhận được lợi ích, DLCĐ sẽ mất đi sự gắn kết, tính bền vững sẽ bị thay đổi và dự án có thể bị thất bại
+ Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với tài nguyên và văn hoá Phát triển DLCĐ dựa vào các tiềm năng sẵn có của địa phương như tài
nguyên thiên và văn hóa Do vậy DLCĐ muốn phát triển bền vững thì chính nhữngngười dân địa phương phải giữ gìn tài nguyên và văn hóa vốn có của địa phương,
để những tài nguyên đó không bị mai một, không bị thay đổi và ngày một phát triển
+ Đảm bảo cung cấp, phân bổ công bằng các lợi ích kinh
Trang 6tế - xã hội một cách ổn định đến cộng đồng địa phương và tất
cả những người có liên quan.
1.1.2 Đề án phát triển DLCĐ
Đề án - plan the work for a project chính là loại văn bản, được xây dựng
theo hệ thống về những công việc cần phải làm, được nêu ra để thảo luận, thông qua và trình cấp quản lý/ cấp có thẩm quyền để phê duyệt Khi đề án được phê duyệt, sẽ tạo nên những dự án, chương trình hoặc đề tài làm việc theo định hướng của đề án
Đối với ngành du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng, đề án phát triển loại hình du lịch này chính là văn bản trình bày có tính hệ thống về kế hoạch và giải pháp phát triển tại một địa bàn cụ thể và được cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án phát triển du lịch ở một vùng, một huyện tại một tỉnh sẽ do ủy ban nhân dân
tỉnh/thành phố phối hợp với Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh của tỉnh/thành phố đó lập và trình phê duyệt
Một đề án phát triển du lịch thường có một số nội dung sau:
a Tình cần thiết và lý do thực hiện đề án;
b Các tiêu chí lựa chọn địa điểm triển khai thực hiện đề án;
c Các cơ sở pháp lý và văn bản liên quan đến việc xây dựng đề án;
d Thông tin chung về đề án:
- Tên đề án
- Quy mô, phạm vi và nội dung của đề án:
+ Địa điểm và phạm vi trên địa bàn và hỗ trợ nâng cao năng lực hạt độngdịch vụ du lịch cho cộng đồng tại các địa phương triển khai du lịch cộng đồng
Trang 7+ Đánh giá hiện trạng, phân tích các yếu tố thuận lợi và khó khăn của cácđịa phương khi triển khai đề án:
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của các địa phương triển khai đề án
Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội;
Hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Các yếu tố phát triển du lịch cộng đồng
Định hướng phát triển du lịch cộng đồng
- Các nội dung hỗ trợ cho công đồng hoạt động du lịch
- Thời gian thực hiện đề án
- Khái quát kinh phí của đề án
- Các giải pháp và kế hoạch thực hiện
- Tổ chức quản lý và đánh giá hiệu quả đề án:
+ Giám sát quá trình triển khai thực hiện mô hình;
+ Giám sát quá trình vận hành mô hình;
+ Đánh giá thực trạng du lịch của địa phương từ khi triển khai mô hình dulịch cộng đồng: Số lượng khách du lịch, tình hình xã hôi, văn hóa; tình hình kinh tếđịa phương; mô hình có phát triển theo hướng bền vững không; có đạt đươc mụctiêu mà đề án đưa ra không
Trang 8phương Vì vậy việc triển khai đề án phát triển DLCĐ là đưa đề án vào cuộc sốngthông qua quá trình hành động của chính quyền và cộng đồng, vì vậy nó có vai trò
vô cùng quan trọng đối với sự thành công của Đề án Từ đó có thể hiểu:
“Tổ chức thực hiện đề án phát triển DLCĐ trên địa bàn huyện là quá trình biến đề án thành những kết quả thực tế, thông qua hoạt động có tổ chức của bộ máy chính quyền huyện phối hợp với các tổ chức khác và các hộ gia đình nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà đề án đề ra’’.
Trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn đi sâu nghiên cứu quá trình tổ chứcthực hiện đề án trong đó chủ thể chịu trách nhiệm chính trong tổ chức thực hiện Đề
án là chính quyền huyện Việc triển khai Đề án sẽ được thực hiện qua các bước cụthể và theo một lộ trình nhất định đã được phê duyệt
1.2.1.2 Mục tiêu của tổ chức thực hiện đề án phát triển du lịch cộng đồng
- Phát triển mô hình DLCĐ, khai thác có hiệu quả các tài nguyên du lịch
- Hỗ trợ các hộ gia đình làm DLCĐ để tạo thêm nguồn thu nhập, góp phầnxóa đói giảm nghèo
- Hỗ trợ, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về việc bảo tồn và phát huy cácgiá trị văn hoá truyền thống, bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu các tác động tiêucực lên tài nguyên thiên nhiên của từng địa phương
- Nâng cao năng lực cho các cán bộ huyện, xã làm công tác quản lý DLCĐ;nâng cao năng lực hoạt động DLCĐ cho các hộ gia đình
3.2.1 Nội dung của tổ chức thực hiện đề án phát triển du lịch cộng đồng
Quá trình tổ chức thực hiện đề án phát triển DLCĐ được thể hiện ở Hình 1.1dưới đây:
Trang 9Giai đoạn 1: Chuẩn bị triển khai
Giai đoạn 2: Chỉ đạo thực hiện
Vận hành các nguồn vốn thực hiện đề án
Phối hợp với các
cơ quan ban, ngành
Cung cấp dịch vụ hỗ trợ
Giai đoạn 3: Giám sát việc thực hiện đề án
Xây dựng hệ thống
thông tin phản hồi
Giám sát đánh giá việc thực hiện đề
án
Điều chỉnh thực hiện
Tổng kết và đưa ra sáng kiến hoàn thiện
Hình 1.1: Quá trình tổ chức thực hiện đề án phát triển du lịch cộng đồng
Nguồn: Giáo trình Chính sách KT-XH
Trang 103.1 Chuẩn bị triển khai đề án
Chuẩn bị tốt các vấn đề trước khi triển khai đề án có ý nghĩa rất quan trọng đối với cả quá trình thực hiện Trong giai đoạn này các công việc cần được thực hiện như sau:
a Xây dựng bộ máy tổ chức thực hiện đề án phát triển DLCĐ trên địa bàn huyện.
Đầu tiên, chính quyền huyện phải xây dựng một bộ máy tổ chức thực hiện
đề án (gọi là ban quản lý đề án) và giao nhiệm vụ chính thức cho bộ máy này Nênhạn chế số đơn vị (phòng ban) chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đề án tới mứcthấp nhất có thể Đề án phát triển DLCĐ có ảnh hưởng rộng lớn về các mặt kinh tế,chính trị, xã hội nên trong bộ máy tổ chức thực hiện có nhiều đơn vị phối hợp cùngtham gia trong quá trình thực hiện Cần xác định rõ chức năng, quyền hạn, nhiệm
vụ, trách nhiệm của cơ quan chủ chốt và các cơ quan phối hợp thực hiện Trong đócó:
- Một đơn vị đứng ra làm đầu mối thực hiện, chịu trách nhiệm chính trongquá trình tổ chức thực hiện đề án này Đơn vị đó phải có đầy đủ năng lực để thựchiện chương trình Chú ý đã giao đơn vị chịu trách nhiệm chính trong tổ chức thựchiện đề án này thì không nên giao chương trình khác đồng thời vì khối lượng côngviệc quá nhiều sẽ khó khăn thực hiện, ảnh hưởng đến chất lượng kết quả và hiệuquả thực hiện Đối với đề án phát triển DLCĐ trên địa bàn huyện thì đầu mối thựchiện đề án thường là phòng Văn hóa – Thông tin và Trung tâm Văn hóa huyện
- Một số đơn vị, phòng ban có nhiệm vụ phối hợp thực hiện để thúc đẩy việcthực hiện đề án, việc phối hợp thực hiện không tốt sẽ cản trở việc thực hiện thànhcông của chương trình
- Ngoài ra đề án phát triển DLCĐ còn được UBND huyện ủy thác một số nội
Trang 11dung công việc cho các cơ quan, đơn vị, đoàn thể như: Hội nông dân, Hội phụ nữ,Hội cựu chiến binh, Đoàn TNCS HCM Cho nên bộ máy chỉ đạo thực hiện đề áncòn có sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội này
Nhân sự ttrong bộ máy không nên quá cồng kềnh nhưng phải đủ về sốlượng, thành phần và năng lực để thực hiện đề án
b Ra văn bản hướng dẫn và lập kế hoạch triển khai
Phòng văn hóa - thông tin là cơ quan chủ trì và tham mưu cho UBND huyệnban hành các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa đề án và tạo hành lang pháp lý thựchiện đề án phát triển DLCĐ
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, phòng văn hóa – thông tin sẽ xâydựng các kế hoạch triển khai để đưa đề án vào thực tế Một số kế hoạch cụ thể như:
kế hoạch phân bổ các nguồn kinh phí, kế hoạch tập huấn, kế hoạch phối hợp, kếhoạch hỗ trợ các xã, bản Các kế hoạch triển khai đề án phải được xác định một cách
rõ ràng các mục tiêu, các công việc phải làm, thời gian triển khai thực hiện, sự phân
bổ các nguồn lực để thực hiện theo từng giai đoạn của đề án
c Tổ chức tập huấn
Tổ chức các buổi tập huấn cho cán bộ nhân viên của Ban quản lý đề án có liênquan đến tổ chức thực hiện đề án phát triển DLCĐ và cho các hộ gia đình tham gialàm du lịch là nội dung rất quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị thực hiện Để thựchiện đề án phát triển DLCĐ, phòng văn hóa - thông tin với trách nhiệm là cơ quanchủ trì thực hiện sẽ phải tập huấn cho cán bộ văn hóa – thông tin của huyện, xã để
họ nắm bắt được chủ trương chính sách của nhà nước về phát triển DLCĐ, về nộidung đề án, về tổ chức thực hiện đề án, các kiến thức và kỹ năng cần thiết đối vớicán bộ thực hiện đề án
Đồng thời phải tổ chức cho các hộ đang kinh doanh DLCĐ đi tham quan, học hỏi những mô hình DLCĐ,khác đang triển khai Điều này sẽ giúp các hộ kinh doanh đưa ra quyết định nên triển khai loại hình DLCĐ,hay không cũng như giúp
Trang 12người dân đúc rút những kinh nghiệm để triển khai đề án tốt hơn
1.2.2.2 Chỉ đạo thực hiện đề án
Chỉ đạo thực hiện đề án phát tiển DLCĐ, đưa đề án vào thực tiễn cuộc sốngbao gồm các công việc sau:
a Thông tin, tuyên truyền về chương trình
Công tác truyền thông là một bước quan trọng trong việc triển khai đề án,công tác truyền thông giúp cho mọi người trước hết là các đối tượng của đề án biết
và hiểu được lợi ích và về nội dung của đề án từ đó ủng hộ và thực hiện đề án mộtcách tích cực Công tác truyền thông có thể thông qua các phương tiện thông tinđại chúng như: truyền hình, truyền thanh, báo đài, website và thông qua mạnglưới cán bộ cơ sở sẽ giúp đưa nội dung đề án đến các đối tượng một cách sâu rộng
b Thực hiện các kế hoạch triển khai
Việc thực hiện các kế hoạch của đề án là công việc rất cần thiết để triển khaicác mô hình đạt hiệu quả và tập trung các nguồn lực vào thực hiện các mục tiêu đểđạt được kế hoạch trên thực tế Quá trình thực hiện các kế hoạch triển khai đã đượclập đòi hỏi phải được giám sát một cách chặt chẽ, định kỳ thực hiện đánh giá lạiquá trình triển khai đề án để có những điều chỉnh cho phù hợp
c Vận hành các nguồn vốn
Vận hành các nguồn vốn là quản lý việc huy động và sử dụng nguồn kinhphí để thực hiện đề án Việc vận hành các nguồn vốn phải đảm bảo sự quản lýthống nhất theo đúng các quy định của nhà nước đối với các nguồn quỹ, tập trungđược các nguồn lực cho việc thực hiện đề án đạt hiệu lực và hiệu quả cao Cácnguồn vốn được sử dụng gồm: ngân sách trung ương; ngân sách địa phương;UBND huyện huy động từ các nguồn vốn xã hội hóa
Trong quá trình thực hiện đề án, UBND huyện cần phải tích cực huyđộng các nguồn đầu tư bên ngoài ngân sách như các tổ chức xã hội, doanh
Trang 13Sử dụng các nguồn kinh phí cho các nội dung chi tiêu sau:
- Đầu tư vốn cho các hộ gia đình tham gia làm du lịch
- Trả lương cho cán bộ thực hiện
- Xây dựng cơ sở vật chất để thực hiện đề án
- Mua sắm các trang thiết bị cần thiết phục vụ quá trình thực hiện
Tiếp theo việc huy động là việc sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích và
có hiệu quả cũng ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả thực hiện đề án
d Phối hợp thực hiện
Xác định các bên liên quan đến DLCĐ, đó là những người tham gia gián tiếp
và trực tiếp hoặc bị ảnh hưởng bởi các hoạt động DLCĐ Các bên liên quan này phải có sự phối hợp với nhau để đạt được mục tiêu chung của đề án, phù hợp và đem lại lợi ích của cộng đồng cũng như của xã hội
- Đề án phát triển DLCĐ được triển khai thực hiện bởi rất nhiều các chủ thể khác nhau từ chính quyền, UBND huyện, cho đến phòng ban chuyên môn như như: Phòng Tài chính – Kế hoạch; Phòng Kinh tế - Hạ tầng; Phòng Tài Nguyên và Môi trường, các tổ chức đoàn thể xã hội bởi vậy UBND huyện cần có sự phối hợp chặt chẽ hoạt động với các tổ chức ban ngành trên để có thể phát huy tối đa nguồn nhân lực trong việc thực hiện mục tiêu của đề án Phối hợp chỉ đạt hiệu quả khi:
+ Các đơn vị phối hợp phải thực hiện theo đúng kế hoạch đã được xác lập ởgiai đoạn chuẩn bị triển khai, phải thể hiện được rõ các vấn đề: Cơ quan nào là đơn
vị đầu mối của phối hợp? Khi nào phối hợp? Cần phối hợp hoạt động của nhữngyếu tố nào? Công cụ phối hợp là gì? Công cụ đó vận hành như thế nào?
+ Sử dụng thông suốt, hợp lý các công cụ phối hợp, như: kế hoạch, cơ cấu
tổ chức, nhân sự, các cuộc họp giao ban
- Ngoài ra phải có sự phối hợp giữa đơn vị triển khai đề án và cộng đồng
Trang 14dân cư đối với đề án đã được phê duyệt Sự phối hợp này có thể thông qua đối thoại, đàm phán giữa tổ dự án và chính người dân địa phương để đưa ra sự thống nhất
e Phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ việc thực hiện đề án
Việc tổ chức thực hiện đề án phát triển DLCĐ, gắn liền với hệ thống dịch vụ
hỗ trợ cho các đối tượng của đề án UBND huyện chịu trách nhiệm phát triển các dịch
vụ hỗ trợ cho việc thực hiện đề án DLCĐ, tuy nhiên các chủ thể cung cấp dịch vụ cầnphải được đa dạng hóa Các dịch vụ hỗ trợ đó gồm: dịch vụ y tế, dịch vụ thông tin liênlạc, internet, giao thông, điện, nước sạch sinh hoạt, thủ tục hành chính về lưu trú
1.2.2.3 Giám sát thực hiện đề án
- Chủ thể giám sát gồm: Ban quản lý DLCĐ,huyện, ban quản lý DLCĐ xã, cán bộ quản lý trong bộ máy chỉ đạo Quá trình giám sát đánh giá có sự tham gia của tất cả các thành phần liên quan ở địa phương
- Nội dung giám sát gồm:
+ Xây dựng các kênh thông tin phản hồi chính thức và phi chính thức để giám sát thực hiện đề án phát triển DLCĐ Thông tin từ các kênh này sẽ giúp chínhquyền huyện kiểm soát các điều kiện phát triển DLCĐ,để bảo đảm các hộ gia đình,các xã làm du lịch phải đủ điều kiện và phù hợp với phát triển DLCĐ Điều này sẽ tránh được việc kinh doanh DLCĐ,khi không bảo đảm các nguồn lực và chất lượng, dễ dẫn đến thất bại Các điều kiện phù hợp để phát triển DLCĐ,chính là địa phương phải có tài nguyên du lịch phù hợp với loại hình du lịch cộng đồng; cơ sở
hạ tầng đủ để đáp ứng; có các dịch vụ phụ trợ như lưu trú, y tế, mua sắm; nước, điện… đủ để đáp ứng triển khai đề án
+ Qua giám sát việc thực hiện các hoạt động DLCĐ, chính quyền sẽ tiến hành đánh giá các ưu điểm, các hạn chế, các tác động về kinh tế, văn hóa và xã hội, các lợi
Trang 15ích, tính bền vững của DLCĐ,trên cơ sở thu thập các thông tin, số liệu thứ cấp và điềutra về tác động của DLCĐ đối với môi trường
+ Điều chỉnh thực hiện nếu có sai lệch, xử lý và kiến nghị xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật, quy định trong quá trình phát triển DLCĐ Tổng kết và đưa ra sáng kiến hoàn thiện, đổi mới việc thực hiện nhằm đạt kết quả tốt nhất
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện đề án phát triển DLCĐ
Để đưa được đề án phát triển DLCĐ đi vào thực tiễn là một quá trìnhkhông hề đơn giản, nhất là trong điều kiện tài chính của nhà nước còn hạn chế.Trong quá trình này chịu rất nhiều biến động, nhiều vấn đề phức tạp ngăn cảnviệc thực hiện Có thể chia ra làm 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thựchiện:
1.2.3.1 Các yếu tố thuộc về chính quyền huyện
a Tinh thần trách nhiệm, sự quyết tâm và năng lực của bộ máy chính quyềnhuyện, nhất là bộ máy lãnh đạo huyện
Sự thành công của đề án chịu ảnh hưởng rất nhiều vào bộ máy lãnh đạo; đề
án sẽ không phát huy tính hiệu quả, các mục tiêu bị bóp méo hoặc không thể trởthành hiện thực nếu bộ máy lãnh đạo quan liêu, thiếu sự quyết tâm và thiếu nănglực Bởi vì trong quá trình thực hiện đề án chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn tháchthức nên rất cần những người lãnh đạo có đủ quyết tâm vượt khó, hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao
b Thủ tục hành chính của UBND huyện
Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cần phải tạo ra được tính ổn định, khôngnên xáo trộn nhiều khi thực hiện Tuy nhiên khi các văn bản, quy định không cònphù hợp thì sẽ kìm hãm, gây khó khăn cho việc thực hiện, khi đó cần phải thay thếbằng các văn bản mới phù hợp với các điều kiện thực tế
Trang 16c Khả năng huy động các nguồn lực và việc ứng dụng CNTT vào công tácquản lý thực hiện Một đề án muốn thực hiện được đều đòi hỏi phải có mộtnguồn kinh phí Đối với các chính sách công nói chung cũng như đề án pháttriển DLCĐ nói riêng, nguồn kinh phí chủ yếu thường lấy từ ngân sách nhànước và một phần huy động từ nguồn xã hội hóa Ngay từ ban đầu phải dự trùđược các nguồn kinh phí, nếu không thì việc thực hiện đề án sẽ không khả thi Việc
sử dụng hợp lý nguồn kinh phí được giao là điều kiện cần thiết để thực hiện đề ánmột cách hiệu quả
1.2.3.2 Các yếu tố thuộc về các hộ gia đình tham gia làm du lịch
Trình độ, nhận thức, khả năng của các hộ gia đình làm du lịch suy cho cùng
là yếu tố trực tiếp để thực hiện hoạt động DLCĐ Gồm:
- Quy mô các hộ gia đình, trình độ nhận thức, kiến thức làm du lịch của họ.Nếu các hộ trình độ thấp thì chỉ thực hiện theo kiểu tự phát, nhỏ lẻ, chưa có quy
mô, thiếu chuyên nghiệp
- Kĩ năng làm du lịch của các hộ gia đình, chẳng hạn do thiếu kĩ năng tổchức nên mặc dù có tiềm năng nhưng chưa thành lập được các đội văn nghệ củabản, chưa xây dựng được các tour du lịch và thực đơn các món ăn tại khu du lịchcủa gia đình, bản, xã
- Khả năng tài chính của các hộ gia đình làm du lịch là yếu tố cần thiếtkhông thể thiếu, nhưng đây thường là yếu tố rất hạn chế vì mức sống của ngườidân còn thấp
Yếu tố này cho thấy chính quyền huyện cần quan tâm tổ chức các lớp tậphuấn về kỹ năng làm du lịch, các lớp dạy nấu ăn cho các hộ gia đình, xây dựng cáctuyến du lịch để cho khách du lịch có thể tiếp cận một cách rõ ràng và cụ thể hơnnữa
1.2.3.3 Các yếu tố khách quan
Trang 17- Cơ sở hạ tầng của huyện: Có cơ sở hạ tầng tốt thì mới thu hút được khách
du lịch, vì vậy quy hoạch cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng để phát triển DLCĐ.Chính quyền huyện nếu có sự quan tâm đầu tư về giao thông, điện, nước sinh hoạt
và đảm bảo về dịch vụ y tế tại các xã trên địa bàn huyện, đặc biệt là các xã thuộc
đề án phát triển DLCĐ, thì mới có thể thu hút được các đoàn du lịch đến thamquan, nghỉ dưỡng
- Luật pháp, chính sách nhà nước về phát triển du lịch: Đây là những rằngbuộc vĩ mô, đồng thời tạo khung pháp lý, tạo môi trường thuận lợi cho phát triểnDLCĐ Vì vậy việc thực hiện đề án phát triển DLCĐ, phải tuân thủ luật pháp,chính sách của nhà nước, các quy định của chính quyền cấp tỉnh trong phát triểnDLCĐ, không vi phạm các vấn đề về khai thác, sử dụng bừa bãi, lãng phí cácnguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường sinh thái, vi phạm trật tự anninh, an toàn xã hội
- Sự phát triển kinh tế- xã hội, mức sống và trình độ dân trí của ngườidân: Các yếu tố này xu hướng ngày càng cao, tạo ra nhu cầu ngày càng cao vềDLCĐ, đồng thời đòi hỏi DLCĐ cũng phải bảo đảm chất lượng Khi tổ chứcthực hiện Đề án phát triển DLCĐ phải tính đến những yếu tố ảnh hưởng này
1.3 Kinh nghiệm về tổ chức thực hiện đề án phát triển DLCĐcủa một số huyện và bài học rút ra cho huyện Vân Hồ
1.3.1 Kinh nghiệm của một số huyện trong tổ chức thực hiện đề án phát triển du lịch cộng đồng
1.3.1.1 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện đề án DLCĐtại huyện Mộc Châu
Theo đề án phát triển du lịch khu du lịch Mộc Châu thành khu du lịch trọng điểm quốc gia năm 2008 thì cụm du lịch phía Bắc và Phía Nam huyện Mộc Châu được định hướng phát triển loại hình DLCĐ Với các điểm du lịch cụ thể bao gồm:
- Điểm DLCĐ, bản Áng, xã Đông Sang;
Trang 18- Điểm DLCĐ,bản Búa, xã Đông Sang;
- Điểm DLCĐ,bản Nậm Khao, xã Tân lập;
- Điểm DLCĐ, bản Hoa, xã Tân Lập;
- Điểm du lịch đồi chè, Ngũ động bản Ôn
Định hướng phát triển này được triển khai cụ thể qua các giai đoạn sau: từ năm 2008- 2015: nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất phục vụ du lịch; Đào tạo
nguồn nhân lực; Xây dựng các chính sách bảo tồn và quản lý tài nguyên du lịch; Xây dựng quy chế và nội quy đối với du khách và dân địa phương; Quảng bá hình ảnh và thương hiệu về du lịch Mộc Châu Thu hút khách du lịch thông qua phối hợp và chia
sẻ thương hiệu với các vùng du lịch khác trong khu vực; giai đoạn 2 từ năm 2015- 2020: hoàn thiện đầu tư, tiến tới ổn định về khách du lịch Bước đầu đóng góp cho
ngân sách địa phương và trích một phần tái đầu tư du lịch Đạt mức tăng trường tối đavào các năm cuối của giai đoạn 2, GDP du lịch đạt 20 -40% trên tổng GDP toàn
huyện; giai đoạn 3 sau năm 2020: ổn định và phát bền vững, tự đảm bảo các nguồn
thu và chi để phát triển du lịch và đóng góp ngân sách quốc gia Phấn đấu đạt tỉ lệ tăng trưởng GDP du lịch đạt từ 50% -70% trên tổng GDP toàn huyện Hướng tới mục tiêu phát triển CN-DV phục vụ toàn diện cho du lịch
Với những định hướng trên, địa phương đã tiến hành tổ chức phát triển ngành du lịch một cách toàn diện, chia rõ các mục tiêu cụ thể theo các năm Việc phát triển du lịch được Mộc Châu chú trọng không chỉ ở các sản phẩm du lịch mà còn cả những hoạt động phụ trợ giúp du lịch phát triển như cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện công tác quy hoạch và quản lý các hoạt động đầu tư du lịch, bảo tồn phát triển tài nguyên tự nhiên, thu hút nguồn tài chính về du lịch, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, bảo vệ môi trường và xúc tiến quảng bá du lịch Đến nay, toàn huyện đã có 12 bản với trên 50 hộ tham gia kinh doanh du lịch
Trang 19cộng đồng Việc phát triển DLCĐ,góp phần khôi phục, xây dựng sản phẩm du lịch,giải quyết việc làm, cải thiện cuộc sống của người dân
Chính sự đồng bộ trong phát triển du lịch nên ngành du lịch Mộc Châu ngày càng phát triển mạnh mẽ trong những năm qua số lượng khách đến tham quan du lịch tại Mộc Châu không ngừng tăng, năm 2015 khách du lịch đến với Mộc Châu trong ước đạt 750.000 lượt khách, trong đó khách trong nước ước đạt 717.500 lượt,khách quốc tế ước đạt 32.500 lượt; tổng doanh thu xã hội ước đạt 500 tỷ đồng Năm 2016, khách du lịch đến với Mộc Châu trong tăng nhanh, ước đạt 1.050.000 lượt khách, trong đó khách trong nước ước đạt 1.000.000 lượt, khách quốc tế ước đạt 50.000 lượt; tổng doanh thu xã hội ước đạt 735 tỷ đồng Năm 2017, Toàn huyện, đã đón 1.360.500 lượt du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng; doanh thu xã hội ước đạt 807,7 tỷ đồng
Với một huyện miền núi như Mộc Châu, những kết quả trên cho thấy ngành
du lịch đã góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của huyện nhưng bên cạnh
đó hoạt động du lịch này vẫn còn có những bất cấp như sự tự phát khi triển khai các mô hình du lịch khiến cho hệ thống du lịch của huyện mất đi sự chuyên nghiệp,lượng vốn đầu tư phát triển ngành du lịch còn hạn chế, manh mún nên cơ sở hạ tâng chưa phát triển xứng tầm với quy mô du lịch, nguồn nhân lực phục vụ trong ngành chủ yếu là người dân địa phương với các mô hình du lịch tự phát, nhân lực đào tạo bài bản chuyên ngành du lịch thiếu và yếu về năng lực nên chưa đáp ứng được hết các nhu cầu của du khách, chưa thực sự đầu tư quảng bá hình ảnh du lịch;chưa kết nối được các mô hình du lịch…
1.3.1.2 Kinh nghiệm tổ chức DLCĐ , tại thành phố Điện Biên Phủ
Điện Biên là cửa ngõ phía Tây Bắc của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, từ Điện Biên có thể đi lại thuận tiện đến với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, vùng
Trang 20núi phía Bắc Việt Nam, các tỉnh Thượng Lào và cầu nối đến các nước ASEAN.Với vị trí địa lý như vậy nên Điện Biên rất có tiềm năng phát triển về du lịch Thành phố Điện Biên Phủ đã xây dựng các đề án cụ thể để phát triển ngành này tầm nhìn tới năm 2030 với những mục tiêu cụ thể như:
- “Đẩy nhanh tốc độ phát triển du lịch, xây dựng du lịch Điện Biên trở thành trung tâm du lịch lịch sử, văn hóa, sinh thái, tâm linh và nghỉ dưỡng; điểm đến hấp dẫn, tạo sự khác biệt, có uy tín và sức cạnh tranh cao trong khu vực Tây Bắc và cả nước
- Đẩy mạnh phát triển lượng khách du lịch nội địa và tăng cường thu hút khách quốc tế gần (ASEAN, Trung Quốc qua cửa khẩu đường bộ):
+ Phấn đấu đến năm 2020 Thành phố Điện Biên Phủ đón 870 nghìn lượt khách, trong đó khách quốc tế khoảng 220 nghìn lượt; Tổng thu từ hoạt động du lịch đạt khoảng 1.500 tỷ đồng
+ Đến năm 2025 đón 1,3 triệu lượt khách trong đó khách quốc tế đạt 300 nghìn lượt; Tổng thu từ hoạt động du lịch đạt 2.400 tỷ đồng
+ Đến năm 2030 đón từ 1,6 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 350 nghìn lượt; Tổng thu từ hoạt động du lịch đạt trên 3.500 tỷ đồng
+ Đến năm 2030 tạo việc làm cho trên 35 nghìn lao động, trong đó có trên
Trang 21Do vậy tỉnh đã đặt ra các giải pháp cụ thể để phát triển du lịch như: “Tập trung phát triển sản phẩm du lịch đặc thù, chất lượng cao để tăng khả năng cạnh tranh và tạo dựng thương hiệu du lịch Điện Biên góp phần thu hút khách du lịch;
Đa dạng hóa sản phẩm du lịch Điện Biên để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách dulịch, kéo dài thời gian du lịch cũng như mở rộng thị trường; Tăng cường liên kết phát triển sản phẩm du lịch; Đẩy mạnh phát triển sản phẩm hàng hóa lưu niệm, đặcsản tự nhiên của tỉnh để góp phần thu hút khách du lịch” 4
Với những giải pháp cụ thể đó, du lịch Điện Biên đã có những khởi sắc đang
kể, năm 2015 khách du lịch đến với Điện Biên là trong đạt 420.000 lượt khách, trong đó khách trong nước ước đạt 350.000 lượt, khách quốc tế ước đạt 70.000 lượt; tổng doanh thu xã hội ước đạt 550 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động trên địa bàn, góp phần xóa đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống cho người dân Năm 2016, khách du lịch đến với Điện Biên đạt 480.000 lượt
khách, trong đó khách trong nước ước đạt 400.000 lượt, khách quốc tế ước đạt 80.000 lượt; tổng doanh thu xã hội ước đạt 710 tỷ đồng Nằm 2017, Thành phố Điện Biên, đã đón 600.000 lượt du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng; doanh thu
xã hội ước đạt 950 tỷ đồng Hoạt động du lịch đã góp phần giải quyết việc làm cho hơn 12.000 lao động, trong đó có hơn 5.000 lao động trực tiếp
Nhìn chung hoạt động du lịch của Điện Biên đã khởi sắc qua các năm nhưng
so với mặt bằng chung của cả nước thì ngành này chưa thực sự phát triển so với tiềm năng du lịch vốn có của Điện Biên Sự phát triển về du lịch chưa có sự đột phá nhất định, các sản phẩm du lịch nghèo nàn, chất lượng thẩm, dịch vụ du lịch
3 de-dat-ra-doi-voi-phat-trien-san-pham-du-lich.html
http://itdr.org.vn/vi/nghiencuu-traodoi/1217-phat-trien-du-lich-tinh-dien-bien-trong-giai-doan-moi-va-nhung-van-4 de-dat-ra-doi-voi-phat-trien-san-pham-du-lich.html
Trang 22http://itdr.org.vn/vi/nghiencuu-traodoi/1217-phat-trien-du-lich-tinh-dien-bien-trong-giai-doan-moi-va-nhung-van-và các điểm đến chưa bảo đảm, cơ sở hạ tầng chưa được chú trọng http://itdr.org.vn/vi/nghiencuu-traodoi/1217-phat-trien-du-lich-tinh-dien-bien-trong-giai-doan-moi-va-nhung-van-và đầu tư đồng bộ Doanh nghiệp hoạt động du lịch còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa có sự liên kết chặt chẽ, tính chuyên nghiệp chưa cao; Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn chưa đáp ứng so với yêu cầu phát triển du lịch; Công tác đảm bảo vệ sinh môi trường, môi trường kinh doanh du lịch còn nhiều tồn tại, hạn chế và bất cập; Hoạt động xúc tiến, quảng bá các sản phẩm du lịch chưa được đầu tư thỏa đáng, hiệu quả chưa cao, nội dung và hình thức chưa phong phú, đa dạng.Thời gian qua, việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt là những sản phẩm du lịch đặc thù với cách tiếp cận thị trường và tính cạnh tranh chưa được quan tâm đầy đủ, đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho du lịch Điện Biên chưathực sự bứt phá và chưa đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương tương xứng với tiềm năng du lịch hiện có.
1.3.2 Bài học rút ra cho huyện Vân Hồ
Từ bài học kinh nghiệm rút ra tại huyện Mộc Châu và Thành phố Điện Biên Phủ, những địa phương có cùng điều kiện về địa lý, khí hậu và phong tục tập quán cho thấy để loại hình DLCĐ,triển khai và phát triển một cách bền vững thì đề án phát triển DLCĐ,cộng đồng tại huyện Vân Hồ cần phải:
- Bộ máy quản lý mô hình du lịch cộng đồng, Cộng đồng địa phương phải là nhân tố chính tham gia trực tiếp vào quá trình vận hành mô hình, được tôn trọng vàtrao quyền để bảo đảm quyền sở hữu không gian du lịch của địa phương, nhưng phải có Bộ máy quản lý của chính quyền huyện nhằm hỗ trợ sự phát triển DLCĐ;
- Tạo ra một mối quan hệ phối hợp mật thiết giữa đối tác với tất cả các bên liên quan trong việc tổ chức thực hiện Đề án để tạo nên một thể thống nhất cùng vì một lợi ích chung bao gồm cả lợi ích của đối tác và chính các bên liên quan;
- Phối hợp với các Công ty lữ hành, các Công ty du lịch, cộng đồng, nhân sự
Trang 23phục vụ hoạt động du lịch phải có sự tập trung để các hộ tham gia DLCĐ,có trình
độ và đạt được những chứng nhận tiêu chuẩn từ các cơ quan ban ngành và tổ chức
có liên quan;
- Mô hình DLCĐ,phải đề cao và làm nổi bật các phong tục tập quán lâu đời của địa phương vì vậy các sản phẩm du lịch cần phải tôn trọng văn hóa và truyền thống địa phương Bên cạnh đó việc phát triển du lịch theo hình thức DLCĐcần phải bền vững, không phá vỡ cảnh quan vốn có của địa phương, cần phải phát huy vào bảo tồn nguồn tài nguyên tự nhiên vốn có;
- Triển khai mô hình, cái quan trọng chính là: thực hiện khoa học, chương trình phát triển các sản phẩm du lịch, sửa đổi, bổ sung các sản phẩm du lịch nhằm nâng cao chất lượng trải nghiệm của khách du lịch thông qua việc tăng cường những hoạt động tương tác có ý nghĩa giữa cộng đồng địa phương và khách du lịch
- Thường xuyên giám sát sự thực hiện để có những điều chỉnh và biện pháp khắc phục nếu cần thiết, đặc biệt là tình trạng ôi nhiễm môi trường, khai thác bữa bãi các nguồn lực phá vỡ cảnh quan vốn có của địa phương, vi phạm pháp luật và truyền thống văn hóa…
Trang 242.2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Vân Hồ
Vân Hồ được thành lập vào năm 2013 theo Nghị quyết số 72/NQ-CP ngày10/06/2013 của Chính phủ Vân Hồ thuộc tỉnh Sơn La, là huyện mới tách ra từhuyện Mộc Châu với tổng diện tích tự nhiên 98.288,91 ha Huyện có 14 xã với 147
bản và tiểu khu bao gồm: 01 xã biên giới xã Tân Xuân; 04 xã vùng II Vân Hồ, Lóng Luông, Chiềng Khoa, Tô Múa; 09 xã vùng III Xuân Nha, Chiềng Xuân,
Trang 25Chiềng Yên, Mường Men, Suối Bàng, Song Khủa, Liên Hòa, Quang Minh, Mường Tè.
Huyện Vân Hồ có vị trí địa lý quan trọng, là cửa ngõ của tỉnh Sơn La và vùngnúi Tây Bắc, trung tâm huyện cách thành phố Sơn La 130 km về phía Đông Nam,cách thủ đô Hà Nội 170 km về phía Tây Bắc, có trục quốc lộ 6 là tuyến giao thônghuyết mạch của vùng Tây Bắc nối liền vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng Bắc Bộ
- Hà Nội với các tỉnh Tây Bắc Việt Nam và các tỉnh Bắc Lào
Về khí hậu thì ôn hòa, giao động từ 18,50C đến 250C nên quanh năm Vân Hồluôn có không khí mát mẻ, do vậy Vân Hồ được đánh giá là một trong những khunghỉ dưỡng có giá trị
Địa hình huyện Vân Hồ nhìn chung phức tạp nghiêng theo hướng Tây Nam Đông Bắc tạo hướng chảy chính cho sông, suối trong vùng và bị chia cắt, có cácdạng địa hình như: địa hình núi thấp, phần lớn là đất dốc với độ cao trung bình là500m; địa hình bằng phẳng đồi bát úp xen lẫn bãi chạy dài với độ cao trung bình900m; địa hình cao gáp biển với độ cao so với mực nước biển từ 900m - 1300mxen kẽ với suối và núi cao, lượng mưa của Vân hồ tầm 1.560mm/năm và không khí
-có độ ẩm cao Sự đa dạng về địa hình cùng với yếu tố khí hậu đặc trưng, cho phépVân Hồ phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa đa dạng, phát triển lâm nghiệp
và du lịch, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng của huyện,góp phần xây dựng tuyến biên giới Việt - Lào hoà bình - hữu nghị và hợp tác.Hiện tại ở Vân Hồ hiện có 6 dân tộc sinh sống trong đó dân tộc Thái chiếm tỷ
lệ lớn nhất (40%), các dân tộc còn lại gồm có Dân tộc kinh 10%, dân tộc Mường20%, dân tộc Dao 7.5%, dân tộc Tày và dân tộc Mông 7.5% Vì có nhiều dân tộcsinh sống nên tại Vân Hồ có sự đa dạng về văn hóa, lối sống, điều này ảnh hưởng
rõ rệt đến văn hóa ẩm thực, trang phục, các phong tục và tập quán
Về kinh tế - xã hội, hiện tại huyện Vân Hồ 100% các xã phổ cập mầm noncho trẻ 5 tuổi, tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập trung học cơ sở duy trì
Trang 26qua nhiều năm Huyện đã tập trung đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng,điện đường trường trạm, đến 90% số hộ dân đã tiệp cận với lưới điện quốc gia,sóng truyền hình đã phủ sóng đến 90% diện tích của huyện, hơn 80% người dân đãđược sử dụng nước sạch Vân Hồ hiện đã có trường Phổ thông cơ sở, bệnh viện đakhoa,
Với điều kiện tự nhiên phù hợp với phát triển nông, lâm nghiệp và du lịchnên trong những năm qua huyện Vân Hồ đã tập trung phát triển các ngành nghềkinh tế này, nhiều dự án đầu tư đến hàng nghìn tỷ đồng đã được đầu tư vào Vân Hồ
để phát triển ngành nông, lâm nghiệp bền vững, các nhà đầu tư đã nghiên cứu vàtìm hiểu về điều kiện tự nhiên cũng như thiên nhiên của huyện để tập trung đầu tưphát triển du lịch văn hóa, DLCĐvà du lịch khám phá Năm 2017 lượng khách dulịch đến Vân Hồ, Mộc Châu đạt trên 1 triệu lượt khách, tổng doanh thu đạt trên1.000 tỷ đồng; tạo việc làm cho khoảng 4.800 lao động “Năm 2017, sản lượng
lương thực có hạt ước đạt 65.141 tấn (tăng 1,5% so với năm 2016); trồng mới được
700 ha cây ăn quả đạt 350% kế hoạch, sản lượng quả tươi ước đạt trên 4.100 tấn
(tăng 20,3% so với năm 2016); triển khai xây dựng mô hình nông nghiệp trồng 100
ha cây ăn quả tại Khu trung tâm hành chính huyện Toàn huyện hiện có 1.017 ha,
sản lượng chè búp tươi cả năm ước đạt 8.540 tấn (tăng 3,6% so với năm 2016); tổng đàn gia súc đạt 37.300 con (tăng 3,3% so với năm 2016), trong đó đàn
bò sữa có 1.582con, sản lượng sữa tươi đạt 5.300 tấn; giá trị sản xuất trên đơn vịđất canh tác ước đạt 20 triệu đồng Trong năm, đã thành lập mới được 11 hợp tác xã,nâng số HTX nông nghiệp, thủy sản lên 23 HTX Chương trình mục tiêu quốc gia vềxây dựng NTM tiếp tục được quan tâm triển khai có hiệu quả, đến nay toàn huyện có
01 xã đạt 11/19 tiêu chí; 02 xã đạt 10/19 tiêu chí Các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp nông thôn của huyện cơ bản đạt và vượt kế hoạch đề ra”5.Tính đến tháng 12/2017tổng thu ngân sách nhà nước của huyện đạt 2.334,2 tỷ đồng
-5 http://vanho.sonla.gov.vn/bai-viet/hoi-nghi-tong-ket-nam-nong-nghiep-nong-thon-2017-28836
Trang 272.1.1 Giới thiệu về Đề án phát triển DLCĐtại huyện Vân Hồ
2.1.2.1 Sự cần thiết của Đề án phát triển DLCĐtại huyện Vân Hồ
Vân Hồ là một huyện mới được tách ra từ Huyện Mộc Châu - tỉnh Sơn Lađiều kiện kinh tế xã hội đã và đang trên đà phát triển Trong định hướng phát triểnkinh tế xã hội đã được tỉnh Sơn La thông qua với nhiều chỉ tiêu trong đó có sự địnhhướng phát triển Du lịch Xu thế hiện nay của nền kinh tế thị trường là đẩy mạnhphát triển kinh tế du lịch, DLCĐđang được khách du lịch trong nước và quốc tếđặc biệt là khách du lịch thành thị có nhu cầu cao.Phát triển DLCĐlà một trongnhững phương thức giúp người dân xoá được đói, giảm được nghèo và là biệnpháp cơ bản để thu hẹp khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa khu vực Thị trấn vàkhu vực Thôn, Bản Khi lợi ích từ hoạt động du lịch được phân bổ hài hoà hợp lý
sẽ khuyến khích được cộng đồng nâng cao nhận thức, nâng cao trách nhiệm trongviệc giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn phát huy các giá trị văn hoátruyền thống là tiền đề cho du lịch Vân Hồ phát triển theo hướng bền vững Đồngthời thu hút được sự tham gia của các đơn vị kinh doanh, các nhà đầu tư trongnước và quốc tế vào lĩnh vực phát triển du lịch vùng nông thôn, miền núi.Phát triểnDLCĐlà hướng đi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng kỹ thuậtthực tế của Vân Hồ nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung, để có một sản phẩm, dịch
vụ du lịch tại cộng đồng không đòi hỏi vốn đầu tư lớn mà kết quả thu được lại rấtlớn và hiệu quả đạt được rất nhiều lĩnh vực từ kinh tế đến xã hội và môi trường.Khi cộng đồng làm du lịch sẽ huy động được nguồn nội lực của nhân dân, khaithác có hiệu quả cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất hiện có của cộng đồng dân cư, gópphần nâng cao mức sống, chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập chonhân dân trên địa bàn.Với việc thực hiện các hoạt động của Đề án sẽ thúc đầynhanh được chương trình phát triển DLCĐ, nâng cao được chất lượng nguồn nhânlực, chất lượng dịch vụ du lịch, hình thành điểm du lịch đa dạng hoá sản phẩm dulịch, góp phần giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Sơn La thân thiện và mến
Trang 28khách Thúc đẩy các chương trình, các dự án khác cùng đầu tư trên địa bàn manglại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường cao hơn.
2.1.2.2 Thông tin chung về Đề án phát triển DLCĐtại Vân Hồ Tên đề án: Hỗ trợ xây dựng DLCĐtrên địa bàn huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Quy mô, phạm vi của Đề án:
- Địa điểm trên địa bàn: Thí điểm triển khai phát triển DLCĐtại 02 xã: bản
Nà Bai xã Chiềng Yên; bản Hua Tạt xã Vân Hồ
- Đánh giá hiện trạng, phân tích các yếu tố thuận lợi và khó khăn khi triểnkhai Đề án DLCĐtại huyện Vân Hồ
Mục tiêu của Đề án:
Mục tiêu chung: Phấn đấu đến năm 2020, du lịch Vân Hồ cơ bản trở thành
ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế toàn tỉnh tạo tiền đề đếnnăm 2030 là ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung với hệthống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ; sản phẩm du lịch chất lượng, đa dạng, cóthương hiệu, có sức cạnh tranh; mang đậm bản sắc văn hoá các dân tộc, thân thiệnvới môi trường; đưa Sơn La trở thành một trong những địa bàn trọng điểm về dulịch của cả nước
- Về văn hóa - xã hội: Góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc; tạo thêm nhiều việc làm, góp phần giảm nghèo và vươn lên làm giàu; góp phần nâng cao dân trí và đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân đặc biệt đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa
- Về an ninh, quốc phòng: Kết hợp phát triển du lịch với đảm bảo trật tự, an
toàn xã hội, giữ vững an ninh,quốc phòng vùng núi cao, biên giới
- Về môi trường: Phát triển du lịch “Xanh”, gắn hoạt động du lịch với gìn
Trang 29giữ và phát huy các giá trị tài nguyên và bảo vệ môi trường6
Bảng 2.1 Một số mục tiêu của đề án phát triển DLCĐ trên địa bàn huyện Vân Hồ
tính
Năm 2020 (triệu)
Năm 2025 (triệu)
Năm 2030 (triệu)
5 Số lượng lao động
cần có
người
18.500 30.900 45.000 94.400
6 Về nhu cầu đầu tư Tỷ đồng 2.500 3.500 13.000 19.000
Nguồn: Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Sơn La 2.1.2.3 Nội dung cơ bản của Đề án phát triển DLCĐtrên địa bàn huyện Vân Hồ
- Huyện Vân Hồ bắt đầu phát triển du lịch mạnh mẽ từ năm 2014 nhờ các công ty du lịch điều hành lịch tại huyện Mộc Châu, theo xuất phát điểm ban đầu, Vân Hồ là một điểm dừng chân trong các tuyến du lịch tại Mộc Châu - Sơn La và người dân địa phương chủ yếu chỉ phát triển ngành du lịch phụ trợ như bán các sảnphẩm lưu niệm hay tổ chức ẩm thực Tuy nhiên với lợi thế về địa hình, khí hậu và văn hóa đa dạng nên huyện ngày càng thu hút nhiều khách du lịch nghỉ lại để khámphá Năm 2014, Sơn La đã điều chỉnh quy hoạch phát triển tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020 và đã đưa ra các đề án phát triển loại hình DLCĐtại huyện với
6 son-la-2020-2030-2015
Trang 30https://vanbanphapluat.co/quyet-dinh-2390-qd-ubnd-ke-hoach-quy-hoach-tong-the-phat-trien-du-lich-các nội dung cơ bản sau:
a Quan điểm phát triển: Phát triển DLCĐtại Vân Hồ cùng với du lịch cộng
đồng, du lịch biên giới và du lịch văn hóa Lấy DLCĐ gắn với việt khai thác vùng cao nguyên Vân Hồ làm mũi nhọn, DLCĐvăn hóa với bản sắc văn hóa của 6 dân tộc trên địa bàn làm nền tảng để phát huy tính đặc thù tài nguyên du lịch theo địa bàn của huyện;
b Phân tích các bên liên quan
- Các công ty điều hành du lịch tại huyện Vân Hồ và tại Mộc Châu là những nhân tố có vai trò chủ yếu trong việc điều hành tại chỗ lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến từ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các địa phương khác, hầu hết các công ty du lịch này chỉ là nơi trung chuyển khách chứ không kiêm nhiệm các dịch vụ lưu trú và các dich vụ khác
- Ủy ban nhân dân huyện Vân Hồ giữ vai trò thiết yếu trong sự phát triển của
du lịch cộng đồng, những hỗ trợ từ phía chính quyền hiện nay đang được ghi nhận chính là đưa ra các chính sách, tiêu chuẩn về dịch vụ và thuế Địa phương có
những cán bộ chuyên trách phụ trách công tác du lịch sẽ luôn đồng hành cùng với cộng đồng, hướng dẫn trực tiếp các cách thức quản lý hoạt động du lịch đối với các
hộ gia đình Vì có sự sát sao đối với hoạt động du lịch tại huyện nên các công ty dulịch và các hướng dẫn viên du lịch thường có thái độ làm việc tốt
- Sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ trong việc hỗ trợ tích cức sự phát triển du lịch bền vững tại huyện Vân Hồ thông qua các chương trình đào tạo
để tăng cường nhận thức, tổ chức chức cộng đồng, phát triển cơ cấu và sản phẩm
du lịch phù hợp Bên cạnh đó các tổ chức này còn hướng dẫn người dân về cơ chế quản lý du lịch, đào tạo các cán bộ của huyện trong việc quản lý du lịch cộng đồng
Trang 31c Các yếu tố phát triển DLCĐtại các xã
* Tiềm năng du lịch tại bản Nà Bai - xã Chiềng Yên
- Tài nguyên nhân văn: bản Nà Bai có 124 hộ với 531 nhân khẩu, dân tộc Mường chiếm 88% còn lại là dân tộc Dao và Thái Bản có Nhà văn hoá kiến trúc nhà sàn của dân tộc Mường, có trên 100 ngôi nhà sàn nằm liền kề nhau, các ngôi nhà đều có kiến trúc đẹp, trang trí, nội thất đều còn lưu giữ được nét độc đáo của người dân tộc Mường vùng rẻo cao; Phong tục tập quán vẫn còn bảo tồn được những cái đẹp của dân tộc Mường;
- Bản được công nhận là bản văn hoá
- Tài nguyên thiên nhiên và tiềm năng du lịch:
+ Nếu nhìn tổng quan, thì khu vực bản Nà Bai có cảnh quan đẹp, đồi núi phủxanh bởi rừng, thấp thoáng dưới rừng cây là các ngôi nhà sàn của cộng đồng ngườidân tộc Mường Cánh đồng ruộng bậc thang màu sắc biến đổi theo mùa vụ sản xuất của nông dân, suối nước trong xanh nước chảy quanh năm, thỉnh thoảng vẫn còn có cối giã gạo bên dòng suối, cọn nước đưa nước lên đồng tạo nên nét đẹp mộcmạc, yên tĩnh của bản làng độc đáo của vùng ven cao nguyên
+ Nằm trên sườn núi cao có điều kiện tự nhiên, thiên nhiên thuận lợi, hoà hợp và có nhiều phong cảnh đẹp như núi non hùng vĩ, rừng nguyên sinh, ruộng bậcthang, gắn với các bản dân tộc Thái như Phụ Mẫu, bản dân tộc Dao như bản Co Hào và các điểm du lịch như thác 19, thác Tạt Nàng, Mỏ nước khoáng nóng Phụ Mẫu, gần bản có nhiều hang động đẹp đây là tiềm năng lớn về thiên nhiên và phong cảnh để thu hút khách du lịch đến với khu vực xã Chiềng Yên
+ Năm 2017, do có sự tuyên truyền và triển khai xây dựng mô hình du lich cộng đồng tại bản Phụ Mẫu cách bản Nà Bai 4 km, đồng thời Nà Bai là đầu tuyến
Trang 32DLCĐtrên địa bàn xã Chiềng Yên do đó hầu hết các đoàn khách đến Chiềng Yên đều qua bản Nà Bai, trong đó có nhiều đoàn đã nghỉ qua đêm tại một số nhà dân trong bản và người dân cũng đã phục vụ ăn uống cho du khách, bản đã đón được trên 300 lượt khách trong nước và quốc tế trong năm 2017 Nhưng mới mang lại thu nhập cho một vài hộ Các hoạt động du lịch đều do nhu cầu của khách, công tác phục vụ và quản lý chưa theo quy trình kém hiệu quả, đồng thời nếu không kịp thời tổ chức quản lý sẽ ảnh hưởng và gây ra những yếu tố không thuận lợi cho pháttriển du lịch của xã Chiềng Yên nói riêng và huyện Vân Hồ nói chung.
+ Xét theo chỉ tiêu liên kết giữa các điểm du lịch:
- Hồ Hoà Bình, hoặc từ bản Lác Mai Châu - Phụ Mẫu II (đang hoạt động du lịch cộng đồng) - Phụ Mẫu I (đang hoạt động du lịch cộng đồng) - bản Niên - Nà Bai (đang đề xuất bản du lịch cộng đồng) Du lịch tâm linh Đền Hang Miếng xã Quang Minh huyện Vân Hồ (đang đề xuất bản du lịch cộng đồng), tạo thành tuyến DLCĐtrên địa bàn xã Chiềng Yên, Quang Minh và Hòa Bình;
- Khi liên kết vùng có tuyến bản Lác Mai Châu (đang hoạt động du lịch cộngđồng) - hang Kia Pa Cò (đang hoạt động du lịch cộng đồng) - Nà Bai - Lóng
Luông - Vân Hồ - Trung tâm du lịch Mộc Châu (các đồi chè, nhà máy chè, nhà máy sữa, trang trại nuôi bò, vườn hoa nhiệt đới - động Sơn Mộc Hương - thác Dải Yếm - Rừng Thông bản Áng (đây là tuyến đang được khai thác và có nhiều khách
du lịch trong mùa tuor này);
* Tiềm năng du lịch tại xã Vân Hồ
- Tổng số dân bản Hua Tạt: 1024 người (230 hộ - theo số liệu năm 2017);
- Cơ cấu dân tộc: 4 Dân tộc (Thái , Kinh, Mường, Mông )
- Đội văn nghệ: 3 Đội (Thanh niên, Phụ nữ, Cao tuổi)
Trang 33- Lao động: 336 Nam; 331 nữ
Trong phạm vi nghiên cứu lao động chủ yếu là dân bản làm ruộng, trồng trọt; đa số đang ở độ tuổi lao động và trẻ em, theo quy hoạch phát triển đô thị thì bản Hua Tạt toàn bộ số hộ dân được quy hoạch chỉnh trang phát triển làng nghề văn hoá dân tộc Mông, tham gia hoạt động du lịch
* Đặc điểm khí hậu:
- Khí hậu là tài nguyên du lịch đặc biệt có tính đặc thù của huyện là một vùng tiểu khí hậu với mùa hè mát mẻ, ít sương mù; mùa đông khô ráo hơn các vùng khác, đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng các biệt thự, khu nghỉ dưỡng kết thuộc khu trung tâm đã được đầu tư cơ sở hạ tầng đồng thời kết hợp với DLCĐbản Hua Tạt với mô hình dịch vụ du lịch về văn hoá, thăm quan trang trạitrồng cây ăn quả, trồng hoa
- Hiện trạng cảnh quan môi trường:
+ Phần lớn vẫn giữ được nguyên vẹn cảnh quan tự nhiên như kiến trúc làng bản nhấp nhô mái nhà sàn giữa các vườn mơ, mận, đào
+ Môi trường khí, môi trường nước trong lành, đảm bảo yêu cầu phát triển DLCĐgắn với khu du lịch rừng thông bản Hua Tạt đúng theo quy hoạch
+ Hiện nay bản Hua Tạt đã được đầu tư cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, cộng đồng đã trực tiếp đón khách du lịch thông qua một số nhà dân phục vụ dịch
vụ ăn, dịch vụ văn nghệ bản, có đội văn nghệ có khả năng phục vụ khách du lịch tại bản và xã Khách đến xã có nhiều đoàn được đưa đến bản Hua Tạt để ăn uống
và giao lưu văn hoá với cộng đồng
Hiện nay, các chỉ tiêu: doanh thu du lịch, cơ sở vật chất phục vụ du lịch, lao động ngành du lịch, đầu tư du lịch: nhìn chung, chưa có sự đầu tư nào cho
Trang 34DLCĐbản Hua Tạt, bởi vậy cộng đồng bản cần được sự hỗ trợ của các nguồn lực bên ngoài như từ phía Nhà nước, các nhà đầu tư, các công ty kinh doanh du lịch làm cơ sở để huy động và phát huy các nguồn lực của cộng đồng tham gia đầu tư vào khu du lịch.
d Định hướng phát triển điểm du lịch:
- Với lợi thế được thiên nhiên ưu đãi cho dải khí hậu quanh năm mát mẻ, địahình có nhiều hình thái, văn hóa phong tục đa dạng nên tại Vân Hồ sẽ có nhiều điểm đến phù hợp để khai thác
* Điểm du lịch nghỉ dưỡng cao cấp:
- Khu Trung tâm du lịch Mộc Châu
- Khu du lịch Rừng thông bản Bó Nhàng, Hua Tạt
* Điểm DLCĐcộng đồng:
- Điểm DLCĐcộng đồng bản Nà Bai, xã Chiềng Yên
- Điểm DLCĐcộng đồng các bản thuộc xã Vân Hồ
* Điểm du lịch tham quan tự nhiên:
- Điểm du lịch Thác Nàng Tiên xã Chiềng Khoa
- Điểm du lịch suối nước nóng bản Phụ Mẫu xã Chiềng Yên
- Điểm du lịch suối Cá bản Bướt xã Chiềng Yên
2.2 Thực trạng phát triển DLCĐtại huyện Vân Hồ giai đoạn 2016 – 2018
2.2.1 Số lượng, cơ cấu hộ sản xuất kinh doanh DLCĐtại các xã của
huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La
Vân Hồ là vùng đất cổ, hình thành và phát triển sớm trong lịch sử, có nhiều
Trang 35di tích lịch sử - văn hóa như: Đền Hang Miếng (xã Quang Minh), hang mộ Tạng
Mè (xã Suối Bàng) và các di tích lịch sử thuộc căn cứ Cách mạng Mộc Hạ Trênđịa bàn huyện có nhiều dân tộc cùng sinh sống như Thái, Kinh, Mường, Mông,Dao mỗi dân tộc có bản sắc đặc trưng và ngành nghề truyền thống riêng biệt
Dân tộc Thái, Mường có lễ hội và trò chơi dân gian như: Hội tung còn, đẩygậy, cầu mùa, Xên Mường, Xên Bản gắn với mùa vụ trong năm
Dân tộc Mông có các hoạt động văn hóa như: Múa khèn vào những ngày tết
cổ truyền tại sân nhà văn hóa các bản Ngoài ra còn có các lễ hội thể hiện sức mạnh
và lòng dũng cảm như đua ngựa, bắn cung, bắn nỏ, tu lu Người Mông ở Vân Hồ
có lễ hội Mùa Xuân với nhiều trò chơi dân gian được duy trì, tại các lễ hội điệumúa khèn là đặc trưng nhất cho người Mông với nhiều động tác biểu cảm
Dân tộc Dao ở Vân Hồ có những vũ điệu gắn với các lễ như: Lễ đặt tên chocon, cấp sắc, kết duyên, lễ chúc phúc Người Mường tiêu biểu với các làn điệu hátdân ca như: Hái Bông, Giao duyên, Đang, Xường
Các dân tộc anh em có truyền thống đoàn kết gắn bó trong đấu tranh, sảnxuất và giao lưu văn hóa, hình thành và phát triển nền văn hóa cộng đồng đa dạng,phong phú, có tính nhân văn cao
Du lịch Vân Hồ được đánh giá là du lịch 4 mùa, bởi đến vào bất kỳ thờiđiểm nào trong năm, du khách cũng khám phá được vẻ đẹp thiên nhiên cũng nhưgiá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất này Phát huy những lợi thế mà thiên nhiênđem lại, du lịch Vân Hồ đang được định hướng tập trung phát triển vào DLCĐkếthợp với du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan sinh thái, dã ngoại gắn với nôngnghiệp,du lịch văn hóa lịch sử, du lịch tâm linh…
Năm 2018 số hộ gia đình tham gia hoạt động DLCĐlà hơn 50 hộ, với số laođộng trực tiếp là hơn 90 người Được phân bổ như sau:
Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng hộ gia đình tham gia DLCĐ tại các bản thí
điểm phát triển DLCĐtại Huyện Vân Hồ STT Tên xã Tên bản Số hộ tham gia DLCĐ Số lao động trực
Trang 36(số hộ) tiếp tham gia (số
người) Năm
Nguồn: Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Vân Hồ
Qua bảng số liệu trên cho thấy số lượng các hộ gia đình tham gia vào loạihình DLCĐtại huyện Vân Hồ đã tăng lên đáng kể từ năm 2016 đến năm 2018, nếutrong năm 2016 số lượng hộ gia đình tham gia tại 4 bản là 13 hộ thì đến năm 2018
đã tăng lên là 57 hộ tương đương tăng 228% Tương ứng với số hộ gia đình thamgia loại hình du lịch cộng đồng, người lao động trực tiếp tham gia cũng đã tăng lênđáng kể, nếu năm 2016 chỉ có 31 người thì đến năm 2018 đã tăng lên 91 ngườitương đương với tăng 340,6% Như vậy cho thấy Đề án phát triển DLCĐtại huyệnVân Hồ đang có những khởi sắc, mang lại công ăn việc làm cho người dân cũngnhư góp phần cải thiện tình hình kinh tế của huyện
Ngoài các hộ gia đình được Ban quản lý dự án hỗ trợ cải thiện cơ sở nhằm
đủ điều kiện để đón khách thì có nhiều hộ gia đình khác đã mạnh dạn đầu tư xâymới, sửa chữa hay trùng tu lại những ngôi nhà truyền thống để làm nhà nghỉ cộngđồng hoặc mở nhà hàng, làm các món ăn địa phương phục vụ khách tham quan.Đến nay, huyện Vân Hồ đã có 158 cơ sở lưu trú, chủ yếu là khách sạn, nhà nghỉ,nhà nghỉ cộng đồng gồm 1.342 phòng, 2.739 giường, cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Tổng hợp số lượng cơ sở lưu trú loại hình DLCĐtại huyện
Trang 37Vân Hồ tính đến năm 2018
home stay
Số lượng nhà nghỉ
Số lượng khách sạn
Số lượng phòng
Số lượng giường
Nguồn: Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Vân Hồ
Qua bảng tổng hợp 2.3 cho ta thấy có 4/14 xã của huyện Vân Hồ tham giadịch vụ lưu trú trong đó tập trung nhiều nhất là ở Vân Hồ và Chiềng Yên, cụ thể:
Xã Vân Hồ có 24 cơ sở lưu trú, trong đó có 03 home stay, 16 nhà nghỉ, 05 kháchsạn; Xã Chiềng Yên có 20 cơ sở lưu trú, trong đó có 04 home stay, 14 nhà nghỉ, 02khách sạn Sở dĩ tập trung nhiều cơ sở lưu trú như vậy vì các xã này thường làtuyến du lịch chính trong đề án du lịch, ngoài ra địa hình, giao thông của các xãnày thường thuận lợi hơn các xã khác, cơ sở vật chất được chú trọng đầu tư hơn.Các xã khác thường là tuyến phụ, hoặc là điểm dừng chân của các tour du lịch, dukhách thường dừng lại để thưởng thực phong tục tập quán, hay là ẩm thức nên việckinh doanh các mô hình DLCĐkhông thực sự phát triển Tại các xã Suối Bàng,Lóng Luông chỉ có nhà nghỉ và khách sạn, không có dịch vụ homestay Hầu hếtcác hộ gia đình tham gia vào mô hình DLCĐvới sản phẩm chính là du lịch vănhóa, du lịch văn nghệ, thưởng thức ẩm thức và phong tục tập quán
So với các địa phương khác thì số lượng và cơ cấu số hộ dân tham giaDLCĐcủa huyện Vân Hồ là tương đối lớn, nhưng số lượng dịch vụ lưu trú thì chưanhiều, chất lượng không cao, chủ yếu vẫn là các nhà nghỉ, khách sạn 3 sao chỉ có 2khách sạn trên toàn huyện, chất lượng các cơ sở lưu trú, chất lượng dịch vụ chưa
Trang 38thực sự đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Đòi hỏi địa phương và cộng đồng cùngchung tay góp sức để hoàn thiện hơn cơ sở vật chất cho khu vực lưu trú để dukhách có thể ở dài hơn tại các cơ sở du lịch cộng đồng
2.2.2 Thực trạng phát triển mô hình DLCĐtại các xã thực hiện Đề án trên địa bàn huyện Vân Hồ trong giai đoạn 2016 - 2018
Huyện Vân Hồ được thành lập từ năm 2013 đến nay đã được 5 năm, trong 5năm qua dưới sự hỗ trợ của các cấp chính quyền, huyện đã có những định hướng
cụ thể trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của mình, trong đó có lĩnh vực dulịch Định hướng phát triển du lịch của huyện là phát triển dịch vụ du lịch cao cấp(các nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng theo tiêu chuẩn) và phát triển DLCĐgắnvới việc bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, bản sắc văn hóa của các dân tộc tronghuyện
Trong những năm qua, huyện Vân Hồ đã phối hợp với Sở Văn hóa - Thểthao và Du lịch triển khai thí điểm mô hình DLCĐtại các xã Chiềng Yên, Vân Hồ,bước đầu đem lại hiệu quả, trở thành điểm đến ưa thích của du khách
2.2.2.1 Thực trạng phát triển mô hình DLCĐtại xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ
Tại xã Vân Hồ, mô hình DLCĐđược phát triển dựa trên tảng là nét văn hóalâu đời của dân tộc Mường, Mông Mô hình du lịch cộng đồng tại xã Vân Hồtrong giai đoạn mới triển khai cho đến năm 2018 có sự tham gia tích cực của cộngđồng Quy tắc về quản lý hoạt động du lịch và chia sẻ lợi nhuận cũng được nhất trí
đề ra giữa các thành viên của cộng đồng Thỏa thuận này có giá trị về mặt pháp lý
và được Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt Ban quản lý du lịch giữ vai trò điềuhành và giám sát đăng ký và chi trả phí nhà ở
Kết quả trong quá trình phát triển mô hình DLCĐtại xã cho thấy:
Về sản phẩm và dịch vụ của DLCĐ: Khách tham quan tới bản Hua Tạt cóthể ở lại các nơi có dịch vụ lưu trú tại địa phương và tham gia cuộc sống sinh hoạthàng ngày của Người Mông tại đây Khách du lịch sẽ tham quan bản làng, tìm hiểu
Trang 39các nét văn hóa đặc trưng tại nhà văn hóa của bản, tìm hiểu các nghề truyền thốngnhư nhuộm chàm, đánh bắt cá, trồng cây ăn quả Ngoài ra còn có thể tham gia cáchoạt động văn hóa thể thao cùng dân địa phương và thưởng thức các món ăn truyềnthống của người Mường Bên cạnh đó, nhóm du lịch cũng có thể kết hợp du lịch vàcác hoạt động cộng đồng khác như làm mới trường học, bệnh xã, dạy tiếng nướcngoài và phổ cấp các kỹ thuật nông nghiệp mới
Bản đã chú trọng khâu lưu trú nhằm thu hút khách du lịch dừng chân vàkhám phá hết các nét văn hóa của bản Hua Tạt cũng như những bản lân cận Dịch
vụ lưu trú hiện nay tại xã tương đối đầy đủ với các loại hình như homestay, nhànghỉ, khách sạn với công suất phục vụ 200 khách/lượt Ngoài vận động bà con giữgìn những nét đẹp văn hóa, bản còn có các quy định về giữ gìn vệ sinh môi trường,tạo cảnh quan xanh, sạch, đẹp Hằng năm, phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóavừa giới thiệu, quảng bá về nét đẹp văn hóa dân tộc vừa tạo điểm nhấn thu hút dukhách, nhất là vào dịp Tết cổ truyền của đồng bào Mông
Bảng 2.4:Thực trạng sử dụng các sản phẩm DLCĐcủa khách du lịch
trên địa bàn huyện Vân Hồ
(Đơn vị tính: lượt người)
2016
Năm 2017
Năm 2018
So sánh (%) 2017/
Trang 40Qua bảng ta thấy: Số lượt khách du lịch sử dụng các sản phẩm du lịch cộng đồng, văn hóa bản địa tăng lên qua các năm Đối với hoạt động đi bộ xuyên rừng, năm 2016 mới chỉ có 1.255 lượt khách tham gia thì đến năm 2018 số lượt khách tham gia đã lên tới 1.805 lượt (tăng 19,93% trong toàn giai đoạn) Đối với hoạt động leo núi ngắm thác, năm 2016 mới chỉ có 988 lượt khách tham gia thì đến năm
2018 số lượt khách tham gia đã lên tới 2.386 lượt (tăng 55,4% trong toàn giai đoạn) Đối với hoạt động đi xem hang động năm 2016 mới chỉ có 1.428 lượt khách tham gia thì đến năm 2018 số lượt khách tham gia đã lên tới 2.218 lượt (tăng24,63% trong toàn giai đoạn) Đối với hoạt động thăm các bản làng dân tộc, năm
2016 mới chỉ có 879 lượt khách tham gia thì đến năm 2018 số lượt khách tham gia
đã lên tới 2.116 lượt (tăng 55,15% trong toàn giai đoạn)
Qua bảng cũng thấy được hoạt động leo núi ngắm thác và thăm các bản làng dân tộc ngày càng thu hút khách du lịch hơn Điều này được giải thích là do trong các điểm DLCĐ trên địa bàn huyện thì những điểm có thác nước là những điểm có phong cảnh đẹp, thu hút lòng người Các bản làng dân tộc là nơi thể hiện rõ nhất bản sắc văn hóa của người dân tộc thiểu số, thu hút nhiều du khách tìm hiểu bản sắc văn hóa vùng miền Do vậy mà ở đây thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến tham quan
Khảo sát về mức độ hài lòng của khách du lịch đối với sản phẩm DLCĐ của huyện, kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng2.5: Đánh giá của du khách đối với sản phẩm DLCĐ trên địa bàn huyện Vân Hồ
Đối tượng đánh giá
Mức độ hài lòng (%) Rất hài
lòng Hài lòng
Bình thường
Không hài lòng