---***---LÊ THU HƯƠNG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KẾT HỢP BÀI TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THỊ GIÁC CHO BỆNH NHÂN LÃNG QUÊN KHÔNG GIAN BÊN LIỆT SAU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ
Trang 1-*** -LÊ THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KẾT HỢP BÀI TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THỊ GIÁC CHO BỆNH NHÂN LÃNG QUÊN KHÔNG GIAN BÊN LIỆT SAU TAI
BIẾN MẠCH MÁU NÃO
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ
Hà Nội – 2016
Trang 2-*** -LÊ THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KẾT HỢP BÀI TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THỊ GIÁC CHO BỆNH NHÂN LÃNG QUÊN KHÔNG GIAN BÊN LIỆT SAU TAI
BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Chuyên ngành : Phục hồi chức năng
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHẠM VĂN MINH
Trang 4BIT : Behavioral inattention test – Test nhận thức hành vi.
PHCN : Phục hồi chức năng
TBMMN : Tai biến mạch máu não
USN : Unilateral spatial neglect – Lãng quên không gian bên liệt.WHO : World health organization – Tổ chức y tế thế giới
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Giải phẫu não bộ liên quan đến lãng quên không gian bên liệt 3
1.1.1 Hệ động mạch não 3
1.1.2 Giải phẫu các vùng não liên quan đến tình trạng lãng quên không gian bên liệt 5
1.2 Tổng quan về tai biến mạch máu não 7
1.2.1 Định nghĩa 7
1.2.2 Phân loại 7
1.1.3 Chẩn đoán 10
1.2 Tình trạng lãng quên không gian bên liệt sau TBMMN 11
1.2.1 Định nghĩa 11
1.2.2 Phân loại 11
1.2.3 Dịch tễ 12
1.2.4 Cơ chế bệnh sinh của USN 12
1.2.5 Chẩn đoán 14
1.2.6 Điều trị 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 24
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 24
2.2 Cỡ mẫu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.3.2 Kỹ thuật và công cụ nghiên cứu 25
Trang 6CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 33
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 34
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1: Tỷ lệ lãng quên không gian bên liệt của bệnh nhân sau tai biến
mạch máu não 31Bảng 3.2: Đánh giá bệnh nhân trước can thiệp 31Bảng 3.3: Tỷ lệ xuất huyết não và nhồi máu não của bệnh nhân lãng quên
không gian bên liệt 32Bảng 3.4: Điểm BIT trung bình trước khi can thiệp, sau 4 tuần can thiệp,
sau 8 tuần can thiệp 32
Trang 8Hình 1.1 Sự cấp máu cho não của các động mạch não 3
Hình 1.2 Vòng động mạch não – đa giác Willis 5
Hình 1.3 Nhồi máu não 8
Hình 1.4 Các nguyên nhân gây TBMMN từ tim: 9
Hình 1.5 Xuất huyết não 9
Hình 1.6 Sự chi phối nhận thức của bán cầu não phải và trái 13
Hình 1.7 Phân biệt hai kiểu nhận thức không gian 15
Hình 1.8 Bữa ăn của bệnh nhân lãng quên không gian bên liệt 15
Hình 1.9 Bán manh và USN 17
Hình 1.10 Đường đi của dây thần kinh thị giác và cơ chế gây ra các loại bán manh 17
Hình 1.11 Bài xóa 22
Hình 1.12 Bài tìm đường 23
Hình 2.1 Bài xóa sao 26
Hình 2.2 Bài xóa chữ 26
Hình 2.3 Bài gạch đường thẳng 27
Hình 2.4 Bài chia đôi dòng kẻ 27
Hình 2.5 Bài vẽ tự do của bệnh nhân lãng quên không gian bên liệt 28
Hình 2.6 Bài vẽ sao chép của bệnh nhân lãng quên không gian bên liệt 28
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) được Hyppocrates phát hiện cách đây
2400 năm, vào khoảng năm 460 đến 370 trước công nguyên, tuy nhiên trongthời kỳ này, TBMMN chỉ được mô tả rất đơn giản: “bệnh nhân đột ngột bịliệt” Cùng với sự phát triển của nhân loại, đến khoảng năm 1928, TBMMN
đã được các nhà nghiên cứu khẳng định là do nguyên nhân mạch máu não,đưa ra các dấu hiệu lâm sàng đầy đủ và từng bước nghiên cứu cách điều trị.Cũng từ đó người ta thấy rằng TBMMN là một trong những nguyên nhânhàng đầu gây tử vong và gánh nặng bệnh tật cho con người
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới WHO, năm 2012 có khoảng 56triệu người tử vong trên toàn thế giới, khoảng 38 triệu người tử vong do bệnhkhông lây nhiễm, chiếm 68% tổng số người tử vong, trong đó người bịTBMMN là 6,7 triệu người, chiếm 11,9 %, đứng thứ hai trong số những bệnhgây tử vong nhiều nhất thế giới, chỉ sau nhồi máu cơ tim (7,4 triệu người chết,13,4%) [1]
Từ năm 1993, thế giới đã công nhận chỉ số DALY (Dissability adjusmentlife years – số năm sống hiệu chỉnh theo mức độ bệnh tật) để đánh giá gánhnặng bệnh tật Một DALY là một năm mất đi do bệnh tật, hoặc tàn tật hoặcchết Theo tổ chức gánh nặng bệnh tật thế giới, năm 2012, chỉ số DALY ởnhóm TBMMN là khoảng 141.000.000, chiếm 5,2% tổng DALY, xếp thứ 3trong nhóm 10 nguyên nhân gây gánh nặng bệnh tật của toàn thế giới! (tăng
16 triệu DALY so với năm 2000)
Trong quá trình nghiên cứu về TBMMN, các nhà nghiên cứu đã nhậnthấy có một số vấn đề ảnh hưởng nhiều đến quá trình hồi phục của Bệnhnhân, ví dụ như tình trạng lãng quên không gian bên liệt (Unilateral spatialneglect – USN) Theo Nijboer và CS thì USN là một trong các tác nhân gây
Trang 10ảnh hưởng nhiều nhất đến khả năng hồi phục sau tai biến của bệnh nhân USNcũng được đánh giá là một yếu tố tiên lượng kém cho bệnh nhân bị tai biến,
có liên quan chặt chẽ với các tình trạng khác như trầm cảm, co cứng
Vậy khả năng hồi phục của Bệnh nhân bị lãng quên nửa người thế nào?Cũng theo Nijboer và CS (2013), tình trạng lãng quên nửa người thường đượchồi phục sau 12-14 tuần, và sau thời gian này thì tình trạng lãng quên đượccho là ổn định, khó có thể hồi phục với các trường hợp nặng
Hiện tại trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả của PHCNtrong điều trị USN, các bài tập như tập với gương, vận động chi trên, kíchthích bên liệt bằng điện trị liệu (bao gồm kích thích điện dòng TENS và kíchthích điện chức năng FES), sử dụng các miếng dán che mắt bên lành Trong
đó, PHCN thị giác kết hợp với vận động chi trên là bài tập được khuyến cáo
trong điều trị USN Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả kết
hợp bài tập phục hồi chức năng thị giác cho bệnh nhân lãng quên không gian bên liệt sau tai biến mạch máu não” tại trung tâm phục hồi chức năng
Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội từ tháng10/2016 đến tháng 7/2017 với hai mục tiêu:
1 Đánh giá thực trạng lãng quên không gian bên liệt ở bệnh nhân sau TBMMN.
2 Đánh giá hiệu quả kết hợp PHCN thị giác kết hợp với vận động trị liệu và hoạt động trị liệu trong điều trị bệnh nhân lãng quên không gian bên liệt.
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Giải phẫu não bộ liên quan đến lãng quên không gian bên liệt
Từ động mạch cánh tay đầu tách ra làm hai nhánh: động mạch cảnhchung phải và động mạch dưới đòn phải
Ở đoạn cổ, hai động mạch cảnh chung chạy lên trên, ra ngoài dọc hai bênkhí quản, thực quản, sau đó là thanh quản và hầu Tới ngang bờ trên sụn giáp
Trang 12thì động mạch cảnh chung phình ra thành xoang cảnh rồi chia làm hai nhánh:động mạch cảnh ngoài và động mạch cảnh trong.
Động mạch cảnh ngoài cấp máu chủ yếu cho vùng đầu mặt cổ
Động mạch cảnh trong: sau khi tách ra từ động mạch cảnh chung tiếp tụcchạy lên trên vào trong ở đoạn cổ, qua xương đá, xoang hang, sau đó chia làmhai nhánh tận: động mạch não giữa, động mạch não trước Các động mạchnão giữa và não trước lại chia làm hai nhánh: nhánh nông cấp máu cho vỏnão, nhánh sâu cấp máu cho các tổ chưc ở sâu của não
1.1.1.2 Hệ động mạch sống nền
Xuất phát từ động mạch dưới đòn, động mạch đốt sống chạy lên trên,chui qua lỗ mỏm ngang của sáu đốt sống cổ trên và lỗ lớn xương chẩm vàotrong sọ não Trong sọ, động mạch chạy ra trước, lên trên qua mặt trước bênhành não rồi hợp với động mạch đốt sống bên đối diện ở giữa rãnh hành cầutạo nên động mạch nền
Động mạch nền đi lên trong rãnh nền ở mặt trước cầu não Đến cuốirãnh, động mạch nền chia làm hai nhánh động mạch não sau cấp máu chovùng chẩm – thái dương mặt dưới bán cầu đại não
Hệ động mạch sống nền còn cấp máu cho vùng tiểu não, cầu não, hànhnão nhờ các nhánh bên của động mạch nền
1.1.1.3 Vòng động mạch não – đa giác Willis
Là một đa giác 6 cạnh với hai động mạch não trước ở trước, nối với nhaubằng động mạch thông trước
Phía sau là hai động mạch thông sau xuất phát từ động mạch nền Mỗiđộng mạch não sau được nối với động mạch cảnh trong cùng bên qua độngmạch thông sau
Trang 13Hình 1.2 Vòng động mạch não – đa giác Willis (nguồn Internet) 1.1.2 Giải phẫu các vùng não liên quan đến tình trạng lãng quên không gian bên liệt
Theo Mesulam (1999), có nhiều phần của não tham gia vào quá trìnhnhận thức, trong đó quan trọng nhất là thùy đỉnh sau, hồi trán mắt, đồi thị, hồiđai và thể vân
1.1.2.1 Thùy đỉnh sau
Thùy đỉnh sau là phần phía sau của hồi sau trung tâm, gồm tiểu thùyđỉnh trên, tiểu thùy đỉnh dưới, rãnh nội đỉnh, thùy đỉnh trung gian
Đây là nơi hội tụ của các giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác, và
hệ thống thăng bằng tiền đình Nhờ vào sự tập trung của các giác quan, nênvùng này có khả năng nhận thức không gian xung quanh cơ thể
Giải nghĩa các dấu hiệu từ việc nhìn, nghe, vận động, cảm giác, và trí nhớ.Chức năng liên quan đến nhận thức không gian:
Nhận thức không gian bên ngoài dựa vào các đặc điểm nổi bật hơn là xácđịnh hình dạng, màu sắc
Trang 14Không có khả năng bản đồ hóa chính xác không gian, nhưng có khảnăng lên kế hoạch vận động để khám phá, giữ vật đặc biệt quan sát được.Tiểu thùy đỉnh dưới có các đường dẫn truyền thần kinh nội tại liên kếtvới vùng tiền vận động, hồi trán ổ mắt, củ não sinh tư trên,
Đồi thị nằm ở phần trước của não, trên não giữa
Đồi thị chủ yếu chứa các nhân xám và có rất ít chất trắng
Là nơi chuyển tiếp các thông tin cảm giác và vận động
Trang 15Hồi đai trước liên quan đến nhiều đến việc tiếp nhận các kích thích giácquan vào, hồi đai sau tập trung nhận thức thị giác, kiểm soát những thay đổikhông gian sau chuyển động mắt nhanh.
1.2 Tổng quan về tai biến mạch máu não
1.2.1 Định nghĩa
Theo tổ chức y tế thế giới WHO, TBMMN hay đột quỵ được định nghĩa
là tình trạng tổn thương chức năng thần kinh xảy ra đột ngột do nguyên nhânmạch máu não (thường do tắc hoặc vỡ động mạch não) Các tổn thương thầnkinh thường khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ hoặc diễn biến nặng, cóthể tử vong trong vòng 24 giờ
Định nghĩa này chưa bao gồm xuất huyết dưới nhện, thường không cóbiểu hiện thiếu sót thần kinh khu trú
Những thiếu sót thần kinh cục bộ do nguyên nhân mạch máu não tồn tạidưới 24h được gọi là cơn thiếu máu não thoảng qua
1.2.2 Phân loại
Tai biến mạch máu não về cơ bản chia thành 2 loại: nhồi máu não vàxuất huyết não
1.2.2.1 Nhồi máu não:
Là hiện tượng dòng máu đến não bị ứ trệ, thường do cục máu đông hoặc
do mảng xơ vữa có thể tại chỗ hoặc từ chỗ khác di chuyển đến gây ra
Nhồi máu não chiếm khoảng 85% TBMMN
Trang 16Hình 1.3 Nhồi máu não (nguồn Internet)
Nguyên nhân của nhồi máu não rất đa dạng, thường gặp ở bệnh nhântăng huyết áp, xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa lipid máu, huyết khối
do bệnh lý tim mạch, giảm khối lượng tuần hoàn Trong đó các nguyên nhân
do xơ vữa động mạch, huyết khối do bệnh tim (rung nhĩ, hẹp van hai lá, viêmnội tâm mạc ) là thường gặp nhất
Trang 17Hình 1.4 Các nguyên nhân gây TBMMN từ tim: rung nhĩ chiếm đến 50%
các nguyên nhân gây TBMMN từ tim (nguồn Internet)
1.1.2.2 Xuất huyết não
Hình 1.5 Xuất huyết não (nguồn Internet)
Trang 18Là hiện tượng mạch máu của não bị vỡ ra gây chảy máu trong não
- Các dấu hiệu thần kinh khu trú: liệt vận động, rối loạn cảm giác, liệtcác dây thần kinh sọ
- Các tổn thương bán cầu ưu thế - không ưu thế: thất ngôn, mất thựcdụng, lãng quên bên liệt
- Các tổn thương khác: rối loạn ý thức, rối loạn tâm thần, động kinh Với nhồi máu não, các triệu chứng xuất hiện đột ngột, có thể tăng dần từvài phút, vài giờ hoặc vài ngày Tuy nhiên với nhồi máu não diện rộng, cáctriệu chứng có thể xuất hiện đột ngột, nặng, bệnh nhân rối loạn ý thức và cóthể tử vong nhanh
Với xuất huyết não, thường khởi phát đột ngột, bệnh nhân có đau đầu dữdội, nôn, rối loạn ý thức Dấu hiệu màng não có thể có nếu có xuất huyếtmàng não
1.1.3.2 Cận lâm sàng
Chủ yếu dựa vào phim chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ Phimchụp cộng hưởng từ thường có giá trị hơn vì trong những giờ đầu sau nhồimáu não, các hình ảnh trên phim cắt lớp vi tính có thể chưa rõ ràng
Trang 19Chụp cắt lớp vi tính sọ não: trên phim chụp có hình ảnh ổ giảm tỷ trọng(nhồi máu não) hoặc ổ tăng tỷ trọng (xuất huyết não) ở nhu mô não thuộc khuvực động mạch bị tổn thương.
Ngoài ra có thể thấy dấu hiệu phù não, và có thể loại trừ các nguyênnhân khác như u não, máu tụ mạn tính dưới màng cứng
Chụp cộng hưởng từ sọ não:
Nhồi máu não: hình ảnh giảm tín hiệu một vùng trong nhu mô não thì T1
và tăng tín hiệu thì T2
Xuất huyết não: hình ảnh tăng tín hiệu thì T1
1.2 Tình trạng lãng quên không gian bên liệt sau TBMMN
1.2.1 Định nghĩa
Lãng quên được định nghĩa là “tình trạng giảm khả năng nhận biết, phảnứng, định hướng với các kích thích mới hoặc kích thích có ý nghĩa đối bên vớibên não bị tổn thương mà không phải là hậu quả của việc rối loạn cảm giáchay vận động”
1.2.2 Phân loại
Tình trạng lãng quên được chia làm 3 loại: lãng quên không gian liênquan đến trí nhớ, lãng quên vận động bên liệt, lãng quên cảm giác (hay lãngquên không gian bên liệt bao gồm thị giác, xúc giác, thính giác ) bên liệt.Lãng quên không gian liên quan đến trí nhớ biểu hiện là bệnh nhân quênmất phần không gian đối bên với bên não bị tổn thương khi được yêu cầu nhớlại một khoảng không gian quen thuộc nào đó liên quan đến trí nhớ dài hạn.Loại lãng quên này được Bisiach và Luzzatti mô tả lần đầu từ năm 1978, khikhám 2 bệnh nhân lãng quên bị tình trạng này, với biểu hiện quên hoàn toànkhông gian bên trái khi được yêu cầu miêu tả lại quảng trường Milan theo trínhớ của mình
Trang 20Lãng quên vận động bên liệt được biểu hiện là bệnh nhân giảm hoặc mấtkhả năng vận động bên liệt mặc dù vị trí tổn thương trên não không làm ảnhhưởng đến con đường vận động Với loại lãng quên này có thể dễ dáng quansát được vì bệnh nhân quay đầu, quay mắt, thân mình về bên não bị tổnthương và quên sử dụng chân tay bên liệt
Lãng quên không gian bên liệt: bệnh nhân mất nhận thức về thị giác, xúcgiác và âm thanh bên liệt
1.2.3 Dịch tễ
Theo nghiên cứu của Stone và CS thì hơn 80% bện nhân có biểu hiệnlãng quên không gian bên liệt sau tổn thương não phải do TBMMN trong khiDenes và CS thì báo cáo là chỉ có khoảng 17% bệnh nhân bị lãng quên khônggian bên liệt sau TBMMN gây tổn thương não phải Lãng quên không gianbên phải cũng có thể xảy ra sau TBMMN , tuy nhiên lãng quên không gianbên trái phổ biến hơn và nặng hơn Thường thì lãng quên không gian bên liệthay xảy ra một bên nhưng cũng có những trường hợp bị cả hai bên
1.2.4 Cơ chế bệnh sinh của USN
Theo Mesulam, bán cầu não trái chi phối nhận thức không gian bên phải,
và bán cầu não phải thì chi phối nhận thức ở cả 2 bên bán cầu Chính vì vậykhi tổn thương bán cầu não phải thì xảy ra hiện tượng lãng quên không gianbên trái, trong khi tổn thương bán cầu não trái lại hiếm khi gây ra tình trạnglãng quên không gian bên phải, bởi vì không gian bên phải được nhận thức ở
cả 2 bên bán cầu Ông này cũng cho rằng lãng quên không gian bên liệt có thể
do tổn thương nhiều vùng giải phẫu khác nhau của não bộ
Trang 21Hình 1.6 Sự chi phối nhận thức của bán cầu não phải và trái
Cho đến nay, rất nhiều giả thuyết đã ra đời để giải thích cho tình trạnglãng quên không gian bên liệt nhưng chưa có một giả thuyết nào giải thíchđược một cách trọn vẹn, đầy đủ về tình trạng này Một số giả thuyết được coi
là đúng đắn nhưng vẫn không thể giải thích được các biến thể của lãng quênkhông gian bên liệt và các biến đổi hành vi liên quan đến nó
Lãng quên không gian bên liệt có thể xảy ra khi có tổn thương ở cácvùng: thùy đỉnh sau, thùy trán, hồi đai, thể vân và đồi thị Tất cả các vùngnày đều liên quan đến một mạng lưới trải rộng, chịu trách nhiệm kiểm soátnhận thức không gian Một số nhà nghiên cứu coi thùy đỉnh sau là tâm điểmgây ra tình trạng lãng quên không gian bên liệt
Trang 22Sơ đồ 1.1 Nhận thức không gian 1.2.5 Chẩn đoán
1.2.5.1 Lâm sàng
Có nhiều trường hợp có thể chẩn đoán lãng quên nửa người chỉ cần bằngquan sát Các bệnh nhân bị lãng quên nửa người nặng thường quay đầu, quayngười về bên não tổn thướng và mất khả năng chú ý bên người bị liệt Nhữngtrường hợp nhẹ hơn thì khó phát hiện hơn, đặc biệt khi bệnh nhân nằm bấtđộng trên giường hoặc ở môi trường quen thuộc, không thay đổi Hoặc đôikhi tình trạng này biểu hiện một cách tương đối chọn lọc Với loại lãng quên
“kiểu liên hệ vật thể - cơ thể”, bệnh nhân sẽ không chú ý đến các vật ở phíabên liệt liên quan đến thân thể họ, còn với loại lãng quên “kiểu liên hệ vật thể
- vật thể” thì bệnh nhân sẽ không chú ý đến các vật phía bên liệt so với các vậtkhác
Trang 23Hình 1.7 Phân biệt hai kiểu nhận thức không gian (nguồn Internet)
Có những bệnh nhân biểu hiện lãng quên cả 2 bên thân thể, dẫn đến cácvấn đề về chăm sóc cá nhân, hoặc lãng quên cả 2 bên không gian gần cơ thể,dẫn đến các vấn đề về ăn uống, đọc sách báo Một số bệnh nhân chỉ biểuhiện lãng quên không gian ngoài tầm với, làm trầm trọng thêm tỷ lệ va chạm
và gây rối loạn điều hướng
Hình 1.8 Bữa ăn của bệnh nhân lãng quên không gian bên liệt
(Nguồn Internet)
Trang 24Hội chứng Anton – Babinski: biểu hiện: mất nhận thức bệnh tật, phủ nhận sựtồn tại nửa người bên liệt, rối loạn nhận thức sơ đồ cơ thể Đây là một tập hợpcác dấu hiệu của mất nhận thức không gian một bên làm ảnh hưởng nặng đếnnhận thức sơ đồ cơ thể
1.2.5.2 Công cụ đánh giá
Cho tới nay đã có nhiều bộ test để đánh giá tình trạng lãng quên không gianbên liệt Ví dụ như test alberst, test vẽ đồng hồ, test chuông của Lisa Zeltzer vàCS Tuy nhiên, bộ test BIT (Behavioral inattention test) của Wilson và CS chođến nay vẫn là bộ test đầy đủ nhất và được khuyến cáo sử dụng trong việc đánhgiá tình trạng lãng quên không gian bên liệt
Bộ test này gồm 6 bài giấy – bút, và 9 bài đánh giá hành vi, được đánhgiá là có độ nhạy và độ tin cậy cao 6 bài giấy – bút bao gồm bài xóa sao, xóachữ, gạch đường thẳng, chia đôi dòng kẻ, vẽ tự do và vẽ sao chép 9 bài đánhgiá hành vi bao gồm: bài xem tranh, gọi điện thoại, xem thực đơn, đọc báo,xem giờ và chỉnh giờ, phân loại đồng xu, phân loại card, xem bản đồ và chỉđường, chép địa chỉ và chép câu chữ Cụ thể xin trình bày ở phần 2, công cụđánh giá
1.2.5.3 Chẩn đoán phân biệt
Tình trạng lãng quên không gian bên liệt rất dễ nhầm lẫn với tình trạngbán manh vì cả hai tình trạng này đều làm bệnh nhân mất khả năng thu thậpthông tin nửa bên liệt, song hai tình trạng này hoàn toàn khác biệt nhau vềnguyên nhân và cách điều trị