1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu theo pháp luật việt nam từ thực tiễn cục thuế thành phố hải phòng

105 40 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 717,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một công chức công tác tại Cục Thuế Thành phố Hải Phòng, được tham gia học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Mở Hà Nội và trong thực tiễn tại đơn vị, trực tiếp tham gia công tác hoàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA, DỊCH VỤ XUẤT KHẨU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

PHẠM SĨ MẠNH

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA, DỊCH VỤ XUẤT KHẨU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

PHẠM SĨ MẠNH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu tìm hiểu của riêng cá nhân tôi Toàn bộ những số liệu, tài liệu được tôi trình bày trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực, đúng với thực tế và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các số liệu trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ chính xác nguồn gốc Các số liệu phân tích đánh giá tổng hợp đều là những số liệu trung thực, không sao chép, sửa chữa

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019

Tác giả

Phạm Sĩ Mạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô giáo TS Nguyễn Thị Lan Hương người đã luôn tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm luận văn này

Tiếp đến, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những thầy, cô giáo đã giảng dạy tôi trong thời gian theo học chương trình thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế của Trường Đại học Mở Hà Nội Những kiến thức, bài học mà tôi nhận từ các thầy

cô là hành trang quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này và trưởng thành hơn trong công việc cũng như trong cuộc sống

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, các anh, chị đồng nghiệp trong Cục thuế Thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ và cho tôi những ý kiến tham gia thiết thực về chuyên môn cũng như thực tiễn trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả các bạn bè, đồng nghiệp

đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu

Hà Nội, ngày … tháng …… năm 2019

Tác giả

Phạm Sĩ Mạnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HOÀN THUẾ 4

GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA, DỊCH VỤ XUẤT KHẨU 4

1.1 Tổng quan về thuế giá trị gia tăng 4

1.1.1 Khái niệm thuế giá trị gia 4

1.1.2 Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 7

1.1.3 Vai trò của thuế giá trị gia tăng 8

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò, ý nghĩa của hoàn thuế giá trị gia tăng 9

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoàn thuế giá trị gia tăng 9

1.2.2 Ý nghĩa của hoàn thuế giá trị gia tăng 11

1.3 Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, 11

1.3.1 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng 11

1.3.2 Nội dung điều chỉnh pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu 12

1.3.2.1 Chủ thể trong quan hệ pháp luật hoàn thuế giá trị gia tăng 12

1.3.2.2 Điều kiện được hoàn thuế 14

- Để được hưởng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% đối với dịch vụ xuất khẩu phải có 3 điều kiện sau: 14

1.3.2.3 Thời hạn, thủ tục hoàn thuế 15

1.3.2.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 17

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về hoàn thuế giá trị 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA, DỊCH VỤ XUẤT KHẨU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 21

Trang 6

2.1 Thực trạng pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ

xuất khẩu 21

2.1.1 Chủ thể trong quan hệ hoàn thuế giá trị tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu 21

2.1.2 Điều kiện hoàn thuế giá trị tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu 23

2.1.3 Trình tự, thủ tục hoàn thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu 31

2.1.4 Thanh tra, kiểm tra thuế đối với hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng 42

2.1.5 Các biện pháp xử lý vi phạm 45

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng 49

2.2.1 Tổ chức cơ quan thuế tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng 49

2.2.2 Chủ thể trong quan hệ hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng 50

2.2.3 Tình hình hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN VÀ MỘT 77

SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ 77

HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ XUẤT KHẨU 77

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu 77

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu 80

3.2.1 Điều kiện hoàn thuế 80

3.2.2 Cơ chế hoàn thuế và thời hạn hoàn thuế 83

3.2.4 Biện pháp xử lý vi phạm 84

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu 85

Trang 7

3.3.2 Nâng cao trách nhiệm của cán bộ công chức 87

3.3.3 Nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 8

KK&KTT Kê khai và Kế toán thuế

Trang 9

TSCĐ Tài sản cố định

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Tình hình hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch

vụ xuất khẩu tại Cục thuế TP Hải Phòng giai đoạn 30/06/2019

2015-53

2.6 Tổng hợp kết quả kiểm tra trước hoàn thuế giá trị gia tăng

đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại Cục thuế TP Hải Phòng giai đoạn 2015 - 30/06/2019

66

2.7 Tổng hợp kết quả thu hồi hoàn thuế giá trị gia tăng đối với

hàng hóa dịch vụ xuất khẩu tại Cục thuế TP Hải Phòng giai đoạn 2015 – 30/06/2019

68

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Khái quát chung về điều kiện khấu trừ, hoàn thuế giá trị

gia tăng của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

25

2.2 Tóm tắt quy trình giải quyết hồ sơ hoàn thuế tại Cơ quan

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế ra đời - phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước Thuế là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Hệ thống và chính sách thuế của Nhà nước được xây dựng trên cơ sở những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội cụ thể trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định

Ngay từ khi Nhà nước ra đời thì thuế cũng xuất hiện, thuế là sản phẩm tất yếu

từ sự xuất hiện hệ thống bộ máy Nhà nước, ngược lại thuế là công cụ đảm bảo cung cấp phương tiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại và hoạt động của hệ thống bộ máy Nhà nước

Ngày nay trong tiến trình hội nhập, thuế lại đang có vị thế lớn trong chiến lược toàn cầu hoá Do vậy, việc quản lý thuế của các Nhà nước là rất cần thiết, dù cho Nhà nước đó là Nhà nước phát triển hay đang phát triển Những tri thức về thuế và quản lý thuế đang là nhu cầu thường trực không chỉ với các nhà quản lý, với các doanh nhân

mà còn cần phổ cập tới tất cả mọi công dân Từ ngày 01/01/1999 luật Thuế Giá trị gia tăng bắt đầu có hiệu lực thi hành ở Việt Nam, thay thế cho Luật thuế doanh thu trước đây Về nguyên tắc, luật Thuế giá trị gia tăng quy định một phương pháp tính thuế tiên tiến, khoa học, phù hợp với xu thế cải cách thuế và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam Nhìn chung, qua gần 20 năm thực hiện, luật Thuế giá trị gia tăng

cơ bản đã phát huy được các mặt tích cực, tạo nguồn thu ngày càng cao cho ngân sách Nhà nước, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện về vốn cho đầu tư và thúc đẩy hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ

Hoàn thuế giá trị gia tăng là một trong những công cụ thể hiện vai trò điều tiết nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước ta với mục tiêu thu hút nguồn lực đầu tư, khuyến khích xuất khẩu và nâng cao khả năng luân chuyển vốn cho nền kinh tế Trong thực

tế, việc hoàn thuế sao cho đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhưng vẫn đảm bảo việc tuân thủ pháp luật là một vấn đề khó khăn, thách thức không nhỏ đối với cơ quan quản lý thuế

Hải Phòng là địa phương có nhiều doanh nghiệp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ… nên việc đáp ứng nhu cầu hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn thành phố là tất yếu Phần lớn các doanh nghiệp đều tuân thủ quy định của Nhà nước trong công tác hoàn thuế, tuy nhiên vẫn còn một số doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm túc dẫn

Trang 13

giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu vẫn còn một số hạn chế nhất định, cần được hoàn thiện hơn nữa để có thể đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong xu thế hội nhập quốc tế và cải cách nền hành chính quốc gia

Là một công chức công tác tại Cục Thuế Thành phố Hải Phòng, được tham gia học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Mở Hà Nội và trong thực tiễn tại đơn vị, trực tiếp tham gia công tác hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu của Cục thuế Thành phố Hải Phòng nên tôi quyết định chọn đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành luật kinh tế của mình là: “Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Cục thuế thành phố Hải Phòng” Tôi hy vọng rằng, qua bài luận văn này, bản thân có thể đóng góp một phần nhỏ của mình trong việc nâng cao chất lượng quản lý thuế nói chung và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nói riêng tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng nhằm đảm bảo việc hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố luôn đúng đối tượng, đúng chế độ, chống thất thu Ngân sách nhà nước và đảm bảo lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

- Phân tích thực trạng hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng; đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và tìm nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó

- Đề xuất một số biện pháp góp phần hoàn thiện hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, khuyến khích hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu theo chủ trương của Nhà nước Đồng thời giảm thiểu, hạn chế những hành vi gian lận, chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng từ Ngân sách nhà nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

- Phạm vi: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hoàn thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại Cục thuế Thành phố Hải Phòng và đề xuất biện pháp hoàn thiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên các phương pháp sau:

Trang 14

- Phương pháp thống kê, so sánh là phương pháp cụ thể để xem xét vấn đề đối với từng nhóm nội dung công việc hoặc từng công việc cụ thể trong quá trình hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu, nhằm hệ thống hóa chính sách, quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng và những tác động đến công tác hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cũng như doanh nghiệp xuất khẩu

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương sau:

- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về pháp luật hoàn thuế giá trị gia tăng và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và thực tiễn áp dụng tại Cục Thuế thành phố Hải Phòng

- Chương 3: Định hướng hoàn thiện và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu

Trang 15

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA, DỊCH VỤ

XUẤT KHẨU

1.1 Tổng quan về thuế giá trị gia tăng

1.1.1 Khái niệm thuế giá trị gia tăng

Thuế là khoản nộp bắt buộc của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước Các khoản thuế theo các sắc thuế tuy có mục đích điều tiết riêng nhưng đều có chung vai trò quan trọng trong động viên sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân vào ngân sách nhà nước Khoản thuế đối với thu nhập đánh vào cá nhân khi có thu nhập tới một ngưỡng nhất định và doanh nghiệp khi có thu nhập chịu thuế Còn khoản thu thuế tiêu dùng đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, theo đó khi phát sinh hành vi tiêu dùng thuộc đối tượng đánh thuế theo luật thuế giá trị gia tăng, luật thuế tiêu thụ đặc biệt, v.v., người tiêu dùng phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Khoản thuế

có thể được phân cấp là nguồn thu của ngân sách trung ương, ngân sách địa phương hoặc cả hai cấp ngân sách [23]

Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước - pháp luật

Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế

- xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định

Thuế là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Quốc gia Nhà nước nào cũng có những khoản chi ngân sách hàng năm, để bù đắp cho những khoản chi đó, có 5 nguồn tài trợ chính: bằng thuế, bằng phát hành tiền tệ, bằng cách phát hành công trái, bằng viện trợ hoàn lại và vay, nợ của nước ngoài, bằng viện trợ không hoàn lại của nước ngoài Trong 5 nguồn này, thuế là nguồn thu quan trọng nhất vì thuế có sự điều tiết chia sẻ và công bằng giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp đồng thời nói lên sức mạnh tự chủ về tài chính của một quốc gia

Thuế là khoản thu do Nhà nước dùng quyền lực của mình để buộc các tổ chức,

cá nhân phải nộp vào ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình [23]

Trang 16

Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước, được thực thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra Các khoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước, Nhà nước sử dụng quỹ này để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình

Sự xuất hiện của Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vi hoạt động của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phương thức tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa Ðể có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải đóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm

ra và hình thành qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước Ban đầu những của cải vật chất này được thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuế được chuyển sang hình thức tiền tệ Ðồng thời với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất đối với dân cư, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó bằng bộ máy cuỡng chế của Nhà nước

Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu để thuế tồn tại

và phát triển Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước

Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành quỹ ngân sách nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các nước Chẳng hạn ở nước Anh đạo luật về dân quyền năm 1688 quy định: cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không được Quốc hội chấp thuận Ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được áp dụng Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hội Pháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể giao cho Ủy ban

Trang 17

Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế

Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước và gắn với quyền lực nhà nước Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế Tuy nhiên, hiện nay để quản lý thuế có hiệu quả, ở những mức độ nhất định có sự tham gia các tổ chức, cá nhân trong xã hội để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế của nhà nước [6, tr.11]

Tóm lại, Thuế ra đời gắn liền với sự ra đời, tồn tại của Nhà nước cùng sự phát sinh, phát triển của nền kinh tế hàng hóa Đây là khoản thu bắt buộc nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, và quản lý vĩ mô với nền kinh tế Với bản chất này, Nhà nước đặt ra ngày càng nhiều các sắc thuế, tùy điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi Quốc gia mà hệ thống thuế gồm các loại thuế khác nhau

Thuế giá trị gia tăng (value – added tax) là một loại thuế tiêu dùng, về bản chất

là thuế gián thu, thuế này đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của cá tổ chức và cá nhân Chu thể bán hàng hóa và dịch vụ là người nộp thuế, còn người tiêu dùng là người chịu thuế

Đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trong nước có thể dưới hình thức thuế doanh thu, tuy nhiên việc đánh thuế vào hàng hóa luân chuyển qua các khâu dẫn tới tình trạng đánh thuế trùng ở các khâu, kết quả là thuế giá trị gia tăng ra đời

Về bản chất là thuế tiêu dùng được áp dụng nhằm hạn chế đánh trùng thuế khi hàng hóa luân chuyển qua các khâu từ sản xuất đến bán buôn, bán lẻ Bởi vậy, Luật thuế giá trị gia tăng quy định thuế giá trị gia tăng là thuế đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ qua các khâu từ sản xuất đến lưu thông hàng hóa

Thuế giá trị gia tăng ra đời từ nước Pháp với tên gọi Taxe Sur La Valeur Ajou tée (TVA) (Tiếng Anh là Value Added Tax - VAT), sau đó được tiếp thu và áp dụng rộng rãi ở nhiều Quốc gia trên Thế giới

Theo quan điểm của Liên minh Châu Âu, Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế tiêu thụ được áp dụng chung, dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ Nó được áp dụng nhiều hay ít với tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ được mua, bán để

sử dụng hoặc tiêu thụ trong toàn Liên minh Châu Âu Do đó, hàng hóa được bán để xuất khẩu hoặc dịch vụ được bán cho khách hàng ở nước ngoài thường không phải chịu thuế giá trị gia tăng Ngược lại, hàng hóa nhập khẩu bị đánh thuế giá trị gia tăng

Trang 18

để giữ công bằng cho các nhà sản xuất EU, để họ có thể cạnh tranh bình đẳng trên thị trường Châu Âu với các nhà cung cấp nằm ngoài Liên minh

Tại Việt Nam, theo quan điểm của một số học giả, xét về bản chất, thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu[20] Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ

là người nộp thuế nhưng thực chất người tiêu dùng lại là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ Điều này giúp cho cơ quan quản lý thu thuế giá trị gia tăng tránh được sự phản ánh gay gắt về thuế Bên cạnh đó thuế giá trị gia tăng cũng ảnh hưởng đến sức mua của công chúng do phần thuế này đã được cấu thành trong giá bán của hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng Những phân tích này cho thấy việc áp dụng thuế giá trị gia tăng tại các quốc gia cần phải cân nhắc tính phù hợp, những yếu tố ảnh hưởng của loại thuế này cho nền kinh tế

Tóm lại, thuế giá trị gia tăng thường được dùng để chỉ một loại thuế gián thu, đánh vào việc sử dụng thu nhập, tức đánh vào việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ mà cụ thể là đánh vào hành vi chuyển giao tài sản và cung cấp dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ Thuế giá trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ, và người tiêu dùng phải chịu số thuế đó khi mua hàng hóa, dịch vụ

Cơ sở của thuế giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa các khâu mua bán, cung ứng dịch vụ, tức là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa trong quá trình sản xuất

và tiêu dùng Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế giá trị gia tăng là sản phẩm, hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế như nhau

Đây là một loại thuế gián thu, vì thế thuế giá trị gia tăng do người tiêu dùng chịu nhưng không phải do người tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do người bán sản phẩm (hoặc dịch vụ) nộp thay vào kho bạc, do trong giá bán hàng hoá (hoặc trong dịch vụ) có cả thuế giá trị gia tăng Vì qua từng công đoạn, thuế giá trị gia tăng đã được người bán đưa vào giá hàng hoá, dịch vụ, cho nên thuế này được chuyển toàn

bộ cho người mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ cuối cùng chịu

1.1.2 Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng

Một là, thuế giá trị gia tăng là thuế đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, người tiêu dùng là người chịu thuế Người tiêu dùng khi mua hàng hóa hoặc nhận cung cấp dịch vụ cùng một lúc phải trả tiền mua hàng hóa dịch vụ và trả một khoản thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật, chủ thể bán hàng hóa hoặc

Trang 19

cung cáp dịch vụ thay người tiêu dùng nộp thuế giá trị gia tăng cho Nhà nước theo trình tự, thủ tục quy định trong luật quản lý thuế

Hai là, thuế giá trị gia tăng là thuế đánh vào các hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng truong nước trong diện rộng với mức thuế suất khác nhau theo tính chất của hàng hóa

và dịch vụ và đối tượng tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ; có những loại hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng không thuộc diện chịu thuế

Ba là, thuế giá trị gia tăng được đánh theo các phương pháp khác nhau phù hợp vào khả năng quản lý thuế Phương pháp phổ biến trong đánh thuế giá trị gia tăng

là phương pháp khấu trừ, ngoài ra, tùy từng quốc gia có thể áp dụng phương pháp đánh thuế trực tiếp trên giá trị gia tăn và phương pháp trực tiếp trên doanh thu Việc

áp dụng các phương pháp đánh thuế theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng 1.1.3 Vai trò của thuế giá trị gia tăng

Với ưu điểm của thuế giá trị gia tăng là Nhà nước chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lưu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh, nếu như không có các sự kiện biến động

về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lưu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hưởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá

cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được thuế chồng lên thuế.[21]

Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu Nhìn chung trong các loại thuế gián thu, thuế giá trị gia tăng được coi là phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn của chính sách thuế, như tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đơn giản, trung lập , cụ thể:

- Thuế giá trị gia tăng góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ

- Thuế giá trị gia tăng giúp nhà nước kiểm soát được hoạt động, sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa nhờ kiểm soát được hệ thống hóa đơn, chứng từ, khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là trốn thuế Qua đó, còn cung cấp cho công tác nghiên cứu, thống kê những số liệu quan trọng

- Thuế giá trị gia tăng góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách hợp

lý thông qua việc đánh thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu ngay từ khi nó xuất hiện

Trang 20

trên lãnh thổ Việt Nam; bên cạnh đó thuế giá trị gia tăng đánh vào hàng hóa xuất khẩu nhằm tạo ra thuế giá trị gia tăng đầu ra để được hoàn thuế giá trị gia tăng

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò, ý nghĩa của hoàn thuế giá trị gia tăng

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoàn thuế giá trị gia tăng

Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2013 và năm 2016 không đưa ra định nghĩa khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng Tuy nhiên có thể xem xét khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng dưới nhiều góc độ khác nhau Đứng ở địa vị nhà nước thì hoàn thuế là việc nhà nước trả lại một số tiền cho cơ sở kinh doanh hay đối tượng nộp thuế trong một số trường hợp nhất định mà đối tượng, cơ sở kinh doanh đó đã nộp tiền theo quy định của pháp luật

Đứng ở góc độ doanh nghiệp, hoàn thuế là việc doanh nghiệp nhận lại một số tiền thuế nhất định theo quy định của pháp luật mà họ đã ứng trước cho nhà nước

Đứng ở góc độ của cơ quan thuế, hoàn thuế là một công đoạn trong quy trình quản lý thu thuế của cơ quan thuế

Xét về bản chất, hoàn thuế giá trị gia tăng thể hiện qua các trường hợp sau:

Một là, Nhà nước trả lại cho Người nộp thuế phần tiền thuế mà họ đã ứng ra khi mua hàng hóa, dịch vụ (số tiền thuế này đã được người bán hàng nộp vào ngân sách nhà nước) nhưng chưa được khấu trừ hết; hay nói cách khác là chưa thu lại được qua việc bán hàng hóa, dịch vụ Trạng thái chưa được khấu trừ hết này phát sinh từ các nguyên nhân sau: Do thuế suất của hàng hóa, dịch vụ bán ra thấp hơn so với hàng hóa, dịch vụ mua vào Điển hình là hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với thuế suất 0% khi bán ra Khi đó, số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng không; hay nói cách khác, đối tượng nộp thuế không thu lại được đồng thuế giá trị gia tăng nào của người mua Trong khi đó, hầu hết các hàng hóa, dịch vụ mua vào đều có mức thuế suất lớn hơn 0% (ở Việt Nam hiện nay là 5% và 10%) Lúc này, số thuế phải nộp của doanh nghiệp là số âm, thể hiện số thuế đã trả thay cho người tiêu dùng khi mua hàng hóa, dịch vụ không thu lại được từ người mua hàng Lý do không thu lại được là do Nhà nước thực hiện theo đánh thuế theo điểm đến - không thu thuế giá trị gia tăng đầu ra đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu Do vậy, trong trường hợp này, việc Nhà nước hoàn thuế cho cơ sở có hàng hóa xuất khẩu là đương nhiên Đó chính là việc Nhà nước trả lại số tiền thuế mà đối tượng nộp thuế đã ứng ra khi mua hàng để nộp thay cho người tiêu dùng, song người tiêu dùng lại không phải trả thuế

Do trong kỳ kinh doanh, số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra ít hơn so với số lượng hàng hóa, dịch vụ mua vào nhiều Theo Luật thuế giá trị gia tăng, thuế giá trị

Trang 21

gia tăng đầu vào phát sinh tháng nào được kê khai, khấu trừ hết trong tháng đó, không kể hàng hóa đã xuất dùng hay còn để tồn kho Lúc này, số thuế giá trị gia tăng đầu vào mà cơ sở kinh doanh đã ứng ra khi mua hàng hóa, dịch vụ nhưng chưa thu lại được qua việc bán hàng hóa, dịch vụ Do vậy, việc Nhà nước hoàn thuế giá trị gia tăng cho đối tượng nộp thuế thể hiện việc trả lại phần thuế đã ứng trước, giúp cơ sở kinh doanh không bị ứ đọng vốn Do giá bán hàng hóa của cơ sở kinh doanh thấp hơn giá mua vào của hàng hóa vì một lí do nào đó Khi bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh chỉ thu lại được một phần tiền thuế đã ứng ra khi mua hàng hóa, dịch vụ Còn một phần tiền thuế giá trị gia tăng tương ứng với phần bán lỗ không thu lại được Khi

đó, Nhà nước hoàn thuế lại cho doanh nghiệp thể hiện thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ; phần thuế đã trả quá giá trị gia tăng ở khâu mua hàng được trả lại cho cơ sở kinh doanh

Hai là, Nhà nước trả lại cho đối tượng nộp thuế số thuế giá trị gia tăng đã nộp thừa vì những lí do nhất định, chẳng hạn như tính toán nhầm lẫn, kê khai sai hay kết thúc hoạt động kinh doanh (giải thể, phá sản, chia tách, sáp nhập ) Trong trường hợp này, cơ sở kinh doanh đã nộp thuế nhiều hơn số thuế phải nộp theo luật định nên họ có quyền yêu cầu hoàn lại số thuế nộp thừa

Ba là, Nhà nước trả lại cho tổ chức, cá nhân mua hàng với số thuế giá trị gia tăng đã trả khi mua hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp việc tiêu dùng của cá nhân, tổ chức không thuộc diện chịu thuế hoặc hưởng ưu đãi (như người nước ngoài mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hoá mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất cảnh) Trường hợp này thể hiện việc Nhà nước không thu thuế giá trị gia tăng một đối tượng tiêu dùng nào đó Nếu việc không thu thuế vào những đối tượng này thực hiện thông qua việc không thu vào người bán hàng để người bán hàng bán cho người mua hàng với giá không có thuế giá trị gia tăng thì rất khó quản lý Để đảm bảo đúng đối tượng không thu thuế giá trị gia tăng, Nhà nước thực hiện hoàn thuế theo số thuế ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng khi mua hàng hóa, dịch vụ Như vậy, hoàn thuế giá trị gia tăng là hệ quả của số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết hoặc số thuế đã nộp thừa trong một hay nhiều kỳ tính thuế Nhà nước sẽ thực hiện hoàn trả số thuế giá trị gia tăng đã nộp vượt quá của chủ thể nộp thuế nhưng trên cơ sở đề nghị của các tổ chức, cá nhân Tổ chức, cá nhân để được hoàn thuế phải xác định số tiền thuế được hoàn theo từng trường hợp và thực hiện các thủ tục hoàn thuế theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng và luật quản lý thuế

Trang 22

Tóm lại, hoàn thuế giá trị gia tăng là “Việc cơ quan thuế ra quyết định trả lại

số tiền thuế giá trị gia tăng đã nộp vượt quá của chủ thể nộp thuế” Nói cách khác, trong một số trường hợp luật định, Nhà nước hoàn lại số thuế mà chủ thể nộp thuế đã nộp vào ngân sách Nhà nước Các trường hợp được hoàn thuế được quy định cụ thể theo Pháp luật của từng Quốc gia

1.2.2 Ý nghĩa của hoàn thuế giá trị gia tăng

Hoàn thuế giá trị gia tăng có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, mà còn có ý nghĩa trong sự phát triển chung của nền kinh tế Có thể thấy vai trò của việc hoàn thuế giá trị gia tăng thể hiện như sau:

Đầu tiên, hoàn thuế giá trị gia tăng giúp phát huy tính tuân thủ quy định Pháp luật về hóa đơn chứng từ của các doanh nghiệp Bởi điều kiện để được hoàn thuế giá trị gia tăng là doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ, ghi rõ thuế đầu vào, đầu ra để cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm căn cứ xét hoàn thuế Do đó, Hoàn thuế giá trị gia tăng đã góp phần hoàn thiện đội ngũ kế toán cho doanh nghiệp, thúc đẩy các doanh nghiệp tự giác thực hiện đầy đủ các yêu cầu, thủ tục về thuế với cơ quan có thẩm quyền

Thứ hai, Hoàn thuế giá trị gia tăng còn có thể tạm thời giúp đỡ các doanh nghiệp về mặt tài chính khi họ gặp khó khăn, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường xuyên gặp khó khăn về tài chính

Thứ ba, Hoàn thuế giá trị gia tăng góp phần khuyến khích hoạt động xuất khẩu phát triển Việc hoàn thuế đầu vào tức là hàng hóa xuất khẩu được hưởng thuế 0%, việc này giúp tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước có thể cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường quốc tế

Thứ tư, hoàn thuế giá trị gia tăng còn có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp sử dụng vốn ODA, góp phần thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài, giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp Việc đẩy mạnh thu hút vốn đã thể hiện vai trò của hoàn thuế giá trị gia tăng nói riêng, Thuế giá trị gia tăng nói chung trong tiến trình hội nhập thế giới

1.3 Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu 1.3.1 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng

- Bảo đảm quyền được hoàn thuế đối với hàng xuất khẩu

Hoàn thuế được thực hiện nhằm đảm bảo tính liên hoàn và trung lập của thuế giá trị gia tăng Thông thường hàng hóa luân chuyển qua các khâu không bị đánh thuế

mà chỉ bị đánh thuế khi hàng hóa chuyển cho người tiêu dùng Quyền được hoàn thuế

Trang 23

có thể hiểu là việc Người nộp thuế được nhận lại một số tiền thuế nhất định theo quy định của pháp luật mà họ đã ứng trước cho Nhà nước Hoàn thuế giá trị gia tăng là một chính sách ưu việt của Luật thuế giá trị gia tăng nhằm hỗ trợ các cơ sở kinh doanh, số tiền hoàn thuế được trích từ "quỹ hoàn thuế giá trị gia tăng" là số tiền thuế giá trị gia tăng mà các doanh nghiệp đã nộp trước đó Hoàn thuế giá trị gia tăng mang tính chất ưu đãi, tài trợ của nhà nước Vì vậy, không phải bất cứ đối tượng nào cũng

có quyền hoàn thuế, quyền này chỉ xuất hiện ở những đối tượng Nhà nước cần khuyến khích

- Bảo đảm công bằng trong hoàn thuế

Người nộp thuế được Nhà nước trả lại với số thuế giá trị gia tăng đã trả khi mua hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp việc tiêu dùng của cá nhân, tổ chức không thuộc diện chịu thuế hoặc hưởng ưu đãi (như người nước ngoài mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hoá mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất cảnh) Trường hợp này thể hiện việc Nhà nước không thu thuế giá trị gia tăng một đối tượng tiêu dùng nào đó Nếu việc không thu thuế vào những đối tượng này thực hiện thông qua việc không thu vào người bán hàng để người bán hàng bán cho người mua hàng với giá không thuế giá trị gia tăng thì rất khó quản lý Để đảm bảo đúng đối tượng không thu thuế giá trị gia tăng, Nhà nước thực hiện hoàn thuế theo số thuế ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng khi mua hàng hóa, dịch vụ Như vậy, hoàn thuế giá trị gia tăng là hệ quả của số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết hoặc số thuế đã nộp thừa trong một hay nhiều

kỳ tính thuế Nhà nước sẽ thực hiện hoàn trả số thuế giá trị gia tăng đã nộp vượt quá của chủ thể nộp thuế nhưng trên cơ sở đề nghị của các tổ chức, cá nhân Tổ chức, cá nhân để được hoàn thuế phải xác định số tiền thuế được hoàn theo từng trường hợp và thực hiện các thủ tục hoàn thuế theo qui định Luật thuế giá trị gia tăng và luật Quản lý thuế

Hoàn thuế giá trị gia tăng góp phần khuyến khích hoạt động xuất khẩu phát triển Việc hoàn thuế đầu vào tức là hàng hóa xuất khẩu được hưởng thuế 0%, việc này giúp tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước có thể cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường quốc tế

1.3.2 Nội dung điều chỉnh pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

1.3.2.1 Chủ thể trong quan hệ pháp luật hoàn thuế giá trị gia tăng

Trang 24

- Doanh nghiệp được hoàn thuế là: Doanh nghiệp trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hóa, dịch

vụ xuất khẩu bao gồm cả trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài, có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý; trường hợp trong tháng, quý số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo

Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá phải đáp ứng các điều kiện sau để được áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hoá xuất khẩu:

+ Có hợp đồng bán, gia công hàng hoá xuất khẩu; hợp đồng uỷ thác xuất khẩu; + Có chứng từ thanh toán tiền hàng hoá xuất khẩu qua ngân hàng và các chứng

từ khác theo quy định của pháp luật;

+ Có tờ khai hải quan

Doanh nghiệp xuất khẩu dịch vụ phải đáp ứng các điều kiện sau để được áp dụng thuế suất 0% đối với dịch vụ xuất khẩu:

+ Có hợp đồng cung ứng dịch vụ với tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan;

+ Có chứng từ thanh toán tiền dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng và các chứng

từ khác theo quy định của pháp luật

- Cơ quan thuế xử lý hoàn thuế:

Cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng của người nộp thuế

Cục Thuế có trách nhiệm giải quyết hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế, bao gồm: phân loại hồ sơ hoàn thuế; xác định số thuế giá trị gia tăng được hoàn của người nộp thuế; xác định số tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp phải bù trừ với số thuế giá trị gia tăng được hoàn của người nộp thuế; đề xuất hoàn thuế; thẩm định hồ sơ hoàn thuế; ban hành quyết định hoàn thuế; thực hiện chi hoàn thuế cho người nộp thuế

Cơ quan thuế căn cứ hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế và thông tin về người nộp thuế do cơ quan thuế quản lý tại cơ sở dữ liệu hoàn thuế giá trị gia tăng để kiểm tra đối tượng và trường hợp được hoàn thuế

Cơ quan thuế có trách nhiệm xác định số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các Khoản thu khác còn nợ ngân sách nhà nước (sau đây gọi là tiền thuế nợ) để thực hiện bù trừ với số tiền thuế giá trị gia tăng được hoàn của người nộp thuế

Trang 25

Cơ quan thuế căn cứ kết quả xác định số tiền thuế giá trị gia tăng được hoàn,

số tiền thuế giá trị gia tăng không được hoàn, số tiền thuế nợ phải bù trừ, số tiền thuế giá trị gia tăng còn được hoàn trả cho người nộp thuế, thực hiện lập đề xuất hoàn thuế

và dự thảo Quyết định hoàn thuế (hoặc Quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu ngân sách nhà nước), Thông báo về việc không được hoàn thuế (nếu có)

Cơ quan thuế phải tổ chức kiểm tra, cập nhật trên Hệ thống ứng dụng quản lý thuế đối với: hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng, hồ sơ hoàn thuế, Biên bản kiểm tra hoàn thuế (nếu có), Quyết định về việc xử lý thuế qua thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp Luật thuế (nếu có), Phiếu đề xuất hoàn thuế, dự thảo Quyết định hoàn thuế (hoặc Quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu ngân sách nhà nước), Thông báo về việc không được hoàn thuế (nếu có)

Cơ quan thuế tổ chức thẩm định hồ sơ hoàn thuế đối với: Phiếu đề xuất hoàn thuế, dự thảo Quyết định hoàn thuế (hoặc Quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu ngân sách nhà nước), Thông báo về việc không được hoàn thuế (nếu có) trước khi ban hành Quyết định hoàn thuế (hoặc Quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu ngân sách nhà nước)

1.3.2.2 Điều kiện được hoàn thuế

- Để được hưởng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% đối với dịch vụ xuất khẩu phải có 3 điều kiện sau:

+ Có hợp đồng cung ứng dịch vụ với tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan;

+ Có chứng từ thanh toán tiền dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng và các chứng

từ khác theo quy định của pháp luật (tương tự như đối với hàng hóa xuất khẩu trên đây);

+ Cơ sở kinh doanh cung cấp dịch vụ là người nộp thuế tại Việt Nam phải có tài liệu chứng minh dịch vụ thực hiện ở ngoài Việt Nam

- Điều kiện để được khấu trừ đối với số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch

vụ mua vào Đây là nguyên tắc áp dụng chung đối với toàn bộ các trường hợp khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào của cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ với mục đích thúc đẩy tính tự giác tuân thủ của doanh nghiệp, hạn chế hành

vi kê khai, khấu trừ thuế mà không phát sinh thực tế hoạt động mua bán hàng hóa dẫn đến hành vi gian lận về thuế

Trang 26

+ Thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào phải sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đầu ra chịu thuế giá trị gia tăng của cơ sở kinh doanh;

+ Có hoá đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các

tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam

+ Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hoá nhập khẩu) từ 20 triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế giá trị gia tăng Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác được Bộ Tài chính hướng dẫn phù hợp với thực tiễn quan hệ thương mại trong nước

và quốc tế như ủy quyền cho bên thứ ba thanh toán, bù trừ với giá trị hàng hóa bán ra…

- Căn cứ xác định số thuế được hoàn đối với trường hợp xuất khẩu gồm: + Điều kiện áp dụng thuế suất 0% đối với hoạt động xuất khẩu;

+ Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng mua vào của hàng hóa, dịch vụ; + Phương pháp tính toán, xác định số thuế giá trị gia tăng đầu vào được hoàn của hoạt động xuất khẩu;

1.3.2.3 Thời hạn, thủ tục hoàn thuế

- Đối với hồ sơ hoàn thuế thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau thì chậm nhất là sáu ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế theo đề nghị của người nộp thuế; trường hợp không đáp ứng điều kiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau thì thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế về việc chuyển hồ sơ sang diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau hoặc thông báo lý do không hoàn thuế

+ Trường hợp hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế không thuộc đối tượng và trường hợp hoàn thuế theo quy định tại luật Thuế giá trị gia tăng, luật Quản lý thuế, trong thời hạn chậm nhất không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ

sơ, cơ quan thuế ban hành Thông báo về việc không được hoàn thuế (mẫu số

02/HT-TB ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC) gửi cho người nộp thuế

Trang 27

+ Trường hợp hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế thuộc đối tượng và trường hợp được hoàn thuế, cơ quan thuế thực hiện đối chiếu số tiền thuế giá trị gia tăng đề nghị hoàn tại hồ sơ hoàn thuế với hồ sơ khai thuế của người nộp thuế Số tiền thuế giá trị gia tăng được hoàn phải đảm bảo đã được khai thuế theo đúng quy định của luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; đảm bảo điều kiện khấu trừ, hoàn thuế quy định tại Khoản 6, Khoản 7 Điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 ngày 19/6/2013

+ Trường hợp chưa đủ thông tin để xác định hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế thuộc đối tượng và trường hợp được hoàn thuế, cơ quan thuế lập và gửi Thông báo giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu (mẫu số 01/KTTT ban hành kèm theo Thông

tư BTC) theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 Thông tư BTC gửi người nộp thuế trong thời hạn chậm nhất không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thuế tiếp nhận hồ sơ đề nghị hoàn thuế của người nộp thuế Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thuế có Thông báo, người nộp thuế có trách nhiệm gửi các giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu theo thông báo của cơ quan thuế Quá thời hạn nêu trên, cơ quan thuế chuyển hồ sơ hoàn thuế sang diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau

156/2013/TT-+ Trường hợp người nộp thuế đã giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng hoặc quá thời hạn yêu cầu của cơ quan thuế nhưng không giải trình, bổ sung hồ sơ hoàn thuế theo quy định tại Khoản 2 Điều 58 Thông tư số 156/2013/TT-BTC: Thủ trưởng cơ quan thuế chịu trách nhiệm phê duyệt thay đổi phân loại hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau sang thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau; đồng thời gửi Thông báo về việc chuyển hồ sơ sang diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau (mẫu số 01/HT-TB ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC) cho người nộp thuế biết trong thời hạn 06 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 58 Thông tư số 156/2013/TT-BTC

+ Khoảng thời gian kể từ ngày cơ quan thuế phát hành thông báo đề nghị giải trình, bổ sung đến ngày cơ quan thuế nhận được văn bản giải trình, bổ sung của người nộp thuế không tính trong thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế của cơ quan thuế

- Đối với hồ sơ hoàn thuế thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì chậm nhất là 40 ngày, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế hoặc thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế lý do không hoàn thuế

Trang 28

+ Cơ quan thuế thực hiện kiểm tra, thanh tra tại trụ sở của người nộp thuế theo quy định tại các Điều 78, Điều 79, Điều 80 luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 và các văn bản hướng dẫn thi hành, theo quy trình kiểm tra thuế, quy trình thanh tra của ngành thuế Số tiền thuế giá trị gia tăng được hoàn phải đảm bảo đã được khai thuế theo đúng quy định của luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; đảm bảo Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế quy định tại Khoản 6, Khoản 7 Điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng số 31/2013/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Trong quá trình thực hiện kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp theo quy định tại Điều 7, Điều 8 Thông tư này để có căn cứ xác định số tiền thuế giá trị gia tăng đủ Điều kiện hoàn của người nộp thuế

- Trong quá trình giải quyết hoàn thuế mà cơ quan thuế qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế phát hiện người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật và đã chuyển

hồ sơ cho cơ quan công an Điều tra hoặc người nộp thuế bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu giữ sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ liên quan đến số thuế đề nghị hoàn thì cơ quan thuế phải thông báo cho người nộp thuế về việc hồ sơ chưa đủ Điều kiện hoàn thuế Cơ quan thuế thực hiện giải quyết hoàn thuế khi có kết quả hoặc ý kiến của cơ quan công an hoặc của cơ quan có thẩm quyền hoặc khi có đủ hồ sơ theo quy định

1.3.2.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm

- Việc kiểm tra sau hoàn thuế phải được thực hiện trong thời hạn một năm,

kể từ ngày có quyết định hoàn thuế đối với các trường hợp sau đây:

+ Cơ sở kinh doanh kê khai lỗ hai năm liên tục hoặc có số lỗ vượt quá vốn chủ sở hữu;

+ Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế từ hoạt động kinh doanh bất động sản; kinh doanh thương mại, dịch vụ;

+ Cơ sở kinh doanh thay đổi trụ sở từ hai lần trở lên trong vòng mười hai tháng, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế trở về trước;

+ Cơ sở kinh doanh có sự thay đổi bất thường giữa doanh thu tính thuế và số thuế được hoàn trong giai đoạn mười hai tháng, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế trở về trước;

+ Đối với trường hợp không thuộc các trường hợp trên, việc kiểm tra sau hoàn thuế được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro trong thời hạn mười năm, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế

Trang 29

- Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì chậm nhất là bốn mươi ngày, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế hoặc thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế lý do không hoàn thuế

Trường hợp qua kiểm tra, thanh tra thuế phát hiện người nộp thuế mua hàng hóa, dịch vụ của người nộp thuế khác (bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ) có hành vi trốn thuế, gian lận thuế, cơ quan thuế phải bổ sung kế hoạch kiểm tra, thanh tra bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ; hoặc đề nghị cơ quan thuế quản lý trực tiếp bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ bổ sung kế hoạch và thực hiện kiểm tra, thanh tra hoặc cung cấp thông tin về việc chấp hành pháp Luật thuế của bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ để có căn cứ giải quyết hoàn thuế

Trường hợp qua kiểm tra, thanh tra thuế phát hiện người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế theo quy định của pháp luật về thuế và có dấu hiệu tội phạm,

cơ quan thuế chuyển hồ sơ cho cơ quan công an để xử lý theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng, nhưng quan trọng nhất phải kể đến ba yếu tố, đó là hệ thống pháp luật, chủ thể tham gia thi hành pháp luật và điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho hoạt động thi hành pháp luật

Như đã biết, pháp luật sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tuy nhiên ngược lại các quy định của pháp luật cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật nói chung cũng như đến thi hành pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng nói riêng Các chủ thể pháp luật căn cứ vào các quy định pháp luật để thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình Do đó, pháp luật được xây dựng một cách toàn diện,

rõ ràng, minh bạch, đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn của kinh tế - xã hội sẽ là nền tảng đảm bảo cho việc thi hành pháp luật được tiến hành hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể dễ dàng thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình Hiện nay, pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng đã dần được hoàn thiện để đáp ứng các nhu cầu đặt ra trong quá trình thi hành pháp luật nhưng vẫn còn tồn tại một số bất cập, kẽ

hở gây khó khăn cho các chủ thể khi tham gia pháp luật, và tạo cơ hội cho người nộp thuế trục lợi bằng cách trốn thuế, gian lận tiền thuế giá trị gia tăng và tiền hoàn thuế giá trị gia tăng

Trang 30

Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng

là chủ thể, cụ thể hơn là ý thức và trình độ, năng lực pháp luật của người thu thuế và người nộp thuế Về ý thức pháp luật, cả cán bộ công chức ngành thuế và người nộp thuế cần có thái độ trung thực, tôn trọng pháp luật, thực hiện đúng quyền hạn và nghĩa vụ của mình Mọi hành vi sai trái không đúng với quy định của pháp luật nhằm trục lợi cho bản thân, bòn rút ngân sách nhà nước đều bị ngăn cấm và phải bị xử phạt thích đáng Trình độ, năng lực pháp lý của chủ thể cũng có ảnh hưởng đến thi hành pháp luật Một số cán bộ có trình độ pháp lý yếu kém, không nắm bắt kịp thời và vận dụng đúng các quy định pháp luật sẽ dẫn đến việc bỏ sót các sai phạm của người nộp thuế, dẫn đến việc gian lận thuế, trốn thuế Các doanh nghiệp hiện nay đa số có nhân viên kế toán giúp thực hiện các nghĩa vụ pháp lý về thuế, nếu các nhân viên này có trình độ kế toán, pháp lý thấp thì việc xảy ra các sai sót trong khi thực hiện nghĩa vụ như kê khai khấu trừ sai, bỏ sót hóa đơn… là không thể tránh khỏi

Về điều kiện vật chất - kỹ thuật, đây là điều kiện cơ bản đảm bảo cho hoạt động thi hành pháp luật của cả cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế Điều kiện cơ

sở vật chất đầy đủ, ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi tham gia vào thực hiện nghĩa vụ về thuế Hiện nay, ngành thuế đã và đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế, xây dựng các chương trình phần mềm quản lý tập trung người nộp thuế, kê khai thuế qua mạng, quản lý hóa đơn… tạo điều kiện cho việc quản lý thuế được thống nhất, đồng bộ và dễ dàng hơn, từ đó rút gọn các thủ tục hành chính rườm rà, phiền phức nhằm ngăn ngừa, hạn chế các sai phạm xảy ra

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Chương này đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật Thuế Giá trị gia tăng, khái niệm đặc điểm và ý nghĩa của hoàn thuế giá trị gia tăng, pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng cho hàng hóa dịch vụ xuất khẩu Khái quát về chủ thể được hoàn, điều kiện được hoàn thuế: Có hợp đồng cung ứng dịch vụ với tổ chức, cá nhân

ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan; có chứng từ thanh toán tiền dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật (tương tự như đối với hàng hóa xuất khẩu trên đây); Cơ sở kinh doanh cung cấp dịch vụ là người nộp thuế tại Việt Nam phải có tài liệu chứng minh dịch vụ thực hiện ở ngoài Việt Nam, nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật và thời hạn, thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng cho hàng hóa dịch vụ xuất khẩu Hoàn thuế giá trị gia tăng góp phần khuyến khích hoạt động xuất khẩu phát triển Việc hoàn thuế đầu vào tức là hàng hóa xuất khẩu được hưởng thuế 0%, việc này giúp tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước có thể cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường quốc tế Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng, nhưng quan trọng nhất phải kể đến ba yếu tố, đó là hệ thống pháp luật, chủ thể tham gia thi hành pháp luật và điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho hoạt động thi hành pháp luật

Những vấn đề được nghiên cứu tại chương 1 làm tiền đề để nghiên cứu thực trạng pháp luật về hoàn thuếgiá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cho doanh nghiệp tại chương 2

Trang 32

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA, DỊCH VỤ XUẤT KHẨU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CỤC

18 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài chính, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 8 năm 2013 của Bộ Tài chính

Xác định chủ thể trong quan hệ hoàn thuế của hoạt động xuất khẩu cần đảm bảo đầy đủ các điều kiện sau:

- Đối tượng đề nghị hoàn thuế phải là cơ sở kinh doanh được thành lập, có con dấu riêng theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư, luật doanh nghiệp, luật Hợp tác

- Là cơ sở trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ

Đối tượng và trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng

Trang 33

- Cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài,có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý; trường hợp trong tháng, quý số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo

Cơ sở kinh doanh trong tháng/quý vừa có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ nội địa thì cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng số thuế giá trị gia tăng đầu vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu Trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ của các kỳ khai thuế giá trị gia tăng tính từ kỳ khai thuế tiếp theo kỳ hoàn thuế liền trước đến kỳ đề nghị hoàn thuế hiện tại

Số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (bao gồm số thuế giá trị gia tăng đầu vào hạch toán riêng được và số thuế giá trị gia tăng đầu vào được phân bổ theo tỷ lệ nêu trên) nếu sau khi bù trừ với số thuế giá trị gia tăng phải nộp của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội địa còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu Số thuế giá trị gia tăng được hoàn của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu không vượt quá doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nhân (x) với 10%

Đối tượng được hoàn thuế trong một số trường hợp xuất khẩu như sau: Đối với trường hợp ủy thác xuất khẩu, là cơ sở có hàng hóa ủy thác xuất khẩu; đối với gia công chuyển tiếp, là cơ sở ký hợp đồng gia công xuất khẩu với phía nước ngoài; đối với hàng hóa xuất khẩu để thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài, là doanh nghiệp có hàng hóa, vật tư xuất khẩu thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài; đối với hàng hóa xuất khẩu tại chỗ là cơ sở kinh doanh có hàng hóa xuất khẩu tại chỗ

- Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng đối với trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu mà hàng hóa xuất khẩu đó không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan; hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan

Trang 34

- Cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối với người nộp thuế sản xuất hàng hóa xuất khẩu không bị xử lý đối với hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trốn thuế, gian lận thuế, gian lận thương mại trong thời gian hai năm liên tục; người nộp thuế không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành

2.1.2 Điều kiện hoàn thuế giá trị tăng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

2.1.2.1 Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

Cơ sở pháp lý: Theo hướng dẫn tại Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành luật Thuế Giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật Thuế Giá trị gia tăng; Khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về Thuế Giá trị gia tăng và Quản lý Thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2015 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về Thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị Định về Thuế và sửa đổi,

bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thông tư 173/2016/T-BTC ngày 28/10/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung khổ thứ nhất khoản 3 điều 15 Thông tư

số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014, Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính)

Có 4 điều kiện cụ thể như sau để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào:

- Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các

tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam

- Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá

đã có thuế giá trị gia tăng và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài

Trang 35

- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác

- Các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào gồm:

+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng Trường hợp

bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba (3) bên làm căn

cứ khấu trừ thuế

+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đi vay đối với khoản vay bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà người bán hỗ trợ cho người mua, hoặc nhờ người mua chi hộ

+ Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật

Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng

+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện

Trang 36

pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì cũng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

- Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một nhà cung cấp có giá trị dưới hai mươi triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng Nhà cung cấp là người nộp thuế có mã số thuế, trực tiếp khai và nộp thuế giá trị gia tăng

2.1.2.2 Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu

Cơ sở pháp lý: Theo Điều 16 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành luật Thuế Giá trị gia tăng và Nghị định

số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật Thuế Giá trị gia tăng; Khoản 7 Điều 3 Thông tư 119/2014/TT-BTC ngày 25/08/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư

số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011, Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư

số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về Thuế

Hình 2.1: Khái quát chung về điều kiện khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng

của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

Phải thanh toán qua ngân hàng

Phải có hóa đơn thương mại

Cụ thể như sau:

- Hợp đồng bán hàng hóa, gia công hàng hóa (đối với trường hợp gia công hàng hóa), cung ứng dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài

* Đối với trường hợp ủy thác xuất khẩu phải có các chứng từ sau:

+ Hợp đồng ủy thác xuất khẩu

Trang 37

+ Biên bản thanh lý hợp đồng ủy thác xuất khẩu (trường hợp đã kết thúc hợp đồng) hoặc biên bản đối chiếu công nợ định kỳ giữa bên ủy thác xuất khẩu và bên nhận ủy thác xuất khẩu

- Tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu đã làm xong thủ tục hải quan theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

* Trường hợp không cần tờ khai hải quan:

+ Đối với cơ sở kinh doanh xuất khẩu dịch vụ, phần mềm qua phương tiện điện tử thì không cần có tờ khai hải quan Cơ sở kinh doanh phải thực hiện đầy đủ các quy định về thủ tục xác nhận bên mua đã nhận được dịch vụ, phần mềm xuất khẩu qua phương tiện điện tử theo đúng quy định của pháp luật về thương mại điện tử

+ Hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan

+ Cơ sở kinh doanh cung cấp điện, nước, văn phòng phẩm và hàng hóa phục

vụ sinh hoạt hàng ngày của doanh nghiệp chế xuất gồm: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng (bao gồm cả bảo hộ lao động: quần, áo, mũ, giầy, ủng, găng tay)

- Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng

+ Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng

Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu

Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng

Trường hợp ủy thác xuất khẩu thì phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng của phía nước ngoài cho bên nhận ủy thác và bên nhận ủy thác phải thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua ngân hàng cho bên ủy thác

Trường hợp bên nước ngoài thanh toán trực tiếp cho bên ủy thác xuất khẩu thì bên ủy thác phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và việc thanh toán như trên phải được quy định trong hợp đồng

* Các trường hợp thanh toán dưới đây cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng:

Trang 38

- Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được thanh toán cấn trừ vào khoản tiền vay nợ nước ngoài Doanh nghiệp phải có đủ điều kiện, thủ tục, hồ sơ như sau:

+ Hợp đồng vay nợ (đối với những khoản vay tài chính có thời hạn dưới 01 năm); hoặc giấy xác nhận đăng ký khoản vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đối với những khoản vay trên 01 năm)

+ Chứng từ chuyển tiền của phía nước ngoài vào Việt Nam qua ngân hàng + Phương thức thanh toán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cấn trừ vào khoản nợ vay nước ngoài phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu

+ Bản xác nhận của phía nước ngoài về cấn trừ khoản nợ vay

Sau khi cấn trừ giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu vào khoản nợ vay của nước ngoài có chênh lệch, thì số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng

- Doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng tiền thanh toán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

để góp vốn với cơ sở nhập khẩu ở nước ngoài, cơ sở kinh doanh phải có đủ điều kiện thủ tục Đối với trường hợp này, doanh nghiệp phải có đủ điều kiện thủ tục, hồ sơ như sau:

+ Hợp đồng góp vốn

+ Việc sử dụng tiền thanh toán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu để góp vốn vào cơ

sở nhập khẩu ở nước ngoài phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu

Trường hợp số tiền góp vốn nhỏ hơn doanh thu hàng hóa xuất khẩu thì số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn tại điểm này

- Trường hợp phía nước ngoài ủy quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán:

Việc thanh toán theo ủy quyền phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng - nếu có)

- Trường hợp phía nước ngoài yêu cầu bên thứ 3 là tổ chức ở Việt Nam thanh toán bù trừ công nợ với phía nước ngoài bằng thực hiện thanh toán qua ngân hàng số tiền phía nước ngoài phải thanh toán cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu

Việc yêu cầu thanh toán bù trừ công nợ nêu trên có quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng- nếu có) và có chứng

từ thanh toán là giấy báo có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của bên thứ 3, đồng thời bên xuất khẩu phải xuất trình bản đối chiếu công

nợ có xác nhận của bên nước ngoài và bên thứ 3

- Trường hợp phía nước ngoài (bên nhập khẩu) ủy quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán; bên thứ ba yêu cầu tổ chức ở Việt

Trang 39

Nam (bên thứ tư) thanh toán bù trừ công nợ với bên thứ ba bằng việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng số tiền bên nhập khẩu phải thanh toán cho cơ sở kinh doanh Việt Nam xuất khẩu thì cơ sở kinh doanh xuất khẩu phải có đủ các điều kiện, hồ sơ như sau:

+ Hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng - nếu có) quy định việc ủy quyền thanh toán, bù trừ công nợ giữa các bên

+ Chứng từ thanh toán là giấy báo có của ngân hàng về số tiền cơ sở kinh doanh Việt Nam xuất khẩu nhận được từ tài khoản của bên thứ tư

+ Bản đối chiếu công nợ có xác nhận của các bên liên quan (giữa cơ sở kinh doanh xuất khẩu với bên nhập khẩu, giữa bên thứ ba ở nước ngoài với bên thứ tư là tổ chức ở Việt Nam)

- Trường hợp phía nước ngoài ủy quyền cho Văn phòng đại diện tại Việt Nam thực hiện thanh toán vào tài khoản của bên xuất khẩu và việc ủy quyền thanh toán nêu trên có quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng - nếu có)

- Trường hợp phía nước ngoài (trừ trường hợp phía nước ngoài là cá nhân) thanh toán từ tài khoản tiền gửi vãng lai của phía nước ngoài mở tại các tổ chức tín dụng tại Việt Nam:

Việc thanh toán này phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng- nếu có)

+ Chứng từ thanh toán là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền

đã nhận được từ tài khoản vãng lai của người mua phía nước ngoài đã ký hợp đồng

+ Trường hợp xuất khẩu cho người mua phía nước ngoài là doanh nghiệp tư nhân và việc thanh toán thông qua tài khoản vãng lai của chủ doanh nghiệp tư nhân

mở tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam và được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng-nếu có) thì được xác định là thanh toán qua ngân hàng

+ Cơ quan thuế khi kiểm tra việc khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu thanh toán qua tài khoản vãng lai, cần phối hợp với tổ chức tín dụng nơi người mua phía nước ngoài mở tài khoản để đảm bảo việc thanh toán, chuyển tiền thực hiện đúng mục đích và phù hợp với quy định của pháp luật

- Trường hợp phía nước ngoài thanh toán qua ngân hàng nhưng số tiền thanh toán trên chứng từ không phù hợp với số tiền phải thanh toán như đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng thì:

Trang 40

+ Nếu số tiền thanh toán trên chứng từ thanh toán qua ngân hàng có trị giá nhỏ hơn số tiền phải thanh toán như đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh phải giải trình rõ lý do như: phí chuyển tiền của ngân hàng, điều chỉnh giảm giá do hàng kém chất lượng hoặc thiếu hụt (đối với trường hợp này phải

có văn bản thỏa thuận giảm giá giữa bên mua và bán)…;

+ Nếu số tiền thanh toán trên chứng từ thanh toán qua ngân hàng có trị giá lớn hơn số tiền phải thanh toán như đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh phải giải trình rõ lý do như: thanh toán một lần cho nhiều hợp đồng, ứng trước tiền hàng…

Cơ sở kinh doanh phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về các lý do giải trình với cơ quan thuế và các văn bản điều chỉnh (nếu có)

- Trường hợp phía nước ngoài thanh toán qua ngân hàng nhưng chứng từ thanh toán qua ngân hàng không đúng tên ngân hàng phải thanh toán đã thỏa thuận trong hợp đồng, nếu nội dung chứng từ thể hiện rõ tên người thanh toán, tên người thụ hưởng, số hợp đồng xuất khẩu, giá trị thanh toán phù hợp với hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết thì được chấp nhận là chứng từ thanh toán hợp lệ

- Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ cho bên nước ngoài (bên thứ hai), đồng thời nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ với bên nước ngoài khác hoặc mua hàng với tổ chức, cá nhân ở Việt Nam (bên thứ ba)

Nếu cơ sở kinh doanh có thỏa thuận với bên thứ hai và bên thứ ba về việc bên thứ hai thực hiện thanh toán qua ngân hàng cho bên thứ ba số tiền mà cơ sở kinh doanh còn phải thanh toán cho bên thứ ba thì việc bù trừ thanh toán giữa các bên phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu hoặc hợp đồng mua hàng (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng - nếu có) và cơ sở kinh doanh phải xuất trình bản đối chiếu công nợ có xác nhận của các bên liên quan (giữa

cơ sở kinh doanh với bên thứ hai, giữa cơ sở kinh doanh với bên thứ ba)

- Trường hợp hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài nhưng vì lý do khách quan phía nước ngoài từ chối không nhận hàng và cơ sở kinh doanh tìm được khách hàng mới cùng quốc gia với khách hàng ký kết hợp đồng mua bán ban đầu để bán lô hàng trên:

Hồ sơ hoàn thuế gồm toàn bộ hồ sơ xuất khẩu liên quan đến hợp đồng xuất khẩu ký kết với khách hàng ban đầu (hợp đồng, tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, hóa đơn), công văn giải trình của cơ sở kinh doanh lý do có sự sai khác tên khách hàng mua (trong đó cơ sở kinh doanh cam kết tự chịu trách nhiệm về tính

Ngày đăng: 22/04/2020, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w