1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)

93 76 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu chọn cây trội giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

–––––––––––––––––––––

NGUYỄN HỮU TRÀ

NGHIÊN CỨU CHỌN CÂY TRỘI GIỐNG QUẾ LÁ

NHỎ (CINNAMOMUM CASSIA BLUME) CÓ SẢN

LƯỢNG VỎ VÀ HÀM LƯỢNG TINH DẦU CAO PHỤC VỤ SẢN XUẤT GIỐNG TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN VĂN YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

–––––––––––––––––––––

NGUYỄN HỮU TRÀ

NGHIÊN CỨU CHỌN CÂY TRỘI GIỐNG QUẾ LÁ

NHỎ (CINNAMOMUM CASSIA BLUME) CÓ SẢN

LƯỢNG VỎ VÀ HÀM LƯỢNG TINH DẦU CAO PHỤC VỤ SẢN XUẤT GIỐNG TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN VĂN YÊN

Ngành:Lâm học

Mã số: 8.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Trung

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 06 tháng 09 năm 2019

Học viên

Nguyễn Hữu Trà

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy tập trung khóa (2017 - 2019) tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Lê Sỹ Trung đã dành nhiều thời gian, công sức truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

Tác giả chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu luận văn này

Mặc dù đã nỗ lực làm việc, nhưng do trình độ còn hạn chế, nên đề tài

sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quí thầy cô giáo, các nhà khoa học, các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề nghiên cứu và xin chân thành tiếp thu mọi ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan mọi số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực không sao chép của bất kỳ tác giả nào

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 06 tháng 09 năm 2019

Học viên

Nguyễn Hữu Trà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa của đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học, cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4

1.2 Cơ sở pháp lý 4

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1.3.1.Tình hình nghiên cứu cây quế trên thế giới 5

1.3.2.Tình hình nghiên cứu cây Quế ở Việt Nam 10

1.3.3 Đáng giá chung 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Phạm vi, địa điểm 17

2.3 Thời gian nghiên cứu 17

2.4 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 17

2.4.1 Điều kiện khí hậu khu vực nghiên cứu 17

2.4.2 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội của huyện Văn Yên 18

2.5 Nội dung nghiên cứu 23

Trang 6

2.5.1 Đánh giá thực trạng phát triển quế tại tỉnh Yên Bái 23

2.5.2 Nghiên cứu chọn giống Quế 23

2.5.3 Nghiên cứu nhân giống hữu tính Quế bằng hạt phục vụ phát triển trồng rừng 23

2.5.4 Đề xuất các giải pháp tổ chức quản lý và kỹ thuật kinh doanh loài cây lựa chọn và kỹ thuật sản xuất giống 24

2.6 Phương pháp nghiên cứu 24

2.6.1 Phương pháp nghiên cứu chung 24

2.6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 24

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Hiện trạng phát triển quế tại tỉnh Yên Bái 34

3.1.1 Diện tích rừng trồng Quế và biến động diện tích trồng Quế qua các năm tại tỉnh Yên Bái 34

3.1.2 Thực trạng về công tác quản lý giống, nguồn giống và kết quả sản xuất giống trên địa bàn tỉnh Yên Bái 35

3.1.3 Thực trạng về kỹ thuật gây trồng, năng suất, sản lượng Quế 37

3.1.4 Thực trạng về kỹ thuật khai thác, chế biến, giá cả và thị trường tiêu thụ Quế trên địa bàn tỉnh Yên Bái 42

3.2 Kết quả nghiên cứu chọn lọc cây trội Quế 47

3.2.1 Kết quả chọn lọc cây trội thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng 47

3.2.2 Kết quả chọn lọc cây trội 57

3.3 Nghiên cứu nhân giống Quế bằng hạt phục vụ phát triển trồng rừng 60

3.3.1 Kết quả thí nghiệm gieo ươm 60

3.3.2 Sinh trưởng cây con Quế trong vườn ươm của các gia đình cây trội và giống đại trà 62

3.4 Đề xuất giải pháp 71

3.4.1 Đề xuất các kỹ thuật chọn lọc cây trội, thu hái và chế biến hạt giống, kỹ thuật nhân giống Quế từ hạt dựa trên các kết quả đã nghiên cứu 71

Trang 7

3.4.2 Đề xuất các giải pháp tổ chức quản lý và kỹ thuật kinh doanh loài

cây lựa chọn và kỹ thuật sản xuất giống 72

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 74

1 Kết luận 74

2 Tồn tại 75

3 Khuyến nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu 18

Bảng 3.1 Biến động diện tích quế qua các năm 35

Bảng 3.2 Trọng lượng và chất lượng vỏ quế trung bình tại Yên Bái 42

Bảng 3.3 Kết quả điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng của lâm phần 48

Bảng 3.4 Kết quả chọn lọc 40 cây trội dự tuyển thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng 51

Bảng 3.5 Kết quả chọn lọc cây trội thông qua các chỉ tiêu định tính về hình thái và hàm lượng tinh dầu trong vỏ 56

Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả chọn lọc cây trội Quế 59

Bảng 3.7 Tỷ lệ nảy mầm của hạt Quế theo các phương pháp xử lý khác nhau 61

Bảng 3.8 Sinh trưởng cây con trong vườn ươm thu hái từ các cây trội so với giống đại trà sau 3 tháng 62

Bảng 3.9 Sinh trưởng cây con trong vườn ươm thu hái từ các cây trội so với giống đại trà sau 6 tháng 65

Bảng 3.10 Sinh trưởng cây con trong vườn ươm thu hái từ các cây trội so với giống đại trà sau 9 tháng 68

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Ảnh lâm phần quế 48

Hình 3.2 Ảnh một số cây trội quế dự tuyển 54

Hình 3.3 Ảnh đại diện cây trội 58

Hình 3.4 Ảnh cây con 3 tháng tuổi 64

Hình 3.5 Cây con gieo ươm sau 6 tháng và cây đại trà 67

Hình 3.6 Cây con gieo ươm sau 9 tháng 70

Biểu đồ 3.1 Sinh trưởng đường kính và chiều cao trung bình các gia đình cây trội so với giống đại trà theo tuổi 70

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết

Việt Nam với diện tích 331.698 km2, trong đó có 327.480 km2 đất liền, 45.000km2 biển, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, trải dài trên 15 vĩ độ, kéo dài theo hướng Bắc - Nam, giáp biển Đông Với những đặc điểm trên đã tạo điều kiện cho Việt Nam có nguồn tài nguyên động, thực vật phong phú và đa dạng, đứng trong 10 nước có đa dạng sinh học phong phú nhất trên thế giới Theo thống kê "Tiếp cận các nguồn gen và chia sẻ lợi ích" (của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới - IUCN), thì tại Việt Nam hiện có gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2.256 chi, 305 họ (chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi, 57% tổng số họ thực vật trên thế giới); 69 loài thực vật hạt trần; 12.000 loài thực vật hạt kín; 2.200 loài nấm; 2.176 loài tảo; 481 loài rêu; 368 loài vi khuẩn lam; 691 loài dương xỉ và 100 loài khác Đáng chú ý nhất đã ghi nhận được 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao cũng như bậc thấp (kể cả nấm), trong đó cây Quế cho sản phẩm lâm sản ngoài gỗ với nhiều công dụng khác nhau như: làm thuốc, gia vị, hương liệu thường xuyên cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế hàng ngàn

Trang 12

Quế (Cinnamomum cassia Blume) là loài cây thân gỗ có kích thước từ

trung bình đến lớn, có thể cao tới 35 - 40m, đường kính có thể đạt tới 60 - 80cm, là cây lá rộng thường xanh Trước đây Quế có phân bố tự nhiên ở một

số nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Á, ở độ cao từ 200-800m so với mực nước biển (Trần Văn Quyết, 2017)

Việt Nam được xác định là một trong những trung tâm phân bố tự nhiên của cây Quế, đặc biệt là ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam và Quảng Ngãi Hiện nay loài cây này đã được gây trồng mở rộng ra nhiều vùng sinh thái khác nhau và ở các châu lục khác nhau, tuy nhiên chất lượng sản phẩm không thể bằng nơi nguyên sản Sản phẩm chính của cây Quế chủ yếu là vỏ thân, vỏ cành và tinh dầu được chưng cất từ vỏ hoặc lá, có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao Được dùng trong Y học, công nghiệp thực phẩm và hóa mỹ phẩm nước hoa, kem dưỡng da… Đặc biệt, gỗ Quế có kích thước nhỏ cũng có thể bóc lạng để sản xuất gỗ ván ép có đặc điểm nhẹ và đẹp, thích hợp sử dụng để trang trí nội thất được nhiều người

Trang 13

Ở nhiều địa phương như Lai Châu, Hòa Bình, Phú Thọ, Lạng Sơn, đã gây trồng hàng nghìn ha nhưng chất lượng rừng rất thấp, khả năng sinh trưởng

kém, tăng trưởng chậm, ra hoa quả ít Vì vậy “Nghiên cứu chọn cây trội

giống Quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên”

là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Chọn lọc được cây trội Quế: thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất vỏ và hàm lượng tinh dầu trong vỏ

- Đề xuất các giải pháp tổ chức quản lý và kỹ thuật kinh doanh loài cây lựa chọn và kỹ thuật sản xuất giống

3 Ý nghĩa của đề tài

- Cung cấp các dẫn liệu khoa học có tính hệ thống về: đặc điểm sinh học; năng xuất, sản lượng cây trồng, tiêu chuẩn và kỹ thuật chọn giống chăm sóc cây giống và sản xuất cây giống đó là những cơ sở khoa học cho những người quan tâm, tham khảo trong gây trồng;

- Là tài liệu tham khảo trong đào tạo và nghiên cứu trong phát triển kinh doanh cây Quế

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học, cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Cơ sở khoa học trong nghiên cứu chọn cây trội Quế của đề tài chính là việc lợi dụng các biến dị có lợi từ chọn lọc tự nhiên Đó là quá trình phân hoá khả năng sống sót và mức thành đạt sinh sản của các kiểu gen khác nhau trong quần thể, từ đó dẫn đến đào thải các kiểu hình kém thích nghi, đồng thời tăng cường khả năng sống sót của các dạng thích nghi, tạo cơ hội cho các kiểu gen thích nghi này đóng góp vào vốn gen của quần thể ở thế hệ sau Việc chọn lọc cây trội được tiến hành trong rừng đồng tuổi cây Quế nhằm chọn ra các cá thể đáp ứng yêu cầu cao nhất về sản lượng và chất lượng theo mục tiêu kinh doanh mà ở đây chính là vỏ và tinh dầu trong vỏ, việc chọn cây trội là khâu quan trọng và quyết định nhất trong chương trình cải thiện giống cây rừng, cây trội chính là nền tảng của một chương trình chọn giống Cây trội là những cây có sinh trưởng nhanh trong rừng, có chất lượng sản phẩm theo mục tiêu kinh doanh đạt yêu cầu cao nhất Đây là những biến dị tự nhiên về sinh trưởng, hình dạng thân cây và các mong muốn khác đã xuất hiện một cách tự phát trong nhiều năm và được chọn lọc tự nhiên giữ lại Đó là những cá thể thích nghi nhất với các điều kiện khí hậu, đất đai và thực bì của mỗi vùng do

đó có sức sống cao nhất Quế là cây có đời sống dài ngày, lâu ra hoa kết quả; trong khi yêu cầu sản xuất rất cấp bách, các phương pháp tạo giống khác như khảo nghiệm, lai giống… đòi hỏi thời gian rất lâu và cần nguồn kinh phí lớn

Vì vậy, chọn lọc cây trội lợi dụng các biến dị tự nhiên là phương pháp chọn giống đưa lại hiệu quả nhanh nhất

1.2 Cơ sở pháp lý

Đề tài nghiên cứu chọn cây trội giống quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia

blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống

Trang 15

trên địa bàn huyện Văn Yên - Yên Bái được thực hiện trên cơ sở các văn bản pháp lý sau:

- Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 23 - 2000 - Quy phạm kỹ thuật trồng quế

(Cinnamomum Cassia BL) ban hành theo Quyết định số 05

/2000/QĐ-BNN/KHCN ngày 25/01/2000 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

- Quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 89/2005/QĐ-BNN ngày 29/12/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Tiêu chuẩn ngành 04 - Tiêu chuẩn công nhận giống cây trồng lâm nghiệp (04 TCN 147-2006) ban hành kèm theo Quyết định số 4108/QĐ/BNN-KHCN ngày 29/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.3.1.Tình hình nghiên cứu cây quế trên thế giới

1.3.1.1 Nghiên cứu về phân loại, công dụng đặc điểm sinh học và sinh thái

Đây là một lĩnh vực được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm, cụ thể:

- Về phân loại: đã có một số tác giả như Kostermans (1985), Willis (1973), Baruah và Nath (1997, 1998) đã nghiên cứu một cách tương đối hệ

thống và đầy đủ về chi Cinnamomum trên thế giới và cho rằng chi Cinnamomum có khoảng 250 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và

cận nhiệt đới châu Á, Châu Phi, Châu Úc và Châu Mỹ Riêng ở Châu Á có 4

loài có giá trị kinh tế, được gây trồng nhiều đó là các loài Cinnamomum cassia; C burmannii; C tamala; C loureirii Tuy nhiên, các tác giả chỉ đã

mô tả và đề cập đến 2 loài: C cassia và C loureirii có phân bố ở Việt Nam

Hiện ở Việt Nam còn phân bố loài quế nào khác hay không? Điều này vẫn còn có một số tranh luận (P.N Ravindran và cs, 2004)

- Về đặc điểm sinh học: điển hình Balasubramanian và cộng sự (1993), Birnstiel (1922), Chaudhuri and Kayal (1971), Bamber và Summerville

Trang 16

(1979), Shylaja and Manilal (1992), Shylaja (1984) cho rằng các loài quế khác nhau, có các cấu tạo lá khác nhau Do đó, để phân biệt loài, một trong những phương pháp hữu ích là tiến hành giải phẫu lá Các tác giả cũng đưa ra đặc điểm của vỏ quế của 4 loài chính làm căn cứ để xác định loài Một trong những đặc điểm khác của cây quế sau khi khai thác vỏ từ cây đứng, nếu tiếp tục nuôi dưỡng cây, vỏ cây nhanh chóng sẽ phát triển (tái tạo) trở lại Điều này có ý nghĩa là rất quan trọng trong kinh doanh rừng quế Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu nào liên quan đến việc tái tạo lại

vỏ sau khi đã bóc Ngoài ra còn một số nghiên cứu về đặc điểm vật hậu của cây quế như Joseph (1981), Kubitzsky và Kurz (1984), Mohanakumar và cộng sự (1985), các tác giả cho rằng quế ra hoa vào tháng từ tháng 10 - 12 Hoa quế nở 2 lần vào 2 thời kỳ Thời kỳ đầu tiên, vào ngày đầu tiên hoa nở trong vòng khoảng 5 giờ liền, rồi đóng lại, thời kỳ này bao phấn chưa mở Thời

kỳ thứ hai, hoa nở một lần nữa, sau khoảng 30-60 phút, bao phấn nứt để thụ phấn Sau khoảng 5 giờ, hoa đóng lại Hiểu được quy luật này rất có ý nghĩa cho việc lai giống quế Đây là vấn đề gợi mở cho hướng đi tiếp theo ở giai đoạn sau của đề tài này

- Về công dụng và đặc điểm tinh dầu: sản phẩm của cây quế gồm vỏ, tinh dầu có nhiều công dụng nhưng chủ yếu làm gia vị, hương liệu trong chế biến thực phẩm, làm thuốc, hương liệu trong công nghiệp mỹ phẩm (Asolkar, 1994; Kakinuma, 1984; Tanaka, 1989) Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng sản phẩm vỏ quế, ngoài hàm lượng tinh dầu, cần có thành phần chính là cinnamaldehyde Ngoài ra còn có các thành phần khác như alphatecpineol, coumarin và benzaldehyde (Lawrence, 1967) Thành phần cinnamaldehyde trong vỏ quế chiếm khoảng 80-95% là tốt nhất Phương pháp xác định hàm lượng tinh dầu quế được thực hiện phổ biến hiện này là bằng phương pháp lôi cuốn bằng hơi nước sẽ cho hiệu suất đạt từ 0,5 - 2,0%, đánh giá thành

Trang 17

phần tinh dầu vỏ quế bằng máy sắc ký đảm bảo độ chính xác cao (Purseglove và cs., 1981)

- Về đặc điểm sinh thái, sinh trưởng: Senanayake (1977), J Ranatunga

và cộng sự (2004) cho rằng quế là cây trồng khó tính Loài quế C verum thích hợp với điều kiện khí hậu bán khô đến ẩm, đất pha cát, nhiều mùn, hơi chua (pHKCL≈ 4,5 - 5,5), thoát nước, có đá lẫn Nhiệt độ trung bình năm từ 20-300C, lượng mưa từ 1.250-2.500mm, độ cao khoảng 300-350m so với mực nước biển Tuổi thọ của cây quế có thể lên tới 30-40 năm, với điều kiện lập địa thích hợp, cây quế cao trung bình 1,5-2m, từ 3-4 chồi, có thể khai thác lấy

lá, cành chưng cất tinh dầu

1.3.1.2 Nghiên cứu về giống

Công tác cải thiện giống quế đã được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Có thể khái quát kết quả của một số công trình nghiên cứu điển hình như sau: Năm 1950 ở Ấn Độ đã chọn được 291 dòng/giống có năng suất vỏ, chất lượng tinh dầu cao Riêng giống quế

Cinnamomum cassia đã chọn được 35 dòng có chất lượng rất tốt Ở SriLanka

cũng đã bắt đầu nghiên cứu cải thiện giống quế từ những năm 1950, đã chọn được 300 giống có năng suất, chất lượng tốt để cung cấp giống cho sản xuất Còn ở Indonesia cũng đã chọn được hàng trăm giống có năng suất cao, chất lượng tinh dầu tăng từ 11,5% đến 26,79% Tất cả các cây quế được lựa chọn đều có những đặc tính tốt như: cây sinh trưởng phát triển tốt, thân thẳng, vỏ mịn, dễ bóc, kháng sâu bệnh, năng suất vỏ cao, hàm lượng tinh dầu cao ở vỏ

và lá cây, tỷ lệ thành phần cinnamaldehyde cao Đây cũng là những tiêu chuẩn chọn giống sẽ được tham khảo áp dụng vào đề tài (Ravindran và cs, 2004) Năm 1970, Trung Quốc có nhập giống quế Thanh Hoá của Việt Nam song không phát triển được nên hiện nay chủ yếu sử dụng giống của địa phương Hiện nay, đã chọn được hàng trăm giống quế có năng suất chất lượng tốt, trồng hàng trăm ha vườn cung cấp giống quế (Krishnamoorthy và cs,

Trang 18

1999; 2001)

1.3.1.3 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng

Đây là lĩnh vực nghiên cứu đã được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm

- Về kỹ thuật trồng: các nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng quế cũng đã được thực hiện từ nhiều năm nay ở Trung Quốc, Ấn

Độ, Sri Lanka, Indonesia Điển hình là các công trình của các tác giả J Ranatunga và cs (2004), M Hasanad và cs, 2004; Akabid Baruab và cs, 2004

Ở Indonesia, quế thường trồng phổ biến với mật độ từ 10.000 - 14.000 cây/ha

Ở vùng Sumatra quế được gieo theo hàng với cự ly 1m trước khi trồng quế 6 tháng Sau đó quế được trồng trong hàng xen với Tephrosia candia Cành của cây Tephrosia candia được cắt và rải đều trong diện tích trồng quế (Akahil Baruah và Subhan C Nath, 2004) Rừng quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng Phân bón được khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 200 - 600kg/ha tùy thuộc tuổi cây (năm thứ nhất: 200kg/ha; năm thứ hai: 400 kg/ha; năm thứ ba: 600kg/ha) Chăm sóc ít nhất 2 lần/năm trong vòng 5 năm liền Khi cây quế có tuổi khoảng 40-50 tuổi, khả năng tái sinh bị giảm đáng kể, dẫn đến sản lượng giảm

- Về năng suất, sản lượng rừng quế: đã có một số nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy trồng quế với mật độ 5.000 -8.000 cây/ha, sau 15 năm, sản lượng quế trung bình đạt 16 tấn/ha Mục tiêu trồng là lấy vỏ tuy nhiên có kết hợp lấy lá (Viên Kim Cương, 2014)

- Về phòng trừ sâu bênh hại quế: sâu bệnh hại quế có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng tinh dầu quế Ở Srilanka, nếu rừng quế bị sâu bệnh, năng suất có thể giảm tới 20%, với các bệnh phổ biến là sâu ăn lá, bệnh đốm lá, hoặc muội lá Do đó trong quá trình trồng quế cần quan tâm để phòng trừ sâu bệnh hại rừng quế

Trang 19

1.3.1.4 Nghiên cứu về khai thác, sơ chế, bảo quản và thị trường vỏ quế

- Về khai thác vỏ quế: Theo M Hasanah và cs (2004), ở Indonesia, thời

vụ, tuổi khai thác cũng như phương pháp khai thác quyết định tới chất lượng của vỏ quế

- Về thị trường quế: phân tích số liệu của COMTRADE - LHQ thì thị trường gia vị quốc tế khá ổn định với tổng nhu cầu ước tính đạt 3,7 tỷ USD vào năm 2012 Trong khi Mỹ, Đức, và các nước khác ở châu Âu cũng như Trung Đông là nước nhập khẩu quế lớn, thì Ấn Độ, Việt Nam, Guatemala, và Trung Quốc đang cạnh tranh về mặt cung cấp Xét về khối lượng sản xuất và thương mại vỏ quế, tổng nhu cầu về vỏ quế trên toàn cầu được ước tính vào khoảng 190.000 tấn Tuy nhiên, do tiêu thụ trong nước, khối lượng thương mại quốc tế ít hơn, chiếm 70-80% nhu cầu toàn cầu, nằm trong khoảng từ 100.000 - 130.000 tấn Từ năm 2004, nhập khẩu vỏ quế trên toàn cầu đã tăng nhẹ, từ 113.000 tấn năm 2004 lên đến 135.000 tấn vào năm 2013 Tuy nhiên,

có một sự gia tăng dần từ năm 2009-2012 với đỉnh điểm đạt 140.000 tấn Trong năm 2013, nhu cầu toàn cầu đã giảm xuống còn 135.000 tấn nhưng trong năm 2014, nhu cầu về quế dường như tăng đạt đỉnh với bằng chứng về giá tăng cao bất thường trên thị trường quế Việt Nam (Viên Kim Cương, 2014) Như vậy, các sản phẩm quế có tiềm năng thị trường lớn nhất là đối với sản phẩm quế có chất lượng cao

Tóm lại: từ những kết quả nghiên cứu trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Một số kết quả nghiên cứu về phân loại, chọn giống, kỹ thuật trồng thâm canh, khai thác, sơ chế, bảo quản sản phẩm có liên quan đến cây quế ở Việt Nam trên thế giới không nhiều, nhưng là những thông tin tham khảo quan trọng

- Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về phân loại quế trên thế giới, nhưng việc ở Việt Nam có mấy loài quế phân bố, được gây trồng Điều này vẫn còn một số tranh luận

Trang 20

- Công tác chọn giống quế đã được quan tâm, nhiều nước Ở Trung Quốc đã chọn và xây dựng những nguồn giống quế có năng suất cao gấp 4-5 lần so với Việt Nam

- Đã có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng, tập trung vào một số biện pháp kỹ thuật mũi nhọn trong thâm canh quế cho năng suất, sản lượng và hiệu quả rừng trồng quế cao như: mật độ, bón phân, làm đất và chăm sóc

- Đã có một số nghiên cứu về khai thác, sơ chế và bảo quản quế có hiệu quả trên thế giới nhất là ứng dụng công nghệ cao trong sơ chế bảo quản quế Ở Việt Nam, đây cũng là một trong những tồn tại cần được nghiên cứu bổ sung

1.3.2.Tình hình nghiên cứu cây Quế ở Việt Nam

Từ năm 1993 Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống, trong đó mới đề cập đến các tiêu chuẩn chọn cây trội để lây gỗ Sau này, trong Tiêu chuẩn công nhận giống (Bộ NN&PTNT,1998, 2003) đã đề cấp đến tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy các sản phẩm ngoài gỗ nói chung mà chưa nêu cụ thể Đến tiêu chuẩn công nhận giống gần đây (Bộ NN&PTNT, 2006) mới có quy định về tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy sản phẩm ngoài gỗ từ rừng trồng và từ trồng cây phân tán

Nghiên cứu về cây Quế trong nước cũng được nhiểu tác giả bàn luận tới mà điển hình như:

1.3.2.1 Nghiên cứu về phân loại, công dụng đặc điểm sinh học và sinh thái

- Về phân loại và mô tả hình thái: ở lĩnh vực nghiên cứu này có lịch sử tương đối dài Vào khoảng 2000 năm trước đây, Giao chỉ Ngọc quế là sản vật

có giá trị làm quà biếu của người Trung Quốc Từ thế kỷ XIV, Tuệ Tĩnh có những ghi chép ban đầu về đặc điểm cây quế và công dụng làm thuốc Tiếp

theo đó Lê Quý Đôn trong "Vân đài loại ngữ" và Nguyễn Trứ trong "Việt Nam thực vật học" cũng mô tả lại hình thái và công dụng của cây quế Trần Hợp (1976, 1984) kết luận "Cinnamomum cassia Blume là loài quế có nguồn

gốc tại Việt Nam, là nguyên sản tại Việt Nam nên còn có tên gọi là quế Giao

Trang 21

Chỉ" Hoàng Cầu (2001) cho rằng các cây quế và vùng quế cũng như sự phân loài trong nhân dân thì cây quế ở nước ta có 2 loài chính: quế lá to và quế lá nhỏ Cây quế lá to mọc khá phổ biến có tán rậm, lá to, lớn nhanh nhưng vỏ mỏng và hàm lượng tinh dầu trong vỏ thấp Cây quế lá nhỏ tán thưa, lá nhỏ,

số lượng chiếm từ 5 - 10 %, chậm lớn, nhưng vỏ dày và hàm lượng tinh dầu trong vỏ cao hơn quế lá to

- Về công dụng: hầu hết các tác giả cho rằng công dụng của các bộ phận trên cây quế chủ yếu là làm thuốc, giá trị dược liệu của các bộ phận này phụ thuộc vào kỹ thuật khai thác, chế biến vỏ quế Quế không chỉ là một loại gia vị cho các món ăn và cuộc sống Quế cũng là một sản phẩm để cải thiện sức khỏe (Viên Kim Cương, 2014)

- Về chất lượng tinh dầu quế: tại một số vùng ở Việt Nam được Nguyễn Mê Linh và cộng sự công bố trong những năm từ 1976 - 1980 cho thấy hàm lượng tinh dầu quế ở nước ta đều cao hơn so với các nước khác Cụ thể là hàm lượng này biến động từ 1,12 - 4% còn ở các nước khác bình quân

từ 1 - 2%

1.3.2.2 Nghiên cứu về giống

Ở Việt Nam, từ những năm 1970 đã có chọn cây trội, khảo nghiệm xuất

xứ, khảo nghiệm hậu thế cho cây quế Tuy nhiên, đến những năm 1990, việc chọn giống quế mới được quan tâm đúng mức Điển hình là các công trình của Lê Đình Khả và cộng sự (2003), Phạm Văn Tuấn và Nguyễn Huy Sơn (2007) Năm 2003 Lê Đình Khả và cộng sự đã chọn 19 cây trội ở rừng trồng 9

và 12 tuổi, có độ vượt trội về diện tích vỏ từ 72 - 102% so với trị số trung bình của đám rừng Trong tổng số 19 cây trội, có 5 cây trội đã được phân tích tinh dầu và 4 cây trội có hàm lượng tinh dầu cao hơn đối chứng (hàm lượng tinh đầu cây trội từ 0,84 - 1,89%, cây đối chứng 0,38%) Đây là công bố đầu tiên nghiên cứu về giống quế theo sinh trưởng và tinh dầu Tuy nhiên không

rõ tại sao hàm lượng tinh dầu ở đây lại thấp như vậy (Ngô Đình Quế, Hoàng

Trang 22

Cầu, Nguyễn Đức Minh, 1988) Nguyễn Huy Sơn (2006) cho rằng khi chọn giống quế cần phải kết hợp giữa các chỉ tiêu sinh trưởng, hiệu suất và chất lượng tinh dầu Đồng thời, tác giả cũng chỉ rõ, giữa hàm lượng tinh dầu và một số chỉ tiêu sinh trưởng của quế ở các vùng nghiên cứu không có tương quan chặt Do đó, không nên dùng các chỉ số này để làm chỉ tiêu chọn giống Còn giữa hàm lượng tinh dầu và kích thước lá quế Yên Bái có tương quan chặt chẽ nên có thể sử dụng hình thái lá như một chỉ tiêu chọn giống (Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Huy Sơn, 2007) Hơn nữa, các tác giả đã xây dựng được mô hình khảo nghiệm xuất xứ 6 vùng phân bố ở Việt Nam là Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam và Quảng Ngãi từ các kết quả đã rút

ra được 2 xuất xứ tốt là Yên Bái và Quảng Nam, đã xây dựng được 3 ha vườn giống vô tính quế ở Lương Thịnh, Trấn Yên - Yên Bái Nhưng các đề tài đều

có thời gian thực hiện ngắn (3-4 năm), không kế thừa được kết quả của nhau, trong khi để có kết quả nghiên cứu về chọn giống quế, tối thiểu phải mất 10-

15 năm mới cho kết quả bước đầu Do đó, có đề tài sau khi vừa chọn được một số cây trội, xây dựng các khảo nghiệm hậu thế thì đề tài đã kết thúc, không có kinh phí chăm sóc, theo dõi, phân tích đánh giá tiếp nên đến nay đa

số các thí nghiệm đều không còn tồn tại để kế thừa Do đó, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa chọn và có nguồn giống quế có năng suất, chất lượng cao, đạt chuẩn chính thức được công nhận từng vùng sinh thái để cung cấp giống cho sản xuất theo tiêu chí chọn giống quế cả về số lượng và chất lượng

1.3.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng, sinh trưởng và sản lượng rừng trồng quế

- Về nhân giống bằng hạt: Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2001, 2014),

Vũ Đại Dương (2002) đã xây dựng hướng dẫn rất cụ thể về kỹ thuật thu hái

và bảo quản hạt giống Các tác giả khẳng định môi trường pH đất và phân bón

có ảnh hưởng rõ rệt đến tích luỹ dinh dưỡng và sinh trưởng của cây con trong vườn ươm Đất hơi chua (pH = 6) thích hợp nhất cho cây quế ở giai đoạn

Trang 23

vườn ươm Phân đạm thích hợp với nền đất chua và liều lượng phân đạm là 0,1% phù hợp với đất có pH = 5- 7, đất chua mạnh bón đạm với nồng độ 0,3% là thích hợp Đất chua nên bón đạm Urê, đất trung tính bón super lân và clorua kali Độ che sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ cây sống ở giai đoạn này, ở các công thức không che hay che 25% cây chết hoàn toàn, khi nâng độ che lên 75-100% tỷ lệ cây sống >80% Độ che sáng còn ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con ở tuổi: từ 0 đến 5 tháng tuổi: che 15% cây sinh trưởng tốt,

ở giai đoạn từ 5-12 tháng tuổi che 50% cây sinh trưởng tốt hơn so với che 100% Các kết quả nghiên cứu nhân giống từ hạt đã được tổng kết thành một

75-số tiến bộ kỹ thuật và đã áp dụng trong thực tế

- Về kỹ thuật trồng: đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như Trần Lê Hoàng (1996), Phạm Xuân Hoàn (1998), Nguyễn Huy Sơn (2006) cho rằng có thể trồng quế được trồng theo một số mô hình xen cây gỗ, nông lâm kết hợp với mật độ 2.000 - 3.000 cây/ha, sau đó tỉa thưa ở năm thứ năm để lại rừng quế thuần loại Tuy nhiên hiện nay, mật độ trồng quế hiện nay rất khác nhau, từ 1.650 - 20.000 cây/ha tùy theo địa phương Tổng kết các kết quả nghiên cứu, Ngô Đình Quế, Hoàng Cầu, Nguyễn Đức Minh (1988),

đã dự thảo quy trình kỹ thuật trồng quế được Bộ Lâm nghiệp cũ phát triển để xây dựng quy phạm kỹ thuật trồng quế của Bộ từ năm 1990 Sau đó là quy phạm về kỹ thuật trồng quế QPN 04 TCN 23:2000 được Bộ NN&PTNT ban hành năm 2000 Ngoài ra, các nghiên cứu chăm sóc, nuôi dưỡng, tỉa thưa rừng quế theo mật độ, tuổi cây quế chưa được đề cập nhiều Đặc biệt, tác giả Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Huy Sơn (2007) đã xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật trồng rất chi tiết, cụ thể từ tiêu chuẩn cây con đem trồng, thời vụ trồng, phương pháp xử lý thực bì Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay trong sản xuất

có rất ít các mô hình trồng quế theo quy định này, đặc biệt là vẫn trồng cây con rễ trần hoặc cây con từ hạt có tuổi chỉ 9-12 tháng Trong 3 năm đầu, rừng quế trồng không bón thúc Do đó dẫn đến tỷ lệ sống, sinh trưởng, năng suất

Trang 24

của rừng quế trồng thấp Trong khi đó, tiêu chuẩn cây con, bón phân là một trong những biện pháp mũi nhọn trong trồng rừng thâm canh quế Điều này đã gợi mở hướng đi của đề tài là tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của tiêu chuẩn cây con đem trồng, phân bón thúc trong 3 năm đầu tới khả năng sinh trưởng

và năng suất của rừng trồng thâm canh quế nhằm bổ sung những vấn đề còn thiếu sót trong các nghiên cứu trước đây

- Nghiên cứu về sinh trưởng và định lượng quá trình sinh trưởng về cây quế ở nước ta còn đang ở mức độ thăm dò Đã có một số kết quả nghiên cứu điển hình của Trần Hợp (1984), Phạm Xuân Hoàn (2001) Các tác giả đã lập bảng tra để xác định B1.3 từ sơ đồ đường kính cả vỏ trong thực tế trên cơ sở xác lập mối liên hệ đường thẳng bậc nhất giữa đường kính 1,3m không vỏ và đường kính cả vỏ để lập bảng tra để xác định B1.3 từ sơ đồ đường kính cả vỏ trong thực tế ở Yên Bái Tác giả đã nhận xét ở tuổi 8 nếu khai thác quế đã cho NPV > 0, nghĩa là đã có lãi, tuy nhiên khai thác ở tuổi này số lượng và chất lượng vỏ quế thấp, hàm lượng tinh dầu thấp Ở tuổi 25 suất tăng trưởng về thể tích vỏ thấp, Pv nhỏ quá tuổi này thể tích vỏ hầu như không tăng nên không có lợi cho người kinh doanh, nghĩa là nên khai thác trước tuổi 25 Nếu khai thác

ở tuổi 15-16 sẽ giải phóng được quỹ đất, ngược lại khai thác sau tuổi 20 sẽ cho lợi nhuận NPV cao nhưng chu kỳ dài, vòng quay vốn chậm Khai thác hợp lý nhất ở tuổi 14 -18 cho sản lượng, chất lượng cao, quay vòng vốn nhanh, hạn chế được rủi ro trong kinh doanh và phù hợp với khả năng đầu tư

và trình độ quản lý của đại bộ phận nông dân hiện nay

1.3.2.4 Nghiên cứu về khai thác, sơ chế, bảo quản và thị trường vỏ quế

- Về khai thác: đã có một số nghiên cứu về kỹ thuật khai thác, sơ chế, bảo quản và thị trường quế Điển hình là công trình Hoàng Cầu và Nguyễn Hữu Phước (1993), Hoàng Cầu (2001), Viên Kim Cương, (2014) cho rằng tuổi cây quế sau 6-7 năm đã tiến hành khai thác tỉa thưa, với chu kỳ khai thác

15 năm cần phải tiến hành khai thác tỉa thưa 2 - 3 lần để điều chỉnh mật độ

Trang 25

thích hợp Sau 15 năm rừng quế đã có thể tiến hành khai thác chính Tuy nhiều sản phẩm tỉa thưa chủ yếu dùng vào công nghiệp chế biến thực phẩm và hương liệu Các loại quế tốt dùng để làm thuốc chu kỳ khai thác thường kéo dài trên 20 năm Tuổi cây quế tăng tỷ lệ thuận với lượng tăng trưởng của vỏ quế và không nên khai thác quế dưới 12 tuổi Mật độ trồng quế có quan hệ chặt chẽ với đường kính cây, độ dầy vỏ và hàm lượng tinh dầu của vỏ quế Với chu kỳ kinh doanh 15-20 năm mật độ cuối cùng để lại 600-800 cây/ha là thích hợp Có thể khai thác vỏ quế nhiều lần trên 1 cây, mỗi lần bóc 1/4, 1/3 hay 1/2 diện tích vỏ về một phía Khai thác chọn theo cấp kính hay khai thác trắng nên được áp dụng trong sản xuất Trong thực tế, quế được thu hoạch quanh năm, nhưng chủ yếu được thu hoạch vào mùa xuân và mùa thu Đặc biệt, theo kinh nghiệm trong sản xuất thời vụ khai thác và tuổi khai thác có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất vỏ, chất lượng tinh dầu và hiệu quả kinh doanh rừng quế Do đó, hướng đi của đề tài tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ khai thác và tuổi khai thác đến năng suất vỏ, chất lượng tinh dầu

để làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật trong kinh doanh rừng quế

- Về sơ chế, chế biến và bảo quản: các tác giả kể trên cho rằng không nên phơi quế ra ngoài nắng hoặc gác lên sàn bếp, không để ngoài mưa, sương đêm khi sơ chế quế Tuỳ theo chất lượng và quy cách sản phẩm vỏ quế khác nhau mà kỹ thuật chế biến cũng khác nhau Để chế biến được quế tốt dùng vào mục đích làm thuốc chữa bệnh phải tốn nhiều công sức từ việc chọn cây

quế tốt, xác định vị trí và quy cách lấy vỏ

- Về thị trường và hiệu quả kinh tế trồng quế: đã có một số tác giả nghiên cứu như Trần Hữu Dào (2000), Phạm Xuân Hoàn (2001), Viên Kim Cương (2014) Các tác giả cho rằng sản phẩm quế là mặt hàng được buôn bán

từ lâu đời, tiêu thụ quế trong nước không nhiều, chủ yếu quế được xuất khẩu Việc phát triển và kinh doanh quế có sự tham gia của nhiều thành phần kinh

tế bước đầu đã thúc đẩy gây trồng, tiêu thụ sản phẩm nhanh, thuận lợi hơn và

Trang 26

giá cả cũng linh hoạt hơn Tuy nhiên, cho đến nay giữa người sản xuất quế và khâu lưu thông, buôn bán và xuất khẩu vẫn chưa có mối quan hệ chặt Nên người sản xuất vẫn còn nhiều thiệt thòi về giá, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm khi thị trường quế biến động Việc trồng quế đã đem lại lợi ích kinh tế cao góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào miền núi Tuy nhiên, đáp ứng yêu cầu về chất lượng và khía cạnh xã hội/môi trường là một thách thức đối với ngành quế Việt Nam Do đó có việc đòi hỏi công tác nghiên cứu chọn giống quế

có năng suất cao, chất lượng tốt càng là nhu cầu bức thiết trong tương lai

1.3.3 Đáng giá chung

Cây Quế là cây đa mục đích có giá trị kinh tế cao được dùng trong nhiều lĩnh vực: Y tế, thực phẩm, mỹ phẩm, xây dựng, làm đồ gia dụng và cũng được nhiều tác giả nghiên cứu từ việc chọn, nhân giống, kỹ thuật trồng, khai thác, chế biến và xây dựng thị trường Tuy nhiên, việc nghiên cứu còn nhỏ lẻ, thiếu liên tục có những đề tài sau khi vừa chọn được một số cây trội, xây dựng các khảo nghiệm hậu thế thì đã kết thúc, thiếu các đề tài nghiên cứu mang tính kế thừa để theo dõi, phân tích đánh giá tiếp để có được kết quả hoàn thiện, khách quan làm cơ sở khoa học cho định hướng và phát triển cây Quế Do đó, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa chọn và có nguồn giống quế

có năng suất, chất lượng cao, đạt chuẩn chính thức được công nhận cho từng vùng sinh thái để cung cấp giống cho sản xuất theo tiêu chí chọn giống quế cả

về số lượng và chất lượng Đề tài “Nghiên cứu chọn cây trội giống quế lá nhỏ

(Cinamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục

vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên” tuy phạm vi nghiên cứu không rộng nhưng góp phần bổ sung một phần khuyết thiếu nêu trên Hy vọng đem lại cho huyện Văn Yên nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung chọn được nguồn giống quế có năng suất chất lượng cao phục vụ trồng rừng sản xuất trong khu vực

- Về cơ sở khoa học, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu trong và ngoài nước của các tác giả nêu trên là cơ sở dẫn dắt, nghiên cứu của

đề tài

Trang 27

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây quế (Cinnamomum cassia

Blume) tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, Việt Nam

2.2 Phạm vi, địa điểm

- Phạm vi nghiên cứu: trên địa bàn tỉnh Yên Bái

- Về địa điểm nghiên cứu: thực trạng quản lý, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác quế trên địa bàn tỉnh Yên Bái; hiện trường nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và vật hậu quế được triển khai tại rừng trồng ở huyện Văn Yên - Yên Bái; nghiên cứu về chọn giống được triển khai tại Văn Yên - Yên Bái; nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống Quế được triển khai tại thành phố

Yên Bái, huyện Trấn Yên, huyện Văn Yên - Yên Bái

2.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu là 12 tháng (tháng 9/2018 đến tháng 9/2019)

2.4 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

2.4.1 Điều kiện khí hậu khu vực nghiên cứu

Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình

là 22 - 230C; (cao nhất từ 37-390C, thấp nhất từ 2-40C); tổng nhiệt độ trong năm từ 7.500- 8.0000 C lượng mưa trung bình 1.500 - 2.200 mm/năm; độ ẩm trung bình 83 - 87%, thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp

Dựa trên yếu tố địa hình khí hậu, có thể chia Yên Bái thành 5 tiểu vùng khí hậu Tiểu vùng Mù Cang Chải với độ cao trung bình 900 m, nhiệt độ trung bình 18 - 200C, có khi xuống dưới 00C về mùa đông, thích hợp phát triển các loại động, thực vật vùng ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn - nam Văn Chấn, độ cao trung bình 800 m, nhiệt độ trung bình 18 - 200C, phía Bắc là tiểu vùng mưa nhiều, phía Nam là vùng mưa ít nhất tỉnh, thích hợp phát triển các

Trang 28

loại động, thực vật á nhiệt đới, ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn - Tú Lệ, độ cao trung bình 200 - 400 m, nhiệt độ trung bình 21 - 320C, thích hợp phát triển các loại cây lương thực, thực phẩm, chè vùng thấp, vùng cao, cây ăn quả và cây lâm nghiệp Tiểu vùng nam Trấn Yên, Văn Yên, thành phố Yên Bái, Ba Khe,

độ cao trung bình 70 m, nhiệt độ trung bình 23 - 240C, là vùng mưa phùn nhiều nhất tỉnh, có điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây ăn quả

Tiểu vùng Lục Yên - Yên Bình độ cao trung bình dưới 300 m, nhiệt độ trung bình 20 - 230C, là vùng có mặt nước nhiều nhất tỉnh, có hồ Thác Bà rộng 19.050 ha, có điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, có tiềm năng du lịch

Số liệu diễn biến khí hậu được ghi ở bảng 1.1, được thu thập tại những nơi có trạm khí tượng thủy, còn những nơi không có trạm khí tượng thì số liệu khí hậu được lấy ở trạm khí tượng gần nhất theo công bố của Cục khí tượng thủy văn (Cổng thông tin điện tử Yên Bái: http://www.yenbai.gov.vn)

Bảng 1.1 Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu

Địa điểm

nghiên

cứu

Vĩ độ (độ, phút)

Kinh độ (độ, phút)

Lượng mưa (mm)

Tháng mưa

>100

mm

Độ

ẩm trung bình

Nhiệt độ ( o C)

TB năm

Tối cao

Tối thấp

83 -

87 % 22 - 23 37-39 2-4

2.4.2 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội của huyện Văn Yên

a) Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý:

Văn Yên là huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Yên Bái, có tọa độ địa lý

1040 23’ đến 1050 23’ độ kinh đông và từ 210 50’ đến 22012’ vĩ độ bắc Tổng

Trang 29

diện tích tự nhiên là 139.034 ha Huyện Văn Yên cách Thủ đô Hà Nội 215 km

về phía Nam, cách thành phố Yên Bái 40 km Với đường giao thông tương đối thuận lợi sẽ tạo cho Văn Yên có lợi thế trong việc lưu thông hàng hoá, phát triển nhanh một nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá và tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật

* Điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng

Huyện Văn Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh, ít mưa (từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau) và mùa hè nóng, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 10) Với điều kiện khí hậu của huyện, tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp, chế độ nhiệt đảm bảo

đủ để gieo trồng 2-3 vụ trong năm, do có tiểu vùng khí hậu phù hợp với đặc tính sinh thái của cây quế nên diện tích quế được phát triển nhanh chóng và trở thành huyện có diện tích quế lớn nhất cả nước

* Nguồn nước, thuỷ văn:

Trên địa bàn huyện Văn Yên có sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc đoạn chảy qua Văn Yên dài 70 km, ngoài ra còn có nhiều suối lớn như: Ngòi Thia, Ngòi Hút, Ngòi Thắt, Ngòi Thíp, Ngòi Ly… và trên 20

hồ đập lớn nhỏ với diện tích 207 ha phân bố ở khắp trong huyện, đây cũng là nguồn nước mặt quan trọng cung cấp cho đời sống và phục vụ sản xuất của nhân dân trong huyện Qua kết quả thăm dò cho thấy nguồn nước ngầm khá phong phú

b) Điều kiện kinh tế - Xã hội

* Cơ cấu kinh tế của huyện Văn Yên: những năm gần đây có sự thay

đổi theo chiều hướng giảm tỷ trọng ngành sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ đặc biệt là các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng Đây là một hướng

đi phù hợp với quá trình CNH - HĐH đất nước Tuy nhiên, do đặc thù là

Trang 30

huyện miền núi nên cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp vẫn chiếm 60,22% tổng giá trị sản xuất của huyện

* Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất: Đến hết năm 2018 tổng diện tích

đất của huyện Văn Yên là 139.034 ha Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 25.941,6 ha chiếm 18,67%; Đất lâm nghiệp 104.278 ha chiếm 75,02%; Đất chuyên dùng 2.411,4 ha chiếm 1,7%; Đất ở 790,7 ha chiếm 0,57%

So với năm 2017 diện tích đất có sự biến động như sau:

Đất sản xuất nông nghiệp giảm 12,4ha

Đất lâm nghiệp có rừng giảm 32,1 ha

% dân số chung của huyện

- Lao động: Theo số liệu thống kê, lao động từ 15 tuổi trở lên là 88.348 người, trong đó lao động ở thành thị là 7.686 người (chiếm 8,7%), lao động từ

15 tuổi trở lên ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ cao (91,3%) Trong đó, lao động làm việc trong ngành nông lâm nghiệp chiếm khoảng 90% lao động của các ngành Tuy nhiên, hạn chế về nguồn nhân lực của huyện là trình độ và chất lượng lao động thấp Lực lượng lao động đa phần là lao động phổ thông

* Cơ sở hạ tầng:

Giao thông vận tải, điện, bưu chính viễn thông, Hệ thống công trình thuỷ lợi… cơ bản đã hoàn thiện đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt, sản xuất cuả nhân dân (Niên giám thống kê huyện Văn Yên, 2018)

Trang 31

* Sản xuất Nông, lâm nghiệp, thủy sản

Nhìn chung sản xuất Nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2018 của huyện Văn Yên giảm sút mạnh gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của địa phương Nguyên nhân do thiên tai: rét đậm rét hại, mưa bão, lũ lụt, sạt nở đất

- Trồng trọt: Tổng diện tích các loài cây trồng năm 2018 là 21.061,6 ha giảm 526,7 ha so với năm 2017

- Chăn nuôi: Tổng đàn trâu có 16.012 con giảm 2.946 con so với năm 2017; Đàn bò có 2.182 con tăng 1.020 con; tổng đàn lợn 93.910 con tăng 5.480 con, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 5.253,9 tấn; tổng đàn gia cầm 726.900 con tăng 26.000 con

- Thủy sản: Tổng số cơ sở nuôi trồng thủy sản 5.767 cơ sở với 291,62

ha Sản lượng năm 2018 đạt 638,3 tấn giảm 84,8 tấn so với năm 2017 Giá trị sản phẩm thu được trên 1ha mặt nước ước đạt 93,7 triệu đồng, giảm 12,4 triệu

so với năm 2017

- Lâm nghiệp: Diện tích đất lâm nghiệp 104.310,5 ha, chiếm 75,03% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện, gồm: rừng đặc dụng 16.039 ha, rừng phòng hộ 15.812,7 ha, rừng sản xuất 72.458,7 ha

+ Tổng diện tích rừng trồng năm 2018 đạt 2.882 ha Trong đó riêng diện tích Quế trồng mới và trồng lại sau khai thác là 1.735 ha chiếm 60% diện tích rừng trồng

+ Sản lượng gỗ rừng trồng khai thác ước đạt 80.000m3; sản lượng quế

vỏ khai thác đạt 5.900 tấn (Niên giám thống kê huyện Văn Yên, 2018)

c) Khái quát về sản phẩm quế huyện Văn Yên

Cây quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm Các sản phẩm chính từ cây quế gồm có vỏ quế, lá quế, gỗ quế Mỗi cây quế, sau khi thu hoạch vỏ quế, phần còn lại gồm lá, cành, rễ sẽ được đem đi chưng cất tinh dầu quế Tinh dầu quế sau khi được chưng cất sẽ dùng làm nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp dược và mỹ phẩm Từ lâu nay

Trang 32

chúng ta chỉ chủ yếu sản xuất và tiêu thụ vỏ quế thô mà chưa chú ý sản xuất

và tiêu thụ tinh dầu quế Tinh dầu quế là một loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao nhưng hiện nay việc xuất khẩu sản phẩm này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạnh xuất khẩu các mặt hàng quế

Vỏ quế là sản phẩm chính của cây quế, đây là sản phẩm tập trung nhiều nhất Andehyt cinamic Năng suất và chất lượng của sản phẩm quế được dựa vào năng suất và chất lượng vỏ quế Vỏ quế gồm có 2 loại vỏ quế khô và vỏ quế tươi Trung bình một cây quế có tuổi từ 10 - 15 năm thường có đường kính từ 20 - 30 cm sẽ cho 20 - 40 kg vỏ tươi Từ vỏ tươi này có thể làm gia vị thực phẩm, làm nguyên liệu chế biến hàng tiêu dùng hay đem xuất khẩu dưới dạng vỏ nguyên liệu Vỏ quế khô được phân làm ba loại (loại A, loại B và loại C) Hiện nay, trung bình mỗi năm, Văn Yên được xuất ra thị trường khoảng 9.000 tấn vỏ quế khô, (Sở Thương mại - Du lịch tỉnh Yên Bái, 2006)

Cành, lá quế là nguồn nguyên liệu phục vụ cho các cơ sở chế biến tinh dầu quế Bình quân mỗi mẻ 180 kg cành, lá có thể nấu được từ 1 đến 1,5 kg tinh dầu (1kg = 1,2 lít) Thời gian nấu để cho ra tinh dầu mỗi mẻ từ 2 đến 2,5 giờ Sản phẩm tinh dầu là sản phẩm có giá trị, không chỉ bán trong nước mà còn được công ty xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như: Ấn Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc… Hiện nay, trung bình mỗi năm, Văn Yên được xuất ra 55.000 tấn cành, lá quế, 290 tấn tinh dầu quế, (Sở Thương mại - Du lịch tỉnh Yên Bái, 2006)

Gỗ quế có nhiều giá trị sử dụng như các loại cây khác, có thể dùng gỗ quế để làm cốp pha xây dựng, đóng đồ mộc, làm gỗ trụ hầm mỏ… Gỗ quế được đánh giá là có chất lượng tốt như các loại gỗ khác là bồ đề, mỡ, bạch đàn Tuy nhiên điều đặc biệt là trong gỗ quế có một lượng tinh dầu nên không

bị mối mọt Thân cây lại thẳng đều và cứng Vì vậy, dùng gỗ quế vào làm trụ hầm mỏ rất bền Gỗ quế lại có mùi thơm nên hiện nay còn được người dân sử dụng để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Việc làm này vừa mang lại thu nhập

Trang 33

cho nhân dân, vừa tận dụng được phụ phẩm của cây quế Hiện nay, trung bình mỗi năm, Văn Yên sản xuất và chế biến 62.000 m3 gỗ quế, (Sở NN và PTNT tỉnh Yên Bái 2018 Báo cáo kết quả thực hiện Đề án phát triển cây Quế)

* Đánh giá chung:

Điều kiện lập địa tỉnh Yên Bái khá đa dạng, đất đai phân bố trên nhiều kiểu khí hậu, địa hình khác nhau rất thích hợp cho việc sản xuất nông - lâm nghiệp đặc biệt là phát triển loài cây Quế chiếm 25-30% diện tích rừng trồng hàng năm của tỉnh Người dân có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng, chăm sóc và khai thác các sản phẩm từ quế

2.5 Nội dung nghiên cứu

2.5.1 Đánh giá thực trạng phát triển quế tại tỉnh Yên Bái

- Thực trạng diện tích rừng trồng Quế và biến động diện tích trồng Quế qua các năm tại tỉnh Yên Bái

- Thực trạng về công tác quản lý giống, nguồn giống và kết quả sản xuất giống Quế trên địa bàn tỉnh Yên Bái

- Thực trạng về kỹ thuật gây trồng, năng suất, sản lượng Quế

- Thực trạng về kỹ thuật khai thác, chế biến, giá cả và thị trường tiêu thụ Quế trên địa bàn tỉnh Yên Bái

2.5.2 Nghiên cứu chọn giống Quế

- Nghiên cứu chọn lọc cây trội thông qua các chỉ tiêu về sinh trưởng (đường kính, chiều cao, chiều cao dưới cành, sản lượng vỏ )

- Nghiên cứu chọn lọc cây trội thông qua các chỉ tiêu định tính bằng cách cho điểm (hình thái cỏ, cành, tán lá, hoa quả ) và định lượng hàm lượng

tinh dầu trong vỏ

2.5.3 Nghiên cứu nhân giống hữu tính Quế bằng hạt phục vụ phát triển trồng rừng

- Nghiên cứu một số phương pháp xử lý hạt giống

- Đánh giá sinh trưởng của cây giống gieo ươm có nguồn gốc từ hạt của

các cây trội được chọn so với giống cây đại trà tại địa phương

Trang 34

2.5.4 Đề xuất các giải pháp tổ chức quản lý và kỹ thuật kinh doanh loài cây lựa chọn và kỹ thuật sản xuất giống

2.6 Phương pháp nghiên cứu

2.6.1 Phương pháp nghiên cứu chung

- Kế thừa các tài liệu, số liệu nghiên cứu đã có về cây Quế

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: điều tra, khảo sát hiện trường, lập ÔTC tạm thời với bố trí thí nghiệm định vị, thu thập số liệu trong OTC, phân tích trong phòng; xử lý số liệu bằng toán thống kê trong sinh học với sự ứng dụng của các phần mềm chuyên dụng

2.6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.6.2.1 Kế thừa tài liệu

Áp dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc các tài liệu nghiên cứu đã công bố bao gồm:

- Bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ kiểm kê rừng

- Các số liệu về điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu

- Các công trình nghiên cứu trước đây về đối tượng nghiên cứu

- Báo cáo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc

- Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và công tác quản lý chất lượng giống cây trồng

2.6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm tại hiện trường

a) Phương pháp nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển Quế tại Yên Bái 1) Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn tạm thời

Trên cơ sở các thông tin đã thu thập, điều tra khảo sát theo các mô hình rừng trồng Quế theo từng cấp tuổi, lập ô đo đếm đại diện ở 2 mô hình có độ tuổi 15-16 tuổi để tuyển chọn cây trội: mỗi mô hình lập 05 ô tiêu chuẩn (OTC) theo vị trí chân (02 ô), sườn (02 ô), đỉnh (01 ô), diện tích mỗi OTC

500 m2 (20 x25m), để đảm bảo dung lượng mẫu n≥30 cây Các chỉ tiêu điều tra trên OTC gồm: D1,3 (cm) hoặc D00, Hvn (m), Hdc (m), Dt (m), độ dày vỏ (nếu có)

Trang 35

- Đường kính ngang ngực (D1,3), được đo qua chu vi bằng thước dây có chia vạch đến mm tại độ cao 1,3 m

- Chiều cao vút ngọn (Hvn) và Chiều cao dưới cành (Hdc), được đo bằng sào đo cao có độ chính xác đến 10cm

- Đường kính tán các cây trong ô (Dt) được đo bằng thước dây và sào

có độ chính xác tới 10cm Đường kính tán được đo theo 2 hướng Đông Tây

và Nam Bắc Kết quả được lấy trị số trung bình của 2 hướng:

2) Phương pháp điều tra phỏng vấn

Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA), phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) về kỹ thuật gây trồng, kỹ thuật thu hái, bảo quản, năng suất, thị trường giá cả Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn bán định hướng để thu thập các thông tin về cây Quế Với cách điều tra theo huyện, tổng số huyện điều tra: 2 huyện, mỗi huyện điều tra 3 xã, mỗi xã điều tra, phỏng vấn 20 hộ gia đình có gây trồng và khai thác Quế

Trang 36

b) Phương pháp chọn giống Quế lá nhỏ

+ Phương pháp chọn cây trội

Căn cứ Tiêu chuẩn ngành 04 - Tiêu chuẩn công nhận giống cây trồng

lâm nghiệp (04 TCN 147-2006) ban hành kèm theo Quyết định số

4108/QĐ/BNN-KHCN ngày 29/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn và Quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp (Bộ NN và PTNT,

2005) Quá trình chọn cây trội Quế lá nhỏ trong rừng trồng được tiến hành

theo 5 bước gồm:

- Sử dụng phương pháp điều tra thống kê

Với mục tiêu chọn lọc cây trội Quế làm nguồn giống với mục đích để

lấy vỏ là chính có kết hợp lấy gỗ và lấy lá do đó chỉ tiêu chính cần quan tâm

để chọn cây trội là năng suất vỏ, hình thái tán lá và không bị ảnh hưởng của

sâu bệnh hại

Bước 1: Khảo sát toàn bộ khu rừng để chọn ra cây tốt nhất đáp ứng yêu

cầu cao nhất của mục tiêu chọn giống là lấy vỏ Khi tiến hành thường chọn

cây có sinh trưởng đường kính, chiều cao lớn, cây thân thẳng, vỏ dày, không

vặn xoắn cong queo và sâu bệnh

Bước 2: Tiến hành lập các ô tiêu chuẩn đảm bảo có ít nhất > 30 cây

trong ô để làm cơ sở so sánh với cây dự tuyển Đánh số thứ tự cây trong ô, đo

đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây (đường kính tại vị trí 1,3m, chiều cao vút

ngọn, chiều cao dưới cành, đường kính tán tại 2 hướng khác nhau, độ dày vỏ),

ghi chép vào phiếu điều tra cây trội

- Đối với độ dày vỏ được xác định tại vị trí 1,3m từ gốc lên bằng cách

dùng dao trích chuyên dụng trích một mảnh vỏ theo cùng một hướng ở các

cây trội dự tuyển, kích thước mẫu 2cm2 (1cm x 2cm) sử dụng thước kẹp kính

có độ chính xác đến mm để đo độ dày và ghi vào mẫu biểu mô tả cây trội dự

tuyển Mẫu vỏ sau đó được ghi tên số hiệu cây trội bằng bút xóa để đưa về

phòng thí nghiệm phân tích hàm lượng

Trang 37

Tính toán các giá trị trung bình của đường kính, chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành, đường kính tán, độ dày vỏ trên cây vào phiếu điều tra cây trội

Lập tỷ số giữa giá trị về đường kính ở vị trí 1,3m chiều cao vút ngọn và năng suất vỏ của cây trội dự tuyển với giá trị trung bình của các cây so sánh trong ô tiêu chuẩn Nếu giá trị về đường kính D1.3 và chiều cao Hvn năng suất

vỏ của cây trội dự tuyển vượt ít nhất 15%

+ Xác định cây trội theo công thức: X = Xtb + (1,5 ÷ 3) Sxt

+ Độ vượt trội tính theo %: Độ vượt trội (%) = (Xct - Xtb) x 100/Xtb Xct là chỉ tiêu cần đánh giá của cây trội, Xtb giá trị trung bình của chỉ tiêu cần đánh giá tại khu rừng Quế có cây trội, Sxt là sai số bình quân của nhân tố điều tra

n

i i

Trong đó: S là độ lệch chuẩn;

xi là trị số giữa cỡ thứ i; x là số bình quân

+ Năng suất vỏ quế được tính theo phương pháp của Phạm Xuân Hoàn (2001) dựa vào công thức quan hệ giữa sản lượng vỏ với đường kính, chiều cao tại vị trí ngang ngực như sau (Phạm Xuân Hoàn, 2001)

V = -0,7617+0,1899*Hvn+14,9087* (kg)

Trong đó: V là năng suất vỏ khô/cây

Hvn là chiều cao cây

D1.3 là đường kính ở vị trí 1,3m

Trang 38

Bước 3: Mô tả cây trội dự tuyển

Sau khi tính toán các giá trị vào phiếu điều tra cây trội tại bước 2, căn

cứ tiêu chí chọn cây trội để xác định cây trội dự tuyển, tiến hành đánh giá, cho điểm cây trội tại hiện trường nguồn giống theo Phiếu mô tả cây trội Số lượng cây dự tuyển từ 40 - 50 cây

Các chỉ tiêu về phẩm chất của cây trội dự tuyển được đánh giá bằng phương pháp cho điểm theo pháp đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ - Viện Khoa học Việt Nam (Tạ Minh Quang và Phan Thanh Thắng, 2018) phương pháp đánh giá của chỉ tiêu về hình thái thân, tán lá, độ nhỏ cành, hoa quả , cụ thể:

(1) Về hình thái thân:

+ Độ thẳng thân được chia làm 3 mức:

 Cây thân thẳng được cho điểm 5

 Cây hơi cong được cho điểm 3

 Cây cong được cho điểm 1

+ Độ nhẵn vỏ được chi làm 3 mức:

 Cây có vỏ trơn nhẵn được cho điểm 5

 Cây có vỏ sần sùi được cho điểm 3

 Cây có vỏ u bướu được cho điểm 1

+ Độ tròn của thân được chia làm 3 mức:

 Thân tròn đều được cho điểm 5

 Thân hơi lệch được cho điểm 3

 Thân lệch (méo) được cho điểm 1

(2) Về hình thái tán:

+ Độ rộng của tán cây (so với những cây trong lâm phần) được chia làm 3 mức:

 Tán rộng được cho 5 điểm

 Tán hơi rộng cho 3 điểm

Trang 39

 Tán hẹp cho 1 điểm

+ Độ tròn tán chia làm 3 mức:

 Tán tròn đều được cho 5 điểm

 Tán hơi lệch được cho 3 điểm

 Tán lệch được cho 1 điểm

(3) Đánh giá về cành:

+ Độ lớn của cành chia làm 3 mức

 Cành to (>1/4 đường kính thân cây ở vị trí gốc cành) được cho 5 điểm

 Cành trung bình (<1/6-1/5 đường kính ở vị trí gốc cành) được cho

3 điểm

 Cành nhỏ (< 1/6 đường kính ở vị trí gốc cành) được cho 1 điểm + Góc phân cành được chia làm 3 mức:

 Góc phân cành từ 61-900 được cho 5 điểm

 Góc phân cành từ 31-600 được cho 3 điểm

 Góc phân cành từ 0-300 được cho 1 điểm

(5) Hoa quả: được chia làm 4 mức

 Hoa quả nhiều được cho 5 điểm

 Hoa quả trung bình được cho 3 điểm

 Hoa quả ít được cho 1 điểm

 Không có hoa quả được cho 0 điểm

Trang 40

Bước 4: Phân tích hàm lượng tinh dầu trong vỏ quế của cây trội dự

tuyển Mẫu vỏ Quế của cây trội dự tuyển được phơi khô sau đó nghiền nhỏ và phân tích hàm lượng tinh dầu trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước tại Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ

Bước 5: Chọn cây trội

- Căn cứ kết quả mô tả các chỉ tiêu, tổng điểm cây trội, đối chiếu với tiêu chuẩn công nhận nguồn giống (Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 147- 2006), xác định những cây có đủ tiêu chuẩn đề nghị công nhận cây trội chính thức

Cây trội Quế được chọn từ những cây trội dự tuyển phải đạt những chỉ tiêu sau đây:

+ Cây trội có độ vượt về đường kính, chiều cao và năng suất vỏ tối thiểu từ 15% trở lên so với trị số bình quân của toàn lâm phần

+ Cây có độ dày vỏ ở vị trí 1,3m đạt tối thiểu đạt từ 0,7cm trở lên (Theo thị trường hiện nay Quế loại 1 có độ dày vỏ từ 0,7 cm trở lên)

+ Cây trội có hàm lượng tinh dầu trong mẫu vỏ khô càng cao càng tốt, và thấp nhất phải >1% (Đỗ Tất Lợi, 1985)

+ Cây có sinh trưởng ở mức tốt so với lâm phần, có cành to, vỏ nhẵn, lá xanh, tán tròn, có hoa quả ở mức trung bình trở lên Cây có số điểm đánh giá càng cao càng tốt, số điểm tối đa của cây trội dự tuyển là 45 điểm, cây nào có

số điểm càng sát hoặc bằng điểm tối đa thì được chọn làm cây trội và số điểm tối thiểu của cây trội phải đạt 38 điểm trở lên

c) Phương pháp nghiên cứu nhân giống hữu tính Quế bằng hạt phục vụ phát triển trồng rừng

* Thí nghiệm xử lý nảy mầm của hạt cây trội và theo dõi sinh trưởng của cây con trong vườn ươm

Bố trí với 3 công thức thí nghiệm xử lý nảy mầm hạt giống như sau: + CT1: Gieo hạt ngay trong cát ẩm

+ CT2: ngâm hạt 3 giờ trong nước ấm có nhiệt độ ban đầu 30-350C, vớt

ra để ráo nước; ngâm tiếp vào thuốc tím nồng độ 1% trong 15 phút (Phạm Văn Điển, Phạm Đức Tuấn, Phạm Xuân Hoàn, 2009)

Ngày đăng: 12/03/2020, 07:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w