Nghiên cứu được tiến hành trên 449 phụ nữ có con dưới 1 tuổi tại huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng. Kết quả nghiên cứu có thể được tóm tắt như sau : Về tiếp cận với các dịch vụ CSSKTS, các đối tượng được hỏi các câu hỏi liên quan đến tiếp cận với dịch vụ khám thai, dịch vụ xét nghiệm, dịch vụ siêu âm, dịch vụ tiêm ngừa uốn ván, uống viên sắt, và tư vấn khi mang thai. Kết quả cho thấy 2 dịch vụ chiếm tỷ lệ cao về khả năng tiếp là siêu âm (96,2%), uống viên sắt (87,7%). Riêng dịch vụ tiêm ngừa uốn ván (74,8%) và khám thai (54,6%) thì vẫn chưa đạt được mục tiêu của Bộ Y Tế đề ra đến hết năm 2010. Dịch vụ xét nghiệm (55,2%) còn thấp và không có sự gia tăng so với những nghiên cứu trước đây. Mặt khác, tỷ lệ phụ nữ tiếp cận dịch vụ tư vấn khi mang thai là thấp nhất, chỉ chiếm 33,4%. Về nguồn thông tin tư vấn, cán bộ y tế huyệnxã là nguồn thông tin chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến là bác sỹy tá và người thân trong gia đình (30,7% và 30,4%). Ngoài ra các nguồn thông tin khác như từ sách báo, các thai phụ khác chỉ chiếm tỷ lệ dưới 20%. Đối với kiến thức về CSSKTS, kết quả cho thấy tỷ lệ phụ nữ biết cần phải siêu âm trong thai kì là cao nhất lên đến 96,2%. Tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ biết lợi ích của siêu âm chỉ đạt 78,8%. Tỷ lệ các loại kiến thức bao gồm kiến thức về lợi ích của tiêm phòng uốn ván, kiến thức về lợi ích của việc sử dụng viên sắt, kiến thức về dịch vụ khám thai có tỷ lệ chênh lệch không lớn (lần lượt là 73,3%, 73,1%, 65,7%). Riêng tỷ lệ phụ nữ biết các xét nghiệm cần làm chỉ đạt 39,6%, và đặc biệt tỷ lệ phụ nữ biết về lợi ích của các xét nghiệm khi mang thai rất thấp chỉ đạt 8,7%.
Trang 1NGUYỄN THỊ LINH ĐƠN
KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC TIỀN SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA THAI PHỤ TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2011
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 5
1.1 Các định nghĩa cơ bản 5
1.2 Sơ lược chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam 10
1.3 Một số đề tài trong và ngoài nước liên quan đến sử dụng dịch vụ CSSKTS 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Thiết kế nghiên cứu 22
2.2 Đối tượng nghiên cứu 22
2.3 Cỡ mẫu 22
2.4 Phương pháp chọn mẫu 22
2.5 Tiêu chí chọn mẫu 23
2.6 Thu thập dữ kiện 23
2.7 Liệt kê biến số 24
2.8 Định nghĩa các biến số 25
2.9 Xử lý và phân tích dữ liệu 30
2.10 Vấn đề y đức 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 31
3.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu 31
3.2 Tiền sử sản khoa của các phụ nữ được khảo sát 32
3.3 Sinh con có chủ định của phụ nữ được khảo sát 32
3.4 Tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản 33
3.5 Kiến thức về chăm sóc sức khỏe tiền sản 36
3.6 Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản phân bố theo các biến số nền 39
3.7 Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản phân bố theo tiền sử sản khoa và sinh con có chủ định 41
Trang 34.2 Tiền sử sản khoa 55
4.3 Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản 55
4.4 Mối liên hệ giữa kiến thức và tiếp cận các dịch vụ CSSKTS 67
4.5 Điểm hạn chế, điểm mạnh và tính ứng dụng của đề tài 71
KẾT LUẬN 73
ĐỀ XUẤT 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4CSSKSS : Chăm sóc sức khỏe sinh sản
CSSKTS : Chăm sóc sức khỏe tiền sản
UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc
WHO : Tổ chức y tế thế giới
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Những tai biến trong quá trình mang thai và sinh đẻ là lý do hàng đầu gây nên tửvong hay tàn tật cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở các nước đang phát triển Trên toànthế giới, mỗi ngày ước tính có khoảng 1000 phụ nữ tữ vong do những nguyên nhân liênquan đến thai sản; Riêng trong năm 2008, có khoảng 358.000 phụ nữ tử vong từ cácnguyên nhân liên quan đến thai sản gây ra Điều đặc biệt là hầu hết các trường hợp tửvong đều thuộc những nước đang phát triển.[41]
Tại Việt Nam, theo một báo cáo của Bộ Y Tế vào năm 2007 thì phần lớn cácnguyên nhân tử vong ở mẹ và trẻ sơ sinh là do sự hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụchăm sóc sức khỏe, điều kiện và các phương tiện cấp cứu sản khoa [16]
Từ đó cho thấy, để giảm tỷ lệ tử vong mẹ, cần tăng cường hơn nữa khả năng tiếpcận với các dịch vụ CSSKSS Đặc biệt là chăm sóc sức khỏe trong giai đoạn tiền sản.Nâng cao CSSKTS cho thai phụ là một trong những mục tiêu hàng đầu của WHO nhằmgiảm tỷ lệ tử vong mẹ.[41] Một báo cáo của WHO cho thấy, chỉ riêng chăm sóc sứckhỏe tiền sản có thể làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ lên đến 20% ( trong đó giảm 12% dophát hiện và điều trị kịp thời sản giật nặng và 8% là ngăn ngừa thai ngoài tử cung) và33% thai chết khi sinh (trong đó giảm 25% do chẩn đoán sớm các bệnh truyền nhiễm vàquản lý hiệu quả các biến chứng khi mang thai, giảm 8% do tầm soát bệnh giang mai vàđiều trị các ca dương tính).[35]
Ngoài ra, chương trình những mục tiêu phát triển trong thiên niên kỷ do LiênHiệp Quốc đề ra cho các quốc gia cũng xác định hệ thống chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ
em, trong đó bao gồm cả chăm sóc sức khỏe tiền sản, được xem là một trong những mụctiêu đầu tiên cần cải thiện Tại một số nước có nền kinh tế phát triển thuộc khu vực Châu
Á như Nhật, Hồng Kông, Hàn Quốc, chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em đạtđược những kết quả mong muốn, đặc biệt là sự công bằng trong tiếp cận với chương
Trang 6trình Tuy nhiên, tại những nước đang phát triển thì sự thiếu công bằng trong tiếp cậnchương trình vẫn còn là vấn đề lớn.[32]
Tại Việt Nam, sau thời gian triển khai chương trình làm mẹ an toàn, kết quả thuđược là đã giảm tỷ lệ tử vong mẹ từ 260/100.000 ca sinh sống năm 1990 xuống còn160/100.000 ca sinh sống vào năm 1996 và 130/100.000 ca sinh sống vào năm 2000;[39] Và đến năm 2009 giảm xuống còn 75/100.000 ca sinh sống.[31] Tuy nhiên xuhướng này có phần chững lại trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2006 đếnnăm 2009 thì tỷ lệ này không giảm Điều này đưa ra một thách thức lớn cho Việt Namtrong việc duy trì bền vững hiệu quả của chương trình nhằm đạt được mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ do Liên Hiệp Quốc đưa ra đến năm 2015 đối với Việt Nam là giảm tỷ lệ tửvong mẹ xuống còn 58,3/100.000 trẻ sinh sống với trọng tâm là phụ nữ nghèo và dântộc thiểu số.[15]
Huyện Mỹ Xuyên - Sóc Trăng là một trong những huyện nghèo của cả nước Đây
là địa phương có tỷ lệ đồng bào dân tộc Khơ-me cao, chiếm gần 50% dân số, sinh sốngtập trung tại các xã vùng sâu, vùng xa Đời sống kinh tế dựa vào thuần nông, độc canhcây lúa Do đất đai cằn cỗi, nhiễm phèn, trình độ dân trí thấp nên đời sống nhân dân hết
sức khó khăn.[9] Tính đến tháng 7/2007, toàn huyện có 14.771 hộ nghèo (34,4%), trong
đó có 7382 hộ dân tộc Khmer nghèo (49,98%).[4] Trong khi đó, dựa theo báo cáo vềcông tác CSSKSS của huyện Mỹ Xuyên vào năm 2010, chỉ có 1 số nội dung rất hạn chế
về CSSKTS được đề cập đến; bao gồm tổng số lần khám thai của tất cả phụ nữ (10152lần) và phụ nữ được tiêm phòng uốn ván đủ liều (96,6%) và tỷ lệ phụ nữ được tư vấn khi
đi khám thai (93%).[14] Mặt khác, hầu hết tai biến về sản khoa và số chết mẹ cũngkhông có số liệu cụ thể trong báo cáo này Điều này cho thấy hệ thống quản lý vềCSSKTS tại huyện Mỹ Xuyên còn nhiều bất cập Chính vì vậy việc tiếp cận với dịch vụCSSKTS của các phụ nữ mang thai tại Mỹ Xuyên có được quan tâm đúng mức chưa vẫncòn là vấn đề
Trang 7Vì lí do đó, nghiên cứu này được tiến hành nhằm: 1) khảo sát thực trạng sử dụngmột số dịch vụ CSSKTS của thai phụ tại huyện Mỹ Xuyên; 2) xác định yếu tố liên quanđến khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKTS của thai phụ.
Câu hỏi nghiên cứu
Tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng năm 2011:
Tỉ lệ thai phụ tiếp cận với các dịch vụ CSSKTS là bao nhiêu?
Kiến thức về CSSKTS có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSKTScủa thai phụ không?
Mục tiêu nghiên cứu
Tiêm ngừa uốn ván
Thuốc thiết yếu khi mang thai
Tư vấn, giáo dục sức khỏe khi mang thai
2 Xác định tỷ lệ thai phụ có kiến thức với 6 loại hình dịch vụ CSSKTS trên
3 Xác định mối liên quan giữa kiến thức về CSSKTS của thai phụ với khả năngtiếp cận của họ với các dịch vụ CSSKTS nêu trên
Trang 8Tiếp cận dịch vụ CSSKTS:
Khám thaiXét nghiệmSiêu âmTiêm ngừa uốn vánThuốc thiết yếu khi mang thai
Tư vấn, giáo dục sức khỏe khi mang thai
Tiền sử sản khoaMang thai trước đóSinh non
Sẩy thai Sinh con có chủ định
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN
và khoảng cách giữa các lần sinh.[5, 38]
1.1.2 Sinh non
Sinh non là khi trẻ trẻ lọt lòng mẹ ở thời điểm tuổi thai chưa đến 37 tuần [12,37]Theo một báo cáo của WHO, trên toàn thế giới, mỗi năm có khoảng 12,9 triệu trẻsinh non, chiếm khoảng 9.6% số trẻ được sinh ra [37]Trẻ sinh non thường mắc nhiềuchứng bệnh như:
Suy hô hấp : trẻ sinh non thường có biểu hiện tím tái, khó thở Nếu không đượccác bác sỹ chăm sóc đặc biệt, trẻ có thể suy hô hấp nặng dẫn đến tử vong
Chứng xơ võng mạc: nồng độ oxy trong máu cao làm cho võng mạc của trẻ bịgiãn nở, thị giác kém, có thể dẫn đến mù lòa
Xuất huyết: trẻ sinh non có thể thiếu hụt tế bào máu và bị xuất huyết các cơ quannội tạng như: dạ dày, phổi, tiết niệu, Trường hợp nặng, trẻ có thể bị hôn mê, cogiật, Ngoài ra, trẻ có thể bị liệt não, thiểu năng, nhiễm trùng và có thể tử vong.[12, 37]
Trang 10Theo khuyến cáo của WHO, tất cả phụ nữ mang thai nên đi khám thai ít nhất 4 lần trongsuốt thai kì dưới sự giám sát của các nhân viên y tế có tay nghề Những lần khám thainày nên được thực hiện từng khoảng thời gian trong suốt thai kì, đặc biệt càng sớm càngtốt trong ba tháng đầu Nhằm mục đích phòng ngừa hoặc phát hiện sớm, điều trị kịp thờicác vần đề về sức khỏe trong thai kì cho thai phụ.[40] Tuy nhiên, với tình hình là mộtnước đang phát triển, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mới được quan tâm gần đây nênchính phủ Việt Nam đã có khuyến cáo khám thai ít nhất là 3 lần trong suốt thai kì vàkhám trong vòng 3 tháng đầu.[2]Trong đó, hai kỹ thuật khám thai phổ biến hiện nay làxét nghiệm và siêu âm[11, 40]
Trong quá trình mang thai, theo khuyến cáo của Bộ Y tế năm 2009, các thai phụnên làm các xét nghiệm cần thiết sau: thử protein nước tiểu, thử máu ( huyết sắctố/hematocrit), xét nghiệm phân xem có giun nếu có thiếu máu, xét nghiệm khí hư, thửHIV, giang mai và viêm gan.[2]
Với xét nghiệm propein nước tiểu, bà mẹ mang thai có thể được phát hiện xem cónhiễm trùng đường tiết niệu Ngoài ra, còn có thể phát hiện các bất thường trong chứcnăng thận chẳng hạn như đường hoặc protein vượt quá mức bình thường Điều này rấtquan trọng vì có thể dẫn đến nhiễm trùng máu cho người mẹ Protein trong nước tiểu ởcuối thai kỳ còn có thể là dấu hiệu của tiền sản giật
Xét nghiệm máu có thể phát hiện tình trạng thiếu máu ở phụ nữ có thai
Các xét nghiệm còn lại nhằm giúp phát hiện sớm và điều trị kịp thời để tránh biếnchứng cho thai nhi.[17, 23, 28]
Trong những năm gần đây, siêu âm đã đóng góp một phần quan trọng trong việcchuẩn đoán sức khỏe cho thai nhi, với những ưu điểm như: không có tia X, không xâmlấn, không đau đớn Mục đích chính của siêu âm là đánh giá tình trạng chung, phát hiệnbệnh hoặc di tật bẩm sinh của thai nhi để có hướng xử lí kịp thời Với những kỹ thuậtsiêu âm hiện nay, chúng ta có thể phát hiện các nguy cơ cho thai nhi sau đây
Trang 11 Trong 3 tháng đầu, có thể chuẩn đoán tình trạng thai đôi, tuổi thai đồng thời pháthiện các bất thường về nhiễm sắc thể như: hội chứng Down, dị dạng tim, chi, thoát vị
cơ hoành v.v
Trong 3 tháng giữa thai kỳ, có thể phát hiện các bất thường về hình thái, cấu tạo các
bộ phận cơ thể: sứt môi, hở hàm ếch, dị dạng ở các cơ quan, nội tạng
Trong 3 tháng cuối thai kỳ, phát hiện những bất thường ở động mạch, tim và mộtvùng cấu trúc của não Đồng thời, cũng nhận biết tình trạng phát triển chậm của thainhi
Các công trình nghiên cứu của chuyên gia Mỹ, Anh về siêu âm khẳng định việckiểm tra bằng siêu âm không hề gây ra khuyết tật hay làm chậm sự phát triển của thainhi và không để lại di chứng ảnh hướng tới sự phát triển của cơ thể, tinh thần hay bộ nãocủa trẻ em sau này.[10, 11, 28]
Tiêm ngừa uốn ván và thai phụ
Nhằm ngăn ngừa uốn ván cho mẹ và thai nhi, tất cả phụ nữ sinh con và trẻ sơ sinhđều nên được tiêm ngừa uốn ván Đến 90% những trường hợp uốn ván sơ sinh đều xuấthiện những triệu chứng vào khoảng từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 14 và triệu chứng rõ nhấtvào khoảng ngày thứ 6 đến thứ 8.[26] Những trường hợp uốn ván thường tử vong caonếu không được điều trị hoặc nếu có điều trị thì tỷ lệ tử vong cũng từ khoảng 10 đến60% tùy theo điều kiện trang thiết bị cấp cứu tại bệnh viện.[19] Chính vì tính nghiêmtrọng của bệnh uốn ván, vào giữa những năm 1970, vaccin ngừa uốn ván cho thai phụ đãđược đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng của WHO.[40]
Vaccin uốn ván có hiệu lực trên 90% người được tiêm sau khi tiêm liều thứ 2được 24 tuần Sau đó hiệu lực miễn dịch sẽ giảm dần, hơn 3/4 phụ nữ được tiêm ngừaduy trì miễn dịch trong 3 năm Liều thứ 3 được tiêm cách liều thứ 2 khoảng 6 đến 12tháng sẽ làm gia tăng cả lượng kháng thể và thời gian miễn dịch lên 5 năm Thêm 1 liềusau đó khoảng hơn 1 năm để kéo dài thời gian miễn dịch và sau liều thứ 5 thì thời gianmiễn dịch có thể kéo dài lên đến 20 năm [25]Vaccin uốn ván còn có thể truyền từ cơ thể
Trang 12thai phụ sang bào thai, có tác dụng bảo vệ thai nhi khỏi bệnh uốn ván trong suốt thời kì
sơ sinh.[25] Theo một nghiên cứu của Hannah Blencowe về tiêm ngừa uốn ván đã chothấy với thai phụ được tiêm ngừa từ 2 liều uốn ván trở lên trong suốt thai kì có thể làmgiảm tỉ lệ chết do uốn ván sơ sinh ở trẻ lên đến 94%.[19]
Tại Việt Nam, theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinhsản năm 2009, đã đưa ra khuyến cáo đối với thai phụ như sau:
Với thai phụ chưa tiêm phòng uốn ván lần nào: tiêm mũi đầu khi phát hiện thainghén bất kỳ ở tháng nào; tiếp theo tiêm mũi thứ hai sau mũi tiêm đầu ít nhất mộttháng và phải cách thời gian dự kiến đẻ ít nhất 1 tháng
Với những người đã tiêm đủ 2 mũi, nếu:
o Lần tiêm trước < 5 năm: tiêm 1 mũi
o Lần tiêm trước > 5 năm: tiêm 2 mũi
Với người đã tiêm ba mũi hoặc bốn mũi, cần tiêm nhắc lại một mũi
Với người đã tiêm đủ năm mũi phòng uốn ván theo đúng lịch, nếu mũi tiêm cuốicùng cách 10 năm trở lên thì nên tiêm thêm một mũi nhắc lại[2]
Bổ sung viên sắt và thai phụ[28, 40]
Những phụ nữ không dùng đủ chất sắt trong khẩu phần ăn có thể dẫn đến bệnhthiếu máu Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 1998 – 1999 cho thấy những phụ nữ
bị thiếu máu do thiếu sắt trong quá trình mang thai thì đứa trẻ sinh ra cũng có dấu hiệuthiếu máu trong 9 tháng đầu Vì vậy, việc cung cấp chất sắt trong thời kì mang thai là rấtcần thiết cho bà mẹ tái tạo tế bào máu cho mình và cho bào thai
Tất cả phụ nữ trong khu vực có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao cần nhận thường xuyênviên sắt và folate bổ sung cùng với các lời khuyên thích hợp về chế độ dinh dưỡng nhằmngăn ngừa bệnh thiếu máu Tại những nơi mà tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai cao(>= 40%) thì việc bổ sung viên sắt cần tiếp tục cho đến ba tháng cuối
Trang 13Mục đích của việc uống viên sắt là để ngăn ngừa và điều trị thiếu máu do thiếusắt ở phụ nữ trong suốt thai kì và trong giai đoạn hậu sản nhằm tăng cường sức khỏe bà
mẹ và trẻ sơ sinh
Căn cứ vào mối liên hệ giữa thiếu máu bà mẹ và các hệ quả xấu ở trẻ sơ sinh,người ta giả định rằng các chương trình bổ sung sắt hiệu quả tại những nơi lưu hànhbệnh thiếu máu có thể làm giảm tỷ lệ sinh non và tử vong ở trẻ sơ sinh, cũng như tửvong mẹ và các biến chứng sản khoa liên quan đến thiếu máu nặng Theo một số khảosát gần đây, mặc dù có bằng chứng rõ ràng về hiệu quả tích cực của việc bổ sung viênsắt thường xuyên trong suốt quá trình mang thai có thể ngăn ngừa thiếu hồng cầu tronglúc sinh hoặc sáu tuần sau sinh nhưng vẫn chưa có bằng chứng cho thấy có hiệu quả dù
là tiêu cực hay tích cực của việc bổ sung viên sắt đối với các hệ quả lâm sàng trên bà mẹ
và trẻ sơ sinh
Định nghĩa tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về tiếp cận Một số nhà nghiên cứu chorằng tiếp cận chính là khả năng sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe TheoPenchansky and Thomas, tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe được định nghĩa như làtổng hòa của khả năng chi trả (affordability), tính thuận tiện (accommodation), khả năngtiếp cận (accessibility), khả năng chấp nhận (acceptability), và tính sẵn có (availability)của dịch vụ chăm sóc sức khỏe.[22] Mỗi nhóm trên lại bao gồm nhiều yếu tố có thể trởthành rào cản đối với việc tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Còn theoGulzar, tiếp cận được định nghĩa như là những yếu tố thuộc về văn hóa xã hội, cá nhân,kinh tế và hệ thống phù hợp giúp con người có được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cầnthiết.[18] Puentes-Markides thì lại cho rằng các yếu tố như nhân viên chăm sóc sứckhỏe, loại hệ thống chăm sóc sức khỏe và các đặc điểm dân số học của người bệnh, cơ
sở hạ tầng hệ thống, văn hóa và giới đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận dịch
vụ y tế của người bệnh Ngoài ra trong nhiều nghiên cứu khác của các tác giả như Wyss,Gijsbers Van Wijk, Van Vliet, & Kolk; Geller lại đo lường tiếp cận bằng niềm tin văn
Trang 14hóa, sự giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân, phương thức vận chuyển từ nhà đến cơ sở y
tế v.v
Như vậy, vấn đề cần giải quyết trong nghiên cứu này là làm thế nào đo lường được
tiếp cận? Để trả lời câu hỏi, nghiên cứu này đo lường tiếp cận thông qua việc sử dụng các dịch vụ CSSKTS, cụ thể là đo lường tỷ lệ sử dụng các dịch vụ CSSKTS 1.2 Sơ lược chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam
Năm 1960, Chính phủ ban hành chiến dịch kế hoạch hóa gia đình trên diện rộngnhằm làm giảm tỷ lệ sinh đẻ tại Việt Nam Thông qua chương trình này, tỷ lệ sinh đẻcủa Việt Nam giảm từ 3,8 vào năm 1989 xuống còn 2,3 vào năm 1999 Tuy nhiênchương trình này chỉ giải quyết vấn đề về tăng dân số và kế hoạch hóa gia đình màkhông quan tâm nhiều đến các vấn đề khác cũng thuộc phạm vi của chăm sóc sức khỏesinh sản Thật vậy, tỷ lệ tử vong mẹ vẫn còn cao, cụ thể năm 2002 là 165 ca trên100.000 trẻ sinh sống.[1] Tỷ lệ tử vong mẹ có thể được giảm thiểu thông qua việc tăngcường các hoạt động CSSKTS như tiêm ngừa uốn ván, bổ sung viên sắt, khám và theodõi thai kì, tư vấn sức khỏe tiền sản v.v
Nhận thấy được tầm quan trọng của CSSKTS, năm 2000, Bộ Y Tế triển khaiChiến Lược Dân số và Chiến Lược Chăm Sóc Sức Khỏe Sinh Sản cho giai đoạn 2001-
2010 Mục tiêu của Chiến Lược Chăm Sóc Sức Khỏe Sinh Sản là đảm bảo phụ nữ cóthể tiếp cận với dịch vụ và thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản, cụ thể 100% phụ nữ
có thai được khám thai ít nhất một lần, 75% phụ nữ có thai khu vực vùng sâu vùng xa
và 50% phụ nữ có thai khu vực miền núi được khám thai 3 lần, và 95% phụ nữ có thaivùng sâu vùng xa và 85% phụ nữ có thai vùng núi được tiêm ngừa hai mũi uốn vántrong chăm sóc tiền sản.[1]
Năm 2009, Bộ Y Tế tiếp tục ban hành hướng dẫn triển khai hoạt động CSSKSSthuộc chương trình mục tiêu quốc gia năm 2009, trong đó có các mục tiêu cụ thể sau:
Làm mẹ an toàn: Tăng cường tiếp cận và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sứckhỏe bà mẹ, tập trung vào chăm sóc trước, trong và sau sinh
Trang 15 Cứu sống sơ sinh và chăm sóc sức khỏe trẻ em: Tăng cường tiếp cận và cải thiệnchất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trẻ em, đặc biệt là chăm sóc sơ sinh thông quacác hoạt động can thiệp và tăng cường kết hợp sản – nhi.
Phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh sản/bệnh lây qua đường tình dục(BLTQĐTD): Phát hiện sớm và nâng cao chất lượng điều trị các nhiễm khuẩn đườngsinh sản/ nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục thông qua đào tạo lại cán bộ y
tế, kết hợp nâng cao nhận thức các bà mẹ về phòng chống nhiễm khuẩn và ung thư
hệ thống sinh sản
Giảm phá thai và cung cấp dịch vụ phá thai an toàn
Tăng sự chấp nhận và sử dụng các biện pháp tránh thai sau phá thai
Cung cấp dịch vụ phá thai an toàn theo hướng dẫn chuẩn quốc gia nhằm giảm taibiến, biến chứng và tử vong do phá thai
Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên: Nâng cao nhận thức, kiến thức và thayđổi hành vi ở vị thành niên và thanh niên cũng như khả năng tiếp cận và nâng caochất lượng dịch vụ CSSKSS vị thành niên và thanh niên
CSSKSS nam giới: Nâng cao năng lực cán bộ cung cấp dịch vụ về CSSKSS namgiới thông qua đào tạo cập nhật chuẩn quốc gia về CSSKSS nam giới
Phối hợp liên ngành và xã hội hóa công tác CSSKSS: Tăng cường sự tham gia củacác ban ngành, đoàn thể, cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương các cấp trong hoạtđộng CSSKSS.[3]
Như vậy từ năm 2000 đến nay, CSSKTS luôn là một trong những mục tiêu màChính phủ quan tâm nhằm làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật của bà mẹ và trẻ em Cácnội dung CSSKTS luôn được thay đổi, bổ sung sao cho phù hợp với tình hình thực tế vàđiều kiện của từng vùng, miền trong cả nước
Nội dung hướng dẫn thực hiện CSSKTS có thể tóm gọn lại như sau:
Bảng 1.1: Các dịch vụ CSSKTS được Bộ Y Tế khuyến nghị năm 2009
Trang 16đầu theo Hướng dẫn chăm sóc trước sinh
Hỏi về các biện pháp tránh thai đã dùng X
Dự tính ngày sinh theo ngày đầu của kì
Kiểm tra các dấu hiệu bạo hành về thể xác
Kiểm tra cử động thai, số lượng thai, tình
Trang 17Tư vấn cho phụ nữ có thai
Các sinh hoạt khác trong đời sống khi có
Nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm thường
Tư vấn về vai trò và trách nhiệm của
chồng và các thành viên khác trong gia
Trang 18Sinh thiết nhau thai X X
Quản lý thai kì
Phiếu theo dõi sức khỏe bà mẹ tại nhà
Các nội dung kể trên đều được thể hiện dưới dạng các dịch vụ bao gồm: khámthai trong đó có khám toàn thân và khám sản khoa, các xét nghiệm cần thiết, tiêmngừa uốn ván, cung cấp thuốc thiết yếu, giáo dục sức khỏe, tư vấn trong thai kì, chẩnđoán trước sinh Nhiều nghiên cứu từ trước đến nay chỉ chú trọng đến khảo sát việc
sử dụng dịch vụ khám thai mà chưa quan tâm đến các dịch vụ nêu trên được lồngghép khi phụ nữ đến khám thai Xuất phát từ thực tế này, cùng với mong muốn khảosát toàn diện về việc sử dụng các dịch vụ CSSKTS nên nghiên cứu của tác giả sẽkhảo sát khả năng tiếp cận với 6 loại dịch vụ kể trên và các yếu tố liên quan đến 6loại dịch vụ này
1.3 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến sử dụng dịch vụ CSSKTS
1.3.1 Đặc tính dân số nghiên cứu
Tác giả Trịnh Thị Thúy Liễu nghiên cứu về khả năng tiếp cận với dịch vụCSSKTS ở những phụ nữ có con trước tuổi đi học tính đến thời đểm điều tra tại 3 tỉnhLong An, Bến Tre, Quãng Ngãi cho thấy rằng tỷ lệ phụ nữ được phỏng vấn ở độ tuổi20-29 là nhiều nhất, chiếm 54%, tuổi trung vị là 29 tuổi Trình độ học vấn phổ biến nhất
ở cấp tiểu học chiếm tỷ lệ nhiều nhất 39% Chủ yếu các phụ nữ làm nghề nông, chiếm tỷ
lệ 64% Tỷ lệ phụ nữ là người Kinh chiếm 92% Tỷ lệ phụ nữ không tôn giáo và có tôngiáo gần tương đương nhau 45% và 54% [29]
Trang 19Cũng có kết quả không khác so với nghiên cứu trên, điều tra đánh giá các mụctiêu trẻ em và phụ nữ do Tổng Cục Thống Kê tiến hành năm 2006 cho thấy tỷ lệ phụ nữ
ở tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 25-29 tuổi (32%) và 20-24 tuổi (31%) Trình độhọc vấn phổ biến ở mức độ tốt nghiệp tiểu học (33%) và tốt nghiệp trung học cơ sở(27%) Tỷ lệ phụ nữ là người Kinh và Hoa chiếm đa số (83%)[13]
Các nghiên cứu nước ngoài cũng cho kết quả tương tư Một nghiên cứu khác củatác giả Alice R.Rumbold và cộng sự về việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sảnkhoa tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe thuộc một khu vực ở Úc Nghiên cứu này thựchiện vào năm 2011 dựa trên hồ sơ lưu của những phụ nữ đã sinh con từ 2-14 tháng tuổi.Kết quả cho thấy, độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 25,3 tuổi.[27]
Một nghiên cứu của Qi Zhao, Asli Kulane, Yi Gao và Biao Xu được thực hiện tạiThành phố Thượng Hải năm 2008 Nghiên cứu khảo sát 475 phụ nữ di dân sinh con tạimột bệnh viện hạng hai tại quận Nanhui ngoại ô của thành phố Thượng Hải Tuổi trungbình của các đối tượng là 27 tuổi có khoảng cách tuổi từ 18-43 tuổi Có 7,6% mù chữ và20,3% học cấp I Giai đoạn trước khi mang thai con hiện tại, có 32,4% là thất nghiệp,54,5% là công nhân.[24] Nghiên cứu này được thực hiện trong thời gian gần đây nên cóthể tuổi phụ nữ trung bình sinh đẻ đã tăng lên, điều này cũng cho thấy xu hướng sinhcon trễ của phụ nữ
Một nghiên cứu khác của Turgul Erbaydar được tiến hành vào năm 2003 tại nămthành phố của Thổ Nhĩ Kỳ với tổng số mẫu là 1249 phụ nữ đã có con dưới 2 tuổi.Nghiên cứu so sánh việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản ở phụ nữ thuộckhu vực nghèo và khu vực giàu của 5 thành phố Kết quả cho thấy trình độ học vấn của
cả hai nhóm đều thấp trong đó tỷ lệ học dưới 5 năm là 66,7% ở nhóm nghèo và 81,8% ởnhóm giàu Đa số phụ nữ chỉ có một con (95,5% ở nhóm nghèo và 97,4% ở nhóm giàu).[30]
Qua kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy, hầu hết phụ nữ tuổi sinh đẻ chiếm
tỷ lệ nhiều nhất là 25 – 29 tuổi, tuổi trung bình vào khoảng 25 – 27 tuổi Đa số phụ nữ
Trang 20trong các nghiên cứu này đều có trình độ học vấn thấp Có thể là do nghiên cứu đượcthực hiện tại các vùng nông thôn và ở những nước đang phát triển.
1.3.2 Chăm sóc sức khỏe tiền sản
Khám thai
Theo một nghiên cứu của tác giả Khan.M và cộng sự về kiến thức, niềm tin vànhững rào cản trong CSSKTS của những phụ nữ đến khám thai tại những cơ sở y tế ởKinshasa vào năm 2004 cho thấy có đến 75% phụ nữ cho rằng nên khám thai lần đầutrước tháng thứ 4 của thai kỳ, tuy nhiên chỉ có 22% thực hiện đúng điều này Trongnghiên cứu này cũng cho thấy yếu tố tác động lên thời điểm phụ nữ đi khám thai là doyếu tố kinh tế và sự thiếu kiến thức (35%) Thời điểm khám thai trung bình là 4,7 thángđối với phụ nữ mới mang thai lần đầu và 5,9 tháng đối với phụ nữ đã mang thai từ 2 lầntrở lên.[20]
Ngoài ra, kết quả từ nghiên cứu của tác giả Rumbold và cộng sự cũng cho thấy tỷ
lệ phụ nữ đi khám thai lần đầu tiên trong vòng 3 tháng đầu của thai kì chiếm 42% vàthời điểm mang thai trung bình trong lần thăm khám đầu tiên là 16 tuần tuổi Số lầnkhám thai trung bình là 7 lần Nếu so với nghiên cứu trước đó của Khan.M thì kết quảnày hợp lí vì nghiên cứu này được thực hiện gần đây khi mà các khuyến cáo và các dịch
vụ về CSSKTS đã phổ biến hơn.[27]
Một kết quả nghiên cứu của tác giả Qi Zhao và cộng sự cho thấy có khoảng 36 %phụ nữ khám thai từ 5 lần trở lên và 3,8% đối tượng không đi khám thai Trung bìnhtuần thai trong lần khám thai đầu tiên là 16 tuần Có 7,2% phụ nữ sinh non và 4,8% sinhcon nhẹ cân.[24] Mặt khác trong nghiên cứu của Turgul Erbaydar cho thấy tỷ lệ khámthai >= 4 lần ở cả hai nhóm đều cao (63,8% ở nhóm nghèo và 86,5% ở nhóm giàu) [30]
Cũng đề cập đến dịch vụ khám thai, kết quả từ nghiên cứu của tác giả Trịnh ThịThúy Liễu cho thấy có 41% phụ nữ khám thai trong vòng 3 tháng đầu và tháng khámthai đầu tiên trung bình là 3,7 tháng Cũng có 41% phụ nữ khám thai 3 lần trở lên Kếtquả cuối cùng cho thấy tỷ lệ tiếp cận với dịch vụ khám thai không cao; với định nghĩa
Trang 21tiếp cận dịch vụ khám thai là khám trong vòng 4 tháng đầu và khám 3 lần trở lên thì tỷ lệnày chiếm 35% Đặc biệt, trong khi 2 tỉnh thuộc phía Nam trong cuộc điều tra này làLong An và Bến Tre có tỷ lệ sử dụng dịch vụ khám thai gần bằng nhau ( lần lượt là 45%
và 46%) thì tại Quãng Ngãi lại có tỷ lệ khá thấp ( 20%).[29]
Theo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ cho thấy tỷ lệ phụ nữ năm
2006, khám thai ít nhất 1 lần trong thời gian mang thai bởi những cán bộ y tế có chuyênmôn chiếm tỷ lệ khá cao (91%) Qua điều tra này cũng cho thấy có sự phân bố khácnhau về tỷ lệ khám thai giữa các nhóm tuổi và dân tộc cũng như trình độ học vấn.[13]
Nghiên cứu về thực hành chăm sóc sức khỏe tiền sản của thai phụ, tác giả Lâm
Hà Thu và cộng sự đã tiến hành phỏng vấn những thai phụ đến khám tại khoa khám thaibệnh viện Từ Dũ Kết quả cho thấy, 100% thai phụ có thực hành đúng, với thực hànhđúng về khám thai được tác giả định nghĩa là thực hiện đúng 3 trong 4 nội dung sau: sốlần khám thai, nơi khám thai, khám thai khi có dấu hiệu bất thường và giữ gìn, cập nhật
sổ khám thai Tỷ lệ này cao có thể một phần do mẫu nghiên cứu là những phụ nữ đếnkhám tại bệnh viện Từ Dũ, vô tình họ đã đạt được 2 trong 3 yếu tố của định nghĩa vềthực hành đúng.[7]
Từ kết quả những nghiên cứu trên có thể thấy tỷ lệ phụ nữ tiếp cận với dịch vụkhám thai ở các nước khác trên thế giới có xu hướng cao hơn ở Việt Nam Và càng vềnhững năm gần đây thì phụ nữ tiếp cận được với dịch vụ CSSKTS ngày càng nhiều
Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản khác
Một nghiên cứu khác do WHO thực hiện dựa trên những số liệu thứ cấp từ Điềutra về Sức Khỏe và Nhân chủng học (DHS) tại 14 quốc gia vào năm 2003 cho thấynhững kiểm tra lâm sàng trong việc chăm sóc sức khỏe tiền sản như đo chiều cao, cânnặng, đo huyết áp được thực hiện rất nhiều trong khi đó những xét nghiệm cận lâm sàngnhư xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu ít được thực hiện hơn [36]
Bên cạnh đó, kết quả Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ năm 2006cũng cho thấy tỷ lệ phụ nữ được đo huyết áp là 67,8% nhưng chỉ có 42,6% được xét
Trang 22nghiệm nước tiểu và 31,4% được xét nghiệm máu Trong khi đó tỷ lệ siêu âm lại khácao chiếm đến 74,1%.[13]
Điều tra quốc gia về sức khỏe và nhân chủng học của Việt Nam vào năm 1999 và
2002 đã cho thấy có sự gia tăng trong việc tiêm đủ liều vaccin uốn ván như sau: Nếunăm 1997 chỉ có 55% phụ nữ được tiêm đủ 2 mũi trong thai kì, 17% được tiêm 1 mũi và28% còn lại không được tiêm phòng thì đến năm 2002 đã có 71% phụ nữ được tiêm đủ 2mũi trong thai kì, 14% được tiêm 1 mũi và chỉ còn 15% phụ nữ không được tiêm phònguốn ván trong thai kì.[33, 34]
Kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Liễu về các nội dung CSSKTS cũng chothấy các nội dung liên quan đến khám lâm sàng cũng chiếm tỷ lệ cao hơn những xétnghiệm cận lâm sàng Cụ thể, 52% phụ nữ được đo huyết áp khi khám thai, 42% phụ nữđược theo dõi cân nặng; trong khi đó chỉ có 14% phụ nữ được xét nghiệm máu và 29%phụ nữ được siêu âm.[29] Nếu so với kết quả Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em vàphụ nữ năm 2006 thì tỷ lệ này khá thấp mặc dù 2 nghiên cứu chỉ cách nhau một năm.Mặt khác, nghiên cứu còn cho thấy nếu tỉ lệ phụ nữ tiếp cận với các nội dung về chămsóc sức khỏe tiền sản tại 2 tỉnh phía Nam là khá cao chẳng hạn tỷ lệ được đo huyết áp là58-65%, theo dõi cân nặng từ 52-57%, xét nghiệm nước tiểu từ 21-22% và siêu âm từ39-42% thì tại tỉnh Quãng Ngãi con số này lại khá thấp, cụ thể đo huyết áp là 38%, theodõi cân nặng 23%, xét nghiệm nước tiểu 4% và siêu âm 14% Ngoài ra, tỷ lệ tiêm ngừauốn ván chung là 52%, riêng tại Long An và Bến Tre tỉ lệ này lần lượt là 65% và 64%,15% phụ nữ có uốn viên sắt trong thai kì, riêng tại Long An là 23%.[29]
Về các thông tin, tư vấn mà phụ nữ nhận được trong chăm sóc sức khỏe tiền sản,nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Liễu cũng cho kết quả là có 42% phụ nữ nhận đượcthông tin về chế độ nghỉ ngơi và làm việc, 38% nhận được thông tin về dinh dưỡngtrong thai kì, 36% nhận được thông tin về sinh con an toàn.[29]
Về tiếp cận với viên sắt, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Alice R Rumbold vàcộng sự được công bố trong năm cho thấy có tỷ lệ phụ nữ được cho uống viên sắt là
Trang 2358%.[27] Trong khi đó, ở nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Thúy Liễu, tỷ lệ này đượcphản ánh là khá thấp, chỉ có 15% phụ nữ có sử dụng viên sắt.[29]
Kết quả nghiên cứu của Turgul Erbaydar cho thấy tỷ lệ làm xét nghiệm và siêu
âm ở nhóm nghèo là 72,6% và 82,9% ở nhóm giàu Tỷ lệ được tiêm ít nhất một mũitiêm uốn ván là 62,3% ở nhóm nghèo và 59,3% ở nhóm giàu Tỷ lệ được cung cấp thôngtin về tiêm ngừa uốn ván là 39,1% ở nhóm nghèo và 48,7% ở nhóm giàu Tỷ lệ được tưvấn các nội dung liên quan đến chăm sóc sức khỏe tiền sản thư được như sau: (a) tư vấn
về dinh dưỡng trong thai kì:50,5% ở nhóm nghèo và nhóm giàu là 66,6% (b) chuẩn bịsinh con: 41,9% ở nhóm nghèo và 62,3% ở nhóm giàu (c) biện pháp tránh thai sau khisinh: 29,2% ở nhóm nghèo và 44,5% ở nhóm giàu (d) nuôi con bằng sữa mẹ: 50,2% ởnhóm nghèo và 60,2% ở nhóm giàu.(e) chăm sóc sau sinh: 21,9% ở nhóm nghèo và41,2% ở nhóm giàu (f) chăm sóc trẻ: 50,7% ở nhóm nghèo và 59,8% ở nhóm giàu.[30]
So sánh với các nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ phụ nữ tiếp cận với các dịch vụ CSSKTS
ở Thổ Nhĩ Kỳ các phần cao hơn so với kết quả của các nghiên cứu cùng thời điểm đượctrình bày ở trên
1.3.3 Các yếu tố liên quan đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản
Cũng trong nghiên cứu của WHO dựa trên những số liệu thứ cấp từ Điều tra vềSức Khỏe và nhân chủng học (DHS) vào năm 2003 cho thấy các yếu tố như đặc điểmthành thị-nông thôn, giáo dục, trình độ học vấn có liên quan đến số lần khám thai củaphụ nữ.[36]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Thúy Liễu cho thấy các yếu tố ảnhhưởng đến việc đi khám thai bao gồm: dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, không bổsung viên sắt/folic trong thai kì.[29] Ngoài ra, các yếu tố về dân tộc, sinh con có chủđịnh, nghề nghiệp cũng có liên quan đến việc ít sử dụng các dịch vụ CSSKTS và tư vấn
Nghiên cứu của Qi Zhao, Asli Kulane, Yi Gao và Biao Xu cho thấy trên 50% phụ
nữ được phỏng vấn không biết được tháng thích hợp để đi khám thai lần đầu Nghiêncứu cũng cho thấy những phụ nữ trẻ, phụ nữ không thuộc nhóm công nhân có mối liên
Trang 24quan có ý nghĩa thống kê cao với kiến thức về chăm sóc sức khỏe tiền sản Phụ nữ khámthai từ 5 lần trở lên có kiến thức cao hơn so với những phụ nữ khám thai ít hơn (p <0,001) Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và tiền sản sinh non(p > 0,05) Phụ nữ có trình độ học vấn cao thì có kiến thức cao về sức khỏe sinh sản.[24]
Ngoài ra, kết quả từ nghiên cứu của tác giả Turgul Erbaydar cho thấy phụ nữ cóthu nhập thấp, trình độ học vấn thấp thường có khả năng không nhận được các chăm sócsức khỏe tiền sản.[30]
Qua kết quả từ các nghiên cứ được trình bày ở trên nhận thấy, hầu hết các yếu tố
xã hội như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, thành thị hoặc nông thôn, và cảsinh con có chủ định của phụ nữ đều có ảnh hưởng đến việc tiếp cận với các dịch vụCSSKTS của họ Ngoài ra, một số kiến thức về CSSKTS cũng có ảnh hưởng không nhỏđến khả năng tiếp cận này
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế cắt ngang mô tả
Địa điểm, thời gian: huyện Mỹ Xuyên , Sóc Trăng từ tháng 1-11/2011
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2
) 1 (
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Thúy Liễu, tỷ lệ phụ nữ tiếp cận đượcvới dịch vụ khám thai tại tỉnh Bến Tre là 46% Như vậy, nghiên cứu này sẽ sử dụng
tỷ lệ ước lượng p=0,46 với độ tin cậy là 95%, (Z1-α/2 = 1,96)
Độ chính xác ( sai số cho phép) d= 0.06
Cỡ mẫu được tính là: n= 265
Nhân với hệ số thiết kế là 1,5
Tăng 20% cỡ mẫu trù liệu cho những số liệu bị sai sót
N= 265x1,5 x 120% = 477 phụ nữ
2.4 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp lấy mẫu đa bậc:
Bậc 1: Chọn mẫu cụm theo phương pháp PPS: Huyện Mỹ Xuyên gồm thị trấn MỹXuyên (371 phụ nữ) và 10 xã bao gồm: Đại Tâm (290 phụ nữ), Tham Đôn (290 phụ
Trang 26nữ), Thạnh Phú (369 phụ nữ), Hoà Tú 1 (159 phụ nữ), Hoà Tú 2 (185 phụ nữ), NgọcĐông (184 phụ nữ), Ngọc Tố (174 phụ nữ), Gia Hoà 1 (411 phụ nữ), Gia Hoà 2 (134phụ nữ), Thạnh Quới (155 phụ nữ) Tổng số phụ nữ có con dưới 1 tuổi là 2723 phụ
nữ Từ danh sách các phụ nữ có con dưới 1 tuổi của 11 xã/thị trấn này, chọn 5 xãtheo phương pháp chọn mẫu PPS, khoảng cách mẫu là 544,6 Chọn được 5 xã/thịtrấn là Mỹ Xuyên, Ngọc Tố, Gia Hòa 1, Thạnh Phú và Tham Đôn Với cỡ mẫu 477chia đều 5 xã Mỗi xã sẽ điều tra 95 phụ nữ
Bậc 2: Từ danh sách các phụ nữ có con dưới 1 tuổi của các ấp trong 5 xã được chọn.Dùng phương pháp lấy mẫu cụm PPS để chọn ra 6 ấp ở mỗi xã Như vậy, sẽ chọn rađược 30 ấp để điều tra trên toàn huyện được chọn Với cỡ mẫu là 477 chia đều cho
30 ấp Mỗi ấp sẽ điều tra 16 phụ nữ có con dưới 1 tuổi
Bậc 3: Dựa trên danh sách những phụ nữ có con dưới 1 tuổi tại những ấp được chọn.Bốc thăm ngẫu nhiên 16 hộ có phụ nữ có con dưới 1 tuổi để điều tra
2.5 Tiêu chí chọn mẫu
Tiêu chí đưa vào:
Tất cả phụ nữ có con dưới 1 tuổi thuộc danh sách được chọn của 5 xã
Tiêu chí loại ra:
Những đối tượng có vấn đề về tâm thần
Những đối tượng không hợp tác
Những đối tượng vắng mặt trên 2 lần
Phương pháp kiểm soát sai lệch chọn mẫu:
Trong trường hợp người được phỏng vấn đi vắng thì phải quay lại điều tra lần
Trong trường hợp tiếp tục vắng mặt thì bỏ qua
2.6 Thu thập dữ kiện
Kỹ thuật thu thập:
Tập huấn cho nhân viên điều tra về cách tiếp cận và điều tra
Trang 27 Nhân viên điều tra sẽ điều tra theo danh sách những phụ nữ đã được chọn Nhân viênđiều tra đọc câu hỏi trực tiếp để đối tượng trả lời và giải thích cho đối tượng trongtrường hợp đối tượng không hiểu hoặc hiểu lầm câu hỏi.
Công cụ: Bộ câu hỏi soạn sẵn ( xem phụ lục)
Người thu thập: các nhân viên điều tra đã được tập huấn
Quản lí dữ liệu: đánh số thứ tự các phiếu điều tra ngay sau khi thu thập
Tiến hành kiểm tra toàn bộ các phiếu theo tiêu chí chọn mẫu
Phương pháp kiểm soát sai lệch thông tin:
Tổ chức điều tra thử trên 30 đối tượng tại 5 xã được chọn vào nghiên cứu để làmsáng tỏ bộ câu hỏi và phát hiện những vấn đề cần sửa chữa
Giải thích các vấn đề đối tượng không rõ để tránh sai lệch thông tin
Tiến hành điều tra ở nơi có không gian yên tĩnh, ít người để tránh gây phiền chongười được điều tra khi trả lời những câu hỏi có tính chất riêng tư
Chọn những phụ nữ sinh con trong vòng 1 năm trước thời điểm điều tra để giảm bớtsai lệch do hồi tưởng
2.7 Liệt kê biến số
2.7.1 Biến số tiếp cận dịch vụ CSSKTS
Tiếp cận dịch vụ khám thai
Tiếp cận với dịch vụ xét nghiệm
Tiếp cận với dịch vụ siêu âm
Tiếp cận dịch vụ tiêm ngừa uốn ván
Tiếp cận dịch vụ cung cấp thuốc khi mang thai
Tiếp cận dịch vụ tư vấn, giáo dục sức khỏe tiền sản
2.7.2 Biến số liên quan đến việc tiếp cận dịch vụ CSSKTS:
Biến kiến thức CSSKTS, bao gồm:
Kiến thức về khám thai
Kiến thức về những xét nghiệm cần làm khi mang thai
Trang 28 Kiến thức về lợi ích của làm xét nghiệm khi mang thai
Kiến thức về lợi ích của siêu âm
Kiến thức về việc cần phải nên siêu âm
Kiến thức về lợi ích của việc tiêm ngừa uốn ván khi mang thai
Kiến thức về lợi ích của cung cấp viên sắt khi mang thai
2.7.3 Biến số gây nhiễu tiềm ẩn:
Biến số liên quan đặc điểm dân số học, bao gồm:
Biến số liên quan đến tiền sử sản khoa, bao gồm:
Tiền sử mang thai trước đó
Tiền sử sinh non
Tiền sử sảy thai
Biến sinh con có chủ định
2.8 Định nghĩa các biến số
2.8.1 Biến số liên quan đến đặc điểm dân số học
Tuổi: Là biến định tính, được chia thành 3 nhóm giá trị sau: + < 20 tuổi
Trang 292.8.2 Biến số liên quan đến tiền sử sản khoa
Tiền sử mang thai trước đó: Là biến định tính Được tính đến thời điểm trước khimang thai đứa bé 1 tuổi này Gồm 2 giá trị:
+ Có: Khi trước đó đã từng mang thai
+ Không: Khi trước đó chưa từng mang thai
Tiền sử sinh non: Là biến định tính Được tính đến thời điểm trước khi mang đứa
bé 1 tuổi này Gồm 2 giá trị:
+ Có: khi phụ nữ sinh 1 trẻ trong khoảng từ tuần 20 đến tuần 37 của thai kì
+ Không: khi phụ nữ sinh 1 trẻ ngoài khoảng từ tuần 20 đến tuần 37 của thai kì
Tiền sử sẩy thai: Là biến định tính, được tính đến thời điểm trước khi mang đứa
bé 1 tuổi này Gồm 2 giá trị:
Trang 30+ Có: Khi phụ nữ mất thai một cách tự nhiên hoặc sinh trẻ trước tuần thứ 20 củathai kì.
+ Không: Khi phụ nữ mất thai một cách tự nhiên hoặc sinh trẻ sau tuần thứ 20 củathai kì
Sinh con có chủ định: Là biến nhị giá gồm:
+ Có chủ định: khi chọn muốn có con tại thời điểm đó
+ Không chủ định: Khi chọn chờ một thời gian nữa hoặc hoàn toàn không muốn cóthêm con
2.8.3 Biến số về kiến thức chăm sóc sức khỏe tiền sản
Kiến thức về khám thai: Là biến định tính Được đánh giá dựa vào 2 chỉ số làthời điểm khám thai đầu tiên và số lần đi khám thai Biến số gồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức: Khi chọn khám thai trong vòng 3 tháng đầu và khám 3 lần trở lêntrong suốt thai kì
+ Không có kiến thức: Khi chỉ chọn được 1 trong 2 ý trên
Kiến thức về những xét nghiệm cần phải làm: Là biến định tính Biến số được
mô tả bằng 2 nội dung “xét nghiệm máu; xét nghiệm nước tiểu” Biến gồm 2 giátrị:
+ Có kiến thức: Khi trả lời được 2 xét nghiệm nêu ở trên
+ Không kiến thức: Khi trả lời được ít hơn 2 xét nghiệm trên
Kiến thức về lợi ích của xét nghiệm khi mang thai: Là biến định tính, được mô tảqua 4 nội dung mà sản phụ nên biết sau: “Giúp phát hiện nhiễm trùng tiết niệucho người mẹ; giúp phát hiện tình trạng thiếu máu; giúp phát hiện các bệnh giangmai, HIV, viêm gan; phát hiện nguy cơ tiền sản giật”
+ Có kiến thức: khi chọn cả 4 nội dung trên
+ Không có kiến thức: Khi chọn ít hơn 4 nội dung trên
Kiến thức lợi ích của siêu âm khi mang thai: Là biến định tính Gồm 2 giá trị:
Trang 31+ Có kiến thức: khi trả lời được “ Siêu âm giúp phát hiện các dị tật bẩm sinh củathai nhi” hoặc “ siêu âm theo dõi sự phát triển của thai nhi”
+ Không có kiến thức: Khi không trả lời được cả 2 ý trên
Kiến thức về việc cần phải siêu âm: Là biến định tính Biến số này có phầnnghiêng về khảo sát thái độ của đối tượng Tuy nhiên, do có ảnh hưởng trực tiếpđến việc tiếp cận của đối tượng đến dịch vụ siêu âm nên biến số này được đưavào nghiên cứu để đánh giá Biến gồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức: Khi trả lời “ nên siêu âm khi mang thai”
+ Không kiến thức: Khi trả lời “ không nên siêu âm khi mang thai”
Kiến thức về lợi ích của tiêm phòng uốn ván: Là biến định tính Biến số này được
mô tả bằng 3 nội dung “ phòng ngừa uốn ván cho mẹ; phòng ngừa uốn ván chocon; phòng ngừa uốn ván cho cả mẹ và con” Biến gồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức: khi chọn “ tiêm ngừa uốn ván có thể phòng ngừa uốn ván cho con”hoặc “tiêm ngừa uốn ván có thể phòng ngừa uốn ván cho cả mẹ và con”
+ Không có kiến thức: Khi không chọn được 2 nội dung trên
Kiến thức về lợi ích của viên sắt trong khi mang thai: Là biến định tính, gồm 2giá trị:
+ Có kiến thức: khi trả lời uống viên sắt có thể “ngừa bệnh thiếu máu cho mẹ” hoặc
“giúp cho sự phát triển của thai nhi”
+ Không có kiến thức: Khi trả lời không biết hoặc các ý khác 2 ý trên
2.8.4 Biến số tiếp cận dịch vụ CSSKTS
Tiếp cận với dịch vụ khám thai: là biến nhị giá Được đánh giá dựa vào 4 nộidung “ khám thai trong vòng 3 tháng đầu, khám thai từ 3 lần trở lên, đo huyết áp,
đo cân nặng” Biến số gồm hai giá trị:
+ Có tiếp cận: khi trả lời “có” cả 4 nội dung trên
+ Không tiếp cận: khi trả lời có ít hơn 4 nội dung trên
Trang 32 Tiếp cận dịch vụ xét nghiệm: có hai loại xét nghiệm cần thiết trong chăm sóc sứckhỏe tiền sản là xét nghiệm nước tiểu và xét nghiệm máu Đây là biến định tínhgồm hai giá trị:
+ Có tiếp cận: khi được làm cả hai xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu ít nhất
1 lần
+ Không tiếp cận: khi chỉ làm một trong hai xét nghiệm trên hoặc không làm xétnghiệm nào kể trên
Tiếp cận với dịch vụ siêu âm: đây là biến định tính, gồm 2 giá trị sau:
+ Có tiếp cận: khi có thực hiện chuẩn đoán siêu âm ít nhất 1 lần
+ Không tiếp cận: khi không thực hiện chẩn đoán siêu âm
Tiếp cận tiêm phòng uốn ván: Là biến định tính gồm hai giá trị:
+ Có tiếp cận: Khi trong thai kì tiêm đủ 2 mũi trở lên Nếu trong thai kì chỉ đượctiêm 1 mũi thì trước đó có nhớ tiêm đủ 5 mũi hoặc dưới 5 mũi nhưng trong vòng
5 năm trở lại tính đến thời điểm mang thai Nếu trong thai kì không tiêm mũi nàothì có nhớ đã tiêm đủ 5 mũi trong thời gian ít hơn 10 năm tính đến thời điểmmang thai
+ Không tiếp cận: Trong lần mang thai được tiêm dưới 2 mũi và không nhớ trướcđây có được tiêm hay không
Tiếp cận thuốc thiết yếu: thuốc thiết yếu được cung cấp trong thai kì bao gồmthuốc sốt rét nếu sản phụ sống tại phân vùng sốt rét và viên sắt Trong nghiên cứunày tác giả chỉ tập trung khảo sát tỷ lệ sử dụng viên sắt Như vậy biến này gồmhai giá trị là:
+ Có tiếp cận: khi có uống viên sắt mỗi ngày
+ Không tiếp cận: khi không uống viên sắt mỗi ngày
Tiếp cận dịch vụ tư vấn, giáo dục sức khỏe cho bà mẹ trước khi sinh: nội dung tưvấn, giáo dục sức khỏe cho bà mẹ trước khi sinh bao gồm 11 nội dung: “Sự cần
Trang 33thiết của khám thai định kì; Dinh dưỡng khi mang thai; Lao động, làm việc trongkhi mang thai; Vệ sinh thân thể trong khi mang thai; Các sinh hoạt khác khi cóthai kể cả quan hệ tình dục; Những dấu hiệu nguy hiểm thường gặp khi có thai;Tâm lý cho cuộc sinh; Nuôi con bằng sữa mẹ; Biện pháp tránh thai sau khi sinh;HIV/AIDS và các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục khác; Tư vấn vềvai trò và trách nhiệm của chồng và các thành viên khác trong gia đình.”
Ở trong phạm vi đề tài này, 5 nội dung sau đây được cho là quan trọng mà thaiphụ cần phải biết là “Sự cần thiết của khám thai định kì; Dinh dưỡng khi mangthai; Lao động, làm việc trong khi mang thai; Những dấu hiệu nguy hiểm thườnggặp khi có thai; Nuôi con bằng sữa mẹ” Như vậy biến gồm hai giá trị:
+ Có tiếp cận: khi được tư vấn đủ 5 nội dung trên
+ Không tiếp cận: khi được tư vấn ít hơn 5 nội dung cần phải có trên
2.9 Xử lý và phân tích dữ liệu
Dùng phần mềm Epidata để nhập liệu
Dùng phần mềm thống kê Stata 10.0 để phân tích số liệu
Đối với thống kê mô tả: Dùng bảng phân phối tần suất của các biến
Đối với thống kê phân tích: Sử dụng các phép kiểm định chi bình phương vớikhoảng tin cậy 95%, sử dụng mô hình phân tích phân tầng đơn biến đề đánh giá cácyếu tố được xác định là tương tác
2.10 Vấn đề y đức
Nghiên cứu này không vi phạm đạo đức vì:
Không vi phạm thuần phong mỹ tục
Không tiết lộ bí mật của người được điều tra
Không làm tổn hại tinh thần, thể chất của đối tượng tham gia nghiên cứu
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ
Dựa trên danh sách những phụ nữ đã sinh trong vòng một năm tính cho đến thờiđiểm điều tra chọn ra 477 phụ nữ theo cách lấy mẫu đã được trình bày Nhờ cộng tácviên thông báo đến các phụ nữ đã được chọn trước đó 1 tuần nhằm hạn chế tình trạngmất mẫu do không gặp được đối tượng phỏng vấn Kết quả có tất cả 449 phụ nữ đượcphỏng vấn
3.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.2 Đặc tính của mẫu nghiên cứu (n= 449)
Tuổi
< 2020-< 30
≥ 30
20319110
4,571,024,5Dân tộc
KinhKhơ meKhác
25218710
56,141,72,2Tôn giáo
Có tôn giáo
Trình độ học vấn
Mù chữCấp I hoặc biết đọc, biết viếtCấp II
Cấp III trở lên
2617119062
5,838,142,313,8 Nghề nghiệp
Nông dânLao động phổ thôngCông nhân viên chứcNội trợ
1809326150
40,120,75,833,4
Trang 35Tỉ lệ tuổi của mẫu đa số là ở nhóm tuổi từ 20 đến 29 tuổi, chiếm 71,1% Phân bố
về dân tộc cho thấy tỉ lệ dân tộc Kinh và Khơ-me gần tương đương nhau, lần lượt là56,1% và 41,7% Phần lớn theo đạo Phật hoặc không theo tôn giáo nào Trình độ họcvấn chỉ ở mức cấp I hoặc cấp II là chủ yếu (38,1% và 42,3%) Nghề nghiệp chủ yếu làlàm nông ( 40,1%) hoặc ở nhà làm nội trợ ( 33,4%)
3.2 Tiền sử sản khoa của các phụ nữ được khảo sát
Bảng 3.3 Tiền sử sản khoa của đối tượng khảo sát (n = 449)
*n=245
Trong 449 phụ nữ được phỏng vấn có 54,6% phụ nữ đã từng có tiền sử mang thaitrước khi mang thai lần này Trong đó, tỷ lệ phụ nữ đã từng sẩy thai trước lần sinh nàychiếm 12,2% cao hơn những phụ nữ đã từng sinh non, chiếm 7,8%
3.3 Sinh con có chủ định của phụ nữ được khảo sát
Bảng 3.4 Sinh con có chủ định ( n = 449)
Sinh con có chủ định
Có
Muốn có ngay thời điểm đó
Chờ một thời gian nữa
Hoàn toàn không muốn
3116474
69,314,216,5
Trong 449 phụ nữ khi được hỏi về tình huống sinh con vào giai đoạn đó là có chủđịnh hay không có chủ định, có 69,3% cho biết muốn có vào thời điểm đó, 14,2% muốnchờ một thời gian nữa và 16,5% thì hoàn toàn không muốn có thêm con Từ đó rút ra kếtluận 69,3% phụ nữ sinh con có chủ định
Trang 363.4 Tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản
3.4.1 Tiếp cận với dịch vụ khám thai
Bảng 3.5 Tiếp cận với dịch vụ khám thai ( n = 449)
Tần số Tỷ lệ (%) Từng đi khám thai
Khám thai từ 3 lần trở lên
Khám lần đầu trong vòng 3 tháng đầu
Được theo dõi huyết áp
Được theo dõi cân nặng
439317348406394
97,870,877,590,487,8
3.4.2 Tiếp cận với dịch vụ xét nghiệm
Bảng 3.6 Tiếp cận với dịch vụ xét nghiệm ( n = 449)
Tần số Tỷ lệ (%) Xét nghiệm máu
Trong 449 phụ nữ được hỏi về tiếp cận với dịch vụ xét nghiệm, có 69,5% phụ nữđược xét nghiệm máu cao hơn so với tỷ lệ phụ nữ được xét nghiệm nước tiểu, 63,2%.Dựa vào định nghĩa có tiếp cận với dịch vụ xét nghiệm là khi sử dụng cả dịch vụ xétnghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu, kết quả cho thấy chỉ có 55,2% phụ nữ có tiếp cậnvới dịch vụ xét nghiệm
3.4.3 Tiếp cận dịch vụ siêu âm
Trang 37Bảng 3.7 Tiếp cận với dịch vụ siêu âm ( n = 449)
Tần số Tỷ lệ (%)
Hầu hết phụ nữ được khảo sát đều có tiếp cận với dịch vụ siêu âm, chiếm tỷ lệ96,2%
3.4.4 Tiếp cận dịch vụ tiêm ngừa uốn ván
Bảng 3.8 Tiếp cận với dịch vụ tiêm ngừa uốn ván ( n=449 )
Tần số Tỷ lệ (%)Tiêm 2 mũi trong thai kì
Tiêm 1 mũi trong thai kì và trước đó đã tiêm 5 mũi
Tiêm 1 mũi trong thai kì và trước đó tiêm ít hơn 5 mũi
trong vòng 5 năm
Trước đó đã tiêm 5 mũi trong vòng 10 năm
327207
72,80,401,6
Trong 449 phụ nữ được hỏi về tiêm ngừa uốn ván trong khi mang thai, đa số phụ
nữ cho biết được tiêm đủ 2 mũi trong thai kì Số phụ nữ được tiêm 1 mũi trong thai kỳ
và trước đó đã được tiêm rất thấp; chiếm 0,4% Phụ nữ đã tiêm đủ 5 mũi trong vòng 10năm tính đến thời điểm mang thai chiếm 1,6% Như vậy có 74,8% phụ nữ được tiếp cậnvới dịch vụ tiêm ngừa uốn ván
3.4.5 Tiếp cận thuốc thiết yếu
Bảng 3.9 Tiếp cận với thuốc thiết yếu ( n=449)
Trang 38Tần số Tỷ lệ (%)
Để đánh giá việc tiếp cận thuốc thiết yếu của những phụ nữ được đưa vào điềutra, với câu hỏi được sử dụng là “chị có uống viên sắt mỗi ngày không ?”, kết quả chothấy tỷ lệ phụ nữ có tiếp cận với thuốc thiết yếu tương đối cao
3.4.6 Tiếp cận với dịch vụ tư vấn
Bảng 3.10 Tiếp cận với dịch vụ tư vấn ( n = 449)
Nội dung được tư vấn Tần số CóTỷ lệ (%)
Các sinh hoạt khác khi có thai kể cả quan hệ tình dục* 135 39,9
Những dấu hiệu bất thường khi mang thai* 216 63,7
HIV/AIDS và các bệnh lây qua đường lây đường tình dục* 126 37,2
Vai trò của chồng và các thành viên trong gia đình* 83 24,5
*n=339
Bảng 3.11 Các nguồn thông tin nhận được ( n = 339)
Trang 39mà họ nhận được nhiều nhất là từ cán bộ y tế huyện, xã 70,8% Bác sỹ/ y tá phòngmạch tư chiếm 30,7%, người thân trong gia đình chiếm 30,4% Từ sách báo chiếm19,2% Ngoài ra có một bộ phận nhỏ những phụ nữ trả lời từ những phụ nữ có thai
Trang 40Trong 449 phụ nữ được phỏng vấn về sự cần thiết của khám thai, số phụ nữ chobiết nên đi khám thai chiếm tỷ lệ tương đối cao, chiếm 94,7% Tuy nhiên chỉ có 65,7%phụ nữ biết cần khám ít nhất 3 lần nên khám lần đầu trong 3 tháng đầu thai kỳ
3.5.2 Kiến thức về các xét nghiệm cần làm khi mang thai
Bảng 3.13 Kiến thức về các xét nghiệm cần làm trong khi mang thai (n = 449)
có kiến thức về các xét nghiệm cần làm trong khi mang thai, chiếm 39,6%
3.5.3 Kiến thức về lợi ích của xét nghiệm khi mang thai
Bảng 3.14 Kiến thức về lợi ích của xét nghiệm khi mang thai (n = 449)
Tần số Tỷ lệ (%)
Phát hiện bệnh giang mai, viêm gan B, HIV 246 54,8
Phát hiện nhiễm trùng tiểu/tiết niệu cho mẹ 74 16,5
Trong 4 lợi ích cơ bản của xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu mang lạiđược đưa vào bộ câu hỏi, những lợi ích của xét nghiệm máu được biết nhiều hơn của xét