Chính vì vậy, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA là do QLNN đối với loại hình đào tạo này vẫn còn nhiều bất c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN ĐỨC THUẬN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC TRONG
CÁC HỌC VIỆN THUỘC BỘ CÔNG AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN ĐỨC THUẬN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC TRONG CÁC HỌC VIỆN THUỘC BỘ
CÔNG AN
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Ngô Thành Can
2 Thiếu tướng, GS.TS Lê Minh Hùng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tư liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.
Hà Nội, ngày thángnăm 2019
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận án “Quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học trong các học viện thuộc Bộ Công an” , tác giả xin chân thành cảm ơn hai nhà khoa học, hai thầy giáo hướng dẫn khoa học là PGS TS Ngô Thành Can, Thiếu tướng, GS TS Lê Minh Hùng đã luôn quan tâm, tận tình, gợi mở, chỉ dẫn, giúp đỡ về nội dung và phương pháp nghiên cứu, làm việc.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo ở Học viện Hành chính Quốc gia, đặc biệt là các thầy, cô, cán bộ, giảng viên của Khoa Quản lý nhà nước về Xã hội, Khoa Đào tạo Sau Đại học đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành bản luận án này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Cục Đào tạo, Bộ Công an, các thầy,
cô giáo, giảng viên, cán bộ của Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân đã quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện về thời gian, kiến thức, tinh thần, thông tin, số liệu, tài liệu và những góp ý định hướng, sửa chữa trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện bản luận án này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, chia sẻ, động viên tác giả trong cả quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận án.
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của luận án 8
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đào tạo đại học theo hình 10 thức vừa làm vừa học
1.2 Những công trình liên quan đến Quản lý nhà nước về đào tạo đại học 20 theo hình thức vừa làm vừa học nói chung và trong các học viện thuộc
Bộ Công an nói riêng
1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 28
2.3 Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức vừa 51 làm vừa học
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo 63 hình thức vừa làm vừa học
2.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức vừa 69
Trang 6làm vừa học tại một số nước trên thế giới
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO 83 TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC
TRONG CÁC HỌC VIỆN THUỘC BỘ CÔNG AN
3.1 Giới thiệu tổng quan về đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa 83 học trong các Học viện thuộc Bộ Công an
3.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình 93 thức vừa làm vừa học trong các Học viện thuộc Bộ Công an
3.3 Đánh giá quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức vừa 118 làm vừa học trong các Học viện thuộc Bộ Công an
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
HL&BDNV Huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
1 Sơ đồ 2.1: Các hình thức đào tạo đại học 37
2 Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quản lý nhà nước về đào tạo đại học của 76
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
3 Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý giáo dục đại
học theo hình thức VLVH trong các Học viện thuộc 105
Bộ Công an
4 Biểu đồ 2.1: So sánh đào tạo đại học VLVH với tổng quy 73
mô đào tạo đại học tại Liên Bang Nga
5 Biểu đồ 3.1: Biến động chỉ tiêu đào tạo đại học VLVH 85
trong CAND
6 Biểu đồ 3.2: Đánh giá về công tác phục vụ tài liệu học tập 92
7 Biểu đồ 3.3: Chỉ tiêu đào tạo đại học VLVH hàng năm 97
dành cho các HVTBCA
8 Biểu đồ 3.4: Đánh giá công tác xây dựng kế hoạch, chính
sách phát triển đào tạo đại học VLVH trong các 98 HVTBCA
9 Biểu đồ 3.5: Đánh giá công tác tổ chức thực hiện các văn 104
bản quy phạm pháp luật
10 Biểu đồ 3.6: Cơ cấu trình độ đội ngũ giáo viên, cán bộ 106
quản lý giáo dục
11 Biểu đồ 3.7: Đánh giá công tác tổ chức cán bộ 110
12 Biểu đồ 3.8: Trình độ đội ngũ giáo viên 111
13 Biểu đồ 3.9: Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục 111
14 Biểu đồ 3.10: Cơ cấu đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý 113
giáo dục
15 Biểu đồ 3.11: Đánh giá công tác quản lý, đào tạo, bồi 114
dưỡng giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục
16 Biểu đồ 3.12: Đánh giá công tác Thanh tra, kiểm tra 118
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển của đời sống kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ của mỗi quốc gia, dân tộc, vị trí và vai trò của giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng ngày càng trở nên quan trọng Khác với giáo dục phổ thông, giáo dục đại học cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho nền sản xuất để tạo ra của cải vật chất và tinh thần của xã hội Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục đại học ở các nước phát triển đang chuyển mạnh
từ nền giáo dục tinh hoa với quy mô nhỏ sang nền giáo dục đại chúng với quy
mô ngày càng lớn Ở Việt Nam, song hành với sự phát triển, hội nhập quốc tế với tư tưởng phát triển giáo dục đại chúng là chính sách “hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập” [145] của Đảng và Nhà nước ta Theo đó, giáo dục đại học nước ta những năm gần đây cũng phát triển rất nhanh về cả số lượng cơ
sở đào tạo, quy mô đào tạo và hình thức đào tạo, trong đó đáng chú ý là sự gia tăng của hình thức đào tạo VLVH trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Đối với các trường đại học, học viện trong ngành Công an, với nhu cầu đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ, chiến sĩ đáp ứng nhiệm vụ bảo
vệ ANQG và giữ gìn TTATXH trong tình hình mới không nằm ngoài xu thế
đó Lực lượng CAND luôn được chú trọng xây dựng, phát triển nhanh và mạnh về cả số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Hàng năm, chỉ tiêu tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp CAND tăng lên đáng kể, cùng với đó là chỉ tiêu tuyển dụng công dân ngoài ngành, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ ở lại công tác lâu năm rất nhiều Điều đó cho thấy nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trong CAND là rất lớn, trong đó có nhu cầu đào tạo đại học hình thức VLVH trong các HVTBCA Chỉ tiêu tuyển sinh đại học VLVH trong các HVTBCA năm học 2015-2016 cao nhất với 17.824 chỉ tiêu, cao gấp 2,8 lần so với hai năm trước đó.
Trang 10Có thể thấy, đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA trong những năm qua đã gặt hái được nhiều thành công đáng ghi nhận qua việc tăng nhanh về quy mô đào tạo; không ngừng hoàn thiện và cập nhật chương trình đào tạo mới, hiện đại; cơ sở vật chất được đầu tư, trang bị; đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy có trình độ, kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy tích cực; chất lượng đào tạo từng bước được nâng lên, đã và đang đáp ứng được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trong CAND Tuy nhiên, trên thực tế hình thức đào tạo này vẫn còn nhiều hạn chế như chất lượng đội ngũ giảng viên chưa đồng đều; cơ sở vật chất
kỹ thuật và trang thiết bị dạy học chưa thật sự đồng bộ; chất lượng đào tạo (đầu vào, đầu ra) chưa thật sự thuyết phục [41].
Trước thực trạng đó, một vấn đề được đề cập nhiều trong phát triển đào tạo đại học theo hình thức VLVH là quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức VLVH Thông qua quản lý nhà nước mới thực hiện được các chủ trương, chính sách của quốc gia về phát triển đào tạo đại học theo hình thức VLVH nhằm góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo nói chung, đáp ứng nhu cầu giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện được các mục tiêu xây dựng xã hội học tập của nhà nước… Quản lý nhà nước nói chung và quản
lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức VLVH được coi là khâu then chốt để thực hiện thắng lợi mọi hoạt động giáo dục, đào tạo, trong đó có đào tạo đại học theo hình thức VLVH Chính vì vậy, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA là do QLNN đối với loại hình đào tạo này vẫn còn nhiều bất cập
và khoảng trống, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo cũng như hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của các cơ quan QLNN về đào tạo đại học giữa Bộ GD&ĐT, Bộ Công an còn chồng chéo, chưa có sự thống nhất; bộ máy QLNN, quản lý giáo dục đại học VLVH trong ngành Công an vẫn còn chưa
Trang 11được đầu tư, tuyển chọn kỹ lưỡng; cơ chế và phương pháp quản lý chưa theo kịp quy mô và tốc độ phát triển của hình thức đào tạo VLVH; nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất phục vụ QLNN đối với loại hình đào tạo này trong CAND còn chưa được đầu tư thích đáng; công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên, đi vào chiều sâu và chưa có sự liên kết, liên thông giữa các cấp…
Trong khi đó, những vấn đề lý luận về QLNN về đào tạo đại học VLVH hiện nay còn tản mạn và chưa được chuyên sâu Chưa có công trình nghiên cứu nào chỉ ra sự khác nhau giữa đào tạo đại học theo hình thức VLVH với đào tạo đại học theo hình thức chính quy, giữa đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong và ngoài lực lượng Công an; chưa có công trình nào phân tích rõ nội dung và đặc điểm QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH; những bất cập trong QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA; chưa đề xuất được hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường QLNN
về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA.
Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học trong các học viện thuộc Bộ Công an” cho luận án tiến sĩ quản lý hành chính công của mình Qua đó, nghiên cứu sinh mong muốn tìm ra những giải pháp tăng cường QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA, góp phần đổi mới chất lượng đào tạo, xây dựng lực lượng Công an ngày càng chính quy, tinh nhuệ, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về QLNN đối với đào tạo đại học hình thức VLVH để
có cơ sở đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN về đào tạo đại học hình thức VLVH trong các HVTBCA.
Trang 122.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tổng quan về tình hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về những vấn đề liên quan đến luận án.
- Làm rõ lý luận đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong ngành Công an và QLNN về hình thức đào tạo này thông qua nghiên cứu nội dung các khái niệm: đào tạo đại học theo hình thức VLVH, đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong ngành Công an, QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong ngành Công an, phân tích vai trò, mục đích và xác định cụ thể các yếu tố tác động và yếu tố cấu thành QLNN
về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA.
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA; chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đó để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp khắc phục hiệu quả.
- Nghiên cứu, hệ thống hóa những quan điểm, chủ trương, phương hướng của Đảng, Nhà nước, của Ngành Công an, dự báo phương hướng phát triển của đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong CAND những năm tới Đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN
về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là các hoạt động QLNN về đàotạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu QLNN về đào tạo đại
học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA, tập trung ở một số nội dung:
Trang 13Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA; hệ thống văn bản QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH ở Việt Nam nói chung và ở trong các HVTBCA nói riêng; hệ thống tổ chức bộ máy QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH ở Việt Nam và ở trong các HVTBCA; đào tạo, bồi dưỡng, quản lý giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học theo hình thức VLVH; thanh tra, kiểm tra về giáo dục đại học theo hình thức VLVH.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong hai HVTBCA: Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân.
- Phạm vi thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu công tác QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA từ năm 2010 đến nay.
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Việc nghiên cứu luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về duy vật biện chứng, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin; những tư tưởng, lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với CAND; tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng; những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng ủy Công an Trung ương về giáo dục đại học trong CAND, đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA và công tác QLNN về giáo dục đại học trong CAND hiện nay.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: là phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án để giải quyết các vấn đề mang tính lý luận, cơ sở khoa học như: các quan niệm,
Trang 14khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH, đặc trưng, đặc điểm riêng của đào tạo đại học VLVH, đào tạo đại học VLVH trong CAND và công tác QLNN về đào tạo đại học VLVH trong CAND; đánh giá thực trạng của công tác đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA, thực trạng QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA; chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để có sự so sánh, đối chiếu lý luận của Việt Nam và thế giới về các thuật ngữ được nghiên cứu trong luận án như: khái niệm về đào tạo đại học, đào tạo đại học theo hình thức VLVH, khái niệm QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH; so sánh kết quả đạt được trong QLNN qua các năm.
- Phương pháp hệ thống, thống kê, khảo sát để đưa ra các số liệu thực tế, các kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng QLNN về đào tạo đại học VLVH trong các HVTBCA.
- Phương pháp dự báo được sử dụng để đưa ra những dự báo về
phương hướng phát triển của đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong CAND trong tương lai sau khi đã nghiên cứu cơ sở khoa học và thực trạng công tác QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA Phương pháp này góp phần làm cơ sở để đề xuất các giải pháp tăng cường công tác QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Trong quá trình khảo sát thực tế, tác giả đã sử dụng phiếu khảo sát được diễn đạt trong phần Phụ lục của luận án Trong đó có:
* Phiếu khảo sát sinh viên đại học theo hình thức VLVH của Học viện
An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân liên kết mở tại Công an các tỉnh Sơn La, Hưng Yên, Nam Định, Bắc Kạn, Công an thành phố Hà Nội trong thời gian tháng 10/2017 - tháng 9/2018 với tổng số 211 phiếu.
Trang 15* Phiếu khảo sát cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên của Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân từ tháng 10/2017 - tháng 9/2018 với tổng số 107 phiếu.
- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để tranh thủ ý kiến của các nhà khoa học và các chuyên gia thực tiễn công tác tại các cơ quan như: Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân, Cục Đào tạo - Bộ Công an để xác định các nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất các giải pháp, kiến nghị Sử dụng phương pháp này, tác giả đã trực tiếp phỏng vấn một số lãnh đạo, cán bộ các đơn vị quản lý giáo dục tại Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Cục Đào tạo - Bộ Công an trong thời gian từ tháng 10/2017 - tháng 3/2019.
5 Những đóng góp mới của
luận án 5.1 Về lý luận
Luận án đã hệ thống hóa lý luận và thực tiễn QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH Đặc biệt, luận án đã chỉ ra được các đặc điểm khác biệt giữa đào tạo đại học theo hình thức chính quy với đào tạo đại học theo hình thức VLVH; đào tạo đại học VLVH trong ngành Công an với đào tạo đại học VLVH ngoài ngành Công an; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA Từ đó làm cơ sở cơ sở nghiên cứu thực trạng và xây dựng các giải pháp tăng cường hoạt động QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA.
5.2 Về thực tiễn
Luận án đã đánh giá một cách khách quan và toàn diện về thực trạng QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA Xác định được các rào cản, bất cập, khó khăn khi triển khai các hoạt động QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH và phân tích được các nguyên nhân của khó khăn đó tại các HVTBCA.Luận án xây dựng được hệ thống các biện pháp tăng cường hoạt động QLNN thích ứng với đặc điểm của đào tạo hình thức VLVH, có khả năng ứng
Trang 16dụng trong các CSGDĐH trong lực lượng vũ trang nói chung và các HVTBCA nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần thay đổi nhận thức và hành động trong hoạt động thực tiễn của các nhà quản lý, các cán bộ công chức, viên chức và các đối tượng khác tham gia hoặc có liên quan vào công tác QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA.
* Triển vọng ứng dụng kết quả nghiên cứu
- Luận án sẽ góp phần bổ sung lý luận QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH.
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu khoa học, là nguồn tư liệu có giá trị để xây dựng và ban hành các chính sách, chiến lược và hoàn thiện bộ máy QLNN về giáo dục và đào tạo nói chung cũng như giáo dục đại học thuộc Bộ Công an nói riêng.
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của luận án 6.1 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
Để nghiên cứu đề tài luận án cần giải quyết được những câu hỏi nghiên cứu sau:
- QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA
được nghiên cứu trên cơ sở lý luận nào? Nó có tính đặc trưng như thế nào?
- Có những nội dung QLNN nào về đào tạo đại học theo hình thức VLVH? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH?
- Thực trạng QLNN về đào tạo đại học VLVH trong các HVTBCA hiện nay như thế nào? Có ưu điểm, hạn chế nào? Nguyên nhân của những hạn chế là gì?
- Những phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường QLNN về đào tạo đại học VLVH trong các HVTBCA là gì?
6.2 Giả thuyết khoa học của luận án
Hiện nay, quá trình triển khai hoạt động QLNN về đào tạo đại học theo
Trang 17hình thức VLVH trong các HVTBCA đang gặp phải nhiều khó khăn, bất cập Nếu nghiên cứu đề xuất được giải pháp khả thi, có tính thực tiễn cao, phù hợp với các điều kiện giáo dục đào tạo trong CAND thì có thể giúp tăng cường QLNN về đào tạo đại học VLVH trong các HVTBCA Đồng thời, đó sẽ là tiền đề và điều kiện đảm bảo cho chất lượng đào tạo đại học nói chung, đào tạo đại học VLVH nói riêng trong CAND, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành Công an.
Nếu các nội dung xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển ổn định, lâu dài; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được hoàn thiện, thống nhất từ trung ương đến cơ sở; tổ chức bộ máy QLNN được kiện toàn, thống nhất; xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên có trình độ cao, khả năng chuyên môn tốt, nhiệt huyết; công tác thanh tra, kiểm tra được chú trọng, thường xuyên, công bằng thì công tác QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA sẽ góp phần vào việc đa dạng hóa các hướng phát triển giáo dục đại học của Chính phủ nói chung và của ngành Công an nói riêng.
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học trong các học viện thuộc Bộ Công an
Chương 4: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học trong các Học viện thuộc Bộ Công an
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học
1.1.1 Các công trình trên thế giới
Luận án Педагогические условия повышения качества учебной деятельности слушателей факультета заочного обучения вуза МВД России (dịch là: Điều kiện sư phạm để nâng cao chất lượng giáo dục đại học không chính quy của trường đại học thuộc Bộ Nội vụ, Liên bang Nga) của tiến sĩ Дремов Федор Петрович bảo vệ năm 2003 tại Барнаульский юридический институт МВД России - Đại học Luật Barnaul của Bộ Nội
vụ, Liên bang Nga đã chỉ ra rằng: thời điểm năm 2000 - 2002, số lượng sinh viên theo học đại học hình thức VLVH trong trường đại học Bộ Nội vụ, Liên Bang Nga lớn hơn 20% so với số sinh viên theo học đại học chính quy, đại học toàn thời gian Trong đó khẳng định rõ chất lượng của quá trình đào tạo là tỉ lệ giữa mục tiêu đào tạo và kết quả đào tạo Một chỉ số về chất lượng của hoạt động giáo dục là việc tạo ra một thế hệ mới với các chuyên gia có kỹ năng hoạt động sáng tạo độc lập [146].
Luận án Профессиональная подготовка слушателей заочной формы обучения в вузах МВД России (dịch là: Đào tạo đại học không chính quy tại các trường đại học của Bộ Nội vụ, Liên bang Nga) của tiến sĩ Алексеев Евгений Владимирович bảo vệ năm 2007 tại trường Волженский государственный инженерно-педагогический университет - Đại học Sư phạm kỹ thuật quốc gia Volzhensky khẳng định hệ thống đào tạo của Bộ Nội
vụ Liên bang Nga là lớn nhất trong các Bộ, Ngành của nước này Trong 23 trường đại học của Bộ Nội vụ Liên bang với 03 văn phòng đại diện và 38 phân hiệu tại các địa phương đang đào tạo tổng số 57.000 sinh viên hệ đào tạo VLVH, chiếm 60% toàn bộ số sinh viên của các trường Đào tạo đại học hệ VLVH dành cho cảnh sát Liên bang của các trường Bộ Nội vụ bao gồm các
Trang 19chuyên ngành: Luật học, Thực thi pháp luật, Chuyên môn pháp lý, An toàn thông tin, Kỹ thuật truyền thanh Radio, QLNN và quản lý đô thị Trong đó phổ biến nhất
là chuyên ngành Luật học và Thực thi pháp luật Sinh viên của hệ đào tạo hình thức VLVH đều là các cán bộ, chiến sĩ của cảnh sát Liên bang Nga bao gồm những người hoàn thành thực hiện nghĩa vụ được giữ lại có kinh nghiệm công tác từ 03 đến 10 năm, trong độ tuổi từ 22 đến 30, giữ vị trí chỉ huy trung và cơ sở; những cán bộ đã tốt nghiệp đại học các chuyên ngành không phải luật, có kinh nghiệm công tác từ 5 đến 15 năm, độ tuổi từ 25 đến 35, giữ vị trí chỉ huy trung và cao cấp; khoảng từ 10 đến 15% là những cán bộ đã tốt nghiệp các trường trung học Cảnh sát có kinh nghiệm làm việc trong các cơ quan của Bộ Nội vụ từ 02 đến
05 năm, độ tuổi từ 22 đến 25 Cấu trúc của hệ thống đào tạo đại học hình thức VLVH bao gồm: mục tiêu đào tạo, người học/sinh viên, hình thức tổ chức đào tạo, nội dung đào tạo, môi trường đào tạo và giảng viên, cán bộ quản lý Chương trình đào tạo đại học hình thức VLVH ở các chuyên ngành có thành phần các môn học giống như chương trình đào tạo đại học chính quy, chỉ khác ở thời lượng giờ lên lớp, giờ lý thuyết [144].
Trong báo cáo “VietNamese Higher Education: Crisis And Response” Giáo dục đại học tại Việt Nam của hai tác giả Thomas J Vallely, Ben Wilkinson thuộc Harvard Kennedy School năm 2008 đã đánh giá Việt Nam không có một trường đại học nào có chất lượng được công nhận trên thế giới hay được ghi nhận trên bất kỳ bảng xếp hạng các đại học hàng đầu tại Châu
Á Về mặt này, Việt Nam thua kém ngay cả so với các quốc gia khác ở Đông
Nam Á như Thái Lan, Indonesia, Philipines,… Các trường đại học Việt Nam chưa đào tạo được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam Các cuộc khảo sát do các cơ quan có liên hệ với nhà nước cho thấy có tới 50% sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học xong
đã không thể tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn của họ, chứng tỏ có một khoảng cách to lớn giữa giảng đường và thị trường lao động.
Sau đó, báo cáo đưa ra một trong những nguyên nhân của sự khủng
Trang 20hoảng về chất lượng đào tạo đại học tại Việt Nam là do sự hạn chế về quyền
tự chủ của CSGDĐH thống quản lý tập trung cao độ Chính nhà nước quyết định con số sinh viên được tuyển nhận, và mức lương của các giảng viên (đối với các trường công lập) Ngay cả những quyết định về điều hành cũng như phát triển CSGD đều lệ thuộc vào sự kiểm soát trung ương [136].
Trong báo cáo Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tại diễn đàn Các nhà lãnh đạo châu Á năm 2010 tại trường đại học giáo dục Hong Kong của tiến sĩ
Hồ Thanh Mỹ Phương, giáo sư Dennis Berg đã chỉ ra rằng, tại Việt Nam, toàn
bộ hệ thống giáo dục, bao gồm cả giáo dục bậc cao, đã được chính phủ trung ương kiểm soát ở cấp độ vi mô, đặc biệt là Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET) và các bộ liên quan khác Đã và đang có nhiều thách thức lãnh đạo giáo dục ở Việt Nam; nhưng thách thức lớn nhất có thể được xác định là hệ thống kiểm soát tập trung dẫn đến tình trạng thiếu tự chủ thể chế, chống lại sự thay đổi ở tất cả các cấp tổ chức và thiếu nhân lực có trình độ cao [60].
Báo cáo “Vietnam: Higher Education and Skills for Growth - ViệtNam: Giáo dục đại học và kỹ năng để phát triển” của Vụ phát triển con người
khu vực Đông Á Thái Bình Dương, Ngân Hàng thế giới năm 2008 đã nêu ra sáu yếu tố then chốt trong khung quản lý một hệ thống giáo dục đại học là:
Phân cấp và tự chủ; Trách nhiệm giải trình và chất lượng đảm bảo; khuôn khổquy định cho khu vực tư nhân; Khung R & D (nghiên cứu và phát triểnresearch & development); Khung liên kết đại học - doanh nghiệp; Thông tin.
Qua đó báo cáo đánh giá một trong những thách thức đối với giáo dục đại học Việt Nam là mở rộng hệ thống đào tạo để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của xã hội Vẫn còn tồn tại thực tế là người dân tộc thiểu số, người sống tại những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn vẫn chưa có nhiều cơ hội để được tiếp cận với nền giáo dục đại học tiên tiến nhằm nâng cao trình độ, khả năng lao động Hiện nay, tính tự chủ trong hoạt động đào tạo của các trường đại học Việt Nam vẫn chưa cao, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ vẫn làm thay công việc của các trường là ban hành các quy chế, quy định, quyết
Trang 21định trong quản lý nhà nước về đào tạo đại học, ví dụ như quyết định về chỉ tiêu tuyển sinh của mỗi trường hàng năm, các quy chế đào tạo, tuyển sinh, quy định về quản lý ngân sách, chi tiêu, nhân sự, pháp lệnh công chức [134].
Báo cáo tổng quan “Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ” của nhóm Ngân hàng thế giới kết hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư đánh giá giáo dục đại học của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu học tập và tiếp cận các chương trình đào tạo chất lượng cao của người học Hệ thống còn chậm thay đổi và thiếu tính sáng tạo Các trường đại học công lập gặp nhiều khó khăn do chưa được tự chủ trên thực tế về thiết kế hay điều chỉnh chương trình giảng dạy, huy động nguồn thu hoặc phát triển đội ngũ giảng viên chuyên trách và thực sự có chất lượng cao Lương giảng viên (bị quy định chặt chẽ đối với các cơ sở công lập) còn bất hợp lý, gây khó khăn cho việc thu hút nhân tài của các cơ sở đào tạo và buộc giảng viên thường phải giảng dạy thêm bên ngoài, kể cả các lĩnh vực ngoài chuyên môn chính Đại học tư thục được tự chủ hơn trong việc xây dựng chương trình giảng dạy
và học phí nhưng lại không có khả năng tăng chỉ tiêu tuyển sinh [58].
Đề tài khoa học “Comparative Study of Part-Time and Full-Time Students’Emotional Intelligence, Psychological Well-Being and Life Satisfactions in the Era of New Technology” (Nghiên cứu so sánh sự thông minh, tâm lý tốt và sự hài lòng trong cuộc sống giữa sinh viên hệ chính quy và vừa làm vừa học trong kỷ nguyên công nghệ mới) của các tác giả Farhana Wan Yunus, Sharifah Muzlia Syed Mustafa, Norsidah Nordin, Melissa Malik tại diễn đàn Châu Á về Environment-Behaviour Studies (Môi trường – Thái độ học tập) tổ chức tại trường đại học Chung-Ang, Seoul, Hàn Quốc năm 2014 đã khẳng định: Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, môi trường giáo dục và học tập ngày nay không còn bị giới hạn trong lớp học truyền thống nữa Giờ đây sinh viên có thể được giáo dục điện tử bằng phương pháp học
từ xa, điều đó có nghĩa là, họ có thể chọn đăng ký vào một chương trình học bán thời gian (VLVH), từ xa hoặc chương trình học trực
Trang 22tuyến nơi họ gặp các giảng viên của mình trên Internet mà không cần rời khỏi nhà Phương pháp giảng dạy này ngày càng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Đây là điều kiện thuận lợi để đào tạo đại học theo hình thức VLVH phát triển nhanh chóng Các CSGDĐH cần nắm bắt xu thế phát triển của giáo dục đại học và tận dụng sự phát triển của khoa học công nghệ để có định hướng phát triển giáo dục đại học VLVH [110].
Trong bài viết “Formal and Non-Formal Education in the New Era” (giáo dục chính quy và không chính quy trong kỷ nguyên mới) của tác giả Arif Shala đăng trên tạp chí khoa học Action Researcher in Education số tháng 7/2016 nhấn mạnh rằng trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, ứng dụng thành tựu phát triển của khoa học vào giáo dục đại học càng trở nên cần thiết và là nhu cầu tất yếu Các công nghệ mới mang đến khả năng không giới hạn để giúp việc học hiệu quả hơn, hấp dẫn và toàn diện hơn Công nghệ - nếu được kết hợp trong các môi trường giáo dục chính thức - có thể gia tăng hiệu quả học tập bằng cách làm cho nó sáng tạo và đổi mới hơn Sự phát triển của khoa học công nghệ được áp dụng vào giáo dục đại học làm cho người học
có thể học mọi lúc, mọi nơi, dẫn đến sự phân biệt giữa chương trình đào tạo chính quy và không chính quy sẽ mờ nhạt dần Có thể thấy rằng sự chuyển đổi từ giáo dục chính quy sang giáo dục không chính quy ngày càng rõ ràng.
Đó cũng là xu hướng phát triển của giáo dục đại học Châu Âu trong những năm tiếp theo và đòi hỏi các CSGDĐH phải đổi mới tư duy quản lý, chương trình, mục tiêu đào tạo, phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên [99].
Báo cáo cập nhật giáo dục đại học Vietnam Education Foundation tháng 7/2014 cho rằng việc các đơn vị giảng dạy thuộc trường đại học, các giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, hay các trường đại học nói chung chưa được trao đầy
đủ quyền tự chủ được coi là một trở ngại lớn cho sự phát triển của các trường đại học tại Việt Nam Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể, song việc chưa được hoàn toàn tự chủ vẫn cản trở những chuyển biến tích cực trong phương pháp giảng dạy, chương trình học và tất cả những mặt khác [64].
Trang 231.1.2 Các công trình trong nước
Luận án tiến sĩ “Quản lý quá trình đào tạo đại học VLVH theo tiếp cận đảm bảo chất lượng” do nghiên cứu sinh Vũ Duy Hiền thực hiện năm 2013 tại Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã khẳng định đại chúng hóa giáo dục đại học là xu thế phát triển tất yếu của thời đại Bên cạnh đào tạo đại học chính quy chỉ phát triển tới một chừng mực nhất định thì đào tạo đại học không chính quy sẽ ngày càng mở rộng Đào tạo đại học VLVH là giải pháp học đại học cho người lao động Do vậy, đào tạo đại học VLVH là tiền đề cần thiết giúp đổi mới triết lý học một lần trong đời sang triết lý học thường xuyên, học suốt đời trong xã hội học tập, giúp người lao động có cơ hội học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạt văn bằng phù hợp với yêu cầu, đồng thời là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm mở rộng quy mô đào tạo đại học trong điều kiện các nguồn lực tài chính của Nhà nước đầu tư cho giáo dục đại học còn hạn hẹp.
Quản lý quá trình đào tạo đại học VLVH theo tiếp cận đảm bảo chất lượng chính là sự chuyển giao trách nhiệm về chất lượng từ cơ quan quản lý cấp trên hay bên ngoài cho CSGDĐH có đào tạo đại học Nhưng thực tế các CSGDĐH đang buông lỏng quản lý quá trình đào tạo, chạy theo số lượng, chú trọng nhiều đến việc mở rộng quy mô, duy trì quản lý quá trình đào tạo theo cách truyền thống, dựa trên tiếp cận kiểm soát chất lượng dẫn đến kết quả đào tạo không cao [30].
Nghiên cứu sinh Phạm Thị Thơm trong luận án tiến sĩ chuyên ngành Khoa học quản lý “Phân tích một số nhân tố tác động đến chất lượng giáo dục đại học hệ vừa làm vừa học trong các khối ngành kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh ở Việt Nam” bảo vệ năm 2017 tại trường Đại học Kinh tế quốc dân
đã đưa ra quan điểm riêng về khái niệm giáo dục đại học, giáo dục đại học hệ vừa làm vừa học, chất lượng của loại hình giáo dục này trong khối ngành kinh
tế, quản lý và quản trị kinh doanh Tác giả đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục đại học hệ vừa làm vừa học khối ngành kinh tế, quản lý
Trang 24và quản trị kinh doanh đã đóng góp một phần không nhỏ và sự phát triển xã hội, giải quyết được vấn đề thiếu cán bộ quản lý tại các vùng miền núi, trung
du, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nhưng chất lượng giáo dục đại học hệ vừa làm vừa học cũng đang là vấn đề được xã hội đánh giá không cao, còn nhiều bất cập Đánh giá nguyên nhân, tác giả cho rằng đó là do công tác quản lý ở một số trường còn lỏng lẻo, bộc lộ yếu kém; các hiện tượng gian lận, tiêu cực chưa bị phát hiện, xử lý kịp thời, thiếu cương quyết; đào tạo còn mất cân đối về cơ cấu ngành, nghề, trình độ, hình thức; các trường thành lập mới chưa thực hiện đúng cam kết với nhà nước và xã hội về xây dựng các yếu tố đảm bảo chất lượng; năng lực quản lý của Ban Giám hiệu còn yếu, bộc
lộ nhiều hạn chế Từ đó tác giả đưa ra phương hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học hệ vừa làm vừa học trong khối ngành kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh ở Việt Nam [71].
Luận án tiến sĩ Quản lý Giáo dục “Quản lý đào tạo trong các trường đại học Việt Nam theo tiếp cận quản lý theo kết quả (RBM)” của nghiên cứu sinh Trần Văn Tùng bảo vệ năm 2013 tại Đại học Giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội đã cho thấy nhu cầu đổi mới công tác quản lý đào tạo trong các trường Đại học Việt Nam hiện nay là nhu cầu xã hội và là nhu cầu cấp thiết trong quá trình phát triển Luận án chỉ ra yếu điểm cần khắc phục trong QLĐT là quy trình đào tạo chưa đồng bộ, còn khép kín trong trường từ đầu vào đến đầu ra và kết quả đào tạo còn chưa đáp ứng theo yêu cầu xã hội, chưa thực sự gắn bó với lợi ích xã hội Nhu cầu đổi mới công tác QLĐT trong các trường đại học Việt Nam hiện nay là nhu cầu xã hội cấp thiết trong quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo Luận án đề ra các nguyên tắc định hướng, hành động cơ bản cho việc ứng dụng quản lý theo kết quả trong công tác QLĐT trong các trường đại học Việt Nam, quy trình ứng dụng phương thức quản lý theo kết quả nhằm nâng cao năng lực quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học Việt Nam,
áp dụng phương thức quản lý RBM và tác động thức đẩy quá trình đổi mới nâng cao năng lực quản lý trong các trường đại học Việt Nam [84].
Trang 25Trong luận án tiến sĩ “Quản lý chất lượng bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” bảo vệ năm 2014 chuyên ngành Quản lý giáo dục tại Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu sinh Nguyễn Duy Hưng đã khẳng định trong tiến trình đổi mới giáo dục, chấn hưng đất nước hiện nay đang đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục phải hội tụ đủ các năng lực và phẩm chất đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ mới Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản
lý giáo dục đóng vai trò cực kỳ quan trọng quyết định tới chất lượng các Nhà trường và quyết định chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo [49].
Nghiên cứu sinh Phạm Văn Thuần trong luận án “Quản lý đội ngũ giảng viên trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực ở Việt Nam theo quan điểm tự chủ và trách nhiệm xã hội” bảo vệ năm 2009 tại Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng chỉ rõ quản lý đội ngũ giảng viên ở các đại học đa ngành, đa lĩnh vực hiện nay vẫn còn nhiều bất cập do ảnh hưởng của quản lý hành chính nhân sự trường đại học đơn ngành trong thời gian dài theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục đại học trong hoàn cảnh đại học
đa ngành, đa lĩnh vực được trao quyền tự chủ, trách nhiệm xã hội cao Chuyển sang quản lý nguồn nhân lực theo quan điểm tự chủ và trách nhiệm xã hội với việc tiến hành hệ thống các giải pháp thích hợp sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên, mở rộng không gian học thuật để tăng cường khả năng tự chủ học thuật của giảng viên.
Nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ giảng viên là một nhiệm vụ to lớn và luôn mang tính thời sự, phải làm thường xuyên, liên tục của các cấp quản lý giáo dục đại học, đồng thời đây cũng là giải pháp quan trọng để hiện thực hóa những mục tiêu, chiến lược đổi mới của ngành trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Quản lý đội ngũ giảng viên phải có hệ thống các giải pháp phù hợp để từ bỏ quản lý hành chính nhân sự do ảnh hưởng của thời gian dài theo chế độ tập trung, bao cấp sang quản lý nguồn nhân lực với quan điểm tăng quyền tự chủ, trách nhiệm xã hội cho phù hợp với chức năng của
Trang 26các CSGDĐH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là một nhân tố quan trọng hiện nay [72].
Luận án “Đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hóa trong giai đoạn hiện nay” của nghiên cứu sinh Trần Xuân Bách bảo vệ năm 2010 chuyên ngành Quản lý giáo dục tại Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trong trong việc phát triển giáo dục Do vậy, muốn phát triển giáo dục - đào tạo, điều quan trọng trước tiên là phải chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo Luận án đã đề xuất phương pháp và quy trình đánh giá giảng viên đại học theo hướng chuẩn hóa để các CSGDĐH áp dụng vào việc đánh giá giảng viên của đơn vị mình góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học trong giai đoạn hiện nay [05].
Hội thảo khoa học quốc gia “Nâng cao chất lượng đào tạo hệ VLVH
ở các trường Cao đẳng và Đại học” tại trường Đại học Vinh năm 2009 đã khẳng định hoạt động đào tạo hệ VLVH có vị trí quan trọng trong hoạt động đào tạo tại các cơ sở giáo dục, có vai trò to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực bậc cao cho nền kinh tế, xã hội của đất nước Việc tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hệ đào tạo này, trong đó có giải pháp về đổi mới công tác quản lý đào tạo để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội là vấn đề cấp thiết hiện nay [94].
Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Giải pháp đảm bảo chất lượng cho việc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các trường cao đẳng, đại học Việt Nam” tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013, trong bài viết “Đào tạo hệ VLVH - thành công, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng” của PGS TS Ngô Minh Oanh khẳng định đào tạo hệ VLVH là một hoạt động được hầu hết các trường đại học, cao đẳng tiến hành song song với đào tạo hệ chính quy, thể hiện sự đa dạng các loại hình đào tạo nguồn nhân lực Hoạt động đào tạo VLVH của các trường đã có những đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao trình độ của đội ngũ công chức, viên chức, tạo cơ hội học tập
Trang 27cho nhiều người không có điều kiện học tập ở hệ chính quy Tuy nhiên đào tạo đại học theo hình thức VLVH vẫn còn tồn tại những hạn chế nằm ở chất lượng đầu vào thấp, điều kiện đào tạo không đảm bảo, động cơ học tập của người học chưa đúng đắn Đánh giá những thực trạng đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp đồng bộ của các ngành, các cấp như cần quy định lại thời gian học, nâng cao chất lượng đầu vào, tăng cường kiểm soát chất lượng đào tạo, chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa các điều kiện cho dạy và học hệ VLVH Tác giả kết luận rằng, việc tiếp tục duy trì hệ VLVH là một chủ trương đúng đắn để đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [24].
Bài viết “Phát triển hệ đào tạo VLVH bậc cao đẳng, đại học - sự đòi hỏi của quá trình xã hội hóa và đổi mới giáo dục ở nước ta” của PGS TS Phạm Xuân Hậu đăng trên tạp chí Diễn đàn khoa học, Đại học Văn Hiến, số tháng 8/2014 đã khẳng định hệ đào tạo VLVH (đào tạo tại chức) đã tồn tại, phát triển trong suốt chặng đường phát triển nền giáo dục nước nhà Hiện nay, mặc dù dư luận của xã hội và các nhà tuyển dụng có những động thái báo động với lực lượng lao động được đào tạo của hệ này, bởi những tồn tại của nó về chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng Nhưng, trong bối cảnh hiện nay và tương lai, hệ đào tạo này sẽ không thể bị
“khai tử”, mà vẫn phải tồn tại, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [29].
Bài viết “Hệ vừa làm vừa học: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo” của tác giả Phan Thị Thu Hiền và Triệu Tất Đạt đăng trên tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 57, năm 2014 đã phân tích động cơ và mục tiêu của người học chủ yếu do cần nâng cao bằng cấp để thăng tiến, tăng lương, thay đổi công việc khác tốt hơn cho tương lai và một bộ phận người học có nhu cầu trau dồi tri thức, hoàn thiện bản thân Từ thực tế đặc thù của đào tạo đại học hình thức VLVH nên nhất thiết phải dạy cái người học cần, khơi dậy được động lực học tập của người học Tác giả đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo hệ vừa làm vừa học hiện nay như là phải đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo để phù hợp hơn với người học hệ VLVH [31].
Trang 281.2 Những công trình liên quan đến quản lý nhà nước về đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học nói chung và trong các học viện thuộc Bộ Công an nói riêng
1.2.1 Các công trình trên thế giới
Bài viết European Higher Education Policy (chính sách giáo dục đại học Châu Âu) trong Handbook of European Policies (cuốn sổ tay chính sách Châu Âu) của đồng tác giả Dorota Dakowska, Kathia Serrano-Velarde giới thiệu về tiến trình Bologna là một chính sách liên chính phủ trong giáo dục đại học tại Châu Âu Năm 1999, các Bộ trưởng Bộ Giáo dục của 29 nước Châu Âu đã ký kết tiến trình Bologna, một sáng kiến về cải cách giáo dục trong Châu Âu Đến nay tiến trình Bologna đã có 48 quốc gia Châu Âu thông qua, có ba nội dung chính: Thống nhất quá trình đào tạo bậc đại học trên toàn Châu Âu; Triển khai đảm bảo chất lượng giáo dục; Thực hiện công nhận văn bằng, chứng chỉ và thời gian học tập giữa các trường, các quốc gia thành viên Trong đó sử dụng
hệ thống chuyển đổi tín chỉ Châu Âu ECTS và khung văn bằng Châu Âu EQF ECTS là chuẩn dùng để so sánh mức độ năng lực và thành tích của sinh viên trên toàn Liên minh Châu Âu cũng như các nước Châu Âu khác tham gia sáng kiến này Sinh viên học xong từng phần sẽ được cấp các tín chỉ ECTS Một năm học được tính tương đương với 60 tín chỉ ECTS tức khoảng 1500-1800 giờ làm việc của sinh viên, được tính cho mọi quốc gia, bất kể đó là học ở trình độ nào hay tiêu chuẩn nào Như vậy sẽ tạo điều kiện để chuyển đổi ngang và dọc trên toàn Liên minh Châu Âu EQF là một khung quy chiếu cho phép các quốc gia Châu Âu liên thông, liên kết hệ thống văn bằng của mình với các quốc gia khác Sự phát triển của tiến trình Bologna với sự đảm bảo của EQF và ECTS giúp sinh viên có thể lựa chọn tích lũy tín chỉ theo từng ngành học tại bất cứ trường đại học nào của Châu Âu trong mỗi năm học Điều đó giúp cho giáo dục đại học trên toàn Châu Âu có động lực phát triển về quy mô, hình thức đào tạo [105].
Báo cáo “Addressing Governance at the Center of Higher Education
Trang 29Reforms in Armenia” (Giải quyết vấn đề quản trị tại Trung tâm cải cách giáo dục đại học ở Armenia) của Ngân hàng thế giới World Bank năm 2013 đánh giá quá trình cải cách giáo dục đại học ở Armenia như sau: Từ năm
2005 quốc gia này bắt đầu tham gia tiến trình Bologna đến năm 2013 đã đạt được nhiều thành công trong phát triển quy mô, chất lượng đào tạo đại học theo hình thức chính quy và hình thức VLVH để phù hợp với hệ thống giáo dục các nước Châu Âu tham gia Bologna Bên cạnh đó, giáo dục đại học Armenia vẫn còn nhiều bất cập, tồn tại hạn chế mà báo cáo đã nêu cụ thể và đưa ra 5 khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả quản lý và quản trị của nhà nước đối với giáo dục đại học ở Armenia như: Sửa chữa, hoàn thiện khung pháp lý; Thiết lập hệ thống giáo dục đại học đa dạng, tích hợp; Tăng cường hệ thống đảm bảo chất lượng; Đa dạng hóa tài chính giáo dục đại học; Xây dựng năng lực hệ thống và thể chế [135].
Báo cáo “Governance and quality guidelines in Higher Education: A review on governance arrangements and quality assurance guidelines” (Quản trị và hướng dẫn chất lượng trong giáo dục đại học: Một đánh giá về sắp xếp quản trị và hướng dẫn đảm bảo chất lượng) của Tổ chức Hợp tác
và Phát triển Kinh tế OECD đã giới thiệu tổng quan về khái niệm và sự phát triển của quản trị trong giáo dục đại học; quá trình sắp xếp, phân phối lại quyền lực quản trị trong giáo dục đại học Báo cáo giải thích lý do vì sao quản trị thể chế trở thành một yếu tố quan trọng cho phép họ dự đoán, thiết kế, thực hiện, giám sát và thẩm định các chính sách hiệu quả và chính xác Báo cáo đưa ra nhận định về quy trình đảm bảo chất lượng đào tạo đại học chính quy và không chính quy bao gồm đánh giá chất lượng, kiểm định chất lượng, thể chế, kiểm toán chất lượng [109].
Báo cáo “New public management in higher education” (Quản lý công mới trong giáo dục đại học) của các tác giả Bruno Broucker và Kurt De Wit trong cuốn sổ tay “The palgrave international handbook of higher education policy and governance” (Sổ tay về chính sách và quản trị giáo dục đại học)
Trang 30viết về sự thay đổi của Quản lý công trong giáo dục đại học Châu Âu Theo tác giả, ở nhiều nước, giáo dục đại học đã chuyển từ mô hình kiểm soát nhà nước sang mô hình giám sát nhà nước Điều này đã mở rộng quyền tự do của các CSGDĐH, tăng đáng kể quyền tự chủ và trách nhiệm của CSGDĐH, trong khi chính phủ vẫn giữ quyền hạn cải chính mạnh mẽ Mối quan hệ giữa các CSGDĐH và chính phủ ngày càng trở thành mối quan hệ hợp đồng: CSGDĐH
có thể xác định sứ mệnh và chiến lược phát triển đào tạo của riêng mình nhưng trong khuôn khổ các thông số được đàm phán, có sự đồng ý của chính phủ Trong đó có sự can thiệp của nhà nước thông qua việc thành lập một hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo Các CSGDĐH không phân biệt các loại hình đào tạo, áp dụng đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp bởi cùng một thang đánh giá Tại các CSGDĐH phải thành lập hội đồng trường với gần một phần ba thành viên hội đồng là người ngoài CSGD đó nhằm đảm bảo mọi quyết định được đưa ra một cách khách quan [115].
Bộ tài liệu Hướng dẫn của UNESCO về “Ghi nhận, xác nhận và công nhận kết quả học tập không chính quy và phi chính quy” được xây dựng bởi đại diện lĩnh vực giáo dục của UNESCO hợp tác với các quốc gia thành viên
để thúc đẩy Khung hành động Belém, được 144 đoàn đại biểu của các nước thành viên UNESCO thông qua tại Hội nghị quốc tế về Giáo dục người lớn lần thứ sáu (CONFINTEA VI) ở Brazil năm 2009 Ở đó, UNESCO đã tái khẳng định vai trò của học tập suốt đời trong giải quyết các vấn đề toàn cầu.
UNESCO đánh giá hệ thống các trình độ hiện nay ở nhiều xã hội vẫn tập trung vào học tập chính quy trong các CSGD Vì vậy, giá trị của học tập, đào tạo không chính quy và phi chính quy chưa được xã hội, người sử dụng lao động coi trọng Việc này dẫn đến hiện tượng tận dụng chưa hết tài năng và nguồn lực con người trong xã hội Chính vì thế, kết quả học tập không chính quy hoặc phi chính quy cần được làm rõ, thẩm định kỹ, đánh giá và ghi nhận đúng [87].
Bộ tài liệu về “Học tập suốt đời: Các cộng đồng hành động, học tập suốt đời vì sự phát triển bền vững” của UNESCO khẳng định học tập giúp
Trang 31người dân địa phương có những hành động trực tiếp và thực tế để giải quyết các vấn đề mà họ phải đối mặt trong thế giới toàn cầu không ngừng biến đổi; nắm bắt được những kiến thức và kỹ năng mới để cải thiện cuộc sống một cách bền vững; hiểu được các giá trị, niềm tin và phong tục đa dạng và giải quyết sự bất bình đẳng về mặt kinh tế - xã hội Học tập nâng cao năng lực cho người dân địa phương có thể làm thay đổi nhận thức và hành động của họ theo hướng tích cực Thông qua việc phát triển quyền sở hữu chung đối với tương lai cộng đồng, học tập giúp họ chủ động tham gia vào việc phát triển cộng đồng tại địa phương mình đồng thời giải quyết các vấn đề toàn cầu Các hoạt động học tập này bao trùm tất cả các hình thức giáo dục, từ chính quy, không chính quy đến phi chính quy, và dành cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi có nền tảng văn hóa, kinh tế, xã hội và sắc tộc khác nhau [88].
1.2.2 Các công trình trong nước
Luận án “Quản lý nhà nước đối với giáo dục không chính quy trong phát triển nguồn nhân lực đất nước” của nghiên cứu sinh Trần Hòa Bình bảo vệ năm 2013 tại Học viện Hành chính Quốc gia đã đánh giá giáo dục không chính quy của nước ta có lịch sử và liên tục phát triển cùng nền giáo dục quốc dân Đến nay, giáo dục không chính quy đã góp phần rất quan trọng vào sự nghiệp nâng cao dân trí, hun đúc nhân tài, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Tuy nhiên, chất lượng của giáo dục không chính quy hiện nay còn có nhiều vấn đề gây bức xúc trong xã hội, đó là chất lượng thấp Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự lúng túng trong QLNN đối với giáo dục không chính quy Từ thực tiễn đó, tác giả đã
có những phương hướng như sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục; kiện toàn
tổ chức bộ máy QLNN; xây dựng chương trình nhằm đạt được mục tiêu cụ thể của giáo dục không chính quy; quy định những ngành nghề được phép đào tạo không chính quy; quy chuẩn năng lực tổ chức thực hiện giáo dục không chính quy của các CSGD và đào tạo; xây dựng chính sách tài chính, đầu tư, quản lý nhân lực; tập trung thực hiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục và thanh tra giáo dục đối với giáo dục không chính quy [9].
Trang 32Trong luận án “Thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an” của nghiên cứu sinh Nghiêm Xuân Dũng bảo vệ năm
2018 tại Học viện Hành chính Quốc gia đã đánh giá thực trạng công tác QLNN đối với CSGDĐH thuộc Bộ Công an, những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó Theo tác giả, công tác QLNN đối với CSGDĐH thuộc Bộ Công an còn một số hạn chế như: Về xây dựng thể chế, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, nhiều quy phạm thiếu tính cụ thể, khả thi nên vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung Về bộ máy QLNN về giáo dục đại học, đội ngũ cán bộ chuyên trách về giáo dục đại học quá mỏng, bộ máy thiếu tính ổn định, việc phân công, phân cấp trong quản lý chưa rõ ràng Về tổ chức thực hiện thể chế, các chính sách, giải pháp
xã hội hóa giáo dục hiện nay còn thiên về huy động sự đóng góp của xã hội, nhân dân, chưa quan tâm đến quyền lợi của người học; cơ sở vật chất của các CSGDĐH còn yếu kém, chưa quan tâm đúng mức đến xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình Đánh giá nguyên nhân của những hạn chế đó, tác giả cho rằng do việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo còn chậm và lúng túng; phạm vi điều chỉnh của thể chế QLNN đối với các CSGDĐH thuộc BCA mở ra quá rộng; năng lực của cơ quan QLNN không bao quát hết các lĩnh vực hoạt động; tư duy QLNN vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của cơ chế cũ; mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng; việc phân định giữa QLNN và quản trị chưa rõ Từ đó, tác giả đưa ra yêu cầu, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện thể chế QLNN đối với CSGDĐH thuộc BCA [22].
Nghiên cứu sinh Đoàn Văn Dũng trong luận án “Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học” bảo vệ năm 2015 tại Học viện Hành chính Quốc gia đã khẳng định hoạt động QLNN đối với giáo dục đại học tại Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực theo hướng quản lý chất lượng, đã có hoạch định chiến lược, thiết lập mục tiêu, tạo lập và thực hiện thể chế QLNN về chất lượng giáo dục đại học, các cơ chế đảm bảo chất lượng đào tạo Bên cạnh đó,
Trang 33QLNN về chất lượng giáo dục đại học còn nhiều hạn chế cần khắc phục theo các phương hướng mà tác giả đưa ra nhằm thực hiện nhiệm vụ cấp bách là nhà nước phải thực hiện có hiệu quả vai trò QLNN; đổi mới cơ chế QLNN về giáo dục theo hướng tập trung ở tầm vĩ mô, quản lý theo hướng chất lượng [21].
Trong luận án “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục đại học” bảo vệ năm 2012 ngành luật học tại Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hà đã đưa ra quan niệm cá nhân về QLNN về giáo dục đào tạo, hiệu lực QLNN về giáo dục đào tạo Qua đánh giá thực trạng cho thấy các cơ quan nhà nước đã ban hành được nhiều văn bản quy phạm pháp luật với phạm vi điều chỉnh bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động giáo dục đại học; một số văn bản đã điều chỉnh đúng các vấn đề có tính bức thiết, một số văn bản kịp thời ban hành để điều chỉnh những hoạt động còn mới mẻ đối với giáo dục đại học Bên cạnh những kết quả đạt được của công tác QLNN đối với giáo dục đại học, tác giả còn chỉ ra những hạn chế, trong đó nhấn mạnh việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn chưa đồng bộ, một số văn bản chậm ban hành, nhiều quy phạm thiếu tính cụ thể, thiếu tính khả thi nên vừa ban hành đã phải sửa đổi; nhiều lĩnh vực hoạt động giáo dục đại học còn chưa có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh Sau khi đánh giá những nguyên nhân khách quan, chủ quan của những hạn chế trên, tác giả đưa ra những quan điểm, mục tiêu và ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về giáo dục đại học [27].
Trong Luận án “Quản lý chất lượng đào tạo đại học trong các học viện, trường Công an nhân dân” bảo vệ năm 2010 chuyên ngành Quản lý giáo dục tại Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu sinh Nguyễn Văn
Ly đã đánh giá giáo dục đào tạo trong CAND những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, song cũng còn nhiều mặt hạn chế như: chưa có hệ thống quản lý chất lượng, cơ chế phối hợp trong QLĐT chưa thống nhất, đồng
bộ, kém hiệu quả; khả năng làm việc thực tiễn của sinh viên khi ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu công tác trong tình hình mới; nhiều vấn đề
Trang 34QLĐT chưa tiếp cận được với khoa học, công nghệ tiên tiến, còn lạc hậu so với nhiều trường trong hệ thống giáo dục quốc dân; tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định đánh giá chất lượng đào tạo trong CAND còn nhiều vấn đề chưa rõ, không thống nhất Qua khảo sát, phân tích, đánh giá thực tiễn, tác giả đã đề xuất xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đào tạo đại học và các giải pháp triển khai hệ thống đó với đặc thù của các học viện, trường đại học CAND nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ công an [55].
Với cách tiếp cận khác, luận án “Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý chất lượng đào tạo tại đại học ngoại ngữ quân sự” của nghiên cứu sinh Vũ Xuân Hồng bảo vệ năm 2010 chuyên ngành Quản lý giáo dục tại Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nêu bật môi trường sư phạm quân sự của Trường có những đặc thù riêng, cả giảng viên và học viên đều là quân nhân, mọi thành viên đều thực hiện nhiệm vụ dạy và học theo điều lệnh và chức trách, nhiệm vụ Bên cạnh nhiệm vụ học tập ngoại ngữ, học viên còn phải học tập chính trị, tham gia rèn luyện quân sự và các hoạt động thể thao văn hóa Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Trường, luận án đề xuất các giải pháp triển khai mô hình quản lý chất lượng tổng thể áp dụng cho đối tượng đào tạo
sĩ quan ngoại ngữ quân sự tại Trường [46].
Luận án tiến sĩ “Quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của trường đại học theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể (TQM)” của Nghiên cứu sinh
Lê Đình Sơn, tiến sĩ Quản lý giáo dục năm 2012 của Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã khẳng định quản lý cơ sở vật chất có vị trí, vai trò quan trọng trong tổng thể hoạt động đào tạo của trường đại học Đổi mới quản lý lĩnh vực này là đòi hỏi khách quan hiện nay ở nước ta Dịch vụ cơ sở vật chất của nhà trường sẽ được tổ chức hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nếu xác lập được hệ thống giải pháp vận dụng TQM hướng đến phát huy tiềm năng sáng tạo của các bộ phận phục vụ, huy động được sự tham gia, phối hợp đồng bộ của các đội ngũ người dạy, người học và người phục vụ vào các quá trình cải tiến chất lượng [65].
Trang 35Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 10 năm đào tạo hệ VLVH (giai đoạn 1998-2007) của Bộ Công an, tổ chức vào tháng 7 năm 2008 đã khẳng định hình thức đào tạo VLVH tiếp tục là loại hình đào tạo cơ bản và lâu dài của lực lượng Công an Tuy nhiên các trường phải chú ý nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng quy
mô theo quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ chung của Bộ Công an [11].
Kỷ yếu hội thảo khoa học, Học viện An ninh năm 2011 “65 năm xây dựng và phát triển của Học viện An ninh nhân dân” đã nêu lên thực trạng và một số bài học kinh nghiệm trong công tác đào tạo hệ VLVH tại Học viện, trong đó có bài học về tổ chức, QLĐT phù hợp với đặc điểm hệ VLVH [38].
Hội thảo khoa học “Công tác khảo thí và đảm bảo chất lượng đào tạo của Học viện Cảnh sát nhân dân hướng tới mục tiêu trở thành CSGDĐH trọng điểm, đạt chuẩn quốc gia” tại Học viện Cảnh sát nhân dân năm 2018, thượng
tá, TS Đinh Văn Nam đã khẳng định công tác đào tạo học viên hệ VLVH của Học viện trong những năm qua đã không ngừng đổi mới và thu được nhiều kết quả tích cực Từ năm học 2009-2010, Học viện Cảnh sát nhân dân đã xây dựng và thực hiện đề án số 2457 về việc nâng cao chất lượng đào tạo học viên hệ VLVH Theo đó, học viên hệ đào tạo VLVH khi ra trường phải đạt chuẩn các yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, chính trị, tin học, ngoại ngữ, bắn súng,
võ thuật, lái xe Bên cạnh đó, đánh giá một cách toàn diện, công tác đào tạo đại học VLVH trong Học viện Cảnh sát nhân dân còn bộc lộ một số hạn chế như: chất lượng đầu vào chưa cao; nội dung chương trình đào tạo mặc dù đã được đổi mới nhưng vẫn còn chưa khoa học; cơ sở vật chất tại Công an các đơn vị, địa phương liên kết chưa được trang bị đầy đủ, chưa đáp ứng được với nhu cầu đào tạo; công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên còn tiếp tục cần được cải tiến; hệ thống giáo trình,tài liệu học tập cần tiếp tục
bổ sung đa dạng hơn Đồng chí Đinh Văn Nam cũng đưa ra bảy giải pháp nhằm nâng cao, đổi mới chất lượng đào tạo đại học VLVH của Học viện Cảnh sát nhân dân trong thời gian tới [40, tr.200-206].
Trong kỷ yếu Hội nghị tổng kết 35 năm đào tạo hệ VLVH của Học viện
Trang 36Cảnh sát nhân dân năm 2016, thiếu tướng, PGS TS Đỗ Ngọc Cẩn đã khẳng định rằng việc ra đời và tăng cường mở rộng loại hình đào tạo đại học theo hình thức VLVH là một tất yếu khách quan và phù hợp với xu tế của xã hội hiện nay, đây là
mô hình đã tiếp cận và hòa nhập với xu thế đổi mới giáo dục và đào tạo của nhiều nước trên thế giới, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, chiến sĩ mà còn góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH của lực lượng CAND Trên cơ sở những định hướng và quan điểm chỉ đạo của Bộ Công an, Học viện Cảnh sát nhân dân cần tiếp tục duy trì, mở rộng, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục đại học VLVH, tập trung đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp dạy học, đa dạng nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo; đầu tư biên soạn, chỉnh lý hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy - học; đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất, trang bị đầy đủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập [41, tr.33-39].
1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến
đề tài luận án
1.3.1 Những vấn đề đã được giải quyết
Qua tổng thuật tình hình nghiên cứu về đào tạo đại học theo hình thức VLVH, QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH, có thể đánh giá khái quát một số điểm như sau:
1 Đào tạo đại học theo hình thức VLVH và QLNN về loại hình đào tạo này là vấn đề được quan tâm trên nhiều phương diện khác nhau, cả về lý luận
và thực tiễn, cả ở trong nước và nước ngoài, cả về chính trị học, kinh tế học,
xã hội học và luật học… Vì vậy, số lượng các công trình nghiên cứu về đào tạo đại học theo hình thức VLVH và QLNN về loại hình đào tạo này đã có khá nhiều Nghiên cứu về QLNN là lý thuyết nền tảng hình thành nên các quan niệm về QLNN về giáo dục, đào tạo và trong đó có QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH Các quan niệm về QLNN, tổ chức thực hiện QLNN về
Trang 37giáo dục, đào tạo có lúc được trình bày trong những công trình nghiên cứu khái quát về QLNN, QLNN về giáo dục, đào tạo, có lúc lại được thể hiện như những cấu phần quan trọng không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu chuyên sâu có liên quan đến QLNN về giáo dục, đào tạo Mỗi bước phát triển trong lý luận và thực tiễn trong QLNN về giáo dục, đào tạo là bằng chứng của
sự phát triển lý luận và thực tiễn về QLNN nói chung Hiệu quả của hoạt động QLNN là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công, nâng cao chất lượng trong giáo dục, đào tạo nói chung, trong đào tạo đại học nói riêng.
2 Cho đến nay, các nghiên cứu đã công bố cơ bản đưa ra được một
số quan điểm, khái niệm liên quan đến QLNN về đào tạo đại học; QLNN, vai trò của Nhà nước đối với đào tạo đại học nói chung, đào tạo đại học theo hình thức VLVH nói riêng…, tuy nhiên, khía cạnh Nhà nước là chủ thể quản
lý, chủ thể tổ chức, tạo lập môi trường thuận lợi cho đào tạo đại học theo hình thức VLVH nói chung và của các HVTBCA nói riêng vận động theo chất lượng chưa được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện.
Đây là những vấn đề sẽ được đề tài luận án tiếp thu, kế thừa trong việc xây dựng những quan điểm, khái niệm công cụ, những vấn
đề lý luận của đề tài Vấn đề này còn có giá trị tham khảo lớn trong việc xây dựng các khái niệm công cụ có liên quan khi nghiên cứu QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA.
3 Về tình hình nghiên cứu trong nước: Tuy đã có khá nhiều công trình gián tiếp hoặc trực tiếp đề cập đến QLNN về đào tạo đại học nói chung và đào tạo đại học theo hình thức VLVH nói riêng song cũng cho thấy những nghiên cứu về QLNN còn chưa đưa ra được quan niệm thống nhất chung Nghiên cứu lý luận về QLNN, trong đó QLNN về đào tạo đại học còn chưa được quan tâm toàn diện, chưa có công trình nào coi QLNN
về đào tạo đại học, đào tạo đại học theo hình thức VLVH là một đối tượng nghiên cứu có tính chỉnh thể mà chỉ mới dừng lại ở mức độ những vấn đề
lý luận phải giải quyết khi nghiên cứu về QLNN về đào tạo đại học.
Trang 384 Về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài: Có thể nhận thấy vấn đề QLNN, QLNN về đào tạo đại học đã được các học giả trên thế giới nghiên cứu từ rất sớm Nhiều công trình nghiên cứu thực sự là nền móng về lý thuyết, đem lại những tri thức mới cho nhân loại liên quan đến vấn đề QLNN về đào tạo đại học; hình thành nên những tư tưởng, học thuyết chính trị - pháp lý về QLNN và QLNN về đào tạo đại học Những công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới đã phản ánh sinh động thực tiễn đa dạng, phong phú, với những nền tảng QLNN khác nhau có tác động đến QLNN về đào tạo đại học của các cơ sở đào tạo ở các quốc gia trên thế giới Các công trình trên là nguồn tư liệu và là những kinh nghiệm quý để tham khảo, nghiên cứu ở Việt Nam.
5 Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây đã gợi mở, cung cấp thông tin, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề trong nhiều nội dung của Luận án Đó cũng là lý do khẳng định tính cần thiết và chính đáng của vấn đề QLNN trong các công trình rất phong phú, đa dạng và đó
là nguồn tư liệu cần thiết để tham khảo, nghiên cứu Những kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để đề tài luận án tiếp thu, so sánh và những đánh giá khách quan, toàn diện và sát hợp thực trạng QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA.
Tuy nhiên, tổng thuật nội dung và điểm luận những tài liệu nghiên cứu
ở các phần trên cho thấy vấn đề QLNN về đào tạo đại học nói chung cũng như nghiên cứu nâng cao hiệu quả QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH (trong đó có các cơ sở đào tạo đại học thuộc
Bộ Công an) một cách hệ thống, toàn diện còn là một khoảng trống, chưa được đề cập nhiều trong các công trình trước đó.
1.3.2.Những vấn đề chưa được giải quyết
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập trên đây có một số khía cạnh liên quan đến QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH và đạt được những thành công nhất định như
đã phân tích Song nội dung hướng vào QLNN, hoàn thiện hệ thống QLNN, nâng cao hiệu quả QLNN lại quá chung, quá rộng trên tầm vĩ mô.
Trang 39Một điểm đáng lưu ý khác là có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến QLNN, QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA, như vậy vấn đề cơ sở lý luận, hệ thống các văn bản pháp luật và thực tiễn nghiên cứu của vấn đề là chưa có.
Với đặc thù đối tượng quản lý của các trường trong CAND có những đặc điểm riêng biệt, nên đòi hỏi phải có cơ chế quản lý riêng, xây dựng kế hoạch, xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch tuyển sinh, kế hoạch tuyển dụng phụ thuộc vào nhu cầu của ngành Công an Từ cơ chế quản lý đó chúng
ta nhất thiết phải có các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA nhằm nâng cao chất lượng và tính tự chủ cho các cơ sở, không chỉ đào tạo phụ thuộc vào nhu cầu của ngành Công an mà còn đào tạo phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội.
Một điểm nổi bật khác là các công trình nghiên cứu liên quan đến QLNN và QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH nói chung và QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH trong các HVTBCA nói riêng được tiếp cận dưới góc độ quản lý công là rất hạn chế Đa phần các công trình nghiên cứu có liên quan được tiếp cận dưới góc độ khoa học khác, mà chủ yếu quản lý giáo dục và luật học.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án được
đề cập trên đây đã cho thấy những thành công nhất định trong giải quyết một
số vấn đề liên quan đến đề tài luận án Tuy nhiên, các công trình này cũng cho thấy một số điểm liên quan đến đề tài luận án chưa được làm rõ, chưa được giải quyết một cách triệt để, còn đang bỏ ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu.
1.3.3 Những vấn đề cần tiếp tục tập trung nghiên cứu, giải quyết Công tác QLNN về đào tạo theo hình thức VLVH tại Học viện An ninh
nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân còn gắn với đặc thù của ngành Công
an Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền
Trang 40giáo dục Việt Nam nói chung, hệ thống giáo dục đào tạo CAND nói riêng, cùng với nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Bộ Công an ngày một lớn, công tác QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH tại các HVTBCA cần được chú trọng, tăng cường và có hướng đổi mới phù hợp với tình hình thực tế Tuy nhiên, có nhiều vấn đề còn khúc mắc như:
- Đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc của hoạt động QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH tại các HVTBCA có gì khác
so với hoạt động này tại các CSGD khác ngoài ngành Công an?
- Hệ thống các chính sách, quy chế và việc tổ chức các hoạt động QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH tại Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân hiện nay có mang lại hiệu quả và phù hợp với đặc thù, điều kiện cụ thể của hai trường?
- Những bất cập trong QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH tại Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân xuất phát từ những nguyên nhân nào? Có liên quan đến đặc thù của ngành Công an không?
- Giải pháp giải quyết những bất cập, khó khăn như thế nào? Điều kiện triển khai và cách thức tổ chức quản lý ra sao để bảo đảm sự phù hợp và hiệu quả?
Đề tài hy vọng sẽ đưa ra được cái nhìn toàn diện, đầy đủ về công tác QLNN về đào tạo đại học theo hình thức VLVH tại Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân, đồng thời giải đáp được những vấn đề nói trên.