1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả gây tê tủy sống với bupivacaine liều thấp và fentanyl trong phẫu thuật suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

5 103 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 267,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của gây tê tủy sống liều thấp 6mg phối hợp 20 mcg fentanyl trong phẫu thuật suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính (STMMT). Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY TÊ TỦY SỐNG VỚI BUPIVACAINE LIỀU THẤP VÀ FENTANYL TRONG PHẪU THUẬT SUY TĨNH MẠCH CHI

DƯỚI MẠN TÍNH

Nguyễn Hữu Thế Phong*, Nguyễn Văn Chừng**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Kỹ thuật kết hợp thuốc tê tại chỗ và opioid trong gây tê tủy sống thường được dùng ở phẫu

thuật chi dưới để có thể giảm liều thuốc tê, tăng hiệu quả gây tê tủy sống và giảm đau hậu phẫu

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của gây tê tủy sống liều thấp 6mg phối hợp 20

mcg fentanyl trong phẫu thuật suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính (STMMT)

Phương pháp - Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên Nghiên cứu trên 126

bệnh nhân suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính được gây tê tủy sống để phẫu thuật tại khoa phẫu thuật – gây mê hồi sức bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM từ tháng 10/2010 đến tháng 3/2011 được phân thành 2 nhóm Nhóm

B (n=63) nhận 8 mg bupivacaine, nhóm B+F (n=63) nhận 6 mg bupivacaine và 20 mcg fentanyl Bệnh nhân được chọc dò tủy sống và bơm thuốc bằng kim chọc dò tủy sống số 27 G ở khoảng thắt lưng L 3-4 , tư thế nằm nghiêng về phía chi cần phẫu thuật Mức tê, hiệu quả tê, mức độ phong bế vận động được đánh giá vào thời điểm

5, 10, 15, 20, 40, 60, 90, 120 phút Huyết áp, mạch, SpO 2 được ghi nhận mỗi 2-5 phút Thời gian tê, thời gian phong bế vận động, thời gian giảm đau, các tác dụng phụ và biến chứng cũng được đánh giá

Kết quả: Hiệu quả tê ở 2 nhóm như nhau Thời gian giảm đau ở nhóm B+F dài hơn so với nhóm B, mức độ

và thời gian phong bế vận động ở nhóm B nặng và dài hơn so với nhóm B+F Mạch, huyết áp, SpO 2 ở 2 nhóm ổn định và không có sự khác biệt Tác dụng phụ ở cả 2 nhóm ít xảy ra và không cần điều trị

Kết luận: Liều 6mg bupivacaine phối hợp 20mg fentanyl là liều thích hợp để gây tê tủy sống cho phẫu thuật

STMMT

Từ khóa: Gây tê tủy sống, liều thấp bupivacaine, fentanyl, phẫu thuật suy tĩnh mạch chi dưới

ABSTRACT

EVALUATE THE EFFICACY OF SPINAL ANESTHESIA WITH LOW DOSE BUPIVACAINE

AND FENTANYL FOR VARICOSE VEIN SURGERY

Nguyen Huu The Phong, Nguyen Van Chung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 411 - 415

Background: Combination of local anesthetic and opioid enables the use of less spinal anesthetic It increases

the success of anesthesia and provides postoperative analgesia

Objective: To evaluate efficacy and safety of spinal anesthesia with low dose – 6mg bupivacaine and 20mcg

fentanyl for varicose vein surgery

Methods - Design: Randomized controlled clinical trial (RCT) There are126 patients who underwent

spinal anesthesia for varicose vein operation were enrolled in this study They were classified into 2 groups of either fentanyl 20 mcg mixed with bupivacaine 6 mg (group B+F) or bupivacaine 8 mg (group B) Anesthetic

* Bệnh viện Quận 8 Tp HCM ** Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: Bs Nguyễn Hữu Thế Phong ĐT: 0918 709 570 Email: nguyenhuuthephong@yahoo.com

Trang 2

agents were administered at the L 3-4 interspace of the lateral decubitus position with 27-gauge whitacre needle Sensory block level, degree of motor block were evaluated at 5, 10, 15, 20, 40, 60, 90,120 minutes Blood pressure, heart rate, SpO 2 were noted every 2-5 minutes during operation and every 30-60 minutes postoperatively We compared the groups for the success of the analgesia, the recovery time from sensory and motor block, the side effects and complications

Result: The groups did not differ significantly regarding the success of analgesia (62 of 63 in two groups)

None of the patients were converted to general anesthesia due to surgical pain The sensory recovery time after spinal anesthesia was prolonged in Fentanyl group, which is highly significant Time and degree of motor block were shorter and milder in group B+F than that in group B Side effects did not differ significantly between the groups

Conclusion: Adequate intraoperative analgesia and hemodynamic stability and faster mobilization were

achieved using bupivacaine 6mg with fentanyl 20mg Low dose spinal anesthesia with fentanyl is suitable for performing surgery to treat varicose vein

Keywords: Spinal anesthesia, low-dose bupivacaine, fentanyl, varicose vein surgery

MỞ ĐẦU

Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính (STMMT)

là bệnh rất thường gặp nhưng ít được chú ý và

nghiên cứu Bệnh nhân đi khám hoặc được chẩn

đoán khi các triệu chứng đã rõ hoặc đã có

những biến chứng rối loạn dinh dưỡng ở da

hoặc viêm tắc tĩnh mạch Điều trị ngoại khoa

bệnh STMMT là phương pháp dễ thực hiện, ít

tốn kém, cải thiện tình trạng bệnh lý một cách

hiệu quả

Gây tê tủy sống là phương pháp vô cảm

thường được chọn dùng cho phẫu thuật

STMMT Tuy nhiên, khi dùng liều bupivacaine

đơn thuần có thể có những bất lợi như: thời gian

phong bế vận động và giao cảm kéo dài, tụt

huyết áp, mạch chậm có thể gây ngưng tim, thời

gian giảm đau sau mổ ngắn cần phải thêm một

lượng lớn thuốc giảm đau toàn thân sau mổ Sự

kết hợp thuốc tê và opioid như fentanyl làm

tăng tác dụng giảm đau sau mổ và giảm được

liều, giảm tác dụng phụ của mỗi thuốc Đã có

những nghiên cứu sử dụng bupivacaine liều

thấp và fentanyl để mổ các bệnh lý hậu môn

trực tràng, niệu khoa, sản khoa, chỉnh hình…

nhưng liều dùng còn nhiều bàn cãi

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của gây tê

tủy sống với bupivacaine 6mg và fentanyl

20mcg trong phẫu thuật suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính

Mục tiêu chuyên biệt

Đánh giá hiệu quả giảm đau và thời gian giảm đau

Đánh giá mức độ phong bế vận động và thời gian phong bế vận động

Đánh giá tác dụng phụ và biến chứng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên

Thuốc dùng trong gây tê

Thuốc tê bupivacaine 0,5% 20 mg / 4 ml (Marcaine 0,5% Heavy của hãng AstraZeneca):

là dung dịch tăng trọng chứa 5 mg bupivacaine /

ml, 80 mg glucose / ml và tỷ trọng ở 200 C là 1,026 Độ pH khoảng 4,0 – 6,0

Fentanyl: 100 mcg / 2ml (DBL Fentanyl của Hameln Pharma)

Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 126 bệnh nhân được phẫu thuật STMMT tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, được chia thành 2 nhóm:

- Nhóm B: dùng 1,6 ml bupivacaine 0,5% (8mg)

Trang 3

- Nhóm B+F: dùng 1,2 ml bupivacaine 0,5%

(6mg) phối hợp 0,4 ml fentanyl (20mcg)

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân mổ STMMT có chỉ định gây tê

tủy sống xếp loại ASA I, II, III

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có ASA IV, V, VI

Bệnh nhân có bệnh lý thần kinh, cột sống

Bệnh nhân có huyết áp quá cao hay quá

thấp

Bệnh nhân có rối loạn đông máu hay đang

dùng thuốc chống đông

Phương thức tiến hành

Khám tiền mê

Tổng trạng, hô hấp, tim mạch, gan thận,

thần kinh

Vùng lưng, cột sống

Tiền sử bệnh, các bệnh kèm theo, các thuốc

đang dùng

Kiểm tra các xét nghiệm tiền phẫu

Đánh giá, phân loại các nguy cơ theo ASA

Thực hiện gây tê tủy sống

Bệnh nhân nằm nghiêng (nghiêng về phía

chi cần mổ nếu phẫu thuật ở 1 chi), tư thế cong

lưng tôm, cột sống song song với mặt bàn mổ,

hai vai và hai gai chậu vuông góc với mặt bàn

mổ, đùi gập trước bụng, đầu cổ cong về phía

trước, chọc dò ở khoảng liên đốt sống thắt lưng

3-4, đường giữa bằng kim gây tê tủy sống 27G,

khi thấy dịch não tủy chảy ra trong suốt không

màu thì tiến hành bơm thuốc tê

Theo dõi và ghi nhận số liệu vào bảng thu

thập số liệu

Theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO2

trước gây tê và sau gây tê ở phút thứ 2, 4, 6, 8,

10, 12, 15, 20, 30, kết thúc phẫu thuật, sau mổ

1 giờ (Ts1), 2 giờ (Ts2), 4 giờ (Ts4), 6 giờ (Ts6),

8 giờ (Ts8)

Đánh giá mất cảm giác bằng kim đầu tù

Đánh giá mức tê dựa theo vùng da chi phối

khoanh tủy:

Mức ngực 10 (N10): mất cảm giác đau từ rốn trở xuống

Mức ngực 12: mất cảm giác đau từ nếp bẹn trở xuống

Đánh giá hiệu quả gây tê:

Tốt: hoàn toàn không đau

Trung bình: bệnh nhân than đau ít, cần cho thêm 50 đến 100 mcg fentanyl (TM)

Kém: bệnh nhân đau nhiều, dùng thuốc giảm đau không hiệu quả phải chuyển sang gây

Ghi nhận thời gian giảm đau: là thời gian từ lúc bắt đầu phẫu thuật đến lúc bệnh nhân đau trở lại

Đánh giá mức độ phong bế vận động dựa theo Bromage scale:

Độ I: cử động bình thường khớp gối và khớp cổ chân

Độ II: có thể gập gối yếu, cử động bàn chân không giới hạn

Độ III: không thể co gập gối, có thể cử động bàn chân nhẹ

Độ IV: hoàn toàn không cử động được 2 chân

Ghi nhận thời gian phong bế vận động: là thời gian từ khi bệnh nhân cảm thấy yếu chi đến lúc vận động trở lại bình thường

Đánh giá mức độ tụt huyết áp: nếu huyết áp sau gây tê giảm ≥ 30 % so với trước khi gây tê hoặc < 90 mmHg được xem như có tụt huyết áp Đánh giá mức độ chậm nhịp tim: nếu nhịp tim sau gây tê giảm ≥ 30 % so với trước khi gây

tê hoặc < 50 nhịp/ phút được xem như có chậm nhịp tim

Ghi nhận nhịp thở và SpO2 của bệnh nhân Nếu nhịp thở dưới 10 lần/ phút hoặc SpO2 ≤ 92% xem như có giảm

Ghi nhận các tác dụng phụ như: buồn nôn, nôn, lạnh run, bí tiểu, ngứa, nhức đầu, đau lưng…

Đánh giá đau theo thang điểm VAS(1):

Trang 4

VAS: 1-4: đau ít

VAS: 5-6: đau vừa

VAS: 7-8: đau nhiều

VAS: 9-10: đau không chịu nổi

Thu thập và xử lý số liệu:thu thập số liệu

vào phiếu thu thập số liệu, quản lý và xử lý số

liệu theo chương trình SPSS 15.0 for windows

Mức ý nghĩa P < 0,05

KẾT QUẢ

Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Giới (%) NỮ 71,14 69,8 P>0,05

NAM 28,6 30,2

chiều

cao (%)

< 150 cm 15,9 14,3

150 – 169 cm 80,9 80,9

≥ 170 cm 3,2 3,2

tuổi (năm) 51,87 ±

14,28

53,57 ± 14,44 cân nặng (kg) 52,91 ±

10,32

58,12 ± 10,45 ASA Không khác biệt P>0,05

Đặc điểm GTTS

Đặc điểm phẫu thuật

Không có sự khác biệt về các đặc điểm

chung của 2 nhóm nghiên cứu

Bảng 2: So sánh kết quả giữa 2 nhóm

Kết quả

Tốt 98,4% 98,4% P>0,05

Trung bình 1,6% 1,6%

Thời gian giảm đau 181,66±13,9 238,11±15,12 P<0,001

Thời gian phong bế

vận động 126,98±13,1 77,48±12,73 P<0,001

Mức độ

phong

bế vận

động

Độ I 0% 0% P>0,05

Độ II 1,6% 92,1%

P<0,001

Độ III 36,5% 6,3%

Độ IV 61,9% 1,6%

Tác

dụng

phụ

Tụt huyết áp 3,2% 3,2%

P>0,05

Mạch chậm 3,2% 0%

Lạnh run 1,6% 1,6%

Ngứa 1,6% 1,6%

Bí tiểu 1,6% 1,6%

Không 88,8% 92%

BÀN LUẬN

Phẫu thuật STMMT thường được vô cảm

với phương pháp gây tê tủy sống(9,10)

Chúng tôi thực hiện chọc dò tủy sống ở vị

trí khe gian đốt sống thắt L3-L4, tư thế nằm nghiêng về chi cần phẫu thuật với liều 8 mg bupivacaine đơn thuần (nhóm B) và 6 mg bupivacaine phối hợp 20 mcg fentanyl (nhóm B+F) Kết quả tê tốt là 98,4% ở cả 2 nhóm, 1,6% kết quả trung bình, khi dùng thêm 50 mcg fentanyl phẫu thuật vẫn thực hiện được, không trường hợp nào phải chuyển sang gây mê Tác giả Jin YS và cs(6) khi sử dụng liều 4

mg bupivacaine phối hợp 25 mcg fentanyl trong phẫu thuật STMMT kết quả tê tốt là 87%, trung bình là 13%, cần phải thêm fentanyl trong mổ Qua nghiên cứu cho thấy

tỷ lệ thành công chưa cao

Borgi B và cs(2) khi dùng liều 8 mg bupivacaine trong phẫu thuật thay khớp gối cho kết quả tê tốt là 100%, tỷ lệ tụt huyết áp là 12%, liều 6 mg bupivacaine hiệu quả tê là 97,6%, không trường hợp nào phải chuyển sang gây

mê, tỷ lệ tụt huyết áp là 0% Nghiên cứu trên cho thấy việc giảm liều thuốc tê còn 6mg bupivacaine vẫn đảm bảo hiệu quả tê và giảm được tỷ lệ tụt huyết áp

Thời gian giảm đau ở nhóm B+F là 238,11±15,12 phút dài hơn so với nhóm B là 181,66±13,9 phút.Vậy việc thêm fentanyl vào thuốc tê giúp thời gian giảm đau kéo dài hơn Điều này cũng phù hợp với các tác giả khác(5,6,7,14)

Mức độ phong bế vận động: nhóm B đa số liệt hoàn toàn 2 chân, liệt độ IV (61,9%), ở nhóm B+F hầu hết bệnh nhân liệt độ II (92,1%), sự khác biệt về mức độ phong bế vận động có ý nghĩa thống kê Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác(8,11,12)

Thời gian phong bế vận động ở nhóm B là 126,98± 13,10 phút, nhóm B+F là 77,48± 12,73 phút, P<0,001 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Gudaityte J và cs(4)

Như vậy khi giảm liều thuốc tê, mức độ phong bế vận động và thời gian phong bế vận động đều giảm

Trang 5

Tác dụng phụ

Ngứa là tác dụng phụ thường gặp khi dùng

opioids đường tủy sống(3,13) Trong nghiên cứu

của chúng tôi, tỷ lệ ngứa là 1,6% (P>0,05%), Vũ

Văn Kim Long và cs(15) khi dùng 25mcg fentanyl,

tỷ lệ ngứa là 12,8% Các tác dụng phụ khác ở 2

nhóm ít gặp và không điều trị gì thêm

KẾT LUẬN

Gây tê tủy sống với liều 6 mg bupivacaine

phối hợp 20 mcg fentanyl trong phẫu thuật

STMMT đạt hiệu quả tốt là 98,4%, trung bình

là 1,6%

Việc phối hợp fentanyl với thuốc tê

bupivacaine làm kéo dài thời gian giảm đau hậu

phẫu

Thời gian phong bế vận động ngắn giúp

bệnh nhân dễ chịu, vận động phục hồi chức

năng sớm

Huyết động và hô hấp ổn định Tác dụng

phụ ít và không cần điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alyssa AL (2006) Asessement of pain The Masachusetts General

Hospital Handbook of Management, USA, Lippincott William &

Wilkin: 59-76

2 Borghi B, Stagni F, Bugamelli S, Paini MB, Nepoti ML,

Montebugnoli M, Casati A (2003) Unilateral spinal block for

outpatient knee arthroscopy: a dose-finding study J Clin Anesth,

15(5): 351-356

3 Công Quyết Thắng (2009) Gây tê tủy sống – Tê ngoài màng

cứng Bài giảng gây mê hồi sức tập II Nhà xuất bản Y học: 44-83

4 Gudaityte J, Marchertiene I, Pavalkis D (2009) Low-dose spinal

hyperbaric bupivacaine for adult anorectal surgery: a double

blinded, randomized, cotrolled study J Clin Anesth, 21(7):

471-481

5 Harsoor S, Vikram M (2008) Spinal anaesthesia with low-dose bupivacaine with fentanyl for cesarean section SAARC J Anaesth, 1(2): 142-145

6 Jin YS, Young WP, Lee YW et al (2009) Low Dose Spinal anesthesia for Ambulatory Surgery of Varicose Vein Korean J Thorac Cardiovasc Surg, 42: 233-237

7 Krobot R (2009) Unilateral spinal anaesthesia for varicose vein surgery: a comparison of hyperbaric bupivacaine 7.5 mg versus hyperbaric bupivacaine 5 mg + 25 mcg fentanyl Periodicum Biologorum, 3(2): 293-297

8 Labbene I, Lamine K, Gharsallah H, Jebali A, Adhoum A (2007) Spinal anesthesia for endoscopic urological surgery – low dose

vs varying doses of hyperbaric bupivacaine Middle East J Anesthesiol, 19(2): 369-384

9 Lê Nữ Hòa Hiệp (2003) Suy tĩnh mạch nông chi dưới mạn tính: yếu tố nguy cơ – chỉ định điều trị ngoại khoa Y học Thành phố

Hồ Chí Minh, tập 7(4): 97-99

10 Morgan GE, Mikhail SM, Muray JM (2006) Spinal, Epidural and Caudal Blocks Clinical Anesthesiology, McGraw – Hill, USA, fourth edition, chapter 16: 289-323

11 Nair GS, Abrishami A, Lermitte J, Chung F (2009) Systematic review of spinal anaesthesia using bupivacaine for ambulatory knee arthroscopy Br J Anaesth, 102(3): 307-315

12 Nguyễn Thị Thanh Ngọc, Nguyễn Văn Chừng (2007) Đánh giá kết quả gây tê tủy sống bằng Bupivacaine tăng trọng liều thấp để

mổ nội soi cắt đốt u xơ tuyến tiền liệt Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 11(1): 51-56

13 Nguyễn Văn Chừng (2009) Gây tê tủy sống, Gây mê hồi sức cơ bản Nhà xuất bản Y học, chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh: 137-149

14 Seewal R, Shende D, Kashyap L, Mohan V (2007) Effect of addition of various doses of fentanyl intrathecally to 0.5% hyperbaric bupivacaine on perioperative analgesia and subarachnoid-block characteristics in lower abdominal surgery: a dose- response study Reg Anesth Pain Med, 32(1): 20-26

15 Vũ Văn Kim Long, Nguyễn Văn Chừng (2005) Gây tê tủy sống

với Bupivacaine tăng trọng để mổ vùng hậu môn trực tràng Y

học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 9(1): 123-127

Ngày đăng: 22/01/2020, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w