1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả kết hợp dẫn lưu và sử dụng Alteplase não thất trong điều trị chảy máu não thất có giãn não thất cấp và sử dụng Alteplase não thất trong điều trị chảy máu não thất có giãn não thất

10 111 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực hiện trên 80 bệnh nhân chảy máu não thất có giãn não thất cấp tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11/2011 đến tháng 12/2014 nhằm đánh giá hiệu quả kết hợp dẫn lưu và sử dụng Alteplase não thất trong điều trị chảy máu não thất có giãn não thất cấp.

Trang 1

HIỆU QUẢ KẾT HỢP DẪN LƯU

VÀ SỬ DỤNG ALTEPLASE NÃO THẤT TRONG ĐIỀU TRỊ CHẢY MÁU NÃO THẤT CÓ GIÃN NÃO THẤT CẤP

Lương Quốc Chính 1 , Nguyễn Văn Chi 1 , Nguyễn Đạt Anh 2

Bế Hồng Thu 1 , Nguyễn Văn Liệu 2

1 Bệnh viện Bạch Mai; 2 Trường Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu thực hiện trên 80 bệnh nhân chảy máu não thất có giãn não thất cấp tại Bệnh viện Bạch Mai

từ tháng 11/2011 đến tháng 12/2014 nhằm đánh giá hiệu quả kết hợp dẫn lưu và sử dụng Alteplase não thất trong điều trị chảy máu não thất có giãn não thất cấp Bệnh nhân nghiên cứu được chia hai nhóm không ngẫu nhiên: nhóm dẫn lưu não thất ra ngoài đơn thuần (EVD, n = 45) và nhóm kết hợp dẫn lưu và sử dụng Alteplase não thất (EVD + IVF, n = 35) Kết quả tốt theo thang điểm Rankin sửa đổi (mRS = 0 - 3) tại thời điểm một tháng ở nhóm EVD (6,7%) thấp hơn nhóm EVD + IVF (28,6%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), và kết quả tốt cũng thấy có cải thiện ở nhóm EVD+IVF theo thang điểm kết cục Glasgow (GOS = 3 - 5) tại thời điểm một tháng (EVD: 24,4%; EVD + IVF: 74,3%; p < 0,01) và ba tháng (EVD: 42,3%; EVD + IVF: 90,3%;

p < 0,01) Tỷ lệ tử vong ở nhóm EVD cao hơn nhóm EVD + IVF: 1 tháng (EVD: 42%; EVD + IVF: 11,4%;

p < 0,01) và 3 tháng (EVD: 62,2%; EVD + IVF: 20%; p < 0,01) Kết quả nghiên cứu cho thấy kết hợp dẫn lưu

và sử dụng alteplase não thất cải thiện có ý nghĩa chức năng thần kinh và giảm có ý nghĩa tỷ lệ tử vong.

Từ khóa: chảy máu não, chảy máu não thất, giãn não thất cấp, dẫn lưu não thất ra ngoài, tiêu sợi huyết não thất, Alteplase (rt - PA)

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Chảy máu não chiếm từ 10% đến 15% các

trường hợp đột quỵ não hàng năm trên toàn

Thế giới, chiếm 40,8% các trường hợp đột

quỵ não tại Việt Nam [1; 2] Chảy máu não

thất xảy ra vào khoảng 40% các trường hợp

chảy máu não và là yếu tố nguy cơ độc lập

làm tăng tỷ lệ tử vong Tỷ lệ tử vong 30 ngày

liên quan tới chảy máu não thất chiếm từ 40%

đến 80% [3], trong đó giãn não thất cấp và thể

tích máu trong não thất có vai trò quan trọng

góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân

chảy máu não thất

Điều trị chảy máu não thất có giãn não thất

cấp phổ biến là đặt dẫn lưu não thất ra ngoài Tuy nhiên, dẫn lưu não thất ra ngoài trong điều trị chảy máu não thất không làm thay đổi

tỷ lệ tử vong [4] Sử dụng thuốc tiêu sợi huyết (rt - PA/Alteplase) qua dẫn lưu não thất ra ngoài đã được nghiên cứu như là biện pháp điều trị chảy máu não thất và cho những kết quả khác nhau mà trong đó bao gồm cải thiện chức năng thần kinh và giảm tỷ lệ tử vong [5] Các kết quả nghiên cứu cũng không thấy khác biệt giữa hai nhóm về tỷ lệ chảy máu tái phát, viêm não thất và giãn não thất mạn tính Thậm chí, tỷ lệ biến chứng chảy máu tái phát có triệu chứng bằng 0% ở nhóm điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết não thất [6]

Tại Việt Nam, chảy máu não khá phổ biến, các trường hợp tử vong thường có thể tích chảy máu não lớn và/hoặc chảy máu não thất

có giãn não thất cấp [2] Mặc dù dẫn lưu não

Địa chỉ liên hệ: Lương Quốc Chính, Khoa Cấp cứu, Bệnh

viện Bạch Mai

Email: luongquocchinh@gmail.com

Ngày nhận: 7/8/2016

Ngày được chấp thuận: 08/12/2016

Trang 2

thất ra ngoài đã được áp dụng trong điều trị

chảy máu não thất có giãn não thất cấp từ lâu,

nhưng một vài nghiên cứu về hiệu quả của

dẫn lưu não thất ra ngoài trong bệnh cảnh này

cho thấy tỷ lệ tử vong vẫn còn rất cao (57,7%)

[7] Sử dụng thuốc tiêu sợi huyết qua dẫn lưu

não thất có thể giúp làm giảm tỷ lệ tử vong và

cải thiện chức năng thần kinh cho bệnh nhân

chảy máu não thất [5; 6] Do vậy, nghiên cứu

này được tiến hành nhằm mục tiêu: đánh giá

hiệu quả kết hợp dẫn lưu và sử dụng

Alteplase não thất trong điều trị chảy máu não

thất có giãn não thất cấp

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Đối tượng

Bệnh nhân chảy máu não thất được điều

trị tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch Mai từ

tháng 11/2011 đến tháng 12/2014

Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa

chọn:

- Tuổi từ 18 đến 80

- Thể tích chảy máu não ≤ 30 ml

- Chảy máu não thất III và/hoặc não thất IV

có giãn não thất cấp

- Khởi phát triệu chứng dưới 24 giờ trước

khi chụp phim cắt lớp vi tính sọ não chẩn

đoán

- Điểm Rankin sửa đổi (mRS) trước khi xảy

ra chảy máu não thất là 0 hoặc 1

Tiêu chuẩn loại trừ

Đáp ứng được ít nhất một trong số các tiêu

chuẩn loại trừ:

- Phình động mạch não vỡ chưa điều trị, dị

dạng thông động - tĩnh mạch não vỡ, dị dạng

đám rối mạch mạc, Moyamoya, u não

- Các rối loạn đông máu hoặc số lượng tiểu cầu < 100.000 hoặc INR > 1,4

- Phụ nữ có thai

- Chảy máu dưới lều

- Chảy máu não tiến triển/chảy máu não thất không ổn định kéo dài trong 6 giờ

- Đang chảy máu tạng: sau phúc mạc, đường tiêu hóa, tiết niệu hoặc hô hấp

- Chảy máu trên da nhiều ổ tại các vị trí tiêm truyền hoặc can thệp ngoại khoa

2 Phương pháp

Thiết kế nghiên cứu: thử nghiệm lâm

sàng có đối chứng không ngẫu nhiên

Phương pháp

Bệnh nhân chảy máu não thất đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ được tuyển chọn vào nghiên cứu Tuổi, giới, điểm Glasgow, mạch, huyết áp, thể tích chảy máu não, điểm Graeb, kết quả các xét nghiệm đông máu được ghi nhận Sau khi lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu, tất cả bệnh nhân

sẽ được đặt dẫn lưu não thất ra ngoài vì lý do suy giảm ý thức cấp tính và giãn não thất cấp Phim MSCT sọ não và mạch não được chụp

ít nhất 6 giờ sau đặt dẫn lưu não thất Thể tích chảy máu não, điểm Graeb, các chảy máu não mới, vị trí dẫn lưu não thất, các phình động mạch não, dị dạng thông động - tĩnh mạch não hoặc u não được đánh giá và ghi nhận Bệnh nhân nghiên cứu được chia không ngẫu nhiên làm hai nhóm: nhóm dẫn lưu não thất ra ngoài đơn thuần (EVD); nhóm dẫn lưu não thất ra ngoài phối hợp với sử dụng thuốc Aleplase qua dẫn lưu não thất (EVD + IVF) Điểm Glasgow, thể tích chảy máu não, điểm Graeb và các biến chứng được đánh giá và ghi nhận cho từng bệnh nhân trong quá trình điều trị và can thiệp

Trang 3

Tất cả bệnh nhân nghiên cứu được điều trị

theo phác đồ thường quy bao gồm: kiểm soát

đường thở, hỗ trợ hô hấp, hỗ trợ tuần hoàn,

theo dõi và đánh giá thần kinh, theo dõi và

thăm khám toàn thần Đối với nhóm EVD +

IVF, thuốc Alteplase được bơm vào não thất

qua dẫn lưu não thất ra ngoài với liều 1 mg/

lần cách nhau 8 giờ Dừng điều trị tiêu sợi

huyết não thất khi máu trong não thất III và IV

tiêu hết hoặc đã đủ 9 liều thuốc Alteplase

hoặc xuất hiện biến chứng chảy máu tái phát

hoặc dẫn lưu não thất bị gián đoạn

Phim CT sọ não được chụp lại hàng ngày

trong 3 ngày đầu tiên và ngày thứ 7 Tỷ lệ tử

vong, mức độ hồi phục chức năng thần kinh

tốt theo thang điểm Rankin sửa đổi (mRS = 0

- 3) và thang điểm kết cục Glasgow (GOS = 3

- 5) và tình trạng giãn não thất mạn tính trên

phim chụp cắt lớp vi tính sọ não được đánh giá vào thời điểm 1 tháng và 3 tháng

Xử lý số liệu

Số liệu nghiên cứu được thu thập theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất, được xử

lý và phân tích trên phần mềm thống kê y học SPSS 17.0

3 Đạo đức nghiên cứu

Bệnh nhân hoặc thành viên gia đình được giải thích về mục đích và phương pháp nghiên cứu Chỉ những bệnh nhân hoặc thành viên gia đình đại diện pháp lý cho bệnh nhân đồng

ý tự nguyện tham gia mới được đưa vào nghiên cứu Bệnh nhân hoặc thành viên gia đình đại diện pháp lý cho bệnh nhân có quyền không tiếp tục tham gia nghiên cứu trong bất

kỳ thời điểm nào

III KẾT QUẢ

Bảng 1 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng khi nhập viện

EVD n = 45 EVD + IVF n = 35 p

Mạch, trung vị (tối thiểu - tối đa) 95 (68 - 137) 95 (63 - 140) > 0,05

Điểm Graeb, trung vị (tối thiểu - tối đa) 9 (6 - 12) 9 (6 - 12) > 0,05

X

X

X X

X X

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở nhóm EVD và nhóm EVD + IVF có sự khác biệt không

ý nghĩa thống kê Cả hai nhóm đều có điểm hôn mê Glasgow thấp (EVD: 7 [4 - 13]; EVD + IVF: 8 [5 - 14]; p > 0,05) và huyết áp tâm thu cao (EVD: 170,7 ± 31,1; EVD + IVF: 167,7 ± 29,3;

p > 0,05)

Trang 4

7 (4-13) 7 (3-15) 8 (3-15)

9 (3-15)

10 (3-15)10 (3-15) 10 (4-15)

10 (4 - 15)

8 (5 - 14) 10 (3 - 15)

11 (3 - 15)

11 (5-15)

11 (5 - 15)

11 (7-15)

12 (8 - 15)13 (8 - 15)

0

2

4

6

8

10

12

14

Vào viện Ngày 1* Ngày 2* Ngày 3* Ngày 4* Ngày 5* Ngày 6* Ngày 7*

EVD (n=45) EVD+IVF (n=35)

Biểu đồ 1 Diễn biến mức độ ý thức theo thang điểm hôn mê Glasgow

Điểm hôn mê Glasgow có sự cải thiện ở cả hai nhóm, nhưng nhóm EVD + IVF cải thiện nhanh

và sớm hơn với sự khác biệt có ý nghĩa*: ngày 1 (EVD: 7 [3 - 15]; EVD + IVF: 10 [3 - 15];

p < 0,05), ngày 7 (EVD: 10 [4 - 15]; EVD + IVF: 13 [8 - 15]; p < 0,01)

9 (6-12)

8 (4-11) 8 (4-10)

7 (2-8)

6 (1-8)

8 (6-12)

7 (4-10)

5 (2-8)

4 (1-6)

2 (1-5)

0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

Vào viện Ngày 1* Ngày 2* Ngày 3* Ngày 7*

EVD (n=45) EVD+IVF (n=35)

Biểu đồ 2 Diễn biến mức độ chảy máu não thất theo thang điểm Graeb

Điểm Graeb có sự cải thiện ở cả hai nhóm, nhưng nhóm EVD + IVF cải thiện nhanh và sớm hơn với sự khác biệt có ý nghĩa*: ngày 1 (EVD: 8 [4 - 11]; EVD + IVF: 7 [4 - 10]; p < 0,01), ngày 2 (EVD: 8 [4 - 10]; EVD + IVF: 5 [2 - 8]; p < 0,01), ngày 3 (EVD: 7 [2 - 8]; EVD + IVF: 2 [1 - 5];

p < 0,01)

Trang 5

Bảng 2 Mức độ hồi phục chức năng thần kinh thời điểm 1 tháng và 3 tháng

p

Mức độ hồi phục chức năng thần kinh theo thang điểm Rankin sửa đổi

1 tháng

3 tháng

Mức độ hồi phục chức năng thần kinh theo thang điểm kết cục Glasgow

3 tháng

Mức độ hồi phục chức năng thần kinh tốt theo thang điểm Rankin sửa đổi (mRS: 0 - 3) thời điểm 1 tháng ở nhóm EVD + IVF (28,6%) cao hơn hơn nhóm EVD (6,7%) với sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05), và theo thang điểm kết cục Glasgow (GOS: 3 - 5) thời điểm 1 tháng ở nhóm EVD + IVF (75,6%) cao hơn nhóm EVD (25,7%) với sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) Thời điểm

3 tháng điểm kết cục Glasgow (GOS: 3 - 5) ở nhóm EVD + IVF (90,3%) cao hơn nhóm EVD (42,3%) với p < 0,01

11,1% (5)

2,2% (1)

17,8% (8)

8,9% (4)

0

8,6% (3) 8,6% (3)

0

2

4

6

8

10

12

14

16

18

20

Chảy máu não

tái phát

Chảy máu não xung quanh chân dẫn lưu

Tắc dẫn lưu não thất

Viêm não thất Giãn não thất

mạn tính EVD (n=45) EVD+IVF (n=35)

Biểu đồ 3 Biến chứng liên quan tới dẫn lưu và tiêu sợi huyết não thất

Các biến chứng liên quan tới dẫn lưu não thất ra ngoài và sử dụng Alteplase não thất ở hai nhóm đều không có sự khác biệt

Trang 6

42,2% (19)

62,2% (28)

11,4% (4)

20% (7)

0

10

20

30

40

50

60

70

1 tháng* 3 tháng*

EVD (n=45) EVD+IVF (n=35)

Biểu đồ 4 Tỷ lệ tử vong thời điểm 1 tháng và 3 tháng

Tỷ lệ tử vong thời điểm 1 tháng của EVD (42,2%) cao hơn nhóm EVD + IVF (11,4%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01), và tỷ lệ tử vong thời điểm 3 tháng của EVD (62,2%) cũng cao hơn nhóm EVD + IVF (20%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, (p < 0,01)

IV BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của

bệnh nhân nghiên cứu trong có sự khác biệt

không ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm Tuy

nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy ở cả hai

nhóm nghiên cứu đều có điểm hôn mê

Glas-gow thấp Điểm hôn mê Glasgow thấp (≤ 8

điểm) và điểm Graeb cao (> 5 điểm) là những

yếu tố dự báo độc lập cho việc đặt dẫn lưu

não thất ra ngoài ở bệnh nhân chảy máu não

thất[8] Huyết áp tâm thu trung bình ở cả hai

nhóm đều cao mặc dù đã được điều trị bằng

thuốc hạ huyết áp đường uống hoặc tĩnh

mạch Theo Willmot M, nếu huyết áp tâm thu

trên 140 - 150 mmHg trong vòng 12 giờ sau

chảy máu não thì nguy cơ di chứng và tử

vong ở các bệnh nhân này cao hơn gấp hai

lần, do vậy Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ có

khuyến cáo điều trị đưa huyết áp tâm thu

xuống 140 mmHg nếu không có chống chỉ

định [9; 10] Tuy nhiên, mới đây Qureshi AI lại

cho rằng điều trị đưa huyết áp tâm thu xuống

110 - 139 mmHg không làm giảm tỷ lệ tử vong cũng như tỷ lệ di chứng hơn khi so với điều trị nhằm giữ huyết áp tâm thu ở mức 140 - 179 mmHg [11]

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy điểm hôn mê Glasgow cải thiện ở cả hai nhóm, nhóm EVD + IVF cải thiện nhanh và sớm hơn với sự khác biệt có ý nghĩa: ngày 1 Theo một nghiên cứu năm 2000, dẫn lưu não thất ra ngoài trong bệnh cảnh giãn não thất cấp làm cải thiện điểm hôn mê Glasgow và làm giảm

có ý nghĩa tỷ lệ tử vong (58%) so với điều trị bảo tồn (78%) [4] Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu tương tự không tìm thấy cải thiện về chức năng thần kinh và có thể còn các cơ chế sinh

lý bệnh khác ảnh hưởng tới kết cục cuối cùng như máu đông trong não thất gây hiệu ứng khối lên các cấu trúc não lân cận làm giảm dòng máu cục bộ [12] Do vậy, cho dù dẫn lưu

Trang 7

não thất kiểm soát được giãn não thất cấp và

áp lực nội sọ thì việc làm sạch máu trong não

thất thường rất chậm, có nghĩa là các vấn đề

về hiệu ứng khối do máu đông và độc tính từ

các sản phẩm phân hủy của máu đã không

được giải quyết Điều này cũng đã được một

nghiê cứu khác chứng minh dẫn lưu não thất

ra ngoài phối hợp với tiêu sợi huyết não thất

trong bệnh cảnh giãn não thất cấp làm cải

thiện điểm hôn mê Glasgow và làm giảm có ý

nghĩa tỷ lệ tử vong (6%) so với dẫn lưu não

thất ra ngoài đơn thuần (58%) và điều trị bảo

tồn (78%) [4]

Điểm Graeb cũng có sự cải thiện ở cả hai

nhóm, nhưng nhóm EVD + IVF cải thiện

nhanh và sớm hơn với sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê giữa ngày 1 và ngày 3 Thử

nghiệm CLEAR IVH cho thấy tốc độ ly giải

máu đông nhanh hơn đáng kể ở nhóm điều trị

tiêu sợi huyết (18% mỗi ngày) so với nhóm

chứng (8% mỗi ngày) [13] Một nghiên cứu

bệnh chứng cũng đã chứng minh được tiêu

sợi huyết não thất làm giảm có ý nghĩa điểm

Graeb trong quá trình điều trị [14]

Mức độ hồi phục chức năng thần kinh tốt

theo thang điểm Rankin sửa đổi (mRS: 0 - 3)

tại thời điểm 1 tháng ở nhóm EVD + IVF

(28,6%) cao hơn hơn nhóm EVD (6,7%) với

sự khác biệt có ý nghĩa Tuy nhiên, thử

nghiệm CLEAR IVH lại cho thấy mặc dù có sự

cải thiện kết cục chức năng thần kinh tốt theo

thang điểm Rankin sửa đổi (mRS ≤ 4) tại thời

điểm 1 tháng ở nhóm được điều trị bằng rt

-PA (52% rt - -PA so với 27% giả dược, p >

0,05), nhưng sự khác biệt là không có ý nghĩa

[13] Điều này được giải thích rằng tiêu chuẩn

kết cục chức năng thần kinh tốt theo thang

điểm Rankin sửa đổi trong thử nghiêm CLEAR

IVH (mRS ≤ 4) khác với nghiên cứu của

chúng tôi (mRS = 0 - 3) Bên cạnh đó, kết quả

của nghiên cứu này cũng cho thấy mức độ hồi

phục chức năng thần kinh tốt theo thang điểm kết cục Glasgow (GOS: 3 - 5) ở nhóm EVD + IVF cao hơn có ý nghĩa so với nhóm EVD tại thời điểm 1 tháng và ba tháng Tương tự, một nghiên cứu chảy máu não thất cũng cho thấy tại thời điểm 1 tháng và 3 tháng có sự cải thiện kết cục chức năng thần kinh theo thang điểm kết cục Glasgow [15] Bên cạnh đó, Dunatov S năm 2011 cho rằng kết cục chức năng thần kinh tốt theo thang điểm kết cục Glasgow sửa đổi (MGOS = 1 - 2) tại thời điểm

3 tháng ở nhóm sử dụng rt - PA (54%) cao hơn nhóm chứng (20%) với sự khác biệt có ý nghĩa [16]

Các biến chứng liên quan tới dẫn lưu và tiêu sợi huyết não thất ở hai nhóm đều không

có sự khác biệt có ý nghĩa Tuy nhiên, mặc dù

có sự khác biệt không ý nghĩa, nhưng biến chứng tắc dẫn lưu não thất ở nhóm EVD (17,8%) cao hơn nhóm EVD + IVF (5,7%) Tương tự với kết quả nghiên cứu của chúng tôi, trong một nghiên cứu bệnh - chứng cho thấy tỷ lệ tắc dẫn lưu não thất ra ngoài đơn thuần (59%) cao hơn ở nhóm dẫn lưu não thất phối hợp với sử dụng thuốc tiêu sợi huyết rt

-PA (32%) [12] Đồng thời, khi sử dụng thuốc tiêu sợi huyết với liều 1 mg rt - PA cách nhau

8 giờ đã nhận thấy tỷ lệ các biến chứng như chảy máu mới, viêm não thất và giãn não thất mạn tính giữa hai nhóm có sự khác biệt không

ý nghĩa [6]

Tỷ lệ tử vong ở nhóm EVD cao hơn nhóm EVD + IVF với sự khác biệt có ý nghĩa tại thời điểm 1 tháng và 3 tháng Điều này phù hợp với các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên Thế giới, tỷ lệ tử vong chiếm 71% ở nhóm điều trị bảo tồn, 53% ở nhóm dẫn lưu não thất

ra ngoài đơn thuần và 16% ở nhóm điều trị tiêu sợi huyết trong não thất [3] Một phân tích

Trang 8

gộp cũng đã chứng minh được rằng tiêu sợi

huyết não thất làm giảm có ý nghĩa gần 50%

tỷ lệ tử vong trong chảy máu não thất [17]

Một nghiên cứu tiêu sợi huyết não thất cũng

cho thấy tỷ lệ tử vong ở nhóm sử dụng thuốc

tiêu sợi huyết (10%) thấp hơn có ý nghĩa so

với nhóm chứng (30%) [16]

V KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 80 bệnh nhân chảy máu

não thất, một số kết luận sau được rút ra:

- Cải thiện kết cục ngắn hạn theo thang

điểm hôn mê Glasgow và thang điểm Graeb

với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giưa hai

nhóm nghiên cứu

- Cải thiện mức độ hồi phục chức năng

thần kinh thời điểm 1 tháng và 3 tháng

- Không có sự khác biệt về biến chứng liên

quan tới dẫn lưu não thất ra ngoài và sử dụng

Alteplase não thất giữa hai nhóm, đặc biệt là

biến chứng chảy máu não tái phát, chảy máu

não xung quanh dẫn lưu và viêm não thất

Lời cảm ơn

Nghiên cứu được hoàn thành nhờ sự hợp

tác của bệnh nhân và gia đình đã đồng ý tham

gia nghiên cứu, đồng thời có sự đóng góp của

tập thể bác sĩ và điều dưỡng Khoa Cấp cứu,

Bệnh viện Bạch Mai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Sterne J A., Egger M and Smith G D.

(2001) Systematic reviews in health care:

In-vestigating and dealing with publication and

other biases in meta-analysis BMJ, 323

(7304), 101 - 105.

2 Lê Văn Thính, Trần Viết Lực, Nguyễn

Thị Xuyên và cộng sự (2011) Tình hình và

thực trạng chăm sóc tai biến mạch máu não

trong các bệnh viện đa khoa từ tuyến tỉnh trở lên ở Việt Nam: số chuyên đề hội nghị khoa

học bệnh viện Bạch Mai lần thứ 28 Y học

Lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai, 1, 248 - 252.

3 Staykov D., Bardutzky J., Huttner H B

et al (2011) Intraventricular fibrinolysis

for intracerebral hemorrhage with severe

ventricular involvement Neurocrit Care, 15(1),

194 - 209

4 Nieuwkamp D J., de Gans K., Rinkel

G J et al (2000) Treatment and outcome of

severe intraventricular extension in patients with subarachnoid or intracerebral

hemor-rhage: a systematic review of the literature J

Neurol, 247(2), 117 - 121.

5 Gaberel T., Magheru C., Parienti J J

et al (2011) Intraventricular fibrinolysis versus

external ventricular drainage alone in

intraven-tricular hemorrhage: a meta-analysis Stroke,

42(10), 2776 - 2781.

6 Morgan T., Awad I., Keyl P et al (2008) Preliminary report of the clot lysis

evaluating accelerated resolution of intraven-tricular hemorrhage (CLEAR-IVH) clinical trial

Acta Neurochir Suppl, 105, 217 - 220.

7 Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Đạt Anh (2010) Nghiên cứu kết quả theo dõi áp lực

nội sọ ở các bệnh nhân được dẫn lưu não thất

ra ngoài tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch

Mai Tạp chí Y học Việt Nam, 373(1), 19 - 23.

8 Graeb D A., Robertson W D., Lapointe J S et al (1982). Computed tomographic diagnosis of intraventricular

hemorrhage Etiology and prognosis

Radiol-ogy, 143 (1), 91 - 96.

9 Willmot M., Leonardi-Bee J và Bath

P M (2004) High blood pressure in acute

stroke and subsequent outcome: a systematic

review Hypertension, 43 (1), 18 - 24.

10 Hemphill J C., 3rd, Greenberg S M.,

Trang 9

Anderson C S et al (2015) Guidelines for

the Management of Spontaneous Intracerebral

Hemorrhage: A Guideline for Healthcare

Pro-fessionals From the American Heart

Associa-tion/American Stroke Association Stroke, 46

(7), 2032 - 2060.

11 Qureshi A I., Palesch Y Y., Barsan

W G et al (2016) Intensive Blood - Pressure

Lowering in Patients with Acute Cerebral

Hem-orrhage N Engl J Med, 375(11), 1033-1043.

12 Mayfrank L., Kissler J., Raoofi R et al

(1997) Ventricular dilatation in experimental

intraventricular hemorrhage in pigs

Charac-terization of cerebrospinal fluid dynamics and

the effects of fibrinolytic treatment Stroke, 28

(1), 141 - 148.

13 Naff N., Williams M A., Keyl P M et

al (2011) Low-dose recombinant tissue-type

plasminogen activator enhances clot

resolu-tion in brain hemorrhage: the intraventricular

hemorrhage thrombolysis trial Stroke, 42 (11),

3009 - 3016

14 Huttner H B., Tognoni E., Bardutzky

J et al (2008) Influence of intraventricular

fi-brinolytic therapy with rt-PA on the long-term outcome of treated patients with spontaneous basal ganglia hemorrhage: a case-control

study Eur J Neurol, 15(4), 342 - 349.

15 Tung M Y., Ong P L., Seow W T et

al (1998) A study on the efficacy of

tricular urokinase in the treatment of

intraven-tricular haemorrhage Br J Neurosurg, 12(3),

234 - 239

16 Dunatov S., Antoncic I., Bralic M et

al (2011) Intraventricular thrombolysis with

rt-PA in patients with intraventricular

hemor-rhage Acta Neurol Scand, 124(5), 343 - 348.

17 Khan N R., Tsivgoulis G., Lee S L et

al (2014) Fibrinolysis for intraventricular

hemorrhage: an updated meta-analysis and

systematic review of the literature Stroke, 45

(9), 2662 - 2669.

Summary EFFECTIVENESS OF EXTERNAL INTRAVENTRICULAR DRAINAGE IN COMBINATION WITH INTRAVENTRICULAR FIBRINOLYSIS BY ALTEPLASE IN THE TREATMENT OF INTRAVENTRICULAR

HEMORRHAGE WITH ACUTE HYDROCEPHALUS

Study on 80 patients admitted to the Emergency Department of Bach Mai Hospital due to intra-ventricular hemorrhage with acute hydrocephalus who have undergone ventriculostomy to drain CSF externally from 11/2011 to 12/2014 was aimed to evaluate the effectiveness of external intra-ventricular drainage (EVD) in combination with intraintra-ventricular fibrinolysis (IVF) by Alteplase in the treatment of intraventricular hemorrhage with acute hydrocephalus Patients were devided into two groups: EVD without IVF (control, n = 45) and EVD with IVF (interventional group, n = 35) Good result (mRS = 0 - 3) at 1 month in the control group was (6.7%) lower significantly than that

in the interventional group (28.6%) (p < 0.05); and the good results (GOS: = 3 - 5) also improved significantly in the interventional group at 1 month (control: 24.4%; interventional group: 74.3%; p

< 0.01) and at 3 months (control: 42.3%; interventional group: 90.3%; p < 0.01) Mortality rates in the control group were higher significantly than that in the interventional group at 1 month (42%

Trang 10

and 11.4%, respectively; p < 0.01) and 3 months (62.2% and 20%; respectively, p < 0.01) Our results showed that external intraventricular drainage in combination with intraventricular fibrinolysis by Alteplase in the treatment of intraventricular hemorrhage with acute hydrocephalus improved significantly outcomes and mortality rates

Keywords: Intracranial Hemorrhage, Intracerebral Hemorrhage, Intraventricular Hemor-rhage, Acute Hydrocephalus, External Intraventricular Drainage, Intraventricular Fibrinoly-sis, Alteplase (rt-PA)

Ngày đăng: 21/01/2020, 07:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w