1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ: Quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN (1998 - 2005)

199 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 785,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ: Quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN (1998 - 2005) bao gồm những nội dung về diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương với Việt Nam, quan hệ hợp tác giữa ASEAN với Việt Nam và một số nội dung khác.

Trang 1

Quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN (1998 -2005)

Đào Thị Ngọc Mộng

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT THEO TIẾNG ANH

ABAC Hội đồng tư vấn doanh nhân APEC

APEC Business Advisory Council

ABTC Thẻ đi lại của doanh nhân APEC

APEC Business Travel Card

ACMS Nghiên cứu thị trường hàng hóa của ASEAN

ASEAN Commodities Markets Studies

ADBC Ngân hàng dữ liệu về hàng hóa của ASEAN

ASEAN Data Bank on Commodities

AFSA Hiệp định khung về khu vực tự do mậu dịch hóa ASEAN

Framework Agreemet on Services

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

ASEAN Free Trade Area

AIA Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN

ASEAN Investment Area

AICO Hiệp định khung về Hợp tác công nghiệp ASEAN

ASEAN Industrial Cooperation

AID Cơ quan phát triển quốc tế

Agency for International Development

AIS Hội nghị thượng đỉnh không chính thức APEC

APEC Informal Summit

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

APEC Asia-Pacific Economic Cooperation forum

ARF Diễn đàn khu vực ASEAN

ASEAN Regional Forum

BAC Ủy ban về ngân sách và quản lý

Budget and Administrative Committee

CAP Kế hoạch hành động tập thể

Collective Action Plan

CEPT Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung

Common Effective Preferential on Tariff

CTI Ủy ban thương mại và đầu tư

Committee on Trade and Investment

EC Ủy ban kinh tế

Trang 3

GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

General Agreement on Tariffsand Trade

GST Hệ thống thuế quan ưu đãi phổ cập

Generalized System of Preferences

IAP Kế hoạch hành động quốc gia

Individual Action Plan

ISOM Hội nghị không chính thức các quan chức cấp cao

Infomal Senior Officials Meeting

MFN Quy chế tối huệ quốc

Most Favored Nation

NAFTA Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mĩ

North America Free Trade Agreement

NTR Quan hệ thương mại bình thường

Normal Trade Relations

ODA Viện trợ phát triển chính thức

OPTAD Tổ chức thương mại và phát triển Thái Bình Dương

Organization for Pacific Trade and Development

PECC Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương

Pacific Economic cooperation Council

PNTR Quan hệ thương mại bình thường viễnh viễn

Permanent Normal Trade Relations

SEAMEO Tổ chức Bộ trưởng giáo dục các nước Đông Nam Á

South East Asia Minister of Education Organization

SCCP Tiểu ban thủ tục hải quan

Sub-Committee on Customs Procedures

SCSC Tiểu ban tiêu chuẩn và chứng nhận hợp chuẩn

Sub-Committee on standards and Conformance

SOM Hội nghị các quan chức cấp cao

Senior Officials Meeting

UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc

The United Nations Development Programs

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Word Trade Organization

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Từ khoảng hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, của xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển cũng như của quá trình tự do hoá nền kinh tế ở các nước công nghiệp phát triển, một số nước đang phát triển, và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây chuyển sang nền kinh tế thị trường mở cửa như các nước thuộc Liên Xô cũ, Việt Nam, Đông Âu, Trung Quốc… quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã được hình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ Toàn cầu hoá về kinh tế đã trở thành trào lưu cuốn hút tất cả các quốc gia trên thế giới, vì vậy, hội nhập vào nền kinh tế thế giới là xu thế tất yếu mà không nước nào, dù lớn hay nhỏ có thể cuỡng lại được Nó mang lại cơ hội nhưng cũng ẩn chứa những thách thức to lớn đối với các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Do đó, vấn đề đặt ra đối với các nước là hội nhập như thế nào để lợi nhiều hơn hại, để thử thách biến thành cơ hội, Việt Nam cũng không nằm ngoài quá trình đó

Song hành với toàn cầu hoá là xu thế khu vực hoá Nhiều liên kết tiểu khu vực và khu vực được hình thành Việc liên kết toàn diện với các quốc gia có cùng vị trí địa lý, trình độ phát triển kinh tế cũng như sự tương đồng về văn hoá để hình thành một “siêu nhà nước” bao gồm nhiều quốc gia như EU hay tạo dựng các khu vực mậu dịch tự do đang dần trở thành hướng đi chủ đạo của các nước trong tiến trình hội nhập Tuy nhiên, toàn cầu hoá và khu vực hoá không phải là hai xu thế đối nghịch nhau “Khu vực hoá được coi là một bước đệm, ở một mức độ nào đó là sự tập hợp lực lượng giữa các nền kinh tế khu vực để đối phó với những thách thức, cạnh tranh ở tầm toàn cầu” [46, tr 20] Các nước châu

Á – Thái Bình Dương cũng không nằm ngoài xu thế hợp tác đó

Thêm vào đó, những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ

XX, châu Á - Thái Bình Dương nổi lên là một khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao và phát triển năng động, nơi tập trung các nền kinh tế phát triển nhanh

Trang 5

nhất thế giới Vì thế, có những dự báo lạc quan rằng thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ châu Á – Thái Bình Dương

Trong khi xu thế khu vực hoá phát triển ngày càng mạnh ở các khu vực khác, thì ở châu Á – Thái Bình Dương, tuy có ổn định tương đối về chính trị, năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng lại chưa có một hình thức liên kết nào có tính chính thức, liên chính phủ và toàn khu vực để bảo đảm lợi ích của các nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnh của chủ nghĩa khu vực bảo hộ ở Tây Âu và Bắc Mĩ

Đứng trước những tình hình đó, từ nửa cuối những năm 1980, để duy trì tính năng động kinh tế của khu vực, đối phó với sự cạnh tranh quyết liệt về kinh tế trên thế giới, một số nước châu Á – Thái Bình Dương đã đi đến nhận thức chung là cần phải phối hợp và liên kết chặt chẽ với nhau trên cơ sở bảo đảm cho nền thương mại, đầu tư thông thoáng, thực hiện chủ nghĩa khu vực mở Trong bối cảnh đó, diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation forum-APEC) được thành lập vào tháng 11 năm 1989 với mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng và hợp tác kinh tế của các nền kinh tế hai bên bờ Thái Bình Dương Cho đến nay, APEC đã có 21 nền kinh tế thành viên: Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Canada, Hoa Kì (năm 1989), Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan (năm 1991), Mexico, Papua New Ghuine (năm 1993), Chile (năm 1994), Peru, Liên bang Nga, Việt Nam (năm 1998)

Như vậy, APEC bao gồm các quốc gia lớn nhỏ có sự khác nhau rất lớn về diện tích, dân số, chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế cũng như tôn giáo Trong APEC có hai khu vực kinh tế mạnh và năng động vào bậc nhất thế giới: khu vực Đông Á và khu vực Bắc Mĩ với những nét đặc thù vô cùng đa dạng về văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội APEC thực sự là một tổ chức quốc tế đầu tiên thời kỳ sau Chiến tranh lạnh

Hoạt động của APEC xoay quanh 3 vấn đề chính là tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật Nói cách khác, mục tiêu của APEC không phải là xây dựng một khối thương mại,

Trang 6

một liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự do giống như EU, AFTA… mà là một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện trong khi thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khu vực khác Là một quốc gia thuộc khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời, Việt Nam cũng là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới cũng như trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có vị trí quan trọng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam Các nền kinh tế thành viên APEC là các đối tác chủ yếu về kinh tế, thương mại và đầu tư “chiếm 80% kim ngạch ngoại thương của Việt Nam, 75% tổng số vốn đầu tư nước ngoài và là nguồn cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam” [55, tr12] Vì thế, việc duy trì môi trường hoà bình, ổn định và tăng cường quan hệ hợp tác cùng có lợi với các nước trong khu vực có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định quan điểm: “tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác…" [51, tr17] Chúng ta cũng nhận thức được rằng, Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đang chủ động tăng cường tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế Điều đó có nghĩa là xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá được xem là cơ hội cho nước ta tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế tốt hơn, nhất là về kinh tế

Nhận thấy tầm quan trọng của APEC đối với sự phát triển kinh tế các nước trong khu vực nói chung và của Việt Nam nói riêng, phù hợp với đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam, ngày 15/6/1996, Chính phủ Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập APEC

Ngày 14/11/1998, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao- Kinh tế của APEC họp tại Malaysia, ba nước Việt Nam, Nga, Peru chính thức được kết nạp là thành viên của diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương Việc trở thành thành viên chính thức của APEC là một bước đi sâu hơn vào con đường hội nhập

Trang 7

kinh tế quốc tế và khu vực, góp phần nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong quan hệ quốc tế ở khu vực và thế giới, mở rộng kinh tế đối ngoại, tận dụng các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đó cũng chính là góp phần thực hiện đường lối mà Đảng và nhà nước đã đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam: “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” [52,tr120] Đại hội Đảng lần thứ X cũng đã một lần nữa xác định lại "'chính sách đối ngoại của chúng ta là độc lập, tự chủ, đa dạng hoá và đa phương hoá, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế" [64]

Như vậy, trước xu thế khu vực hoá cũng như toàn cầu hoá không thể cưỡng lại được, Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế và khu vực Quan hệ giữa APEC với Việt Nam, giữa từng quốc gia, từng khối nước với Việt Nam trong khuôn khổ APEC ngày càng phát triển Đối với khối Bắc Mĩ, bao gồm các nước Hoa Kì, Canada, Mexico mà đại diện tiêu biểu là Hoa Kì, với sự kết thúc của chiến tranh lạnh và sau khi Liên Xô sụp đổ, Hoa

Kì trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới còn lại với ưu thế vượt trội cả về kinh tế, quân sự lẫn chính trị Quan hệ giữa Hoa Kì với các nước ở châu Á – Thái Bình Dương, nhất là với các nước như Nga, Nhật Bản, khối ASEAN… vẫn đang trong quá trình vận động và hàm chứa nhiều phức tạp Riêng đối với Việt Nam, kể từ khi Hoa Kì bãi bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ (1995), quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai quốc gia có nhiều bước phát triển rất đáng kể Hiện nay, hiệp định thương mại song phương Hoa Kìø - Việt Nam đã và đang được thực hiện, quan hệ giữa hai nước tiếp tục được cải thiện trên nhiều mặt, dù còn có những khác biệt trong nhìn nhận các vấn đề quốc tế cũng như trong quan hệ giữa hai bên

Đối với các nước là thành viên của Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), quan hệ giữa ASEAN và Việt Nam có những bước thăng trầm Từ khi

Trang 8

trở thành thành viên chính thức của ASEAN, quan hệ giữa các nước ASEAN và Việt Nam đã thay đổi theo chiều hướng tích cực Hiện nay, mô hình hợp tác ở Đông Nam Á được xem là một hình mẫu thành công trong liên kết khu vực Trong khuôn khổ APEC, quan hệ giữa các nước thuộc khối ASEAN và Việt Nam cũng có những điểm khác biệt so với quan hệ giữa các khối khác trong APEC với Việt Nam

Với những lý do trên, việc tìm hiểu về mối quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN, giai đoạn từ 1998, tức là từ khi Việt Nam gia nhập diễn đàn này cho đến năm

2005 có ý nghĩa vô cùng thiết thực Nghiên cứu vấn đề này qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN, bao gồm những nước có nền kinh tế phát triển vào bậc nhất thế giới với những nước đang phát triển sẽ cho chúng ta một cái nhìn khá bao quát về quan hệ giữa Việt Nam với khối nước trên, cũng như thấy được những mặt tích cực và hạn chế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Nghiên cứu vấn đề này cũng góp phần cho chúng ta thấy được đường lối, chính sách của Đảng trong quá trình hội nhập quốc tế

Việc nghiên cứu tổng quát về quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu của các nước trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng giúp hiểu rõ hơn quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với khối Bắc Mĩ và các nước trong khối ASEAN trong khuôn khổ APEC Việc làm này cũng giúp chúng ta thấy được những bài học kinh nghiệm của một số nước bước đầu thành công trong quá trình tham gia vào quá trình toàn cầu hoá như Trung Quốc… Từ đó, chúng ta có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm cho đất nước trong hội nhập quốc tế

Tìm hiểu quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam từ 1998 đến 2005, qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN cũng giúp chúng

ta thấy được sự phát triển năng động của nền kinh tế thế giới và khu vực Qua đó, chúng ta thấy được chính sách kinh tế của các nước lớn, của các khối nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đối với Việt Nam, từ đó, rút ra được những kinh nghiệm quý báu trong đường lối đối ngoại của quốc gia

Trang 9

Hơn tất cả, việc nghiên cứu đề tài này còn có ý nghĩa thực tiễn và khoa học sâu sắc đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay Thêm vào đó, việc nghiên cứu và thực hiện đề tài có ý nghĩa thiết thực và hữu ích đối với bản thân Nó góp phần giúp chúng tôi nhận thức sâu sắc hơn chính sách đối ngoại, đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập Những kiến thức này rất có giá trị trong việc phục vụ công tác giảng dạy sau này

Với những ý nghĩa trên, chúng tôi chọn vấn đề “Quan hệ hợp tác giữa

các khối nước trong diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN (1998 - 2005)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Cho đến nay, hầu như chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu toàn diện về quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương với Việt Nam Có thể nói đây là một đề tài khá mới mẻ Tuy nhiên, chúng tôi xin giới thiệu một số công trình tiêu biểu, ít nhiều có đề cập đến một số nội dung liên quan đến đề tài Trước hết chúng tôi xin giới thiệu những tác phẩm có liên quan đến đề tài ở việc cung cấp những kiến thức khái quát, sau đó là những tác phẩm đi vào từng lĩnh vực, từng nội dung cụ thể, mà không trình bày theo trình tự thời gian sách được xuất bản

Có lẽ là thiếu sót khi nghiên cứu về quan hệ kinh tế của Việt Nam mà

không tìm hiểu qua tác phẩm Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1945

-1995) (tập 2) của tác giả Lưu Văn Lợi Trong công trình này, tác giả đã bao quát

nửa thế kỷ lịch sử ngoại giao của Việt Nam Tác giả dành 95 trang để nói về quá trình Việt Nam hội nhập khu vực, tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kì, Việt Nam lập quan hệ với các nước EU, Nga… cũng như quá trình nước

ta hội nhập châu Á – Thái Bình Dương Đây là những kiến thức tổng quát rất bổ ích đối với những ai nghiên cứu về đường lối đối ngoại của nước ta Qua tác phẩm, chúng ta thấy được chủ trương của Đảng và nhà nước Việt Nam “luôn

Trang 10

luôn mong muốn có quan hệ hữu nghị và hợp tác trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình” [18,tr250] Tác giả cũng cho chúng ta thấy được việc bình thường hoá quan hệ giữa Hoa Kì và Việt Nam không chỉ là vấn đề riêng của hai nước Đây là một nhân tố quan trọng có tác dụng giữ cân bằng lực lượng và duy trì ổn định trong khu vực Đông Nam Á Việt Nam quyết cùng các nước khác gắng hết sức mình vì Đông Nam Á hoà bình, ổn định và phát triển, vì khu vực châu Á – Thái Bình Dương phồn vinh Tuy nhiên, do thời gian giới hạn từ 1945 –

1995, cho nên, tác giả chỉ nêu được những nét khái quát về quá trình Việt Nam hội nhập khu vực, cũng như tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa

Kì, mà không có những nghiên cứu sâu về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước trên

Năm 2003, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội đã xuất bản quyển

Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Các nhà ngiên

cứu đã cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết cơ bản về quá trình hình thành, phát triển cũng như những mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC Tác phẩm nêu ra những mục tiêu hoạt động của APEC là tự do hoá thương mại và đầu tư, thuận lợi hoá thương mại APEC, hợp tác kinh tế kỹ thuật (ECOTECH) Đây là một tài liệu hữu ích, vì nó đã cung cấp những kiến thức khái quát, đầy đủ về diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương Đặc biệt, sách cũng dành chương VI để giới thiệu về sự tham gia của Việt Nam vào APEC trong thời gian qua Các tác giả cũng vạch ra triển vọng quan hệ hợp tác của Việt Nam trong APEC thời gian tới Tuy vậy, như đã nói ở trên, do là tác phẩm cung cấp những kiến thức khái quát về APEC, cho nên, vấn đề quan hệ kinh tế giữa APEC với Việt Nam, giữa các quốc gia hay các khu vực cụ thể không được đề cập đến

Trong quyển APEC – những thách thức và cơ hội do nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1997, các tác giả thuộc viện nghiên cứu

Đông Nam Á - Singapore đã đề cập đến nhiều vấn đề về lý luận cũng như những số liệu thực tế về quan hệ kinh tế của các nước lớn trong khối, đồng thời, các tác giả cũng cho chúng ta thấy được động thái của các nước lớn, các khối nước (như ASEAN, trong đó có Việt Nam), trong tiến trình hội nhập quốc tế

Trang 11

Cho đến nay, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về quan hệ kinh tế giữa khối Bắc Mĩ với Việt Nam Đa phần các tác phẩm đều đề cập nhiều đến quan hệ kinh tế giữa Hoa Kì với Việt Nam Trong phạm vi nguồn tài liệu có hạn, chúng tôi cũng chỉ xin giới thiệu về những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, với Hoa Kì là một đại diện tiêu biểu của khối Bắc Mĩ gồm

ba nước Hoa Kì, Canada, Mexico

Năm 2001, nhà xuất bản Thống kê xuất bản quyển Tìm hiểu về Hiệp

định giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại Sách gồm 7 chương: thương mại hàng hoá, quyền sở

hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, phát triển quan hệ đầu tư, tạo thuận lợi cho kinh doanh, các qui định liên quan đến tính minh bạch, công khai và quyền khiếu kiện, những điều kiện chung cùng những phần phụ lục Trong mỗi chương, sách nêu lên những qui chế, những định nghiã, nghĩa vụ , quyền lợi… của hai bên tham gia vào hiệp định Có thể nói, đây là một văn kiện có tính pháp lý, giúp người đọc có những hiểu biết đúng đắn, chính xác về quan hệ thương mại giữa hai nước

Công trình nghiên cứu về Quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam

– Hoa Kỳ của tác giả Nguyễn Thiết Sơn do nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà

Nội xuất bản năm 2004, cũng đã cung cấp nhiều tài liệu bổ ích cho đề tài Sách trình bày một cách khái quát, có hệ thống tiến trình bình thường hoá quan hệ kinh tế Việt Nam và Hoa Kì, những kết quả đạt được trong thương mại đầu tư giữa hai nước và những vấn đề, những khó khăn mà Việt Nam bước đầu gặp phải cũng như triển vọng quan hệ kinh tế giữa hai nước Đặc biệt, tác giả đã cung cấp một hệ thống bảng số liệu về quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kì từ năm 1992 – 2001 Đây là những số liệu đáng tin cậy, giúp chúng tôi có cơ sở để phân tích những kết quả đạt được trong quan hệ thương mại giữa hai nước

Trong cuốn Quan hệ kinh tế của Hoa Kì và Nhật Bản với Việt Nam từ

1995 đến nay của Bộ ngoại giao và Học viện quan hệ quốc tế cũng đề cập đến

quan hệ kinh tế giữa Hoa Kì với Việt Nam Tuy nhiên, do thời gian giới hạn từ

Trang 12

1995 – 2001 cho nên, quan hệ kinh tế cũng như những triển vọng trong quan hệ giữa hai nước thời gian sau đó không được các tác giả đề cập đến

Năm 2000, tác giả Đỗ Đức Định đã có tác phẩm nghiên cứu về Quan hệ

kinh tế Việt Nam – Hoa Kìø do nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội phát hành Sách

nêu lên tiến trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, đồng thời tác giả dành chương V để nêu lên những lĩnh vực hợp tác giữa Hoa Kì và Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, các tác giả chỉ chú trọng đến quan hệ đầu tư giữa hai nước, mà ít nêu lên những mối quan hệ thương mại…

Ngoài ra, có rất nhiều công trình nghiên cứu về chính sách kinh tế cũng như quan hệ của Hoa Kì với một số nước trên thế giới Trong đó, đáng kể đến là

tác phẩm Quan hệ của Hoa Kì với các nước lớn ở khu vực châu Á– Thái Bình

Dương do tiến sĩ Vũ Dương Huân chủ biên Nội dung sách trình bày về tình hình

khu vực châu Á – Thái Bình Dương thời kỳ sau chiến tranh lạnh và mối quan hệ giữa Hoa Kì với các cường quốc trong khu vực Sách góp phần đánh giá về quan hệ của các nước lớn hiện nay và xu thế phát triển trong quan hệ giữa các nước lớn trong tương lai Tuy không đề cập đến quan hệ kinh tế cũng như chính sách của Hoa Kì đối với Việt Nam, nhưng các tác giả cho chúng ta cái nhìn khái quát về quan hệ giữa các nước lớn trong khu vực, từ đó, chúng ta có thể áp dụng và rút kinh nghiệm đối với thực tiễn đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Với phạm vi giới hạn, TS Lê Khương Thuỳ (thuộc trung tâm nghiên cứu

Bắc Mĩ) đã cho chúng ta biết được Chính sách của Hoa Kìø đối với ASEAN

thời kỳ trong và sau chiến tranh lạnh trong tác phẩm cùng tên Tác giả đã đi

sâu nghiên cứu một cách có hệ thống sự phát triển chính sách của Hoa Kì đối với ASEAN thời kỳ trước và sau chiến tranh lạnh Chiến lược và chính sách của Hoa

Kì đối với ASEAN có ảnh hưởng trực tiếp đến các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Việc tìm hiểu chính sách của Hoa Kì đối với ASEAN dưới góc độ lịch sử có ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta trong việc hoạch định chính sách đối ngoại với Hoa Kì trên tất cả các lĩnh vực”

Trang 13

Quyển Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế do Nguyễn Thiết Sơn chủ biên,

xuất bản năm 2003, cũng rất hữu ích đối với chúng tôi khi thực hiện đề tài Nội dung cuốn sách trình bày trực tiếp những chính sách kinh tế và điều chỉnh chính sách kinh tế cơ bản của Hoa Kì trong những năm 90 và định hướng chính sách những năm đầu thế kỷ XXI Đây là khoảng thời gian mà những thay đổi chính sách của Hoa Kì có tác động rất lớn đến quan hệ giữa Hoa Kì và Việt Nam Cũng chính trong thời gian này, dươi nhiệm kỳ của tổng thống Bill Clinton, việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kì đã được thực hiện, quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển cao hơn khi hiệp định thương mại song phương được kí kết

Trước đó, năm 1996, tác giả Nguyễn Xuân Thắng thuộc trung tâm nghiên

cứu châu Á – Thái Bình Dương giới thiệu đến bạn đọc quyển Việt Nam và các

nước châu Á – Thái Bình Dương – các quan hệ kinh tế hiện nay và triển vọng Như tựa đề, sách đề cập đến quan hệ kinh tế của Việt Nam với một số

nước thuộc khối APEC như Hoa Kì, Nhật Bản… Đồng thời tác giả cũng cho chúng ta thấy được vai trò, vị trí quan trọng của các nước châu Á – Thái Bình Dương trong chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam và một số vấn đề cần giải quyết Tuy nhiên, triển vọng trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn trong APEC chưa được tác giả đi sâu phân tích

Nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa các nước thuộc khối ASEAN và Việt Nam được rất nhiều tác giả quan tâm Trong khuôn khổ có hạn của luận văn, chúng tôi chỉ xin đề cập đến các tác phẩm tiêu biểu sau:

Năm 1996, trường Đại học tổng hợp TP.HCM xuất bản quyển ASEAN,

quá trình phát triển và hoạt động do tác giả Nguyễn Văn Lịch viết Như tựa

đề, sách cung cấp cho người đọc những kiến thức khái quát về quá trình phát triển và hoạt động của khối ASEAN, cũng như quan hệ ASEAN - Việt Nam từ

1967 đến thời điểm sách được xuất bản

Năm 1997, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tổ chức

hội thảo quốc tế với chủ đề: "ASEAN hôm nay và ngày mai" nhân dịp ASEAN

Trang 14

tròn 30 tuổi Hội thảo đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia Kỷ yếu hội thảo gồm 2 tập Tập 1 có chủ đề "ASEAN hôm nay và triển vọng trong thế kỷ XXI", chủ đề của tập 2 là "ASEAN và Việt Nam" Kỷ yếu bao gồm nhiều bài viết liên quan đến chủ đề của hội thảo của nhiều tác giả trong và ngoài nước, là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích khi chúng tôi thực hiện đề tài

Năm 1998, Nhà xuất bản Tài chính xuất bản quyển Quan hệ thương mại

- đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN, do Võ Thanh Thu

chủ biên Qua tác phẩm, các tác giả cho chúng ta thấy được mối quan hệ thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên ASEAN, và những bài học thu hút vốn đầu tư của các nước ASEAN đối với Việt Nam Sách còn cung cấp cho người đọc những bảng số liệu về trao đổi thương mại và đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam Đây là những số liệu đáng tin cậy, giúp ích rất nhiều trong quá trình chúng tôi thực hiện luận văn

Năm 2001, các tác giả thuộc bộ môn Lịch sử thế giới-Khoa Lịch Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM đã thực hiện đề tài

sử-nghiên cứu khoa học cấp Bộ với chủ đề Quan hệ Việt Nam - ASEAN và những

bài học kinh nghiệm, do Lê Văn Quang làm chủ biên Đây là công ttrình

nghiên cứu công phu của những nhà sử học có tâm huyết với nghề Sách nghiên cứu về quan hệ giữa Việt Nam - ASEAN từ khi khối này thành lập cho đến năm

2000 và những bài học kinh nghiệm rút ra từ mối quan hệ đó Tuy nhiên, do thời gian giới hạn ở năm 2000, cho nên quan hệ giữa ASEAN và Việt Nam giai đoạn sau chưa được các tác giả đề cập đến

Một tác phẩm khác có ý nghĩa đối với những ai nghiên cứu về quan hệ

kinh tế của Việt Nam đối với các nước khác: Những vấn đề kinh tế Việt Nam

– Thử thách của hội nhập do Phạm Đỗ Chí, Trần Nam Bình, Vũ Quang Việt

chủ biên, được xuất bản vào năm 2002 Sách tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả thuộc các cơ quan kinh tế, các trường đại học, các viện nghiên cứu trong và ngoài nước, trong đó, tác giả Vũ Quang Việt hiện là chuyên viên cấp cao của Liên hiệp quốc từ 1984, là nhóm trưởng nhóm nghiên cứu về phương pháp luận

Trang 15

thống kê kinh tế quốc gia của Liên hiệp quốc Nội dung của sách có 4 phần với những chủ đề khác nhau

Các tác giả giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về bối cảnh quốc tế khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và những bài học kinh nghiệm rút ra từ một số nước bước đầu thành công trong quá trình toàn cầu hoá Nó còn cung cấp những vấn đề lý luận cũng như những số liệu thực tế trong quan hệ giữa Việt Nam với một số nước

Nhìn chung, có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN, giữa Hoa Kì và Việt Nam, hoặc chính sách kinh tế của Hoa Kì, cũng như những chính sách của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, đa số các sách chỉ nghiên cứu một khía cạnh trong quan hệ kinh tế song phương, hoặc quan hệ thương mại, hoặc đầu tư, ít chú trọng đến việc nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam Thêm vào đó, thời gian mà các tác phẩm, tác giả đề cập đến chủ yếu trong phạm vi từ những năm 90 của thế kỷ XX đến khoảng năm 2001 Trong khi đó, lịch sử mỗi ngày một thay đổi và có rất nhiều biến động, quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2001 – 2005 có nhiều diễn tiến mới chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu Vì vậy, việc tìm hiểu toàn diện quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và các nước thuộc khối ASEAN là vô cùng cần thiết

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng thu được nguồn tài liệu khá phong phú từ các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài in rải rác trên các báo, tạp chí

Ngoài các nguồn tư liệu sách, báo, tạp chí… khi nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi cũng thu thập được nhiều thông tin từ các trang web của APEC, AFTA, ASEAN, trang tin điện tử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trang Web của Bộ Ngoại giao Việt Nam… trên mạng internet Đây cũng là những tư liệu vô cùng quý báu và có tính cập nhật cao khi thực hiện đề tài

Trang 16

Về quan hệ hợp tác giữa hai thành viên còn lại của khối Bắc Mĩ là Canada và Mexico với Việt Nam trong khuôn khổ APEC, hầu như có rất ít tác phẩm đề cập đến Với rất nhiều nỗ lực trong việc tìm tư liệu khi thực hiện đề tài, chúng tôi cũng chỉ tìm được một số bài báo in rải rác trên các báo, và nguồn thông tin tư liệu từ Thông tấn xã có đề cập đến quan hệ hợp tác giữa Canada, Mexico với Việt Nam Từ nguồn tài liệu ít ỏi này, chúng tôi sẽ cố gắng rút ra những kết luận, những triển vọng trong quan hệ kinh tế giữa hai nước

3 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

Trên cơ sở kế thừa các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi cố gắng làm rõ mối quan hệ hợp tác giữa các khối nước trong APEC với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN Khi nghiên cứu về quan hệ hợp tác giữa khối Bắc Mĩ và khối ASEAN với Việt Nam trong khuôn khổ APEC, chúng tôi chú trọng đến việc phân tích, đánh giá mối quan hệ kinh tế giữa hai khối nước này với Việt Nam Trên cơ sở phân tích, đánh giá những thành tựu đạt được và những mặt chưa được trong quan hệ kinh tế cũng như trên các lĩnh vực khác giữa khối Bắc Mĩ, khối ASEAN với Việt Nam trong khuôn khổ APEC để có cái nhìn tổng quát về quan hệ giữa APEC và Việt Nam trong lĩnh vực này

Việc lựa chọn nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa khối Bắc Mĩ và ASEAN với Việt Nam, vì đó là đại biểu cho hai khối nước phát triển và đang phát triển, từ đó có cái nhìn toàn diện, đa chiều trong mối quan hệ kinh tế của các nhóm nước với Việt Nam, cho phép chúng ta rút ra tính quy luật trong quan hệ kinh tế giữa các nước và các khối nước trong APEC Trong quan hệ kinh tế, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến quan hệ thương mại và đầu tư, vì đây là những nội dung chủ yếu trong chương trình hành động của APEC

Ở đây, khi nói đến khối ASEAN, chúng tôi chỉ đề cập đến 6 nước thành viên ASEAN, đồng thời là những nước đang phát triển, tham gia vào tổ chức APEC Đó là Brunei, Singapore, Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan Ngoài khối ASEAN, không gian nghiên cứu vấn đề còn giới hạn ở khối Bắc

Mĩ, trong đó, Hoa Kì là một đối tác quan trọng của nước ta, cho nên, chúng tôi cũng xin giới thiệu thêm về tiến trình bình thường hóa quan hệ kinh tế giữa Việt

Trang 17

Nam và Hoa Kì từ năm 1995 Đây cũng là khoảng thời gian mà Hiệp định thương mại Hoa Kì - Việt Nam được kí kết (11/1997), đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ giữa hai nước, đồng thời mở ra cho Việt Nam những thử thách và cơ hội mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại… với Hoa Kì nói riêng, với các nước trên thế giới nói chung

Khối APEC ra đời từ năm 1989, nhưng đến năm 1998 Việt Nam mới chính thức được kết nạp vào tổ chức này Vì vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu mối quan hệ hợp tác giữa APEC và Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN kể từ khi Việt Nam gia nhập đến năm 2005 Đây là khoảng thời gian nước ta có nhiều nỗ lực để hội nhập nền kinh tế quốc tế và đạt được những thành tựu quan trọng Đồng thời, đây cũng là khoảng thời gian Việt Nam chuẩn bị nhiều mặt để đăng cai hội nghị cấp cao APEC vào năm 2006

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Phương pháp lịch sử giúp chúng tôi tái hiện lại tiến trình quan hệ hợp tác giữa APEC và Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN trong khoảng thời gian từ 1998 đến năm 2005 trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động Việc nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa các nước trong khối Bắc

Mĩ và khối ASEAN với Việt Nam trong khuôn khổ APEC cho chúng tôi có cái nhìn khái quát về quan hệ giữa tổ chức này với Việt Nam

Phương pháp logic giúp chúng tôi lí giải những vấn đề phức tạp trong quan hệ kinh tế giữa APEC và Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN Việc làm này giúp chúng tôi rút ra được những nét bản chất, những đặc điểm có tính quy luật trong quan hệ giữa APEC và Việt Nam

Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp liên ngành như phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phương pháp nghiên cứu kinh tế, phương pháp thống kê, xử lý số liệu thu thập được nhằm đưa ra những kết luận chính xác về

Trang 18

những thành tựu đạt được trong quan hệ giữa khối Bắc Mĩ và Việt Nam trong khuôn khổ APEC ở lĩnh vực kinh tế

5 BỐ CỤC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn chia thành 4 chương:

Chương 1: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương với Việt Nam

1.1 Quá trình ra đời và các giai đoạn phát triển của APEC

1.2 Hoạt động của Việt Nam trong APEC

Chương 2: Quan hệ hợp tác giữa APEC với Việt Nam qua trường hợp khối ASEAN (1998 – 2005)

2.1 Khối ASEAN với Việt Nam

2.2 Quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN – Việt Nam trong khuôn khổ APEC (1998-2005)

2.3 Các quan hệ khác

Chương 3: Quan hệ hợp tác giữa APEC với Việt Nam qua trường hợp khối Bắc Mĩ (1998-2005)

3.1 Khái quát về khối Bắc Mĩ

3.2 Quan hệ hợp tác giữa Hoa Kì với Việt Nam trong khuôn khổ APEC (1998-2005)

3.3 Quan hệ hợp tác Canada – Việt Nam trong khuôn khổ APEC 2005) 3.4 Quan hệ hợp tác Mexico – Việt Nam trong khuôn khổ APEC (1998-2005)

(1998-Chương 4: Đặc điểm, bài học kinh nghiệm, những cơ hội và thách thức trong quan hệ hợp tác giữa APEC với VIỆT NAM qua trường hợp khối Bắc Mĩ và khối ASEAN

4.1 Những đặc điểm của quan hệ hợp tác kinh tế giữa khối Bắc Mĩ, ASEAN trong APEC với Việt Nam

Trang 19

4.2 Bài học kinh nghiệm

4.3 Những cơ hội và thách thức trong quan hệ hợp tác giữa khối Bắc Mĩ và khối ASEAN với Việt Nam trong khuôn khổ APEC

4.4 Triển vọng quan hệ hợp tác APEC – Việt Nam qua trường hợp khối Bắc

Mĩ và khối ASEAN

4.5 Những kiến nghị, giải pháp

Trang 20

CHƯƠNG 1 DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á – THÁI BÌNH

DƯƠNG VỚI VIỆT NAM

APEC (Asia Pacific Economic Cooperation forum) là diễn đàn kinh tế đầu tiên trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương APEC bao gồm 21 nền kinh tế thành viên, trải ra trên bốn lục địa với hơn 1/3 dân số thế giới (2,5 tỉ người), trên 50% GDP và 47% thương mại thế giới APEC được thành lập nhằm mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững về kinh tế của các thành viên, tăng cường tinh thần cộng đồng và các mối liên kết khu vực vì sự thịnh vượng chung của khu vực châu Á – Thái Bình Dương APEC hoạt động dựa trên 3 trụ cột chính: thuận lợi hoá, tự do hoá thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế – kỹ thuật Không giống như nhiều tổ chức khu vực khác, APEC là một diễn đàn kinh tế mở, không có các cam kết ràng buộc đối với các nền kinh tế thành viên Cho đến nay, hợp tác trong APEC ngày càng “thực chất” hơn APEC ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong hệ thống thương mại đa phương, trong việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới

Năm 1998, cùng với Nga, Peru, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của APEC Sau gần 10 năm tham gia diễn đàn, APEC đã mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội thuận lợi, nhưng cũng không kém những thách thức trong quá trình hợp tác và phát triển kinh tế

1.1 QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA APEC

1.1.1 QUÁ TRÌNH RA ĐỜI

1.1.1.1 Những nhân tố dẫn đến sự ra đời của APEC

Sự tăng trưởng cao liên tục của các nền kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Từ những năm 1980, trong khi nền kinh tế thế giới bị suy thoái, các nước ở khu vực châu Á luôn dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển kinh tế Mức tăng trưởng kinh tế gần 50%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế các khu

Trang 21

vực khác trên thế giới Xuất khẩu là động lực tăng trưởng ở các nước thuộc khu vực này Trong những năm 1980 -1992, "xuất khẩu của các nước châu Á tăng nhanh nhất thế giới, đạt tốc độ bình quân hàng năm trên 10% so với 4% của các nước châu Âu và Mĩ Latinh và 6% của các nước công nghiệp phát triển" [55,tr 19]

Đặc biệt, ở châu Á, Đông Á đã trở thành khu vực có tiềm năng và sức tăng trưởng nhanh nhất, đã thu hút nhiều sự chú ý của thế giới Mức tăng trưởng kinh tế bình quân của khu vực Đông Á trong khoảng 20 năm qua là trên 8%, trong khi đó, mức tăng trưởng bình quân của toàn bộ các nước đang phát triển là 4,3%, của các nước phát triển là 3% [34,tr17-18]

Chính sự phát triển nhanh trong buôn bán và đầu tư là một trong những nhân tố quyết định góp phần vào sự tăng trưởng cao của các nền kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế cao và ổn định trong khu vực, hợp tác và liên kết kinh tế khu vực trở thành nhu cầu vô cùng cấp thiết

Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá phát triển mạnh

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, của xu thế hoà bình , ổn định, hợp tác và phát triển cũng như quá trình tự do hoá nền kinh tế , kinh tế thị trường… quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ từ khoảng hai thập niên cuối cùng của thế kỷ XX Đặc trưng cơ bản của toàn cầu hoá là mạng lưới sản xuất toàn cầu được hình thành với những chủ thể chính là các tập đoàn kinh doanh toàn cầu- các công ty xuyên quốc gia (TNCs) Cùng với nó là sự gia tăng và phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, của đầu tư và tài chính quốc tế, của liên kết kinh tế quốc tế Nếu năm 1989, số lượng các hiệp định thương mại tự do là 26 thì năm

2002, con số này đã là 143 [34,tr40]

Bước sang những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, dưới tác dụng của làn sóng mới của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ, của quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức, của tự do hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình

Trang 22

toàn cầu hoá nền kinh tế có những bước phát triển mới Xu hướng tự do hoá trong các hoạt động kinh tế trở thành phổ biến, nhất là trong các lĩnh vực thương mại và đầu tư Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế sẽ phá vỡ những giới hạn của điều kiện tự nhiên, hình thành hệ thống phân công lao động toàn cầu, và tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể cũng như trình độ phát triển ở mỗi nước, nóù sẽ lôi kéo tất cả các nước trên thế giới tham gia vào quá trình này

Tuy nhiên, trên thực tế, toàn cầu hoá kinh tế chưa thực sự tạo ra một hệ thống kinh tế công bằng, chưa mang tính nhân bản, cho nên gặp phải nhiều chống đối Điều này có thể lý giải bởi nhiều nguyên nhân Mặc dù là một quá trình phát triển dựa trên cơ sở những cam kết, thoả thuận tự nguyện và phối hợp điều tiết giữa các chủ thể chính như các nhà nước quốc gia dân tộc, các công ty xuyên quốc gia và các tổ chức kinh tế thế giới cũng như khu vực, nhưng toàn cầu hoá kinh tế hiện nay đang bị chi phối bởi các nước công nghiệp phát triển, đứng đầu là Hoa Kì và Tây Âu Vì vậy, nhiều người cũng cho rằng toàn cầu hoá kinh tế là “Hoa Kì hoá, Tây hoá và Tư bản hoá”

Điều này càng được khẳng định hơn khi chúng ta xem qua báo cáo của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP): "Kể từ khi làn sóng toàn cầu hoá bùng nổ từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, thì chỉ có 10 nước giàu lên nhờ tận dụng được những cơ hội do xu hướng nhất thể hoá nền kinh tế thế giới mang lại, trong khi đó có tới 130 nước nghèo đi, trong đó có 60 nước GDP bình quân đầu người thấp hơn 10 năm trước” Thêm vào đó, nếu những năm

1960, chênh lệch thu nhập của 20% dân số thuộc tầng lớp giàu nhất và nghèo nhất là 30 lần, thì đến năm 1990 con số này đã tăng lên 60 lần, và năm 1997 là

74 lần Các nước phát triển chiếm 1/5 dân số thế giới nhưng chiếm tới 86% GDP toàn cầu, 4/5 thị trường xuất khẩu, 1/3 vốn đầu tư nước ngoài, trong khi đó, các nước nghèo nhất với số dân tương ứng chỉ chiếm 1% GDP thế giới [57,tr12].Như vậy, chúng ta thấy rằng, trong nền kinh tế thị trường toàn cầu, lợi ích mà các quốc gia thu được nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản lý, chất lượng nguồn nhân lực…

Trang 23

Cùng với toàn cầu hoá và như một sự ứng phó với toàn cầu hóa, xu thế khu vực hoá và địa phương hoá cũng sẽ phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu lẫn chiều rộng Đặc trưng chủ yếu của xu thế này là thành lập các khu vực kinh tế mới, mở rộng các khu vực đang tồn tại, tăng vai trò của các nhóm cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ trong quản lý… Từ cuối những năm 1980, liên kết kinh tế khu vực ở châu Âu và Bắc Mĩ đã được đẩy mạnh thêm một bước Sự hợp tác của các nước châu Âu liên tục phát triển theo một trình tự logic Từ Cộng đồng than thép châu Âu (CECS) ra đời năm 1951 đến Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) ra đời năm 1957, và sau đó là liên minh Châu Aâu (EU) với một đồng tiền chung, nghị viện chung, an ninh chung Ngày 1/1/1999, đồng EURO chính thức

ra đời, đánh dấu sự hợp tác ngày càng chặt chẽ giữa các nước châu Âu, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao vị thế của EU trên thế giơi Và cho đến nay, liên minh châu Âu đã vượt khỏi phạm vi một số nước ban đầu, mở rộng về phía đông và nam Âu với tổng số nước tham gia là 25 Còn ở Bắc Mĩ, tháng 1/1989, Hoa Kì và Canada chính thức kí Hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do song phương (CAFTA), và gần đây là khu vực mậu dịch tự do Bắc Mĩ (NAFTA) dự định sẽ hình thành một khu vực mậu dịch tự do Tây bán cầu, trải dài từ Alaska tới Tierra de Fuego trong năm nay

Khu vực hoá và toàn cầu hoá vừa đối nghịch nhau, vừa bổ sung cho nhau

Do có những cam kết và thỏa thuận ưu đãi riêng trong khu vực nên khu vực hoá tạo nên sự cạnh tranh và phân biệt đối xử giữa những nước trong với những nước ngoài khu vực cũng như giữa khu vực này với khu vực khác Mặt khác, tất cả các nước trong từng khu vực khác nhau lại bị chi phối lẫn nhau do cùng tham gia vào hệ thống sản xuất toàn cầu thống nhất do các công ty xuyên quốc gia tạo thành Tất cả các nước đều hướng tới tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế Cho nên, “khu vực hoá chính là biểu hiện quá độ của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu”

Trước sự gia tăng ngày càng mạnh mẽ của liên kết ở các tiểu khu vực, thì châu Á – Thái Bình Dương tuy có ổn định tương đối về chính trị, năng động về kinh tế, có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng lại chưa có một hình thức liên

Trang 24

kết nào có tính toàn khu vực, để bảo đảm cho sự phát triển ổn định của các quốc gia trong khu vực Đó cũng là vấn đề băn khoăn đối với các nước, nhất là các nước phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế

Sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương ngày càng chặt chẽ hơn vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XX Ở lĩnh vực thương mại, xuất khẩu hàng hoá của các nước châu Á - Thái Bình Dương sang Hoa Kì chiếm 25,8% tổng giá trị xuất khẩu của họ, trong khi xuất khẩu của Hoa Kì sang châu Á – Thái Bình Dương chiếm 30,5% tổng giá trị xuất khẩu của Hoa Kì Xuất khẩu của Nhật Bản sang Hoa Kì chiếm 34,2% giá trị xuất khẩu của Nhật Bản và xuất khẩu của Hoa Kì sang Nhật Bản chiếm 12,3% tổng giá trị xuất khẩu của Hoa Kì Hoa Kì hiện nhập khẩu từ Singapore 18,2 tỉ USD và xuất sang thị trường của nước này 16,3 tỉ USD hàng năm Ở lĩnh vực đầu tư, các dòng đầu tư lẫn nhau cũng tăng lên Năm 2002, lần đầu tiên, Trung Quốc thay thế Hoa Kì trở thành địa điểm đầu tư ở nước ngoài lớn nhất của Hàn Quốc

Sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày một tăng đã tạo ra nhu cầu gắn kết, phối hợp giữa các nền kinh tế trong khu vực với nhau

Như vậy, đứng trước những bối cảnh quốc tế và khu vực, trong dòng chảy không thể cưỡng lại được của xu thế quốc tế hoá nền kinh tế, diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) đã ra đời nhằm phối hợp các chính sách về lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học - kỹ thuật giữa các nền kinh tế thành viên, hướng tới mục tiêu cao hơn là duy trì sự phát triển kinh tế cao và bền vững của khu vực châu Á – Thái Bình Dương khi bước vào thế kỷ mới APEC ra đời là kết quả tác động của các nhân tố: sự tăng trưởng cao liên tục của các nền kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá cũng như sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế

1.1.1.2 Sự thành lập APEC

Những ý nghĩ đầu tiên về việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do ở Thái Bình Dương đã được đưa ra từ rất sớm Năm 1965, hai học giả người Nhật

Trang 25

là Kojima và Kurimoto đã đề nghị thành lập Khu vực mậu dịch tự do Thái Bình Dương, mà thành viên là các nước công nghiệp phát triển, sau đó sẽ mở cửa cho các nước đang phát triển ở khu vực tham gia Tiếp đó, một số học giả khác đã nhận thức được sự cần thiết về việc hợp tác kinh tế của khu vực Hội đồng Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (PECC) ra đời vào năm 1980 phần nào đáp ứng được nhu cầu liên kết kinh tế trong khu vực

Đến cuối những năm 1980, ý tưởng thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tế trong khu vực đã được các quan chức chính phủ Nhật Bản đưa ra Mĩ lúc giờ ít quan tâm đến gợi ý này vì nhiều lý do Riêng thủ tướng Australia Bob Hawke đã nhận thức được tầm quan trọng của việc liên kết kinh tế khu vực đối với sự phát triển kinh tế của đất nước mình Vì vậy, đầu năm 1989, tại Seoul - Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ý tưởng về việc thành lập Diễn đàn Tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở châu Á - Thái Bình Dương để chính phủ các nước thành viên có thể phối hợp hoạt động, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và hệ thống thương mại đa phương Tháng 11/1989, các bộ trưởng ngoại giao và kinh tế của các nước Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippin, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Canada, Hoa Kì đã quyết định chính thức thành lập APEC

Sau đó, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan (1991), Mexico, Papua New Ghuine (1993), Chilê (1994), Peru, Liên bang Nga, Việt Nam (1998) Cho đến nay, APEC có tất cả 21 nền kinh tế thành viên, trải ra trên bốn lục địa, với "hơn 1/3 dân số, trên 50% GDP và 47% thương mại thế giới" [55,tr9]

1.1.1.3 Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC

Mục tiêu

Mục tiêu ban đầu của APEC được tóm gọn trong hai từ: thương mại và phát triển APEC nhằm vào hai mục đích: thúc đẩy thương mại và đầu tư; kích thích sự phát triển ở những khu vực ít phát triển hơn ở châu Á thông qua các hoạt động chuyển giao nguồn lực Vì vậy, ngay từ đầu, đã có những ý kiến muốn đặt tên cho APEC là Tổ chức thương mại và phát triển (OPTAD) [48; 20] Tuy

Trang 26

nhiên, về sau, sự phân biệt giữa thương mại và phát triển ngày càng giảm đi Sự phát triển càng ngày càng được coi là kết quả của việc giảm các hàng rào thương mại và đầu tư hơn là của các chương trình viện trợ ODA truyền thống Cho nên, APEC được coi là một tổ chức hợp tác kinh tế theo nguyên tắc phụ thuộc lẫn nhau, các bên cùng có lợi

Từ đó trở đi, APEC không ngừng hoạt động cho mục tiêu chính là xây dựng một khu vực mậu dịch tự do và đầu tư tự do lớn nhất thế giới Đây cũng là mục tiêu của mọi tổ chức khu vực trên thế giới Xuất phát từ những đặc trưng riêng của khu vực, các nhà lãnh đạo APEC đã đề ra những mục tiêu cơ bản của diễn đàn này Tại hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba ở Seoul – Hàn Quốc (1991), các mục tiêu cơ bản của APEC đã được đề ra:

Thứ nhất, duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi ích chung của các dân tộc trong khu vực, và bằng cách đó đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thế giới

Thứ hai, phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh tế thế giới do sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo ra, khuyến khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn và công nghệ

Thứ ba, phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở vì lợi ích của các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương và các nền kinh tế khác

Cuối cùng, giảm dần những rào cản đối với việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên phù hợp với các nguyên tắc của WTO ở những lĩnh vực thích hợp và không làm tổn hại đến các nền kinh tế khác

Như vậy, ngay từ đầu, APEC đã không nhấn mạnh đến mục tiêu tạo lập hệ thống ưu đãi thuế quan, liên minh thuế quan hay thị trường chung như EU, mà nhấn mạnh đến việc tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở

Điều này được các nhà nghiên cứu giải thích bởi hai lý do Thứ nhất, APEC là tập hợp của các nền kinh tế rất đa dạng về trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị – xã hội cũng như điều kiện lịch sử, văn hoá, cho nên, các nước đang phát triển như ASEAN, NIEs không muốn thành lập một khu vực tự do hoá và bị lệ thuộc một cách bất bình đẳng vào các nền kinh tế lớn hơn, có trình độ

Trang 27

phát triển cao hơn như Mỹ, Nhật Bản, Canada… Mặt khác, các nền kinh tế thành viên APEC phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh tế thế giới Do vậy, họ rất muốn có một hệ thống thương mại toàn cầu mở và ổn định

Sang năm 1994, tại hội nghị cấp cao ở Bogor – Indonesia, các nhà lãnh đạo APEC đã tiến một bước dài hơn hướng đến mục tiêu chính đã đề ra Tuyên bố Bogor đã xác định mục tiêu của APEC là thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư tại châu Á – Thái Bình Dương đối với các nền kinh tế phát triển vào năm

2010 và đối với các nền kinh tế đang phát triển vào năm 2020 Tuyên bố Bogor đã đặt những nền tảng đầu tiên cho việc hình thành một khu vực tự do hoá thương mại và đầu tư ở một khu vực rộng lớn nhất thế giới, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới

Ngoài ra, APEC cũng rất coi trọng đến việc đẩy mạnh hợp tác kinh tế kỹ thuật Đây cũng là chủ trương của các nhà lãnh đạo APEC, hợp tác trong khu vực có thể đi xa hơn vào những lĩnh vực cụ thể, không chỉ gói gọn ở những nguyên tắc cơ bản Việc làm này có tác dụng huy động một cách hiệu quả các nguồn lực trong khu vực, và hơn hết, nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bền vững của các nền kinh tế thành viên

Tóm lại, mục tiêu của APEC tập trung vào 3 trụ cột: tạo ra những thuận lợi cho tiến trình tự do hóa thương mại và đầu tư; giúp thúc đẩy thương mại thông qua các luật lệ thương mại, phá bỏ dần các rào cản thương mại; và hợp tác trong các vấn đề kinh tế và kỹ thuật Trong từng giai đoạn, từng thời kỳ cụ thể, các hoạt động hợp tác trong APEC được điều chỉnh linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với bối cảnh và đáp ứng lợi ích của tất cả các nền kinh tế thành viên

Nguyên tắc hoạt động:

Nguyên tắc cùng có lợi

APEC là một tổ chức được hình thành dựa trên tính đa dạng về văn hoá, chính trị và chênh lệch về kinh tế, cho nên, nguyên tắc được đặt ra hàng đầu là phải đảm bảo cho tất cả các nền kinh tế APEC, không kể sự chênh lệch về trình độ phát triển, đều có lợi

Trang 28

Tuy nhiên, ở đây, chúng ta cũng nhận thấy rằng, việc hướng đến mục tiêu chính là xây dựng một khu vực mậu dịch tự do và đầu tư tự do… sẽ đem lại lợi ích cho ai? Đa số cho rằng tất cả đều có lợi Dầu vậy, cũng có nhiều ý kiến ngược lại Không phải tất cả các nước đều đã có những điều kiện sẵn sàng để mở rộng tự do buôn bán, hoặc không phải khi tham gia hội nhập kinh tế toàn cầu, thì tất cả các nước sẽ được hưởng lợi ích như nhau Tuy nhiên, trong xu thế chung hiện nay của thế giới, việc tự do hoá thương mại và đầu tư ngày càng chiếm ưu thế

Khi đưa ra nguyên tắc cùng có lợi, ngoài tính đa dạng của khu vực, các nhà lãnh đạo APEC cũng nhấn mạnh việc cần thiết phải chú ý đến trình độ phát triển, chế độ chính trị – xã hội và yêu cầu của các nền kinh tế đang phát triển Đây là điểm quan trọng trong nguyên tắc hoạt động của APEC nhằm giải toả mối lo ngại của các nước đang phát triển trong APEC Các nước đang phát triển cho rằng sự khác biệt lớn về trình độ phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ có thể dẫn đến sự lệ thuộc bất bình đẳng của họ vào các nền kinh tế tiên tiến hơn, làm phân cực Bắc – Nam ngay trong APEC

Trên thực tế, APEC đã thực hiện được những ưu đãi đối với các nước đang phát triển, với một ví dụ điển hình là Tuyên bố Bogor Như vậy, APEC đã mở ra cho các nước kém phát triển ý tưởng mới: liên kết khu vực không nhất thiết dựa trên sự tương đồng APEC là một tổ chức dựa trên sự đa dạng về văn hoá và chênh lệch về kinh tế Mục đích chính của nó là sẽ tiến hành hợp tác để xoá đi sự chênh lệch đó

Nguyên tắc đồng thuận

Tất cả các cam kết của APEC phải dựa trên sự nhất trí của tất cả các thành viên Mọi hội nghị của APEC, từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất đều có tính chất tư vấn, tức là các thành viên không tham gia vào những cuộc thương lượng, mặc cả thực sự, để đạt đến những quyết định có tính ràng buộc Tất cả các quyết định đều được đưa ra trong trong tuyên bố chung thể hiện ý kiến thống nhất của tất cả các thành viên Nguyên tắc này đã có hiệu quả thực sự đối với một khu vực có tính đa dạng như châu Á – Thái Bình Dương

Trang 29

Nguyên tắc đồng thuận cũng cho thấy sự khác biệt giữa APEC và WTO Để gia nhập tổ chức thương mại thế giới, các nước phải trải qua quá trình đàm phán lâu dài, phức tạp, và có phần gay gắt, để đạt được những thoả thuận và hiệp định có tính pháp lý, mang tính chất ràng buộc cao

Tuy nhiên, dù có những hiệu quả nhất định, việc duy trì nguyên tắc đồng thuận trong một tổ chức khu vực có tính đa dạng cao như APEC cũng mang lại nhiều khó khăn cho các nhà lãnh đạo APEC Dầu vậy, các nền kinh tế thành viên APEC xem đây là một trong những nguyên tắc cơ bản để duy trì sự bình đẳng trong hợp tác khu vực

Nguyên tắc tự nguyện

Theo đó, tất cả các cam kết của các thành viên APEC đều dựa trên cơ sở tự nguyện Cùng với nguyên tắc đồng thuận, đây là nguyên tắc khiến cho APEC trở nên khác với WTO Tất cả các chương trình tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư trong APEC không diễn ra trên bàn đàm phán mà do các nước tự nguyện đưa ra, trên cơ sở phù hợp với lợi ích của các bên

Trong Tuyên bố chung về Chương trình hành động Osaka, các nhà lãnh đạo APEC đã nhấn mạnh rằng, để tiến gần đến tự do hoá thương mại và đầu tư trong khu vực, các nền kinh tế thành viên cần thực hiện 3 hành động: hành động đơn phương có phối hợp, hành động đa phương và hành động tập thể Và các hành động này cũng được thực hiện theo phương châm tự nguyện trên các lĩnh vực thuế quan, phi quan thuế, dịch vụ… của các nền kinh tế thành viên

APEC là một diễn đàn kinh tế mở, hoạt động phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO

Trong Tuyên bố Seoul (1991), các nhà lãnh đạo APEC đã xác định, “một trong những nguyên tắc cơ bản của APEC là tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ, tích cực tới sự tiến triển của hệ thống thương mại toàn cầu, và khả năng của APEC để thực hiện điều đó sẽ được tăng cường mạnh mẽ qua việc tự mình làm một hình mẫu tích cực Việc theo đuổi thương mại tự do trong APEC phù hợp với cơ chế của GATT/WTO và không làm tổn hại đến các nước khác sẽ tạo ra sự hỗ trợ

Trang 30

mạnh mẽ cho hệ thống thương mại toàn cầu” [Dẫn lại 55,tr33] APEC cam kết thực hiện chế độ thương mại đa phương của WTO

Với Tuyên bố của các nhà lãnh đạo kinh tế APEC về quyết tâm chung Bogor (15/11/1994), các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã cam kết: sẽ ủng hộ nền kinh tế thế giới mở rộng và hệ thống thương mại đa phương mở cửa, thúc đẩy tự

do hoá thương mại và đầu tư cũng như đẩy mạnh hợp tác phát triển trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương [55,tr175] Như vậy, APEC đã xác định không tạo ra sự phân biệt đối xử với các nước và nhóm nước khác trên thế giới, cũng như sẵn sàng cho các nước trong khu vực không phải là thành viên APEC tham gia

Ngoài ra, nguyên tắc “mở” của APEC còn thể hiện ở chỗ APEC không chỉ kết nạp thành viên là những nước có chủ quyền, lãnh thổ riêng biệt cũng như có sự khác nhau về chế độ chính trị – xã hội, APEC còn chấp nhận cả những vùng lãnh thổ (Hồng Kông, Đài Loan), sao cho các vùng lãnh thổ này tuân theo những nguyên tắc của APEC

Đây là những điểm làm cho APEC khác với WTO về tư cách thành viên của các nước tham gia Với WTO, có hai loại thành viên theo qui định của Hiệp định về WTO: thành viên sáng lập và thành viên gia nhập Theo đó, tất cả các nước tham gia kí kết GATT (tiền thân của WTO) đều là các thành viên sáng lập của WTO, thành viên gia nhập là các nước hoặc lãnh thổ gia nhập WTO sau ngày 1/1/1995 Các nước này đều phải đàm phán về các điều kiện gia nhập với tất cả các nước đang là thành viên của WTO và quyết định gia nhập phải được đại hội đồng WTO bỏ phiếu thông qua với ít nhất hai phần ba số phiếu thuận

1.1.1.4 Cơ cấu tổ chức của APEC

Hội nghị thượng đỉnh APEC (APEC Summit Meeting)

Kể từ năm 1993, hàng năm, APEC đều tổ chức hội nghị không chính thức APEC Hội nghị này được tổ chức mỗi năm một lần, luân phiên nhau ở các nền kinh tế thành viên Hội nghị thượng đỉnh có sự tham gia của các nhà lãnh đạo cao nhất của các nền kinh tế thành viên

Trang 31

Hội nghị thượng đỉnh APEC được tổ chức nhằm đưa ra những quyết định về phương hướng chiến lược, nội dung hoạt động của APEC

Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ nhất được tổ chức tại Seattle (Hoa Kì) vào tháng 11/1993 theo sáng kiến của tổng thống Hoa Kì Bill Clinton Lần đầu tiên trong lịch sử, 14 vị nguyên thủ và người đứng đầu chính phủ của các nền kinh tế thành viên APEC đã gặp gỡ và trao đổi về các vấn đề kinh tế Cuối cùng, các nhà lãnh đạo APEC đã đi đến Tuyên bố chung, khẳng định cuộc họp này đã đưa APEC lên một tầm cao mới trên trường quốc tế

Hội nghị Bộ trưởng APEC (APEC Ministerial Meeting)

Hội nghị này thường diễn ra ngay trước hội nghị thượng đỉnh, nhằm đánh giá tình hình hoạt động, xem xét tình hình hoạt động sắp đến của APEC để trình lên Hội nghị thượng đỉnh sẽ được tổ chức sau đó

Tham dự hội nghị này có các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế của các nền kinh tế thành viên Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế do Chủ tịch APEC năm đó chủ trì Cương vị Chủ tịch được luân phiên hàng năm giữa các thành viên

Ngoài ra, trong khuôn khổ APEC, các hội nghị khác có tính chất chuyên ngành như giáo dục, năng lượng, môi trường và phát triển bền vững, tài chính, hợp tác khoa học công nghệ, viễn thông và thông tin… sẽ được triệu tập khi cần thiết, nhằm giải quyết các vấn đề chung, có liên quan đến lợi ích của các nền kinh tế thành viên

Hội nghị các quan chức cao cấp (SOM)

Hội nghị này được sự tham gia của các Thứ trưởng, Vụ trưởng của các nền kinh tế Hàng năm, thường có 3 cuộc họp SOM chính thức và 2 cuộc họp SOM không chính thức (ISOM)

Đây là hội nghị được tổ chức nhằm chuẩn bị và đưa ra các khuyến nghị, trình hội nghị Bộ trưởng về các vấn đề tổ chức, thảo luận khả năng hợp tác trong APEC, chương trình hành động tiến tới tự do hoá thương mại và đầu tư, kế hoạch hành động của các nền kinh tế thành viên

Trang 32

Ngoài ra, theo quyết định của các nhà lãnh đạo APEC, SOM còn được phép tiến hành xem xét và điều phối ngân sách cũng như chương trình công tác của các uỷ ban, các nhóm công tác và nhóm đặc trách trong diễn đàn

Trong APEC có các Uỷ ban, các nhóm công tác và các nhóm đặc trách

sau:

Các Uỷ ban:

Uỷ ban Thương mại và đầu tư: (CTI) được thành lập năm 1993 Ủy ban

này có nhiệm vụ thúc đẩy thực hiện mục tiêu chính của APEC: thúc đẩy hợp tác về tự do hoá thương mại và tạo môi trường đầu tư cởi mở hơn giữa các nền kinh tế thành viên Đây là một trong số các cơ quan chủ chốt của APEC giúp thực hiện chương trình hành động Osaka và chương trình hành động Manila trong các lĩnh vực thuế quan và phi quan thuế, dịch vụ, giải quyết tranh chấp, thực hiện vòng đàm phán Urugoay… Mỗi năm, CTI họp 3 lần, để thảo luận và chuẩn bị nội dung trình hội nghị Bộ trưởng được tổ chức sau đó

Uỷ ban SOM về hợp tác kinh tế – kỹ thuật: (ESC) được thành lập năm

1988 nhằm hỗ trợ hội nghị các quan chức cấp cao SOM về việc phối hợp và quản lý các hoạt động hợp tác kinh tế kỹ thuật trong APEC, cũng như đưa ra những ý định hợp tác trong lĩnh vực này của các nền kinh tế thành viên

Năm 2003, hội nghị các quan chức cấp cao SOM đã đưa ra 4 lĩnh vực hợp tác kỹ thuật trong APEC: hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, xây dựng năng lực chống khủng bố, đẩy mạnh và phát triển kinh tế tri thức, giải quyết những tác động xấu của toàn cầu hóa

Các nhà lãnh đạo APEC cũng tăng cường phối hợp giữa Uỷ ban SOM về hợp tác kinh tế kỹ thuật với các hoạt động khác của diễn đàn

Uỷ ban kinh tế: (EC) được thành lập vào năm 1994 Đây là một trong

những uỷ ban quan trọng của APEC Uỷ ban này có nhiệm vụ thực hiện việc nghiên cứu các xu hướng và vấn đề kinh tế thông qua các chỉ số kinh tế cơ bản Nó có tác dụng thúc đẩy sự hợp tác giữa các nền kinh tế thành viên về các vấn

Trang 33

đề kinh tế, dự báo xu hướng kinh tế trong khu vực để tạo ra một khung cảnh rộng hơn cho sự hợp tác trong APEC

Uỷ ban ngân sách và quản lý: (BAC) được thành lập năm 1993 Uỷ ban

này có chức năng giải quyết các vấn đề liên quan đến ngân sách chung của APEC hay phí đóng góp của các nền kinh tế thành viên Ngoài vấn đề ngân quỹ, uỷ ban ngân sách và quản lý còn có chức năng tư vấn cho các quan chức cấp cao của APEC về quản lý và điều hành

Các nhóm công tác:

Trong APEC hiện nay có 11 nhóm công tác phụ trách các lĩnh vực: hợp tác kỹ thuật nông nghiệp, năng lượng, nghề cá, phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ, bảo vệ tài nguyên biển, doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông tin và viễn thông, du lịch, xúc tiến thương mại, vận tải

Hoạt động của các nhóm chủ yếu tập trung vào việc khảo sát tiềm năng phát triển và thúc đẩy sự tăng trưởng trong các lĩnh vực do từng nhóm phụ trách Thông qua các hoạt động này, các thành viên APEC xây dựng những mối liên hệ thực sự giữa các đại diện chính giới, giới doanh nghiệp và học giả

Các nhóm đặc trách của SOM:

Các nhóm đặc trách của SOM được SOM lập ra để xác định các vấn đề và đưa ra những khuyến nghị trong các lĩnh vực quan trọng của APEC

Hiện nay, APEC có 3 nhóm đặc trách của SOM: Nhóm đặc trách về mạng các điểm liên hệ về giới, Nhóm đặc trách về thương mại điện tử, Nhóm đặc trách về chống khủng bố

Nhìn chung, hoạt động của các Uỷ ban, các nhóm đặc trách, nhóm công tác là nền tảng cơ bản của APEC Đây được xem là những diễn đàn nhỏ để các thành viên thảo luận, tư vấn chính sách và hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể Những nghiên cứu của các nhóm đặc trách, các nhóm công tác được đưa ra để hội nghị bộ trưởng APEC đưa ra các quyết định liên quan đến phương hướng hoạt động của APEC

Ban thư kí APEC:

Trang 34

Ban thư kí APEC được thành lập vào năm 1993, có trụ sở tại Singapore

Đứng đầu Ban thư kí là giám đốc điều hành do thành viên giữ cương vị chủ tịch

cử ra với thời hạn một năm Nhân viên Ban thư kí do các thành viên APEC cử

sang làm việc hoặc tuyển chọn tại địa phương

Ban thư kí có chức năng hỗ trợ và phối hợp các hoạt động của APEC Ban

thư kí có chức năng hỗ trợ và phối hợp các hoạt động của APEC như cung cấp

hậu cần, kỹ thuật và điều hành các vấn đề tài chính Tuy nhiên, từ năm 1993,

vấn đề tài chính được giao cho Uỷ ban ngân sách và quản lý

Ngoài ra, Ban thư kí APEC còn là cơ quan chủ chốt trong việc quản lý các

dự án của APEC

APEC có ngân sách riêng khoảng 2-3 triệu USD do các thành viên đóng

góp để Ban thư kí và các uỷ ban của APEC hoạt động

Hội đồng tư vấn doanh nhân: (ABAC) được các Bộ trưởng nhất trí thành

lập vào tháng 11/1995 tại Osaka (Nhật Bản) Mỗi thành viên được cử 3 đại diện

tham gia ABAC có nhiệm vụ làm công tác tư vấn cho việc thực hiện chương

trình hành động Osaka, đồng thời cung cấp những thông tin có liên quan đến kinh

doanh hoặc triển vọng của kinh doanh trong các lĩnh vực hợp tác cụ thể như xây

dựng cơ sở hạ tầng, tài chính và đầu tư… Hàng năm, ABAC tổ chức các cuộc

họp và đưa ra những khuyến nghị để trình lên hội nghị Bộ trưởng

1.1.2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA APEC 1.1.2.1 Các hội nghị quan trọng của APEC

Từ khi thành lập cho đến nay, APEC đã trải qua nhiều cuộc họp từ cấp

chính sách đến cấp làm việc, trong đó quan trọng nhất có lẽ là các cuộc họp của

các nhà lãnh đạo các nền kinh tế APEC, vì các hội nghị này được tổ chức nhằm

đưa ra những quyết định về phương hướng chiến lược, nội dung hoạt động của

APEC

Nhìn chung, từ hội nghị lần đầu khi thành lập APEC cho đến nay, APEC

trải qua 14 cuộc họp cấp cao nhất của các nhà lãnh đạo APEC Có thể nói, đây

là quá trình APEC ngày càng hoàn thiện hơn cơ chế hợp tác, nội dung, mục tiêu,

nguyên tắc hoạt động của mình

Trang 35

Trong lịch sử phát triển, APEC đã trải qua các hội nghị thượng đỉnh quan trọng sau, đánh dấu những bước chuyển rõ rệt trong đường lối, nội dung hoạt động của một tổ chức kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

- Hội nghị thành lập APEC: tháng 11/1989, tại Canbera, theo đề xuất

của nước chủ nhà Australia, diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương được thành lập, ban đầu có 12 thành viên

- Các hội nghị thượng đỉnh APEC: từ năm 1993, hàng năm, APEC đều

tổ chức Hội nghị thượng đỉnh tiếp ngay sau Hội nghị Bộ trưởng APEC Cho đến nay, APEC có các hội nghị thượng đỉnh quan trọng sau:

Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ nhất tổ chức tại Seattle (Hoa Kì),

vào tháng 11/1993 theo sáng kiến của tổng thống Hoa Kì Bill Clinton, khi Mĩ nhận thấy APEC là một "phương tiện" quan trọng để đưa Vòng đàm phán thương mại Uruguay bị thất bại trước đó trở lại Lần đầu tiên trong lịch sử, 14 vị nguyên thủ quốc gia hoặc chính phủ của các nước hoặc lãnh thổ thành viên của APEC đã gặp nhau tại đảo Blake - Washington Tại đây, các nhà lãnh đạo kêu gọi tiếp tục giảm các rào cản thương mại và đầu tư, vạch ra một "cộng đồng châu Á - thái Bình Dương ổn định, an ninh và thịnh vượng" thông qua hợp tác Tuyên bố chung của hội nghị đã nêu rõ: “Cuộc họp của chúng ta phản ánh sự nổi lên của một tiếng nói mới cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong các vấn đề quốc tế” [75] Các nhà lãnh đạo APEC cũng đã quyết định đặt trụ sở của APEC tại Singapore

Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ hai: tổ chức tại Bogor (Indonesia),

vào tháng 11/1994 Tại đây, các nhà lãnh đạo APEC đã đưa ra Tuyên bố Bogor, đặt ra “mục tiêu dài hạn là thương mại và đầu tư tự do và mở cửa trước năm

2010 đối với các nền kinh tế công nghiệp hoá và năm 2020 đối với các nền kinh tế đang phát triển” [55,tr181] Qua hội nghị này, các thành viên APEC cũng đạt được thoả thuận tăng cường hợp tác kinh tế trong khu vực nhằm củng cố hệ thống thương mại đa phương mở, thúc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư ở châu

Á – Thái Bình Dương và đẩy mạnh hợp tác cùng phát triển

Trang 36

Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ ba: tổ chức tại Osaka (Nhật Bản)

vào tháng 11/1995 Hội nghị này đã đánh dấu một bước tiến cụ thể hơn của APEC Chương trình hành động Osaka đã được nhất trí thông qua, gồm hai nội dung lớn: tự do hoá và thuận lợi hoá; hợp tác kinh tế kỹ thuật Ở đây, tự do hoá và thuận lợi hoá được xem xét chung vì tính không thể tách rời của chúng trong việc hướng tới mục tiêu thương mại và đầu tư tự do, mở cửa ở châu Á – Thái Bình Dương Hội nghị đã xác định quá trình tự do hoá và thuận lợi hoá của APEC nhằm đạt được những mục tiêu của Tuyên bố Bogor, bao gồm: các hành động riêng rẽ của từng nền kinh tế thành viên, các hành động của các diễn đàn APEC, và các hành động của APEC có liên quan đến các diễn đàn đa phương Hội nghị cũng thừa nhận rằng “những nền kinh tế APEC nào đã sẵn sàng đề xuất và thực hiện các thoả thuận hợp tác thì có thể xúc tiến ngay, còn những nền kinh tế chưa sẵn sàng thì có thể tham gia sau"[55,tr183] Hợp tác kinh tế – kỹ thuật cũng được xem là những hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho tự do hoá và thuận lợi hoá

Tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo APEC cũng đã định ra những nguyên tắc cơ bản1 để tiến hành tự do hoá thương mại và đầu tư trong 15 lĩnh vực cụ thể

2 giữa các nền kinh tế thành viên

Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư: được tổ chức tại Manila (Philippin) vào

tháng 11/1996 Các nhà lãnh đạo APEC đã đưa ra Tuyên bố Manila, khẳng định lại cam kết duy trì sự phát triển bền vững , công bằng và đề ra kế hoạch hành động tập thể (CAP) và Kế hoạch hành động quốc gia (IAP) để thực hiện Chương trình hành động Osaka Đây thực sự là bước đi đầu tiên trong quá trình thực hiện tự nguyện thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư của các thành viên APEC

Thuận lợi hoá thương mại trong APEC được triển khai thông qua kế hoạch hành động tập thể của các thành viên APEC Thực chất của CAPs là chương

Trang 37

trình hành động chung của các thành viên trên tất cả các lĩnh vực mà Chương trình hành động Osaka đề ra

Hội nghị thượng đỉnh lần thứ năm: tổ chức tại Vancouver (Canada) vào

tháng 10/1997

Hội nghị đưa ra lời kêu gọi tình nguyện tự do hoá thương mại sớm tới các thành viên APEC trên một số lĩnh vực then chốt: các loại sản phẩm nghề cá, sản phẩm nghề rừng, tạo môi trường thuận lợi cho trao đổi hàng hoá và dịch vụ, các thiết bị và sản phẩm ý tế, các sản phẩm liên quan đến hoá chất, viễn thông, đồ trang sức và đồ chơi

Tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo APEC quyết định kết nạp thêm 3 thành viên vào năm 1998 là Nga, Pêru và Việt Nam

Hội nghị thương đỉnh lần thứ sáu: tổ chức ở Kuala Lumpur (Malaysia)

vào tháng 11 năm 1998

Hội nghị thông qua tuyên bố “Củng cố những nền tảng cho sự tăng trưởng”, khẳng định quyết tâm xây dựng một cộng đồng khu vực châu Á – Thái Bình Dương thịnh vượng, đảm bảo sự phát triển công bằng trong phát triển kinh tế của các nước thành viên Tuyên bố đã nhấn mạnh trọng tâm trong hoạt động kinh tế của APEC năm 1998 là “xây dựng năng lực” [75] để đối phó với những thách thức đang đặt ra cho khu vực

Hội nghị lần này đã kết nạp thêm ba thành viên là Liên bang Nga, Peru, Việt Nam và quyết định tạm ngừng kết nạp thêm thành viên mới trong 10 năm

Hội nghiï thượng đỉnh lần thứ bảy: tổ chức tại Auckland (New Zealand)

vào thàng 9 năm 1999

Tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo APEC đã cam kết thực hiện thương mại phi giấy tờ vào năm 2005 ở các nền kinh tế phát triển và năm 2010 ở các nền kinh tế đang phát triển

Hội nghị thượng đỉnh lần thứ chín: tổ chức tại Thượng Hải (Trung Quốc)

vào tháng 11 năm 2001 Chủ đề của hội nghị là “Đương đầu với những thách thức mới trong thế kỷ mới Đạt sự phồn vinh thông qua gắn kết và hợp tác” [58]

Trang 38

Tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo APEC chương trình nghị sự phát triển Doha3 ra đời Đồng thời, các nhà lãnh đạo APEC cũng đã thông qua Thoả thuận Thượng Hải nhằm tập trung mở rộng viễn cảnh của APEC, làm rõ lộ trình thực hiện mục tiêu Bogor cũng như củng cố cơ chế thực hiện Hội nghị cũng ra Tuyên bố chung tập trung vào 3 vấn đề chính: chia sẻ lợi ích của toàn cầu hoá hoá và kinh tế mới, đẩy mạnh thương mại và đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Các nhà lãnh đạo APEC cũng đã đưa ra Tuyên bố chống khủng bố lần đầu tiên

Hội nghị thượng đỉnh lần thứ mười: tổ chức tại Los Cabos (Mexico) vào

tháng 10 năm 2002 Chủ đề của hội nghị: “Mở rộng lợi ích hợp tác vì tăng trưởng và phát triển – thực hiện Tầm nhìn”

Tại hội nghị này, Việt Nam đã chính thức đề xuất đăng cai hội nghị APEC vào năm 2006

Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 11: tổ chức tại Băng cốc (Thái Lan) vào

tháng 10 năm 2003 Chủ đề của hội nghị: "Một thế giới khác biệt: Đối tác vì tương lai”

Trong năm này, Việt Nam có sáng kiến tổ chức “tuần lễ APEC tại Việt Nam” nhân dịp kỷ niệm 5 năm ngày Việt Nam tham gia diễn đàn

Hội nghị thượng đỉnh lần 13: tổ chức vào tháng 11/2005 tại Bussan - Hàn

Quốc Hội nghị APEC diễn ra giữa lúc khu vực châu Á đang đứng trước những thách thức lớn trong nội khối cũng như thách thức chung mang tính tồn cầu

Trước thềm hội nghị lần này, các nhà lãnh đạo APEC nhận thấy diễn đàn APEC đang đứng trước thách thức, cần phải thay đổi để tiến về phía trước Nhận định đĩ dành để nĩi về những trở ngại mà các nền kinh tế thành viên phải đối mặt trong tự do hĩa thương mại và đầu tư, phù hợp với các nguyên tắc của tổ chức

3 Từ khi thành lập WTO đến nay có rất nhiều vòng đàm páhn và mỗi lần đàm phán các nước thành viên lại đưa ra một chủ đề nhằm thúc đẩy buôn bán, thương mại, dịch vụ Doha là tên thành phố của Qutar, nơi tổ chức vòng đàm phán của WTO vào năm 1999 Nội dung chính của vòng đàm phán Doha là bàn biện pháp giảm thuế quan, mở cửa thị trường hàng nông sản, phi nông sản, dịch vụ nhằm thúc đẩy thương mại hoá toàn cầu Đối với những nước đang phát triển, đây là một vòng đàm phán rất có ý nghĩa, vì nếu Doha kết thúc, hàng hoá các nước đang phát triển, chủ yếu là hàng nông sản, sẽ có cơ hội vào thị trường các nước phát triển do hàng rào thuế quan sẽ được giảm rất lớn

Trang 39

thương mại thế giới WTO mà hầu hết các nền kinh tế APEC là thành viên hoặc đang muốn trở thành thành viên Những thỏa thuận chủ chốt về tự do hĩa thương mại được các nhà lãnh đạo APEC thỏa thuận tại hội nghị cấp cao năm 1994, diễn ra tại Bogor, Indonesia, theo đĩ, APEC đạt mục tiêu trở thành một khu vực mậu dịch phi thuế quan từ năm 2010 đến 2020 Tuy nhiên, đã hơn 10 năm trơi qua, mục tiêu

đĩ vẫn cịn rất xa Cơ chế hoạt động của APEC là khơng ràng buộc, và các nhà phân tích lo ngại rằng, thỏa thuận Bogor cĩ thể bị thay thế bằng những thỏa thuận

về tự do hĩa thương mại song phương hoặc trong tiểu khu vực

Một lần nữa, tại hội nghị này, các vấn đề an ninh, thời gian gần đây APEC

đã được coi là một diễn đàn lớn nhằm thu hút sự ủng hộ của thế giới đối với cuộc chiến chống khủng bố càng nổi trội Điều này càng cho thấy APEC đang dần cĩ

xu hướng quan tâm hơn tới các vấn đề chính trị, trong khi những thách thức về tự

do hố thương mại vẫn là mục tiêu chính mà các nền kinh tế APEC cần vượt qua

Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 14: sẽ được tổ chức ở Việt Nam vào tháng

11 năm nay Theo Phó thủ tướng Vũ Khoan, Chủ tịch Uỷ ban quốc gia 2006 cho biết: “Năm 2006 là cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của APEC, nó đánh dấu nửa chặng đường thực hiện các mục tiêu của hội nghị Bogor về thời hạn thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư và sẽ là thời điểm xác định đường

đi cho nửa chặng đường tiếp theo" Dẫn lại 70]

APEC 2006 điễn ra dưới chủ đề bao trùm "Hướng tới một cộng đồng năng động, vì sự phát triển bền vững và thịnh vượng" Hội nghị thống nhất thơng qua 7

ưu tiên hoạt động do Việt Nam đề xuất cho năm APEC 2006 Đĩ là thúc đẩy hợp tác APEC để tăng cường thương mại và đầu tư; nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; thúc đẩy năng lực hội nhập thơng qua phát triển nguồn nhân lực, hợp tác tin học và viễn thơng, và quan hệ đối tác vì sự phát triển; tăng cường an ninh con người; thúc đẩy chống tham nhũng và minh bạch; liên kết các nền kinh tế APEC thơng qua trao đổi du lịch và văn hố; cải cách APEC hướng tới một cộng đồng năng động và hiệu quả hơn

Hội nghị tiếp tục khẳng định ủng hộ thể chế thương mại đa phương WTO trong đĩ kêu gọi sớm kết thúc đàm phán gia nhập WTO đối với Việt Nam và Nga, nêu bật quyết tâm của APEC ủng hộ kết thúc Vịng đàm phán Doha vào cuối năm

Trang 40

2006 Hội nghị cũng nghiên cứu khả năng xây dựng Chương trình hành động Hà Nội triển khai thực hiện Lộ trình Busan

Vì vậy, bên cạnh việc bám sát các mục tiêu của APEC là tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã cố gắng tìm ra chủ đề của hội nghị, sao cho vừa tác động vào tiến trình chung của APEC, vừa mang lại lợi ích riêng cho nước chủ nhà

1.1.2.2 Sự phát triển của APEC

Về thể chế

Như đã trình bày, APEC là một diễn đàn kinh tế đa phương mở Như mục tiêu ban đầu đã đề ra, APEC không phải là một “siêu nhà nước” giống như EU, hoạt động giữa các thành viên không phải dựa trên cơ sở các văn bản có tính chất bắt buộc APEC là một tổ chức liên kết kinh tế tương đối lỏng lẻo ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Tuy vậy, từ khi ra đời, APEC luôn được các nhà lãnh đạo nỗ lực tìm cách củng cố về bộ máy làm việc và thành viên Sự thành lập APEC là kết quả làm việc không ngừng của các chính phủ, của giới doanh nghiệp cũng như các học giả trong khu vực nhằm hướng tới một diễn đàn đối thoại kinh tế cho toàn khu vực

Nhìn chung, “APEC là một chính thể yếu Nó yếu do tính đa dạng của khu vực và do bị thị trường chi phối” [53,tr86]

Về số lượng thành viên:

Vào năm 1989, tại Canbera, diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương được thành lập với sự tham gia của 12 nước thành viên: Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Canada, Hoa Kì Từ đó trở đi, APEC không ngừng phát triển về số lượng các nước đăng kí tham gia

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới có nhiều biến động, xu thế đối thoại, hợp tác, hoà bình ngày càng chiếm ưu thế Sang năm 1991, APEC kết nạp thêm 3 thành viên: Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan Năm 1993, Mexico, Papua New Guine trở thành các thành viên chính thức của APEC Năm

Ngày đăng: 18/01/2020, 04:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thế Cường (chủ biên) (2002), Phúc lợi xã hội châu Á - Thái Bình Dương, phúc lợi doanh nghiệp, NXB KHXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc lợi xã hội châu Á - Thái Bình Dương, phúc lợi doanh nghiệp
Tác giả: Bùi Thế Cường (chủ biên)
Nhà XB: NXB KHXH Hà Nội
Năm: 2002
2. Phạm Đỗ Chí, Trần Nam Bình, Vũ Quang Việt (chủ biên) (2002), Những vấn đề kinh tế Việt Nam, thử thách của hội nhập, Thời báo kinh tế Sài Gòn, NXb Tp. Hồ Chí Minh, Trung tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dửụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế Việt Nam, thử thách của hội nhập
Tác giả: Phạm Đỗ Chí, Trần Nam Bình, Vũ Quang Việt (chủ biên)
Năm: 2002
3. PGS TS Đỗ Lộc Diệp (2002), Chủ nghĩa tư bản ngày nay, những nét mới từ thực tiễn Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản, NXB Khoa học - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa tư bản ngày nay, những nét mới từ thực tiễn Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản
Tác giả: PGS TS Đỗ Lộc Diệp
Nhà XB: NXB Khoa học - Xã hội
Năm: 2002
4. PGS TS Đỗ Lộc Diệp, TS Đào Duy Quát, PGS TS Lê Văn Sang, (2003), Chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XXI, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XXI
Tác giả: PGS TS Đỗ Lộc Diệp, TS Đào Duy Quát, PGS TS Lê Văn Sang
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
5. Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú chủ biên (1999), Khung chính sách xã hội trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường (Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khung chính sách xã hội trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường (Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam
Tác giả: Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú chủ biên
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
6. Nguyễn Ngọc Dung (2002), Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN, NXB Đại học quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dung
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP.HCM
Năm: 2002
7. Đỗ Đức Định (2000), Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kì, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kì
Tác giả: Đỗ Đức Định
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2000
8. Nguyễn Thanh Đức chủ biên (2005), Quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam - Cộng hoà liên bang Đức, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam - Cộng hoà liên bang Đức
Tác giả: Nguyễn Thanh Đức chủ biên
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2005
9. Đặng Hoàng Giang (1997), Việt Nam hướng tới năm 2020 - Mô hình và những kịch bản, NXB Khoa học - Kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hướng tới năm 2020 - Mô hình và những kịch bản
Tác giả: Đặng Hoàng Giang
Nhà XB: NXB Khoa học - Kĩ thuật
Năm: 1997
10. Trịnh Thị Hà (2005), Đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam (1995- 2000), Chuyên đề nghiên cứu cấp Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam (1995-2000)
Tác giả: Trịnh Thị Hà
Năm: 2005
11. Dương Phú Hiệp (chủ biên) (1996), Con đừơng phát triển của một số nước châu Á - Thái Bình Dương, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đừơng phát triển của một số nước châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Dương Phú Hiệp (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
12. Hoàng Lan Hoa (2004), ASEM 5 - Cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập Á - Aâu, NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEM 5 - Cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập Á - Aâu
Tác giả: Hoàng Lan Hoa
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2004
13. Lê Phụng Hoàng- Trần Phi Phượng (1998), Lịch sử Đông Nam Á cận hiện đại (Tài liệu lưu hành nội bộ), Trường Đại học sư phạm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á cận hiện đại
Tác giả: Lê Phụng Hoàng- Trần Phi Phượng
Năm: 1998
14. Nguyễn Vũ Hoàng (2003), Các liên kết kinh tế thương mại quốc tế, NXB Thanh nieân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các liên kết kinh tế thương mại quốc te
Tác giả: Nguyễn Vũ Hoàng
Nhà XB: NXB Thanh nieân
Năm: 2003
15. PGS Nguyễn Văn Hồng chủ biên (2003), Trung Quốc cải cách mở cửa - Những bài học kinh nghiệm, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: chủ biên" (2003), "Trung Quốc cải cách mở cửa -Những bài học kinh nghiệm
Tác giả: PGS Nguyễn Văn Hồng chủ biên
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2003
16. Trần Quốc Hùng (2004), Trung Quốc và ASEAN trong hội nhập, Thử thách mới, cơ hội mới, NXB Trẻ Tp. Hồ Chí Minh, Thời báo kinh tế Sài Gòn, Trung tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và ASEAN trong hội nhập, Thử thách mới, cơ hội mới
Tác giả: Trần Quốc Hùng
Nhà XB: NXB Trẻ Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2004
17. Nguyễn Văn Lịch (1996), ASEAN - Quá trình phát triển và hoạt động, Tủ sách Đại học Tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN - Quá trình phát triển và hoạt động
Tác giả: Nguyễn Văn Lịch
Năm: 1996
18. Lưu Văn Lợi (1998), Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1945 -1995) tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1945 -1995)
Tác giả: Lưu Văn Lợi
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1998
19. Nguyễn Quốc Lộc chủ biên (1997), Đông Nam Á ngày nay, NXB Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Á ngày nay
Tác giả: Nguyễn Quốc Lộc chủ biên
Nhà XB: NXB Mũi Cà Mau
Năm: 1997
20. Nguyễn Thị Luyến (1997), Kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường ở các nước ASEAN và khả năng vận dụng vào Việt Nam, NXB CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường ở các nước ASEAN và khả năng vận dụng vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Luyến
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w