1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ có tầm soát ung thư cổ tử cung và các yếu tố liên quan ở nữ công nhân tại hai công ty của quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

6 103 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 302,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tầm soát ung thư cổ tử cung (UTCTC) bằng Pap smear đã được thực hiện trên thế giới từ năm 1943, giúp phát hiện UTCTC ở giai đoạn sớm hoặc giai đoạn tiền ung thư - có thể điều trị khỏi hoàn toàn. Chương trình tầm soát UTCTC tại TPHCM đã được thực hiện từ năm 1996. Bài viết xác định tỷ lệ có tầm soát ung thư cổ tử cung bằng Pap smear và các yếu tố liên quan.

Trang 1

TỶ LỆ CÓ TẦM SOÁT UNG THƯ CỔ TỬ CUNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở NỮ CÔNG NHÂN TẠI HAI CÔNG TY CỦA QUẬN GÒ VẤP,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lại Thị Thu Hương*, Tạ Thị Thanh Thủy**

TÓM TẮT

Mở đầu: Tầm soát ung thư cổ tử cung (UTCTC) bằng Pap smear đã được thực hiện trên thế giới từ năm

1943, giúp phát hiện UTCTC ở giai đoạn sớm hoặc giai đoạn tiền ung thư - có thể điều trị khỏi hoàn toàn Chương trình tầm soát UTCTC tại TPHCM đã được thực hiện từ năm 1996

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ có tầm soát ung thư cổ tử cung bằng Pap smear và các yếu tố liên quan

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 636 nữ công nhân đã có chồng hoặc có

quan hệ tình dục, làm việc tại 2 công ty của quận Gò Vấp TPHCM - Cường Tài và Sedovina Các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn bằng cách tự điền vào bộ câu hỏi cấu trúc sẵn, thời gian phỏng vấn là 15 phút vào giờ nghỉ giải lao của công ty

Kết quả: Tỷ lệ có tầm soát ung thư cổ tử cung (UTCTC) bằng Pap smear ở nữ công nhân tại hai công ty của

quận Gò Vấp là 35,2% và tỷ lệ đã từng làm Pap trong khoảng thời gian 3 năm trở lại đây là 28,3% Sau khi phân tích bằng mô hình hồi qui đa biến thì ba yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê là: khám phụ khoa định kỳ; đã từng nghe nói về xét nghiệm này; cho rằng không cần thiết làm xét nghiệm vì không có dấu hiệu bất thường

Kết luận: Tỷ lệ làm pap smear ở nữ công nhân tại hai công ty đại diện của quận Gò Vấp còn thấp (35,2%)

Từ khóa: Tầm soát ung thư cổ tử cung, nữ công nhân

ABSTRACT

CERVICAL CANCER SCREENING RATE AND ITS RELATED FACTORS AMONG WORKWOMENAT

TWO COMPANIES IN GO VAP DISTRICT, HOCHIMINH CITY

Lai Thi Thu Huong, Ta Thi Thanh Thuy

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 51 - 56

Background: Screening with “pap ‘smear” being applied worldwide since 1943 helps detecting cervical

cancer at early stage or precancerous lesions in women In HoChiMinh city, screening program for cervical cancer has been set up since 1996

Objective: To determine rate of cervical cancer screening by Pap’s smear among married female workers at

two companies in Go Vap district – Cuong Tai and Sedovina – Ho Chi Minh city

Method: A cross-sectional survey was done on 636 female workers- married or experienced sexual

intercourse - at two companies in Go Vap District, HCMC in 2015 Participants were interviewed by answering

a self-administered questionnaire within 15 minutes during break time of any working day

Results: 35.2% of the participants reported that they have ever had a Pap test and 28.3% reported having a

Pap test within recent three years Three factors were significantly associated with ever having had a Pap test including: having a regular gynecological examination; having ever heard about Pap test; and no need any screening test if having no symptoms

* Trung Tâm Y Tế dự phòng Quận Gò Vấp, TPHCM ** Bệnh viện Phụ sản Mekong, TPHCM

Tác giả liên lạc: Ths Lại Thị Thu Hương ĐT: 0949119907 Email: lthuong64@gmail.com

Trang 2

Conclusions: There were 35.2 % of the participants reported having ever had a Pap test and 28.3 % reported

having a Pap test within recent three years

Keywords: Cervical cancer screening test, female worker

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tầm soát ung thư cổ tử cung (UTCTC)

bằng Pap smear đã được thực hiện từ năm

1943, giúp phát hiện UTCTC ở giai đoạn sớm

hoặc giai đoạn tiền ung thư - có thể điều trị

khỏi hoàn toàn Từ đó góp phần giảm dần tỷ

suất mới mắc và tử vong hàng năm do UTCTC

ở những nước mà chương trình tầm soát

UTCTC bằng Pap smear đã được thực hiện

thành công Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ có tầm

soát UTCTC khác nhau giữa các Quốc gia và

trong cùng một Quốc gia thì tỷ lệ này cũng

khác nhau theo từng nhóm đối tượng(9)

Chương trình tầm soát UTCTC bằng Pap

smear ở TPHCM được thành lập từ năm 1996

[10], đã làm giảm số mới mắc UTCTC từ 29,2/

100.000 vào năm 1998 xuống 9,4/100.000 vào

năm 2012(3) Và đã rút ra bài học kinh nghiệm:

Tầm soát UTCTC bằng Pap smear cho càng

nhiều người càng tốt (có hoặc không có xét

nghiệm DNA- HPV hay quan sát trực tiếp cổ

tử cung với acid acetic -VIA) nên được quan

tâm triển khai trước, sau đó mới xem xét đến

việc tiêm phòng HPV(10) Với nữ công nhân tại

quận Gò Vấp, là đối tượng có bảo hiểm y tế

nhưng thu nhập thấp, phải làm việc 44 giờ/

tuần, thường xuyên phải tăng ca, phần lớn là

dân nhập cư từ các Tỉnh/ Thành phố khác,

thuê nhà để sống và làm việc tại TPHCM

Trong điều kiện như vậy, cơ hội để họ được

tham gia chương trình tầm soát UTCTC bằng

Pap smear có hay không? Để trả lới câu hỏi

đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

Mục tiêu

Xác định tỷ lệ có tầm soát ung thư cổ tử cung

và các yếu tố liên quan bao gồm: đặc điểm xã

hội, nhân văn, kinh tế, tiền căn sản phụ khoa,

yếu tố thúc đẩy, yếu tố cản trở làm Pap ở nữ

Công ty Cường Tài và công ty Sedovina TPHCM trong năm 2015

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Nữ công nhân làm việc tại công ty Trách nhiệm hữu hạn may Cường Tài và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sedovina tại quận Gò Vấp,

TP Hồ Chí Minh trong năm 2015

Cỡ mẫu được tính toán dựa theo công thức ước lượng một tỷ lệ:với ước tínhp (tỷ lệ có làm Pap smear) là 0,19(7), α = 0,05; độ chính xác d= 0,04; cỡ mẫu dự kiến tối thiểu là 370 Tất cả nữ công nhân trong danh sách được thu nhận toàn

bộ nếu thỏa tiêu chí chọn bệnh

Tiêu chí chọn mẫu

Nữ công nhân có chồng hoặc đã từng có quan hệ tình dục, đang làm việc tại hai công ty TNHH Cường Tài và công ty TNHH Sedovina quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh năm 2015 đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Tiêu chí loại ra

Nữ công nhân đã phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn cách thời điểm khảo sát từ 12 tháng trở lên, hoặc các đối tượng trả lời không đầy đủ các câu hỏi

Số liệu được thu thập từ tháng 1/2015 dựa trên bộ câu hỏi cấu trúc sẵn Các đối tượng nghiên cứu được công ty phát bộ câu hỏi, bút

bi và hướng dẫn tự điền trong 30 phút giải lao buổi sáng Thời gian trả lời bộ câu hỏi khoảng

15 phút

Quản lý và phân tích số liệu

Số liệu được mã hóa, đối chiếu kỹ nhằm hạn chế sai sót Phân tích được thực hiện theo hướng

Trang 3

trong bảng (n x m) có giá trị vọng trị ≥ 5 hoặc có

dưới 20% số ô có giá trị vọng trị< 5; kiểm định

chính xác Fisher nếu Bảng (n x m) có trên 20% số

ô có giá trị vọng trị < 5

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong danh sách của 2 công ty có tổng

cộng 660 nữ công nhân đã lập gia đình hoặc

đã từng có quan hệ tình dục Trong số này có 3

người đã cắt tử cung hơn 12 tháng, 06 người

không đồng ý tham gia và 15 người trả lời

không đầy đủ thông tin cần thiết của bộ câu

hỏi (chiếm < 5%) Tổng số đối tượng nghiên

cứu được đưa vào phân tích là 636

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Đa số nữ công nhân có độ tuổi dưới 40 (81%),

hầu hết là dân tộc Kinh (94,8%); 58,5% phụ nữ có

trình độ học vấn Trung học cơ sở và 91% không

có bằng cấp chuyên môn Gần 3/4 nữ công nhân

là dân nhập cư từ các Tỉnh/ Thành phố khác đến

TPHCM sinh sống và làm việc, 71% đối tượng

hiện đang thuê nhà để ở Hầu hết nữ công nhân

đều có bảo hiểm y tế (99,4%) Đối tượng thuộc

diện nghèo và cận nghèo chiếm khoảng 18%

Khoảng 50% nữ công nhân có hộ khẩu ở các

Tỉnh/Thành phố khác đã tạm trú tại TPHCM

trong khoảng thời gian từ 5 đến 10 năm

Liên quan đến đặc điểm sản phụ khoa, phần

lớn đối tượng có từ 1 đến 2 con (83,8%) Tỷ lệ có

sử dụng 1 trong 4 biện pháp tránh thai hiện đại

là gần 46% Khoảng 36% đối tượng có các triệu

chứng phụ khoa trong 12 tháng qua Khoảng

82% đối tượng nghiên cứu đã từng khám phụ

khoa Trong đó, 87% đối tượng thường khám

phụ khoa tại các bệnh viện nhà nước và tư nhân,

rất ít (khoảng 6%) đối tượng khám phụ khoa tại

Trạm y tế phường và tại công ty Khoảng 54%

đối tượng có khám phụ khoa định kỳ 6-12

tháng/lần và 27% đối tượng chỉ khám phụ khoa

khi có dấu hiệu bất thường

Tỷ lệ có làm pap’s smear của nhóm nghiên

cứu: được trình bày qua hai biểu đồ (1) và (2)

35,2%

74,8%

0

Có Không

Biểu đồ 1- Tỷ lệ nữ công nhân đã từng làm pap

28,3%

71,7

%

0

Có Không

Biểu đồ 2- Tỷ lệ có làm Pap trong 3 năm gần đây

Nghiên cứu cũng tìm hiểu các yếu tố tạo thuận lợi cho việc gia tăng tỷ lệ làm pap’s smear trong nhóm nghiên cứu và kết quả được ghi nhận qua biểu đồ (3) Qua đó ghi nhận “Được bác sỹ tư vấn” là yếu tố thúc đẩy đối tượng làm Pap chiếm tỷ lệ cao nhất (74,2%) Ngoài ra tác giả cũng thăm dò các lực cản của việc tầm soát ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm pap và thu được kết quả được trình bày qua biểu đồ (4): Bốn yếu

tố cản trở đối tượng làm Pap smear có tỷ lệ cao nhất là: không có thời gian; nghĩ là không cần thiết vì không có dấu hiệu bất thường, Bác sỹ/ nhân viên y tế không yêu cầu và chưa bao giờ nghe nói về xét nghiệm này (biểu đồ 4)

26,4% 22%

20%

74,2%

Được chồng / gia đình nhắc nhở

Công ty bắt buộc

Được miễn phí Được bác sỹ

tư v ấn

Biểu đồ 3 Các yếu tố thúc đẩy đối tượng làm Pap smear (n=634)

Trang 4

Biểu đồ 4 Yếu tố cản trở đối tượng làm Pap smear

(n=634)

Các yếu tố liên quan với có làm Pap

Sau khi kiểm soát các yếu tố gây nhiễu bằng

mô hình hồi qui đa biến, ba yếu tố được chứng

minh có liên quan đến tỷ lệ làm Pap: (1) nữ công

nhân chỉ khám phụ khoa khi có dấu hiệu bất

thường có tỷ lệ làm Pap thấp hơn những người

có khám phụ khoa định kỳ mỗi 6 – 12 tháng [PR=

0,26 - KTC 95% (0,11 - 0,59) với p = 0,001]; (2)

những công nhân chưa bao giờ nghe nói về xét

nghiệm này có tỷ lệ làm Pap thấp hơn 0,09 lần so

với đối tượng đã từng nghe về xét nghiệm này

(KTC 95% 0,03 - 0,29, p < 0,001); và (3) những đối

tượng cho rằng “không cần thiết làm xét nghiệm

vì không có dấu hiệu bất thường”có tỷ lệ làm

Pap thấp hơn 0,17 lần so với đối tượng cho rằng

“cần phải làm Pap mặc dù không có dấu hiệu bất

thường”(KTC 95% 0,09 - 0,33, p < 0,001)

BÀN LUẬN

Nữ công nhân tại hai công ty được nghiên

cứu có tuổi trung bình thuôc nhóm trẻ (<40

tuổi), đây cũng là lứa tuổi phổ biến của nữ

công nhân tại các khu công nghiệp nói chung

tại quận Gò Vấp Nếu số nữ công nhân này

được làm pap với tỷ lệ cao có nghĩa là trong 5

– 10 năm tới số ca mắc UTCTC sẽ giảm đi rất

nhiều nhờ vào chương trình tầm soát ung thư

cổ tử cung bằng xét nghiệm pap Thực tế kết

quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ công nhân

đã từng làm Pap chỉ ở mức 35,2 % Khi so sánh

nữ nội trợ từ 18-65 tuổi tại TPHCM, tỷ lệ này

có phần cao hơn (19,3%)(7), hoặc khi so sánh với phụ nữ Trung Quốc cũng thấy kết quả tương tự (21%) (14) Điều này có lẽ do nữ công nhân có bảo hiểm y tế và có tỷ lệ khám phụ khoa định kỳ 6-12 tháng/lần cao hơn phụ nữ nội trợ và được nhân viên y tế khuyên làm xét nghiệm trong khi đi khám phụ khoa Nghiên cứu ở Botswana,Trung Quốc, Hoa Kỳ cho thấy, phụ nữ có bảo hiểm y tế có tỷ lệ làm Pap cao hơn so với phụ nữ không có bảo hiểm y tế;

và những phụ nữ có khám phụ khoa thường xuyên có tỷ lệ làm Pap cao hơn phụ nữ không bao giờ hoặc không thường xuyên khám phụ khoa(5,6,14) Tuy nhiên đây cũng chưa phải là một kết quả đáng mừng Tỷ lệ này tuy có tương đương với nghiên cứu ở phụ nữ Thái Lan (32,3%)(1) nhưng lại thấp hơn rất nhiều khi

so sánh với các nghiên cứu ở phụ nữ Hàn Quốc (67%)(11), hay phụ nữ Đài Loan (55%), phụ nữ Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ(5) Nhắc lại, tại thành phố Hồ Chí Minh - Việt Nam chúng ta

đã có chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung từ những năm 90(7), nhưng sau gần 30 năm thực hiện chương trình, tỷ lệ làm pap của cộng đồng phụ nữ Việt Nam – mà đại diện là

nữ công nhân trong nghiên cứu này – cũng không đạt được con số 40% Có phải chăng đó

là do chương trình tầm soát UTCTC tại Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức hay chưa được bao phủ rộng khắp Thêm vào đó chi phí

về thời gian và tiền bạc cho mỗi lần đi khám phụ khoa (để có cơ hội làm pap) có phải là một trong những rào cản cho sự phát triển rộng khắp của chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung? Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ phụ nữ nhập cư có tầm soát UTCTC ngày càng tăng, là do triển khai các đợt chiến dịch truyền thông và chương trình can thiệp dựa vào lực lượng nhân viên sức khỏe cộng đồng bản địa tiếp cận phụ nữ nhập cư(12) Tại Hàn Quốc, cả hai tỷ

lệ tầm soát UTCTC ít nhất một lần và theo khuyến cáo của Bộ y tế Hàn Quốc đều tăng

Trang 5

trong năm 2013) là do thực hiện chính sách

tầm soát UTCTC miễn phí ở giai đoạn đầu,

sau đó là BHYT chi trả tăng dần lên đến 90%

phí tầm soát(11)

Đối tượng chỉ khám phụ khoa khi có dấu

hiệu bất thường có tỷ lệ làm Pap thấp hơn, chỉ

bằng 0,26 lần so với đối tượng khám phụ khoa

định kỳ 6 – 12 tháng/ lần Kết quả này phù hợp

với các nghiên cứu tại Mỹ ở đối tượng phụ nữ

nhập cư; Phụ nữ có khám phụ khoa thường

xuyên thì tỷ lệ làm Pap cao hơn so với phụ nữ

không khám phụ khoa thường xuyên ,gấp 7 lần

ở phụ nữ Mỹ - gốc Trung Quốc(4), gấp 6 lần ở

phụ nữ Mỹ - gốc Việt(13) Những đối tượng chưa

bao giờ nghe nói về xét nghiệm này có tỷ lệ làm

Pap rất thấp so với đối tượng đã từng nghe về

xét nghiệm này Kết quả này phù hợp với nghiên

cứu ở phụ nữ Malaysia(8) Đối tượng cho rằng

không cần thiết làm xét nghiệm vì không có dấu

hiệu bất thường,có tỷ lệ làm Pap thấp hơn, chỉ

bằng 0,17 lần so với đối tượng cho rằng cần làm

Pap ngay cả khi không có triệu chứng bất

thường Kết quả này phù hợp với nghiên cứu ở

phụ nữ tại Brazil(2), phụ nữ Thái Lan(1)và phụ nữ

Malaysia(8) Những kết quả nghiên cứu trên đây

cho thấy việc tuyên truyền nâng cao kiến thức về

xét nghiệm pap có vai trò khá quan trọng, qua

đó phụ nữ mới có thể hiểu biết những ích lợi

nhờ xét nghiệm pap mang lại Vận động chị em

phụ nữ - đặc biệt là giới nữ công nhân – đi khám

phụ khoa định kỳ cũng tạo điều kiện để chị em

tiếp cận và có cơ hội được thực hiện xét nghiệm

Thêm vào đó, do thu nhập các công nhân ở các

khu công nghiệp không cao lắm nên nếu chi phí

được chi trả cho những lần khám phụ khoa định

kỳ sẽ giúp cho chị em nữ công nhân dễ dàng

chấp nhận những hoạt động vô cùng có lợi này

Có nên chăng chúng ta cần tăng cường

Truyền thông – giáo dục sức khỏe cho nữ công

nhân để cung cấp kiến thức đầy đủ về bệnh

UTCTC ( bệnh UTCTC có thể xảy ra dù không có

triệu chứng), lợi ích của việc khám phụ khoa

định kỳ hàng năm và xét nghiệm tầm soát

UTCTC, khoảng cách giữa hai lần xét nghiệm

Pap smear Nâng cao ý thức tự bảo vệ sức khỏe của nữ công nhân Hình thức truyền thông cần phù hợp với đặc điểm dân số - kinh tế - xã hội của đối tượng: Truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, tại cơ sở y tế; phát thanh tại công ty trong giờ làm việc; Dán bích chương, tờ rơi tại những nơi mà công nhân thường tụ tập trong giờ giải lao.Nhân viên y tế tại các phòng khám phụ khoa (cả nhà nước và tư nhân) cũng cần tăng cường tư vấn, yêu cầu đối tượng khám phụ khoa định kỳ hàng năm và làm Pap smear theo đúng hướng dẫn của Bộ y tế

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cắt ngang, khảo sát 636 nữ công nhân có chồng hoặc đã từng có quan hệ tình dục tại hai công ty TNHH Cường Tài và TNHH Sedovina, quận Gò Vấp năm 2015, bằng bộ câu hỏi tự điền cho thấy

- Tỷ lệ nữ công nhân đã từng tầm soát UTCTC bằng Pap smear ít nhất một lần trong đời là 35,2% và chỉ có 28,3% có tầm soát UTCTC bằng Pap smear trong thời gian 3 năm gần đây

- Ba yếu tố được xác định có liên quan đến tỷ

lệ có tầm soát UTCTC bằng Pap smear ở nữ công nhân là: đối tượng chỉ khám phụ khoa khi có dấu hiệu bất thường có tỷ lệ làm Pap thấp hơn 0,26 lần so với đối tượng khám phụ khoa định

kỳ 6 – 12 tháng/ lần; đối tượng chưa bao giờ nghe nói về xét nghiệm này có tỷ lệ làm Pap chỉ bằng 0,10 lần so với đối tượng đã từng nghe về xét nghiệm này; và đối tượng cho rằng không cần thiết làm xét nghiệm có tỷ lệ làm Pap thấp hơn, chỉ bằng 0,17 lần so với đối tượng cho rằng cần làm Pap mặc dù có hay không có triệu chứng bất thường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Budkaew J, Chumworathayi B (2014) "Factors associated with decisions to attend cervical cancer screening among women aged 30-60 years in Chatapadung Contracting Medical Unit,

Thailand" Asian Pac J Cancer Prev, 15, (12), pp 4903-4907

2 Fernandes JV, Rodrigues SH, Costa YG, Silva LC, Brito AM, Azevedo JW, Nascimento ED, Azevedo PR, Fernandes TA (2009) "Knowledge, attitudes, and practices related to Pap test

by women, Northeastern Brazil" Rev Saude Publica, 43, (5), pp

851-858

Trang 6

3 International Agency for Research on cancer GLOBOCAN

(2012), Cervical cancer - Estimated Incidence, Mortality and

Truy cập ngày 09/4/2014

4 Lee Lin F, Pett M, Menon U, Lee S, Nail L, Mooney K, Itano J

(2007) "Cervical cancer beliefs and pap test screening practices

among Chinese American immigrants" Oncol Nurs Forum, 34,

(6), pp 1203-1209

5 Ma GX, Fang CY, Feng Z, Tan Y, Gao W, Ge S, Nguyen C

(2012) "Correlates of cervical cancer screening among

Vietnamese American women" Infect Dis Obstet Gynecol, 2012,

pp 617234

6 McFarland DM (2013) "Associations of demographic variables

and the Health Belief Model constructs with Pap smear

screening among urban women in Botswana" Int J Womens

Health, 5, pp 709-716

7 Nguyễn Thanh Hiệp, Lê Minh Nguyệt, Trương Thị Bích Hà

(2010) "Khảo sát kiến thức - Thái đô - hành vi về việc tầm soát

ung thư cổ tử cung của nữ nội trợ từ 18 - 65 tuổi tại Thành phố

Hồ Chí Minh từ 25/2/2008 đến 11/5/2008" Tạp chí Y học TP Hồ

Chí Minh, Đại học y dược TP Hồ Chí Minh, 14, (2), tr 80 - 85

8 Othman NH, Devi BC, Halimah Y (2009) "Cervical cancer

screening: patients understanding in major hospitals in

Malaysia" Asian Pac J Cancer Prev, 10, (4), pp 569-574

9 Scarinci IC, Garcia FA, Kobetz E, Partridge EE, Brandt HM,

Bell MC, Dignan M, Ma GX, Daye JL, Castle PE (2010)

"Cervical cancer prevention: new tools and old barriers"

Cancer, 116, (11), pp 2531-2542

10 Suba EJ, Raab SS (2012) "Lessons learned from successful Papanicolaou cytology cervical cancer prevention in the

Socialist Republic of Vietnam" Diagn Cytopathol, 40, (4), pp

355-366

11 Suh M, Choi KS, Park B, Lee YY, Jun JK, Lee DH, Kim Y (2015) "Trends in Cancer Screening Rates among Korean Men and Women: Results of the Korean National Cancer Screening

Survey, 2004-2013" Cancer Res Treat

12 Taylor VM, Nguyen TT, Jackson JC, McPhee SJ (2008)

"Cervical cancer control research in Vietnamese American

communities" Cancer Epidemiol Biomarkers Prev, 17, (11), pp

2924-2930

13 Taylor VM, Yasui Y, Nguyen TT, Woodall E, Do HH, Acorda

E, Li L, Choe J, Jackson JC (2009) "Pap smear receipt among Vietnamese immigrants: the importance of health care

factors" Ethn Health, 14, (6), pp 575-589

14 Wang B, He M, Chao A, Engelgau MM, Saraiya M, Wang L, Wang L (2015) "Cervical Cancer Screening Among Adult

Women in China, 2010" Oncologist, 20, (6), pp 627-634

Ngày nhận bài báo: 15/8/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/8/2016 Ngày bài báo được đăng: 05/10/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 05:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w