1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC MÔNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIẢM NGHÈO TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI XÃ MẢN THẨN, HUYỆN SIMACAI, TỈNH LÀO CAI

115 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nước nhằm huy động sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảmnghèo và tìm hiểu về một số công trình nghiên cứu có liên quan.Để nghiên cứu đề tài: Về phương pháp tiếp cận

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC MÔNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIẢM NGHÈO: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI XÃ MẢN THẨN, HUYỆN SIMACAI, TỈNH LÀO CAI

Tên sinh viên : Nguyễn Thị Loan Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp

Giảng viên hướng dẫn : Đặng Xuân Phi

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn trung thực, nghiêm túc và chưa từng được sử dụng trong bất cứ cuộc bảo vệ học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện trong khóa luận đều đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 04 tháng 06 năm 2013

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Loan

Trang 3

đỡ, bảo ban cặn kẽ tận tình của các Thầy Cô giáo trong khoa Tôi xin gửi lời cảm

ơn chân thành tới Thầy giáo Phạm Bảo Dương, Cô giáo Hà Thị Thanh Mai đã chỉ bảo, giúp đỡ và đặc biệt xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo Đặng Xuân Phi người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ huyện Simacai tỉnh Lào Cai, cán

bộ UBND xã Mản Thẩn, huyện Simacai, tỉnh Lào Cai đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình thực tập tại cơ sở.

Tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình và toàn thể bạn bè đã luôn là nguồn động viên khích lệ và là động lực để tôi nỗ lực cố gắng trong suốt quá trình học tập và rèn luyện

Do thời gian thực tập ngắn trong khi trình độ năng lực bản thân hạn chế nên bài khóa luận tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những sai sót, kính mong sự đóng góp ý kiến từ quý Thầy, Cô, các Anh (chị) và bạn bè để bài khóa luận ngày một hoàn thiện hơn.

Tôi xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 04 tháng 06 năm 2013

Tác giả khóa luận

Trang 4

Nguyễn Thị Loan

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt động giảmnghèo: Trường hợp nghiên cứu tại xã Mản Thẩn, huyện Simacai, tỉnh Lào Cai”

Đề tài được nghiên cứu với mục tiêu chung là: Đánh giá thực trạng sự thamgia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt động giảm nghèo tại xã Mản Thẩn,huyện Simacai, tỉnh Lào Cai; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm huy động sựtham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt động giảm nghèo tại địaphương Mục tiêu cụ thể của đề tài đó là: (1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận

và thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo;(2) Đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộngđồng dân tộc Mông trong các hoạt động giảm nghèo tại xã Mản Thẩn, huyệnSimacai, tỉnh Lào Cai; (3) Đề xuất một số giải pháp nhằm huy động sự tham gia củacộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt động giảm nghèo áp dụng tại địa phương.Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tham gia của cộng đồng dân tộc Môngtrong các hoạt động giảm nghèo tại xã Mản Thẩn, với chủ thể nghiên cứu là thànhviên cộng đồng dân tộc Mông và các cán bộ lãnh đạo, quản lý xã Mản Thẩn, cán bộhuyện Simacai, tỉnh Lào Cai Để làm rõ hơn các nội dung trong kết quả nghiên cứu,trong phần một số vấn đề lý luận tôi đã làm rõ các nội dung về: (1) Một số kháiniệm có liên quan – khái niệm cộng đồng dân tộc và khái niệm sự tham gia củacộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo; (2) Vai trò của cộng đồng dântộc trong các hoạt động giảm nghèo; (3) Nội dung sự tham gia của cộng đồng dântộc trong các hoạt động giảm nghèo; (4) Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia củacộng động dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo Trong phần một số vấn đề thựctiễn, tôi tiến hành tìm hiểu kinh nghiệm về huy động sự tham gia của cộng đồng dântộc trong các hoạt động giảm nghèo; các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

Trang 5

nước nhằm huy động sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảmnghèo và tìm hiểu về một số công trình nghiên cứu có liên quan.

Để nghiên cứu đề tài: Về phương pháp tiếp cận tôi sử dụng phương pháp tiếpcận hệ thống để làm rõ tình hình phát triển, thực trạng nghèo đói và các hoạt độnggiảm nghèo chính của xã Mản Thẩn; sử dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia

để phân tích thực trạng sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạtđộng giảm nghèo tại xã Mản Thẩn và sử dụng phương pháp tiếp cận theo giới đểxác định mức độ tham gia của nam giới và nữ giới, tiếp cận theo thu nhập để xácđịnh mức độ tham gia trong các hoạt động giảm nghèo của các nhóm hộ có mức thunhập khác nhau Tôi tiến hành nghiên cứu tập trung ở 02 thôn gần đây có triển khaixây dựng, duy tu và sửa chữa một số công trình CSHT trong CTMTQG với mẫu 50thành viên cộng đồng được chọn dựa trên tổng số hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộtrung bình của 02 thôn, số thành viên là nam giới và nữ giới được lựa chọn qua quátrình thực tế điều tra Trong phương pháp nghiên cứu đề tài còn sử dụng phươngpháp thu thập số liệu đã công bố và thu thập số liệu mới; phương pháp xử lý số liệu

và phân tích thông tin Đồng thời, đề tài sử dụng hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu baogồm chỉ tiêu đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng và chỉ tiêu xác định các yếu

tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt độnggiảm nghèo tại xã Mản Thẩn

Qua quá trình nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong cáchoạt động giảm nghèo tại xã Mản Thẩn, huyện Simacai, tỉnh Lào Cai tôi rút ra một

số kết luận sau:

Xã Mản Thẩn là một xã nghèo với tỷ lệ hộ nghèo năm 2012 lên tới 180 trêntổng số 337 hộ, chiếm 53,41%; trên địa bàn xã còn tồn tại một số hộ thiếu đói – theonghiên cứu là 3/50 thành viên cộng đồng trả lời gia đình mình còn thiếu đói Mặc dùđịa phương đã được Nhà nước quan tâm sát sao trong công tác giảm nghèo và nhận

hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân; địa phương cũng đã triển khai nhiều hoạtđộng giảm nghèo song hiệu quả mang lại chưa cao, đời sống cộng đồng dân tộcMông còn gặp nhiều khó khăn

Trang 6

Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt động giảm nghèo baogồm hoạt động nằm trong CTMTQG về giảm nghèo như: tham gia trong xây dựngCSHT phục vụ đời sống; tham gia trong các hỗ trợ ASXH và sự tham gia trong cáchoạt động giảm nghèo ngoài CTMTQG, bao gồm: tham gia trong các hoạt độnggiảm nghèo do địa phương phát động; trong hoạt động phát triển kinh tế hộ giađình; tham gia hoạt động cộng đồng tương trợ; sự tham gia của cộng đồng dân tộcMông trong lưu giữ phong tục tập quán, xóa bỏ các hủ tục Tuy nhiên mức độ thamgia của mỗi thành viên cộng đồng trong mỗi hoạt động là khác nhau, nhưng nhìnchung sự tham gia của cộng đồng còn mờ nhạt và hiệu quả mang lại không cao; đặcbiệt đối với sự tham gia trong các hoạt động thuộc CTMTQG thì cộng đồng chỉ giữvai trò đối tượng thụ hưởng và tham gia một cách bị động, các hoạt động giảmnghèo do địa phương phát động tuy ban đầu thu hút sự hưởng ứng nhiệt tình trongcác buổi phổ kĩ thuật, tập huấn nhưng sau đó cộng đồng không hoặc ít triển khai domột số tác động từ yếu tố ngoại cảnh.

Sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động giảm nghèo phụ thuộc vàonhiều yếu tố và được chia làm hai nhóm yếu tố là nhóm yếu tố bên trong và nhómyếu tố bên ngoài cộng đồng dân tộc Mông Nhóm yếu tố bên trong cộng đồng dântộc Mông, bao gồm: phong tục tập quán của cộng đồng dân tộc Mông; năng lực củacác thành viên trong cộng đồng; nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của cộngđồng Nhóm yếu tố bên ngoài cộng đồng dân tộc Mông, là: điều kiện tự nhiên, địahình; tác động từ Chính phủ và các cơ quan Nhà nước; năng lực cán bộ địa phương

và các hỗ trợ từ bên ngoài cho giảm nghèo

Để phát huy sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt độnggiảm nghèo cần phải có những giải pháp đồng bộ Thứ nhất: nâng cao năng lực chothành viên cộng đồng và nâng cao nhận thức về vai trò sự tham gia của thành viêncộng đồng trong các hoạt động giảm nghèo; thứ hai: thực hiện bình đẳng giới; thứba: nâng cao năng lực cán bộ địa phương; thứ tư: tạo động lực, cơ hội và môitrường thuận lợi cho thành viên cộng đồng tham gia vào các hoạt động giảm nghèo

và đồng thời kết hợp cùng một số giải pháp khác

Trang 7

MỤC LỤC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI i

KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN i

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP i

LỜI CAM ĐOAN i

Nguyễn Thị Loan i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii

MỤC LỤC vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC HỘP ix

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI i

KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN i

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP i

LỜI CAM ĐOAN i

Nguyễn Thị Loan i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii

MỤC LỤC vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC HỘP ix

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

Trang 10

Hộp 4.7: Tư tưởng trọng nam khinh nữ và ý thức về kế hoạch hóa gia đình Error:Reference source not found

Hộp 4.8: Khó khăn trong phát triển KT hộ gia đình Error: Reference source notfound

Hộp 4.9: Tác động từ các hỗ trợ Error: Reference source not foundHộp 4.10: Thoát nghèo và “cái bẫy nghèo” Error: Reference source not found

Trang 11

Cơ sở hạ tầng Chương trình Chương trình mục tiêu quốc gia

Dự ánĐại học – Cao đẳng Hội đồng nhân dânKinh doanh – Buôn bánKinh tế

Khoa học và Công nghệQuy hoạch & Thống kê nông nghiệpSemi-Structured interviews (phỏng vấn bán cấu trúc)Thương binh và xã hội

Trung học cơ sởTrung học phổ thôngThương mại dịch vụ - Du lịch

Ủy ban nhân dânVăn hóa xã hộiXóa đói giảm nghèo

KD - BB

Trang 12

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Giảm nghèo là chủ trương mang tính nhất quán của Nhà nước nhằm cải thiệnđời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèogiữa các vùng, địa bàn, nhóm dân cư và giữa các dân tộc Trong công cuộc hội nhập

và phát triển của đất nước hiện nay giảm nghèo bền vững trở thành một trong nhữngmục tiêu hàng đầu Nằm trong danh sách 62 huyện nghèo của cả nước, huyệnSimacai – tỉnh Lào Cai có tỷ lệ nghèo năm 2010 là 53,8% (niên giám thống kêhuyện Simacai năm 2011) Tại Simacai đã thực hiện những CTMTQG về giảmnghèo như: CT135- II, CT167 và NQ30a…ngoài các CTMTQG các chương trìnhhành động giảm nghèo do địa phương phát động có vai trò rất quan trọng trong côngcuộc giảm nghèo Cần thiết hơn cả để làm lên thành công của các CT, DA, hành động

đó là đòi hỏi sự hưởng ứng và tham gia mạnh mẽ từ phía thành viên cộng đồng Sựtham gia của cộng đồng dân tộc Mông vào các hoạt động giảm nghèo còn hạn chế donhiều yếu tố tác động, như: trình độ dân trí, nhận thức của người dân chưa cao, tâm lý ỷlại của người dân lớn; kinh tế kém phát triển dẫn tới việc ít tiếp xúc với các thông tin vàmột số nguyên nhân khác

Xã Mản Thẩn là một trong những xã có tỷ lệ hộ nghèo cao thuộc huyện Simacai

Xã có địa hình chia cắt phức tạp, điều kiện tự nhiên khó khăn; diện tích đất tự nhiênrộng nhưng diện tích đất canh tác còn hạn chế Năm 2012 toàn xã có 334 hộ với 1865khẩu, trong đó có 180 hộ nghèo chiếm 53,40% (tính theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011– 2016), dân tộc sinh sống chủ yếu là dân tộc Mông (chiếm 99%), còn lại là dân tộcKinh và số ít dân tộc khác Tại xã đã thực hiện nhiều hoạt động giảm nghèo, tuy nhiênhiệu quả đem lại chưa cao, năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo của xã là 46,38%, trong khi năm

2011 tỷ lệ hộ nghèo lên tới 55,08%, và 2012 chỉ giảm được 1,68 % xuống còn 53,40%.Trên thực tế sự tăng lên đột biến về tỷ lệ hộ nghèo này là do thay đổi chuẩn nghèo năm

2011, tuy nhiên một trong những nguyên nhân sâu sa của vấn đề này là do sự tham giahạn chế của cộng đồng dân tộc Mông vào các hoạt động giảm nghèo Tại xã Mản Thẩn

Trang 13

dân tộc Mông chiếm tỷ lệ 99%, tuy nhiên trong các hoạt động giảm nghèo thuộcCTMTQG cộng đồng dân tộc Mông chủ yếu vẫn giữ vai trò là đối tượng thụ hưởng; sựtham gia của cộng đồng dân tộc Mông vào các hoạt động giảm nghèo nói chung còn mờnhạt Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông vào các hoạt động giảm nghèo còn hạnchế do nhiều yếu tố tác động, như: trình độ dân trí, nhận thức của người dân chưa cao,tâm lý ỷ lại của người dân lớn; kinh tế kém phát triển dẫn tới việc ít tiếp xúc với cácthông tin và một số nguyên nhân khác.

Vấn đề đặt ra trong giảm nghèo nhanh và bền vững là cần nâng cao vai trò nội lực,tức là cần huy động sự tham gia tích cực của người dân, hướng họ vào thế chủ độngtrong việc thực hiện các hoạt động giảm nghèo Vậy cộng đồng dân tộc Mông đã thamgia như thế nào trong các hoạt động giảm nghèo? Yếu tố nào ảnh hưởng tới sự tham giacủa cộng đồng Mông? Và làm thế nào để huy động sự tham gia của cộng đồng Môngtrong các hoạt động giảm nghèo tại xã Mản Thẩn? Việc tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt động giảm nghèo: Trường hợp nghiên cứu tại xã Mản Thẩn, huyện Simacai, tỉnh Lào Cai” góp

phần trả lời những câu hỏi trên

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp nhằm huy động sự tham gia của cộng đồng dântộc Mông trong các hoạt động giảm nghèo áp dụng tại địa phương

Trang 14

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu: sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạtđộng giảm nghèo tại xã Mản Thẩn Trong đó chủ thể nghiên cứu là thành viên cộngđồng dân tộc Mông đang sinh sống trên địa bàn xã; cán bộ lãnh đạo, quản lý xãMản Thẩn, cán bộ huyện Simacai

- Phạm vi về nội dung: đề tài nghiên cứu thực trạng và xác định các yếu tố ảnhhưởng tới sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt động giảmnghèo Đề xuất một số giải pháp nhằm huy động sự tham gia của cộng đồng dân tộcMông trong các hoạt động giảm nghèo áp dụng tại xã Mản Thẩn

PHẦN II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIẢM NGHÈO

Trang 15

2.1 Một số lý luận về sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo

2.1.1 Một số khái niệm có liên quan

2.1.1.1 Khái niệm cộng đồng, dân tộc, cộng đồng dân tộc Mông

Cộng đồng

Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức, là một nhóm người cùngchia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thôngqua tương tác và trao đổi giữa các thành viên Các đặc điểm và lợi ích chung đó rất

đa dạng Đó là những đặc điểm về kinh tế, xã hội, nhân văn, môi trường, huyếtthống, tổ chức, vùng địa lý hoặc các khía cạnh về tâm lý, mối quan tâm và quanđiểm” Ví dụ khi ta nói: cộng đồng người Việt Nam thì đặc điểm chung đó là “ngườiViệt” Khi ta nói cộng đồng hưởng lợi của một dự án thì cộng đồng này bao gồmnhững người cùng chia sẻ những lợi ích nhất định từ dự án đó (Tô Duy Hợp vàcộng sự, 2000)

Còn theo Trương Văn Tuyển (2007), cộng đồng được hình thành dựa trên cácyếu tố: (1) Tương tác giữa cá nhân với các thành viên khác có thể là đối mặt haytương tác thân mật; (2) Có sự liên hệ về tình cảm và tâm lý nơi các nhân có công tác

xã hội mang tính tập thể; (3) Có sự đóng góp (tinh thần hoặc vật chất) cho nhữnggiá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa; và (4) Một ý thức đoàn kết vớinhững người trong tập thể Bản chất của cộng đồng được biểu hiện theo ba lĩnh vựcsau: đoàn kết xã hội, liên kết xã hội và cơ cấu xã hội

Trong đời sống cộng đồng được sử dụng một cách rộng rãi để chỉ mối quan hệtương tác giữa các cá nhân trong những nhóm người khác nhau Đó chính là nhữngđặc thù mang tính tập thể trong tất cả lĩnh vực đời sống và hoạt động xã hội cónhững đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô và hoạt động Cộng đồng có thểchung cho tất cả mọi người, ví dụ cộng đồng nhân loại hoặc cộng đồng dân tộc Tuynhiên cộng đồng cũng có thể rất cụ thể các đơn vị xã hội cơ bản như gia đình, làng

xã, hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lý tưởng, lứatuổi, giới, nghề nghiệp v.v… Như vậy, khi nói đến một cộng đồng chúng ta cần xác

Trang 16

định được thành viên cộng đồng gồm những ai, đặc điểm đặc thù của cộng đồng đó

là cái gì và cái gì ràng buộc, kết nối các thành viên cộng đồng với nhau

Có thể hiểu rằng: cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn bó vớinhau, cùng sống chung trong một khu vực; có những điểm tương đồng về mặt kinhtế- vă hóa-xã hội, truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong đời sốnggắn bó với nhau tạo thành một khối trong sinh hoạt xã hội

Dân tộc

Theo A.M.Ru-mi-an-txep, Chủ nghĩa cộng sản khoa học từ điển, Nxb Tiến bộMát-xít-cơ-va, 1980, Nxb Sự thật, 1986: “dân tộc là một cộng đồng vững chắc vềmặt lịch sử của những con người, là hình thức phát triển xã hội được hình thành trên

cơ sở cùng có chung đời sống kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ và những đặc điển về vănhóa, ý thức, tâm lý xã hội.”

Một số học thuyết cho rằng dân tộc là được phân chia theo vùng, biên giới,phong tục… Người dân cùng tộc có chung lối sống, quy tắc, có trách nhiệm với cácthành viên khác và hành động của những người cùng tộc Một dân tộc trải qua nhiềuthế hệ, cả những người đã chết và các thế hệ tương lai cũng được tính là một tộc.Không xác định rõ thời gian nhưng dân tộc có cả trăm tuổi Như vậy, tộc người xácđịnh dựa trên quan hệ huyết thống, ngôn ngữ, lãnh thổ và phong tục

Vậy có thể hiểu dân tộc là một cộng đồng người có mối liên hệ gắn bó, bềnvững, có chung ngôn ngữ, phong tục tập quán, và ý thức tự giác cộng đồng Dân tộc

là một nhân tố quan trọng xác định đặc trưng văn hóa, xã hội của thành viên

Dân tộc Mông:

Dân tộc Mông (hay còn gọi là H’mong) là dân tộc có dân số tương đối đông,

cư trú nhiều nơi trên thế giới, trong đó đông nhất là ở Trung quốc, là nhóm dân tộcnói ngôn ngữ Mông – Dao Hiện nay ở Việt Nam có 07 nhóm dân tộc Mông: Mông

Đơ (Mông trắng), Mông Si (Mông đỏ), Mông Đu (Mông đen), Dua (Mông xanh),Lềnh (Mông Hoa), Xúa (Mông Lai) và Ná Mẻo (Mông Nước) Mặc dù các điềukiện của môi trường tự nhiên và xã hội đã và đang có nhiều biến đổi nhưng trongđời sống dân tộc Mông là một trong các dân tộc còn giữ được nhiều bản sắc văn hóavật thể và phi vật thể

Trang 17

Tết của người Mông thực sự là ngày hội mùa xuân, là dịp để con người nghỉngơi và làm tròn bổn phận của mình đối với tổ tiên, đồng tộc, gia đình Mỗi bản đều

có nơi chơi tết, thường là một khu đất rộng, bằng phẳng Ở đó người ta tổ chức cácloại hình vui chơi giải trí, mang đậm truyền thống văn hóa dân tộc Những cuộc vuichơi cứ tiếp diễn từ ngày này sang ngày khác cho đến khi hết tết Lứa tuổi háo hức

và say mê nhất vẫn là nam nữ thanh niên, những người chưa vợ, chưa chồng Vì vậycác lễ hội trong dịp tết của người Mông luôn là ngày hội của quần chúng, góp phầnvào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong hiện tại và tương lai

Cộng đồng các dân tộc, cộng đồng dân tộc Mông

Cộng đồng các dân tộc là tập hợp bao gồm các dân tộc trong cùng một quốcgia hay bao gồm các quốc gia dân tộc khác nhau trong cùng một lãnh thổ nào đó,hoặc cũng có hiểu là toàn thể các dân tộc trong một nước hay các dân tộc trên toànthế giới Cộng đồng các dân tộc được xem như một tổ chức xã hội, hoặc tập hợpnhiều tổ chức khác nhau Cộng đồng cũng có vai trò quan trọng trong các vấn đềkinh tế, chính trị, xã hội và môi trường đối với quốc gia đó và toàn thế giới (LưuThị Tho, 2012)

Từ những tìm hiểu các khái niệm trên có thể hiểu cộng đồng dân tộc Mông làmột tập hợp những người thuộc dân tộc Mông sống gắn bó với nhau, họ có thể cùngsống chung trong một khu vực; giữa họ có những điểm tương đồng về mặt KT –VHXH, chung ngôn ngữ và nét truyền thống, phong tục tập quán của người Mông.Giữa các thành viên của cộng đồng dân tộc Mông có quan hệ trong đời sống gắn bóvới nhau tạo thành một khối trong sinh hoạt xã hội

2.1.1.2 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo

a, Khái niệm sự tham gia, hoạt động giảm nghèo

Khái niệm sự tham gia

Theo Trương Văn Tuyển, 2007, sự tham gia có nghĩa là cùng thực hiện mộthoạt động nào đó Hàng ngày con người “tham gia” vào sự phát triển của địaphương thông qua hoạt động sống của cá nhân và gia đình, các hoạt động sinh kế vàtrách nhiệm đối với cộng đồng Không có một ví dụ đơn lẻ đúng đắn nào về sự thamgia Tuy nhiên, việc kiểm soát hoạt động và mức độ sự tham gia luôn là sự gắn kết

Trang 18

một cách lâu dài, chủ động và có vai trò ngày càng cao vào quá trình phát triển Từviệc xác định vấn đề đến việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạtđộng nhằm nâng cao đời sống cộng đồng vào bảo đảm sự phân chia công bằng lợiích của sự phát triển.

Gia tăng sự tham gia của cộng đồng là để đảm bảo cho hoạt động phát triểnthực tế hơn và không bị thụ động do áp đặt từ bên ngoài Tăng cường sự tham gia củangười dân trong các hoạt động phát triển nhằm mục tiêu ngắn hạn là tận dụng nguồnlực con người, trong khi mục tiêu dài hạn là đề cập đến việc xây dựng năng lực chocộng đồng để họ có thể tiếp cận hợp lý với tất cả các nguồn lực cho phát triển

Như vậy, huy động sự tham gia của các thành viên trong một cộng đồng vào cáchoạt động phát triển nhằm mục tiêu ngắn hạn là tận dụng nguồn lực cho conngười,với mục tiêu dài hạn là đề cập đến việc xây dựng năng lực cho cộng đồng để

họ có thể tiếp cận hợp lý với tất cả các nguồn lực sự phát triển

Hoạt động giảm nghèo

Hoạt động giảm nghèo là các hoạt động bao gồm các hoạt động hướng nội vàhướng ngoại trong phát triển KT – VHXH của tập thể hay cá nhân tác động vào tựnhiên, sự vật sự việc xung quanh nhằm tạo ra của cải, cải thiện đời sống vật chất vàtinh thần của người nghèo theo hướng tích cực

b, Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo

Theo Trương Văn Tuyển, 2007, sự tham gia của người dân là một thành tốchính của phát triển trong thời gian gần đây với các lý do sau Một là, sự tham giacủa quần chúng là phương tiện hữu hiệu để huy động tài nguyên địa phương, tổchức và tận dụng nguồn lực khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng vào các hoạtđộng phát triển Hai là, nó giúp xác định nhu cầu ưu tiên của cộng đồng và giúp tiếnhành những hoạt động phát triển để đáp ứng nhu cầu này Quan trọng hơn cả là sựtham gia giúp cho dự án hay hoạt động được thừa nhận, khuyến khích người dânđóng góp nguồn lực thực hiện, và đảm bảo khả năng bền vững Kinh nghiệm gầnđây trong những hoạt động phát triển cho thấy rằng một số liên hệ quan trọng giữamức độ và cường độ tham gia của người dân với sự thành công của những hoạtđộng phát triển

Trang 19

Với các hoạt động giảm nghèo cụ thể, sự tham gia của người dân chính làquá trình họ tạo ra những ảnh hưởng của mình, mà những ảnh hưởng ấy cùnghướng tới hướng tới người nghèo và vì mục tiêu giảm nghèo Nội dung sự tham giacủa cộng đồng trong các hoạt động giảm nghèo bao gồm tham gia trong các hoạtđộng thuộc CTMTQG về giảm nghèo và tham gia trong các hoạt động ngoàiCTMTQG về giảm nghèo Những hoạt động ngoài CTMTQG, sự tham gia được thểhiện ở trong các hoạt động như: tham gia trong các hoạt động giảm nghèo do địaphương phát động, tham gia trong phát triển kinh tế hộ, trong các hoạt động cộngđồng tương trợ và cộng đồng dân tộc tham gia trong gìn giữ phong tục tập quán –xóa bỏ hủ tục Đối với các hoạt động giảm nghèo nằm trong CTMTQG, người dântham gia trong các hoạt động xây dựng CSHT từ hỗ trợ của Nhà nước và các hoạtđộng hỗ trợ ASXH Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động giảmnghèo trong CTMTQG không chỉ đơn giản bởi hành động triển khai thực hiện mà

sự tham gia của các thành viên ở đây thể hiện trong từng khâu của hoạt động: biết,tham gia xác định nhu cầu, lập kế hoạch hành động, triển khai thực hiện, giám sátđánh giá, sử dụng hưởng lợi và cuối cùng là quản lý các hoạt động xây dựng CSHT

và các hỗ trợ ASXH

2.1.2 Vai trò của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo.

Trong nền kinh tế thị trường, cộng đồng dân tộc đóng vai trò quan trọng trongphát triển KT – VHXH Cộng đồng dân tộc đã và đang trở thành tác nhân tham giaquản lý xã hội, với các vai trò nổi bật như cung cấp dịch vụ; điều hoà mối quan hệgiữa Nhà nước và xã hội; tự quản, bảo vệ quyền lợi của các thành viên và xây dựnglòng tin Giảm nghèo là chủ trương nhất quán, trong đó nhấn mạnh chủ yếu vào khuvực nông thôn và đối tượng trung tâm là người nghèo Các hoạt động giảm nghèohay các hoạt động phát triển phải dựa trên lợi ích, sự tham gia của cộng đồng sốngtrong khu vực đó

Theo Michael Dower, 2004, vai trò trung tâm của cộng đồng địa phương trongphát triển nông thôn được tượng trưng bằng “cưỡi ngựa trên lưng trâu”: con trâuđược tượng trưng cho sự cần thiết cân bằng giữa bốn “chân” của phát triển nôngthôn, và giữa người cưỡi trâu nhấn mạnh vai trò trung tâm của cộng đồng địa

Trang 20

phương Bốn “chân” của con trâu đảm bảo thế cân bằng bao gồm: con người cùng

kĩ năng của họ, kinh tế, môi trường và ý tưởng của tổ chức

Phát triển có sự tham gia là xây dựng hoạt động lấy người dân và cộng đồnglàm trung tâm, dựa vào dân và bắt đầu với người dân Hoạt động đầu tiên là kếhoạch hóa tập trung hay lập kế hoạch hoạt động phát triển đòi hỏi có sự thay đổi lớn

so với phương pháp truyền thống Cùng với việc tham gia của người dân vào xâydựng kế hoạch thì việc sử dụng kiến thức bản địa cũng cần được coi trọng, đặc biệt

là lựa chọn và đưa ra các giải pháp Tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá cáchoạt động đòi hỏi phát huy tính tự chủ của cộng đồng với vai trò ngày càng cao.Như vậy, phát triển có sự tham gia được hiểu như sự phát triển mà ở đó dựa vàocộng đồng, cho phép người dân tự tổ chức để xác định nhu cầu và cùng nhau thiết kế, tổchức thực hiện, đánh giá hoạt động, và cùng nhau hưởng lợi từ các hoạt động đó Cáchoạt động được triển khai từ các nguồn lực mà người dân tiếp cận được cần được thôngqua sự hỗ trợ của Chính phủ cũng như các cơ quan, tổ chức khác nhau Không có nănglực và sức mạnh thực sự, người dân không thể ra các quyết định có ý nghĩa thiết thực vớiđời sống của cộng đồng Ý nghĩa thực tiễn của sự tham gia không chỉ ẩn chứa ở mức độ

ra quyết định của người dân mà còn ở việc thực hiện các quyết định đó Vì vậy, traoquyền hay tạo quyền lực là yếu tố quan trọng đối với sự tham gia

Thực tế cũng đã chứng minh vai trò quan trọng của cộng đồng dân tộc trong cáchoạt động giảm nghèo, đặc biệt trong các hoạt động phát triển KT Theo Quyết định

số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giaiđoạn 2006 – 2010: một khi đã nâng cao năng lực và trao quyền cho người dân trongcộng đồng các dân tộc thì cộng đồng hoàn toàn có khả năng huy động tất cả các nănglực và tài sản của mình vào các hoạt động phát triển KT mang lại lợi ích cho họ, pháthuy lợi thế linh hoạt, có thể chịu đựng và vượt qua các áp lực tốt để có thể giảmnghèo, tiến tới cuộc sống tốt đẹp hơn Sự kết hợp hài hòa giữa thị trường – Nhà nước

và cộng đồng thực hiện các hoạt động phát triển KT, xóa đói giảm nghèo bền vững sẽcho thấy kết quả đạt được là tốt nhất

Qua những phân tích ở trên chúng ta thấy rằng: Cộng đồng dân tộc đóng vai trò nòng cốt trong việc thực hiện các hoạt động giảm nghèo, bản thân người dân sẽ

Trang 21

tạo ra những ảnh hưởng thiết thực tới hiệu quả của quá trình giảm nghèo Chính vì vậy, huy động sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt đông giảm nghèo

là rất cần thiết để tiến dần tới mục tiêu giảm nghèo bền vững.

2.1.3 Nội dung sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo

2.1.3.1 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo trong chương trình mục tiêu quốc gia

Hoạt động giảm nghèo thuộc CTMTQG giảm nghèo có thể chia ra 2 hoạt độngchính là hỗ trợ xây dựng CSHT và hoạt động hỗ trợ ASXH, bao gồm: hỗ trợ giáodục, trợ cấp bảo hiểm y tế, hỗ trợ nhà ở, hỗ trợ nước sạch, hỗ trợ vốn, hỗ trợ đầuvào trong sản xuất, tập huấn khuyến nông Đối với các hoạt động giảm nghèo thuộccác CTMTQG về giảm nghèo, nội dung sự tham gia của cộng đồng được thể hiện ởtừng khâu, cộng đồng có thể tham gia một hay nhiều khâu trong thực hiện một hoạtđộng giảm nghèo thuộc chương trình, dự án; đó là các khâu: biết, xác định nhu cầu

ưu tiên, lập kế hoạch thực hiện, triển khai thực hiện, giám sát đánh giá, hưởng lợi vàquản lý Nội dung sự tham gia của cộng đồng trong từng khâu của một hoạt độnggiảm nghèo như sau:

a, Cộng đồng dân tộc biết các hoạt động giảm nghèo trong CTMTQG

Chủ trương phát triển KT – VHXH từ khi thực hiện đổi mới của Việt Namluôn chú trọng "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Biết các hoạt động trongcác CT, DA là bước đầu tiên giúp cho cộng đồng hình dung được các CT, DA cóhoạt động gì, liên quan gì đến cộng đồng Cung cấp thông tin cho cộng đồng về cáchoạt động là bước cần thiết để giúp cộng đồng biết, hiểu hoạt động giảm nghèocũng như nhận biết quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong đó Thông tin ở bước nàycần: cụ thể hóa từng chi tiết, dễ hiểu, địa phương hóa ngôn ngữ, thông tin đầy đủ,chính xác, kịp thời rõ ràng Bên cạnh đó nên giải thích nếu như thành viên cộngđồng có thắc mắc, để họ đưa ra quyết định đúng đắn về hoạt động mà họ đang đượcbiết, và có thể sẽ tham gia

Trang 22

b, Tham gia xác định các nhu cầu hoạt giảm nghèo thiết yếu từ CT, DA

Mọi hỗ trợ của Nhà nước là dành cho cộng đồng, giúp đỡ họ về mặt này hay mặtkhác để giúp họ giảm nghèo, giúp họ cải thiện đời sống, nâng cao mức sống Tuy vậy các

hỗ trợ cần phải dựa trên nhu cầu của các thành viên cộng đồng nơi được thụ hưởng các

CT, DA (Lưu Thị Tho, 2012)

c, Tham gia vào lập kế hoạch thực hiện các hoạt động giảm nghèo

Hoạt động giảm nghèo nào cũng cần được cụ thể hóa thành kế hoạch của cáccấp, các ngành địa phương và người hưởng lợi Kế hoạch cần được xây dựng theo

xu hướng có sự tham gia của cộng đồng, người dân xác định nhu cầu sau đó có thể

từ đó cộng đồng tự lập kế hoạch thực hiện hay do ban chỉ đạo địa phương vạch sẵn,còn cộng đồng có trách nhiệm đóng góp và được sử dụng cũng như quản lý sản phẩm

Kế hoạch được lập nên cân đối giữa nguồn lực có thể huy động và nhu cầu cần hỗ trợ

để giảm nghèo, đảm bảo hài hòa đầu tư của Nhà nước với sự đóng góp của cộng đồng

Kế hoạch của các cấp và các ngành cần có sự thống nhất về nội dung, chỉ tiêu và hệthống đánh giá (Đỗ Kim Chung, 2011) Vì vậy, sự tham gia lập kế hoạch triển khaithực hiện các hoạt động giảm nghèo của cộng đồng là đúng đắn hợp lý đảm bảo tínhcông bằng xã hội, phát huy sự nỗ lực của cộng đồng trong giảm nghèo

d, Tham gia đóng góp nguồn lực và trực tiếp thực hiện các hoạt động giảm nghèo

Cần phát huy được sức dân đóng góp vào các hoạt động giảm nghèo, sự nỗ lực

từ người dân mới đem lại hiệu quả cao và kết quả bền vững Trong kế hoạch thực hiệncần xác định được khả năng đóng góp của cộng đồng, huy động nguồn lực đó tham gia

Ở điều kiện cộng đồng còn nghèo đói, sự đóng góp không nhất thiết phải bằng tiền, cóthể bằng sức lao động, hiện vật ở giới hạn họ có và sẵn sàng, việc đó làm cho họ quýtrọng, giữ gìn sản phẩm, kết quả hơn bởi có một phần công sức của họ

e, Tham gia theo dõi, giám sát đánh giá quá trình thực hiện các hoạt động giảm nghèo

Công tác theo dõi, giảm sát đánh giá quá trình thực hiện các hoạt động giảmnghèo trong các CT, DA về XĐGN đảm bảo cho mục đích của hoạt động giảmnghèo được thành công hơn đồng nghĩa với việc hiệu quả giảm nghèo cao hơn.Hoạt động giảm nghèo nào cũng có những nhóm người thực hiện theo dõi, giám sát

Trang 23

đánh giá, báo cáo bằng văn bản Nhưng với hoạt động hỗ trợ XĐGN cho cộng đồng,phải đảm bảo cơ chế giám sát đánh giá có sự tham gia, để cộng đồng giám sát đánhgiá và có ý kiến phản hồi về các lợi ích mà họ nhận được cũng như hạn chế của cáchoạt động đó trong các CT, DA Từ đó cộng đồng hiểu được sự tham gia của mình

có ý nghĩa, trách nhiệm và có kết quả tốt nhất

g, Tham gia sử dụng, hưởng lợi các sản phẩm, kết quả của các hoạt động giảm nghèo

Khi được đóng góp thực hiện và sử dụng, hưởng lợi các sản phẩm của hoạtđộng thì người dân sẽ thấy được ý nghĩa thực sự và tầm quan trọng của sản phẩm đóđối với cuộc sống Vấn đề đặt ra là: người dân đã được hưởng lợi đúng với nhu cầucủa họ chưa? Hưởng lợi gì? Bao nhiêu từ sản phẩm, kết quả của hoạt động? Đạt baonhiêu % nhu cầu? Lập kế hoạch chương trình thực hiện các hoạt động giảm nghèocần đề cập đến: người dân cần gì, đóng góp bao nhiêu, lợi ích họ được hưởng là gì?

Đã cân đối với nguồn lực họ đóng góp chưa? Lợi ích cộng đồng nhận được chính làđộng lực lớn thúc đẩy họ tham gia thực hiện các hoạt động , cần phải cụ thể hóanhững lợi ích mà hoạt động giảm nghèo mang lại

h, Cộng đồng quản lý, bảo vệ các sản phẩm, kết quả của các hoạt động giảm nghèo mang lại

Thông thường sau khi bàn giao, nghiệm thu các sản phẩm của CT, DA sẽ giaolại cho chính cộng đồng đó quản lý, bảo vệ và sửa chữa Với một số hoạt động hỗtrợ trực tiếp thì người được thụ hưởng trực tiếp là người quản lý, bảo vệ, sửa chữanhư: hỗ trợ mô hình, cho vay vốn, hỗ trợ đầu vào sản xuất, hỗ trợ đất sản xuất…Với một số hạng mục, hoạt động mang tính đầu tư công thì thường giao lại cho mộtnhóm người quản lý Thông qua các tổ chức cộng đồng để xây dựng quy chế, điềukiện, phạm vi chung trong đó vai trò của cộng đồng cần biểu hiện ở các nội dung cụthể như: hướng dẫn người dân sử dụng đúng; bảo vệ công trình đúng quy định; cửđại diện cộng đồng quản lý; giám sát các hoạt động của tổ chức được giao quản lý;giám sát công tác sửa chữa, duy tu công trình; huy động sự đóng góp của cộng đồngtrong sửa chữa, duy tu công trình (Lưu Thị Tho, 2012)

Trang 24

2.1.3.2 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo ngoài chương trình mục tiêu quốc gia

a, Cộng đồng dân tộc tham gia trong các hoạt động giảm nghèo do chính quyền địa phương phát động

Chính quyền địa phương là một tổ chức hành chính có tư cách pháp nhân đượchiến pháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì quản lý một khu vực nằm trong mộtquốc gia Chính quyền địa phương hàng năm cũng phát động không ít các hoạt độngphát triển KT cũng như các hoạt động phát triển VHXH để giảm nghèo, mà gọichung là các hoạt động giảm nghèo Các hoạt động giảm nghèo do chính quyền địaphương phát động phổ biến là: tăng vụ, luân canh, áp dụng giống mới- loại câytrồng mới, áp dụng khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất, tập huấn khuyến nông, đàotạo nghề…Các hoạt động giảm nghèo do địa phương phát động có vai trò và ảnhhưởng rất lớn trong hiệu quả giảm nghèo Bởi lẽ, các hoạt động đó được các cán bộ,các cấp ngành địa phương phát động, được xây dựng và hành động phù hợp vớiđiều kiện địa phương Tuy nhiên muốn cộng đồng tham gia sâu sát để mang lại hiệuquả cho các hoạt động đó, địa phương cần tạo môi trường thuận lợi và phù hợp vớicộng đồng Như thế họ sẽ tự tin hơn, nhiệt tình hơn, trách nhiệm hơn và cần gópphần nâng cao nhận thức, tạo động lực để họ phát triển, tạo đà cho giảm nghèo hiệuquả, cải thiện mức sống của cộng đồng

b, Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình

Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được pháttriển ở nhiều nước trên thế giới Nó có vai trò rất quan trọng trong việc phát triểnkinh tế, nhất là trong sản xuất nông nghiệp Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình lại càng

có ý nghĩa to lớn, bởi nước ta bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạtđộng theo cơ chế thị trường trên nền tảng gần 80% dân số đang sinh sống ở khu vựcnông thôn và sinh kế chủ yếu từ sản xuất nông lâm ngư nghiệp

Trong cộng đồng dân tộc, mỗi thành viên cộng đồng vừa là người sản xuất,vừa là người tiêu thụ sản phẩm chính ở cộng đồng đó và cộng đồng khác Bên cạnhhoạt động sản xuất nông nghiệp họ cũng có thể tự đa dạng hóa thu nhập bằng các

Trang 25

ngành nghề khác, hay buôn bán kinh doanh, tăng vụ, luân canh hay thay đổi kĩ thuậtcanh tác và áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật Trong kinh tế hộ có thể tự tích lũy.tiết kiệm và tái đầu tư linh hoạt trong khả năng nguồn vốn họ có, hộ cũng có thể huyđộng các nguồn vốn ngắn hạn, dài hạn khác nhau từ bên ngoài hộ như: vay hộ khác,vay ngân hàng, vay các tổ chức, cửa hàng và doanh nghiệp; bằng tiền hay hiện vật.

Hộ có khả năng tái đầu tư linh hoạt vào vụ sau, có thể tận dụng các nguồn lực hiệuquả nên hộ có khả năng tự vượt qua khủng hoảng hơn các thành phần kinh tế khác

Vì vậy phát triển kinh tế hộ gia đình là việc làm mang lại hiệu quả thiết thựcnhất trong các hoạt động phát triển kinh tế để giảm nghèo Cần nâng cao năng lực,tinh thần trách nhiệm của họ đối với nghèo đói của chính gia đình mình, trao quyềncho ho để họ tự bứt phá ra khỏi vòng luẩn quẩn nghèo đói

c, Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động cộng đồng tương trợ

Trong một cộng đồng có nhiều đặc điểm chung: chung về ngôn ngữ, chung vềphong tục, tập quán và giữa họ có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡlân nhau được coi là những hoạt động không chỉ mang lại hiệu quả về mặt kinh tế,đáp ứng nhu cầu cấp bách cho đời sống mà còn mang nét đẹp về văn hóa sâu sắc,một số hoạt động cộng đồng tương trợ phổ biến bao gồm:

Cho hoặc cho vay lương thực khi hộ khác thiếu đói – hoạt động cứu đói

Hoạt động cứu đói có thể hiểu là hoạt động giúp những người thiếu đói cólương thực ăn tạm thời để duy trì cuộc sống trong khoảng thời gian ngắn như khigặp thiên tai, hoặc cũng có thể hoạt động này mang tính chất thường niên, cứu đóidài hạn Trên thực tế ở nước ta hiện nay tình trạng thiếu đói vẫn còn diễn ra, tuynhiên bộ phận này chiếm tỷ lệ nhỏ

Ở những vùng nghèo đói nói chung và các cộng đồng dân tộc thiểu số ở cáctỉnh miền núi phái Bắc nói riêng tình trạng đói vẫn còn tồn tại Lí do là vốn tích lũycủa họ không được nhiều cho nên tới gần vụ thu hoạch nhiều hộ không còn đủlương thực để đáp ứng nhu cầu hàng ngày Có nhiều địa phương cần tới quỹ cứu đóicủa chính phủ và các tổ chức bên ngoài, hay từ quỹ tương trợ người nghèo do chínhquyền địa phương thành lập và hưởng ứng bởi những thành viên trong cộng đồng.Trên những vùng nghèo đói, chúng ta còn phải kể tới hành động tương trợ lẫn nhau

Trang 26

giữa các thành viên trong cộng đồng, hộ bị thiếu đói sẽ nhận được sự giúp đỡ củaanh chị em trong gia đình, hàng xóm láng giềng hay bạn bè.

Hoạt động cứu đói có thể thực hiện từ một cá nhân, đó là cá nhân ấy tự manglương thực của mình hay gia đình mình có để đi cho, cho vay hàng xóm, người thângiúp họ qua tình trạng đói; hoặc có thể hoạt động cứu đói ấy được thực hiện bởi mộttập thể, một tổ chức Tập thể kêu gọi và quyên góp cơ sở vật chất cần thiết nhằmcứu giúp cộng đồng trong lúc khó khăn, hoạn nạn Những thành viên trong cộngđồng mới thực sự hiểu được người thân, hàng xóm của mình cần cái gì và cần vàolúc nào bởi họ sống và họ hiểu được hoàn cảnh của nhau, chính vì vậy mà sự giúp

đỡ của cộng đồng khi đó mang tính kịp thời Lúc này vai trò của cộng đồng dân tộccàng được nhấn mạnh hơn trong công cuộc giảm nghèo chung của địa phương

Cho hoặc cho vay đầu vào và vốn sản xuất

Đầu vào trong quá trình sản xuất là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quảtrong sản xuất, một khi thiếu đầu vào hay chất lượng đầu vào không tốt sẽ làm giảmnăng suất, sản lượng cây trồng làm cho hoạt động phát triển kinh tế hộ không hiệuquả, ảnh hưởng tới công tác giảm nghèo

Ngoài hoạt động cho – cho vay lương thực khi hộ khác thiếu đói, cộng đồngcòn cho- cho vay các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất như cho- cho vaygiống, phân bón và vốn Hỗ trợ kịp thời về các yếu tố cơ bản này trong quá trình sảnxuất là một trong những nhân tố tạo nên hiệu quả của quá trình sản xuất, tác độngmạnh mẽ tới hiệu quả giảm nghèo

d, Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong phong tục tập quán

Giữa hai thuật ngữ “phong tục” và “tập quán” có nhiều điểm tương đồng vàkhó phân biệt rõ rang được đâu là phong tục và đâu là tập quán, chính vì vậy haithuật ngữ này luôn được sử dụng song hành cùng nhau tạo thành thuật ngữ “phongtục tập quán”

Có nhiều khái niệm về phong tục tập quán, về cơ bản có thể hiểu rằng: Phong tục, tập quán là hệ thống các quy tắc, ứng xử trong các cộng đồng người Các quy tắc, ứng xử lâu đời của cộng đồng được hình thành qua quá trình lịch sử lặp đi lặp lại nhiều lần, trở thành thói quen trong lao động, sản xuất; trong cuộc sống;

Trang 27

trong sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng; phong tục tập quán còn được thể hiện từ những lễ hội truyền thống.

Mỗi cộng đồng dân tộc có những nét truyền thống văn hóa và những phong tục tậpquán riêng Việc gìn giữ những phong tục tập quán ấy đòi hỏi sự chung tay của các thànhviên trong cộng đồng Trong các phong tục của một cộng đồng có những tục lệ đẹp nêngìn giữ và lưu truyền nhưng cũng có không ít những hủ tục gây trở ngại cho sự phát triển

và cản trở sự tham gia của các thành viên trong một số các hoạt động Sự tham gia củacộng đồng trong hoạt động gìn giữ phong tục tập quán và xóa bỏ hủ tục thể hiện bởi một

sự tham gia trong các hoạt động sản xuất và đời sống xã hội sau:

+ Trong sản xuất họ lưu truyền hay thay thế những phương thức sản xuất, canhtác phù hợp với địa phương như: trồng cây gì, nuôi con gì và sử dụng công cụ gì?+ Trong các hoạt động xã hội: còn gìn giữ hay xóa bỏ các tục về cưới hỏi, machay, tục chữa bệnh; và sự tham gia trong các lễ hội truyền thống

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo

2.1.4.1 Nhóm yếu tố bên trong cộng đồng dân tộc

a, Phong tục tập quán riêng của cộng đồng dân tộc

Theo Trương Văn Tuyển, 2007, có nhiều nhân tố có thể thúc đẩy sự tham giahoặc là cản trở nó Những nhân tố này có thể là nhân tố bên ngoài cộng đồng nhưloại nhân tố thuộc hệ thống chính trị, hoặc cũng có thể là nhân tố bên trong nhưphong tục văn hóa địa phương

Những nét đẹp về phong tục tập quán góp phần tạo nên nét riêng biệt cho cộngđồng mỗi dân tộc và làm cho đời sống của cộng đồng thêm đa dạng Phong tục tậpquán được hình thành trong quá trình lịch sử qua lao động, sản xuất, sinh hoạt củacộng đồng, bởi vậy nó gắn liền với quá trình phát triển KT – VHXH

Phong tục tập quán được chia làm hai loại: phong tục tập quán tích cực vàphong tục tập quán tiêu cực (hay còn gọi là hủ tục) Tuy nhiên sự phân loại này chỉmang tính chất tương đối vì có thể đối với cộng đồng dân tộc này nó là phong tục tậpquán tiêu cực nhưng đối với cộng đồng dân tộc khác đó lại là phong tục tập quán tíchcực Tuy nhiên, xét một cách toàn diện có thể hiểu hai phân loại này chư sau:

Trang 28

+ Phong tục tập quán tích cực là những phong tục tập quán có tác động thúcđẩy sự phát triển KT – VHXH, mang lại niềm vui và lợi ích cho đời sống của nhândân Phong tục, tập quán tích cực chính là những thuần phong mỹ tục, là những nétđẹp trong giá trị văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; những nét đẹp ấyluôn được cộng đồng và xã hội thừa nhận, ủng hộ, bảo tồn và phát huy.

+ Phong tục tập quán tiêu cực – hủ tục là phong tục tập quán lạc hậu gây cản trởcho đời sống của cộng đồng, có tác động kìm hãm sự phát triển KT – VHXH Hủ tục tồntại ở một hoặc một bộ phận nhỏ gia đình, trong dòng họ hay một số cá nhân; hủ tụckhông được sự ủng hộ của đại đa số thành viên trong cộng đồng và trong xã hội

Mỗi dân tộc có một nét truyền thống và phong tục tập quán riêng, vì vậy mànhững ứng xử, hành động của họ là khác nhau trong một sự việc nào đó Đối vớicộng đồng dân tộc thiểu số đặc biệt là những cộng đồng còn nghèo nàn lạc hậu,phong tục tập quán tác động tới hiệu quả giảm nghèo và có ảnh hưởng rất lớn tới sựtham gia của thành viên cộng đồng trong các hoạt động giảm nghèo, bởi nó tácđộng tới suy nghĩ và hành động của mỗi thành viên Vì vậy việc ban hành chínhsách sao cho phù hợp cộng đồng mỗi vùng, mỗi địa phương sẽ nhận được sự đồngtình từ đó huy động được sự tham gia của cộng đồng dân tộc ở địa phương trongcác hoạt động giảm nghèo

Theo Phạm Bảo Dương, 2010: sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu sốtrong các chương trình dự án giảm nghèo chưa nhiều do những đặc trưng về phongtục tập quán Một số cộng đồng dân tộc mang nặng tập tục không có lợi cho giảmnghèo như coi trọng lễ hội, không tích lũy, thích đông con, không thích đi làm xa,thiếu tinh thần vượt nghèo

Trên thực tế cũng đã cho thấy, sự tham gia của mỗi cộng đồng dân tộc vào cáchoạt động có mức độ khác nhau, cộng đồng người Kinh thường tham gia nhiều hơn

do họ có trình độ cao hơn, suy nghĩ và nhận thức nhanh nhạy hơn và điều kiện KTcủa họ cũng phát triển hơn Còn đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số thì sự thamgia của họ trong các CT, DA giảm nghèo hạn chế hơn do những đặc trưng về phongtục tập quán cũng như sự nhận thức chưa được nhanh nhạy

Trang 29

b, Năng lực của các thành viên trong cộng đồng

Theo Adamstrong, 2010, năng lực tham gia của các thành viên là khả năng cácthành viên trong cộng đồng tham gia một cách hiệu quả trong các hoạt động chung,

là khả năng gây ảnh hưởng đến các quyết định tập thể của các thành viên (trích dẫnbởi Bùi Thị Ngoan, 2012)

Năng lực tham gia của một thành viên cộng đồng quyết định bởi kiến thức, kĩnăng, trình độ, chuyên môn và điều kiện sức khỏe của thành viên ấy Năng lực củamỗi thành viên trong cộng đồng càng cao thì cộng đồng đó có sức mạnh lớn hơntrong các hoạt động Ngược lại, sự hạn chế về kiến thức, kĩ năng của các thành viêntrong cộng đồng và những yếu kém về sức khỏe, không đáp ứng đủ sức lực trongthực hiên một hoạt động là một cản trở cho sự tham gia của thành viên vào các hoạtđộng giảm nghèo Năng lực, ý thức của các thành viên trong cộng đồng quyết địnhtới hành động của người dân trong việc tham gia tích cực hay không tích cực và sựtham gia có mang lại hiệu quả hay không trong các hoạt động giảm nghèo

c, Nguồn lực sẵn có và khả năng tiếp cận nguồn lực của các thành viên trong cộng đồng

Nguồn lực sẵn có trong cộng đồng là các nguồn lực về đất đai, lao động vàvốn của thành viên cộng đồng, những nguồn lực đó đã và là của họ làm ra Nó tácđộng tới khả năng tham gia của thành viên cộng đồng trong các hoạt động giảmnghèo, vì vậy việc tiếp cận nguồn lực sẵn có của cộng đồng dân tộc có vai trò quantrọng trong các hoạt động giảm nghèo

Trên thực tế khi tham gia bất kỳ một hoạt động nào, bản thân cộng đồng cũng phảixác định các nguồn lực liên quan đến hoạt động đó bao gồm nguồn lực bên trong vànguồn lực bên ngoài Một trong những nguồn lực bên trong cộng đồng dân tộc là tiềncủa, đối với người nghèo do thu nhập của họ chỉ là đủ và đôi khi còn là chưa đủ đáp ứngcho cuộc sống của họ nên việc đóng góp vào các CT, DA còn gặp nhiều khó khăn.Nguồn lực họ có khả năng và tham gia đóng góp nhiều là ngày công – sức lao động, tuynhiên nguồn lực này chỉ đáp ứng về mặt số lượng mà không đáp ứng về chất lượng dotrình độ, chuyên môn, kĩ thuật; đây cũng chính là rào cản hạn chế sự tham gia của cộngđồng dân tộc thiểu số trong các hoạt động giảm nghèo

Trang 30

d, Vai trò của giới

Nhìn chung, với sự phát triển như hiện nay có thể thấy rằng vấn đề bình đẳnggiới ngày càng được quan tâm Vai trò của nữ giới trong xã hội dần được nâng cao,người phụ nữ có quyền đưa ra nhiều quyết định quan trọng, có khả năng tiếp cận vàtham gia vào các hoạt động Tuy nhiên, một thực tế cho thấy trong các cộng đồngdân tộc thiểu số, “tiếng nói” của nữ giới chưa có giá trị, người phụ nữ chưa cóquyền quyết định mọi việc, ít tham gia vào các hoạt động bên ngoài gia đình; tronglối sống sinh hoạt của người dân tộc thiểu số còn vướng mắc tư tưởng trọng namkhinh nữ như: nam giới làm chủ hộ, nam giới tham gia các cuộc họp bàn huấn luyệnhay quyết định mọi việc quan trọng Sự tham gia của nữ giới trong các hoạt động xãhội còn hạn chế, vai trò của nữ giới chưa được quan tâm, trong khi tại gia đình phầnlớn họ là lực lượng chính sản xuất ra của cải vật chất, am hiểu đời sống của mọithành viên trong cộng đồng Vì vậy phát huy sự tham gia của nữ giới trong các hoạtđộng giảm nghèo là rất quan trọng và thiết thực

2.1.4.2 Nhóm yếu tố bên ngoài cộng đồng dân tộc

a, Những tác động từ Chính phủ và các cơ quan Nhà nước

Theo Micchael Dower, 2004, vai trò của Chính phủ trong phát triển nông thôn

là lãnh đạo, nhưng không chỉ là vai trò diễn xuất Chính phủ tổ chức, chỉ đạo vàphối hợp hành động của hàng loạt các cơ quan, tổ chức và các lợi ích, những ngườiđóng góp cho quá trình phát triển nông thôn to lớn này

Chính phủ là tổ chức, hướng dẫn và phối hợp tất cả các hoạt động, đồng thờicông nhận và khuyến khích hoạt động của bản thân người dân và của chính quyềncác cấp tỉnh, huyện, xã, thôn (bản), các tổ chức quần chúng, nhóm tự lục, hợp tác xãkiểu mới, khu vực tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước

Người dân có thể chủ động trong các hoạt động giảm nghèo nhưng Chính phủlại có vai trò thiết yếu trong hỗ trợ từ các CT, DA và chính sách giảm nghèo ViệcChính phủ thực hiện đúng vai trò của mình là yếu tố tác động mạnh mẽ tới sự thamgia của người dân trong các hoạt động giảm nghèo

Trang 31

Như vậy, thực hiện đúng và đầy đủ vai trò của Chính phủ có tác động tới sựtham gia của cộng đồng trong các hoạt động giảm nghèo Các hoạt động chính củaChính phủ trong giảm nghèo tập trung vào:

- Đề ra chiến lược và chính sách giảm nghèo;

-Thiết lập khung pháp lý, ngân sách quốc gia và tài chính thích hợp để hỗ trợcác hình thức phát triển;

-Đầu tư ngân sách Nhà nước cho cơ sở hạ tầng, dịch vụ an sinh xã hội và một

số lĩnh vực khác;

-Nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ cho mỗi địa phương;

-Phát triển nguồn lực con người và các tổ chức;

-Đàm phán với các tổ chức tài trợ và viện trợ khác;

-Và giám sát toàn bộ tiến trình giảm nghèo

Trong đó sự phù hợp của các cơ chế, chính sách và giải pháp Nhà nước đưa ra

là yếu tố tạo đà thúc đẩy chính cho công cuộc giảm nghèo Chính phủ nắm vai tròlãnh đạo, chính vì vậy mà sự phù hợp và kịp thời của mỗi cơ chế, chính sách và giảipháp trong các hoạt động phát triển chi phối tới sự thành bại trong nỗ lực giảmnghèo của địa phương và cộng đồng

Theo Phạm Bảo Dương và Đỗ Kim Chung (2010), cơ chế, chính sách giảmnghèo hiện nay còn khiếm khuyết nên chưa khuyến khích được sự tham gia củacộng đồng dân tộc Hầu hết các chính sách xóa đói, giảm nghèo đều được tiếp cậntheo hướng từ trên xuống nên chưa huy động được sự tham vấn của cộng đồng Do

đó mà chính sách không phù hợp với điều kiện thực tế, các hỗ trợ không hợp vớinguyện vọng của người nghèo, gây lãng phí về tài chính Có thể nhận thấy rằng việctiếp cận từ trên xuống tạo nên tâm lý ỷ lại của người dân, gây ra sự thiếu tráchnhiệm của cộng đồng với các hỗ trợ và kết quả hoạt động Do đó, cần có sự thamgia của cộng đồng vào xây dựng chính sách, đóng góp thực hiện thì sẽ nâng caođược tinh thần trách nhiệm từ cộng đồng

b, Năng lực cán bộ địa phương

Năng lực cán bộ quản lý của các cấp ở địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở cũng

là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sự tham gia của các thành viên cộng

Trang 32

đồng vào các hoạt động giảm nghèo Cán bộ quản lý ở địa phương không chỉ làngười điều hành, chỉ đạo mà còn là người bạn, người đồng hành trong thực hiện cáchoạt động giảm nghèo cùng với các thành viên trong cộng đồng Một cán bộ cơ sở

có năng lực tốt không chỉ có trình độ học vấn cao, năng lực quản lý tốt mà còn phảigần gũi và am hiểu về cuộc sống của người dân, được lòng dân thì việc điều hành,chỉ đạo mới đem lại hiệu quả cao; một cán bộ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đó mớigọi là một cán bộ có năng lực tốt

Ở đâu năng lực của cán bộ tốt thì cán bộ sẽ có khả năng thực thi các chínhsách, giải pháp mà từ trên giao xuống và cán bộ ý thức được tầm quan trọng của sựhuy động cộng đồng tham gia các hoạt động thì ở đó vai trò của cộng đồng được tôntrọng, họ có cơ hội tham gia nhiều hơn vào các hoạt động phát triển Cán bộ quản lý

có năng lực, nhận thức cao cũng có thể điều hành tốt, sử dụng hiệu quả nguồn nhân,vật lực để các hoạt động giảm nghèo có được hiệu quả cao hơn

c, Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tốngoại cảnh tác động mạnh mẽ tới hiệu quả giảm nghèo, bởi nó ảnh hưởng trực tiếptới hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp hay các sảnphẩm từ thủ công nghiệp

Trong các hoạt động sản xuất kinh doanh để phát triển KT, sản xuất nôngnghiệp là hoạt động sinh kế chủ yếu của các hộ nông dân trong cộng đồng dân tộcthiểu số, các hoạt động ấy phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như thời tiết, khíhậu, thiên tai dịch bệnh và nguồn tài nguyên như khoáng sản, độ màu mỡ của đất

Do đó nơi có điều kiện tự nhiên tốt, khí hậu ôn hòa, ít gặp thiên tai và có nguồn tàinguyên phong phú thì cộng đồng địa phương đó có điều kiện tốt hơn để sản xuất;nhờ sự ủng hộ của thời tiết, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên, từ đó tăng thu nhập

và nâng cao đời sống, góp phần giảm nghèo Ngược lại điều kiện tự nhiên khôngthuận lợi, tài nguyên đất hạn chế, thiên tai lũ bão nhiều dẫn tới dịch bệnh cây trồng

và vật nuôi thì có cố gắng cũng mang tính chất đánh bạc với thiên nhiên; và sự nỗlực của các cộng đồng phần nào bị hạn chế Sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên

và nghèo nàn về tài nguyên là một trong những lý do khiến cho người dân không

Trang 33

thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói hay có thể quay lại với nghèo đóitrong chốc lát.

d, Điều kiện kinh tế - xã hội - môi trường

Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương chi phối mạnh đến các vấn đề pháttriển cộng đồng như: điều kiện cơ sở hạ tầng, các dịch vụ công, các hoạt động phátđộng nhằm phát triển kinh tế xã hội dành cho cộng đồng để giảm nghèo Điều kiệnkinh tế của địa phương cũng chi phối khả năng hỗ trợ người nghèo và tổ chức cáchoạt động phát triển để giảm nghèo Nỗ lực để giảm nghèo cần có các điều kiện:điện, đường, trường, trạm; phục vụ sản xuất, giao lưu buôn bán và có các hoạt độngphát triển KT – VHXH Trong nỗ lực giảm nghèo, dựa vào sức mạnh cộng đồng làcần thiết nhưng cũng cần chú ý tới điều kiện kinh tế địa phương có thể đảm bảo đếnđâu, để có CS hỗ trợ phù hợp, có thể hỗ trợ xây dựng CSHT cơ bản trước cho địaphương cũng như môi trường của địa phương có tạo điều kiện cho các hoạt độnggiảm nghèo diễn ra hay không Các hoạt động xã hội từ các tổ chức diễn ra như thếnào và môi trường cho các hoạt động đó tốt hay xấu sẽ tác động tới sự tham gia củacộng đồng trong các hoạt động giảm nghèo

e, Các hỗ trợ bên ngoài

Trong giảm nghèo hỗ trợ từ nhiều tổ chức khác nhau bổ sung cho vai trò củaChính phủ, bao gồm các tổ chức viện trợ nước ngoài và một số tổ chức khác gọichung là nguồn lực hỗ trợ bên ngoài; hỗ trợ từ các tổ chức bên ngoài có thể bằngtiền và hiện vật

Theo Đỗ Kim Chung, 2005: người nghèo thường cần lượng tiền lớn để đápứng nhiều mục tiêu khác nhau cho đời sống của họ Vậy, làm thế nào để hầu hếtngười nghèo có được lượng tiền lớn đáp ứng nhu cầu của họ? Người nghèo có được

số tiền lớn đó bằng một trong ba cách sau: một là, bán tài sản họ đã có (đất, tài sảntrong nhà…); hai là, vay tiền bằng cách thế chấp, cầm cố các tài sản đó; ba là, tiếtkiệm tích góp, chuyển các khoản tiết kiệm nhỏ thành khoản tiết kiệm lớn

Thực ra, ba cách trên chỉ là sự trao đổi nguồn lực này lấy nguồn lực khác màkhông phải là việc tạo ra nguồn lực, vấn đề nguồn lực và đặc biệt là nguồn vốn đốivới người nghèo là một vấn đề nan giải Trong khi các nguồn lực của bản thân cộng

Trang 34

đồng còn hạn chế, các nguồn lực hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài cộngđồng trở nên thực sự cần thiết đối với việc thực hiện các hoạt động giảm nghèo

Các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng có những ảnh hưởng rất quantrọng đến sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động giảm nghèo, tuy nhiên tácđộng của nó như một “con dao hai lưỡi” nó có thể thúc đẩy hay cản trở sự tham giacủa thành viên cộng đồng; điều này phụ thuộc vào cách thức thực hiện của các tổchức cũng như nhận thức của các thành viên cộng đồng Hiện nay, những nơi có tỷ

lệ người nghèo cao như khu vực miền núi phía Bắc đã nhận được sự quan tâm đầu

tư hỗ trợ giảm nghèo của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, các tổ chứcphi chính phủ như: Oxfarm, CARE International,…Phương thức triển khai các hoạtđộng giảm nghèo của các tổ chức này triệt để áp dụng nguyên tắc từ dưới lên, phâncấp, trao quyền cho cộng đồng tổ chức thực hiện Vì vậy phát huy được sự tham giacủa cộng đồng dân tộc vào các hoạt động giảm nghèo Ngoài ra còn có sự hỗ trợ từmột số tổ chức doanh nhân, các ngân hàng và hiệp hội bằng hoạt đồng cho vay hayđầu tư phát triển sản xuất và hỗ trợ trực tiếp bằng quyên góp vật chất từ các tổ chứcquần chúng (bao gồm tổ chức đại diện cho nông dân, phụ nữ, thanh niên và cựuchiến binh từ các khu vực có điều kiện kinh tế phát triển trên cả nước)

2.2 Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo

2.2.1 Kinh nghiệm về huy động sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo

2.2.1.1 Kinh nghiệm của nước ngoài

Kinh nghiệm từ Hàn Quốc

Vào những năm 1960 là giai đoạn đói và nghèo, người dân tuyệt vọng vềtương lai, phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của bên ngoài Năm 1967 tỷ lệ đói nghèocủa Hàn Quốc là 34%, GDP/đầu người là 85 USD, nền kinh tế chủ yếu dựa vàonông nghiệp, hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra, sản lượng nông sản rất thấp Nỗi

lo lớn nhất của Chính phủ là làm sao thoát khỏi đói nghèo Tổng thống Park ChungHee đã tìm ra cách PTKT vùng nông thôn, ông nhận ra rằng sự trợ giúp của Chínhphủ cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu người dân không tự giúp chính mình, hơn nữa

Trang 35

khuyến khích nội lực trong cộng đồng nông thôn và mở rộng hợp tác là chìa khóaphát triển nông thôn, ý tưởng này là nền tảng của phong trào Saemaul Undong đượcbắt đầu từ các cộng đồng nông thôn và lan rộng trên toàn quốc Quan điểm của HànQuốc là: Chính phủ đầu tư hạ tầng, nông dân tự mình đứng lên, sản xuất, chế biếntại chỗ, nông dân được là người chủ đích thực, áp dụng miễn thuế xăng dầu, máymóc nông nghiệp, giảm lãi suât, giá điện cho chế biến nông sản Mỗi làng đều phải

có doanh nghiệp gắn đầu vào và đầu ra cho nông sản phẩm, Hàn Quốc đã đạt đượcthành tựu rất tốt trong phát triển KT nông nghiệp gắn với cộng đồng, trao quyền vàgiúp cộng đồng tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo

Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Trong gần 10 năm qua không ngừng hoàn thiện hệ thống chiến lược vàchính sách xóa nghèo cấp quốc gia, cơ bản họ đã giải quyết tình trạng đói nghèo ởcác huyện trọng điểm Có được những thành quả như vậy là do Trung Quốc cóchính sách XĐGN tối ưu mà trong đó người dân tham gia nhiệt tình vào quá trìnhthực hiện Như trong chính sách đưa khoa học công nghệ vào XĐGN của TrungQuốc đã rất thành công, điểm cơ bản của chính sách là:

- Trong bước điều tra, xây dựng quy hoạch tổng thể: cử các đoàn chuyên giaxuống địa bàn cùng với người dân địa phương điều tra cơ bản (điều kiện tự nhiên,kinh tế, xã hội,…) Chính sự tham gia của người dân đã giúp đoàn chuyên gia nắmbắt được thế mạnh cũng như những khó khăn mà địa phương gặp phải

- Các cơ quan nghiên cứu và các tập thể khoa học được cử tới địa phươngcùng với nhân dân khảo sát sâu và đề xuất các dự án cụ thể phù hợp với điều kiệnthực tế của địa phương để trình lên Bộ KH & CN xem xét và chọn lựa

- Trong bước thực hiện đưa khoa học công nghệ vào phục vụ đời sống đãđược sự tham gia nhiệt tình của cộng đồng nói chung, đặc biệt là người nghèo

Tóm lại ở nhiều quốc gia, nội dung sự tham gia của người dân rất được chú

trọng, các mô hình này được ứng dụng rất nhiều vào XĐGN, vượt qua khủnghoảng Kết quả đã cho thấy, sự nỗ lực của cộng đồng là yếu tố đủ để các chính sách

hỗ trợ từ chính phủ đạt được thành công cao nhất Bài học lớn về sự phát triển nàycho thấy, cộng đồng mang lại một nguồn nhân lực, vật lực lớn góp phần thành công

Trang 36

cho các CT, DA; bên cạnh đó cộng đồng cũng là đối tượng nhắm đến về lợi ích củachính sách, sự tham gia của cộng đồng là rất cần thiết.

2.2.1.2 Kinh nghiệm trong nước

Giảm nghèo bền vững là mục tiêu quan trọng trong công cuộc phát triển hiệnnay của nước ta, tuy nhiên để đạt được mục tiêu ấy là không dễ dàng, cần có sựphối hợp sức lực của toàn Đảng, toàn dân Có rất nhiều lý do khiến cho ngườinghèo khó thoát ra cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, vì vậy người nghèo cần đượcgiúp đỡ và quan tâm Sự CS hướng về người nghèo cũng đã có những thay dổi lớn

về tư duy và cách làm, các hoạt động phát triển đã dựa vào sức mạnh của cộngđồng Sau các CT, DA như: 134, 135, 167, 30a và các hoạt động phát triển để giảmnghèo khác nhiều bài học kinh nghiệm đã được rút ra

Kinh nghiệm rút ra từ tỉnh Yên Bái

Tỉnh Yên Bái là một tỉnh giáp với tỉnh Lào Cai, với những nét đặc trưng về đấtđai, khí hậu, thời tiết tương đối giống nhau Là một tỉnh nghèo, kinh tế chậm pháttriển, trình độ dân trí thấp và không đồng đều, tỷ lệ tăng dân số cao và cơ sở hạ tầngcòn yếu kém Trong những năm qua tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Yên Bái đã lãnhđạo chỉ đạo các ngành các cấp cùng toàn thể nhân dân vượt qua những khó khăn thửthách và dành được những thắng lợi tương đối toàn diện trên nhiều mặt, tốc độ tăngtrưởng tương đối đều, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúng hướng, thực hiện chínhsách xã hội, an ninh chính trị được giữ vững, đời sống nhân dân được ổn định và cảithiện Một trong những giải pháp trọng tâm địa phương áp dụng là phát huy vai tròcủa ban chỉ đạo XĐGN và huy động các nguồn lực xã hội để tập trung giải quyếtvấn đề nghèo đói Năm 2009, Yên Bái đã huy động được trên 1.380 tỷ đồng chocông tác giảm nghèo - đạt 109% kế hoạch năm Từ năm 2010 đến cuối năm 2012nhiều đề án, dự án được triển khai hiệu quả, nổi bật là: đã giải quyết việc làm mớicho trên 17.500 người, tuyển mới đào tạo nghề 9.320 người, mạng lưới cơ sở dạynghề của tỉnh đã phủ khắp các huyện và bước đầu đem lại những kết quả hoạt độngtích cực Huy động được trên 1,77 tỷ đồng cho Quỹ đền ơn đáp nghĩa từ đó làm mới

57 và sửa chữa 35 nhà tình nghĩa Kết quả này đã tác động tích cực đến công tácXĐGN và đưa tỷ lệ hộ nghèo hiện xuống còn 15,74%

Trang 37

Kinh nghiệm rút ra từ tỉnh Nghệ An

Tại Nghệ An những chương trình 134, 135, 30a mang lại hiệu quả không cao

do không huy động được sự tham gia của người dân trong việc thực hiện nhữngchương trình này Vì vậy, dự án "Tăng cường tiếng nói và sự tham gia của ngườidân tộc thiểu số trong xóa đói giảm nghèo" được triển khai sẽ khắc phục những hạnchế đó Mục tiêu của dự án là nhằm góp phần XĐGN cho đồng bào các dân tộcthiểu số trên địa bàn tỉnh, nâng cao vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số trong việcđưa ra các quyết định có ảnh hưởng đến sinh kế của họ; nâng cao năng lực cho các

cơ quan đại diện quyền lợi của đồng bào Đối tượng trực tiếp của dự án là 500 cán

bộ và đại biểu HĐND cấp xã, huyện, tỉnh và 45.000 người dân tộc thiểu số tại 12 xãcủa 2 huyện được thụ hưởng dự án là Nghĩa Đàn và Quế Phong Dự án áp dụngphương pháp tiếp cận để giúp đồng bào dân tộc thiểu số được tham gia vào quátrình đưa ra các quyết định về XĐGN Thông qua các lớp tập huấn tạo sự tự tin chochính đồng bào, giúp họ phân tích và sắp xếp theo thứ tự các vấn đề mà họ quantâm và đưa ra các chính kiến, quan điểm, quyết định liên quan tới CT 135, 30a tạiđịa phương Đồng thời, hỗ trợ thiết lập mạng lưới các tổ chức cộng đồng và cácnhóm sở thích khác để đồng bào dân tộc thiểu sô có thể chia sẻ kinh nghiệm, tổchức các hoạt động phát triển KT dựa trên mối quan tâm và lựa chọn của họ

Như vậy, các chương trình XĐGN thành công có sự đóng góp không nhỏ từcộng đồng các dân tộc bằng ngày công, nguyên vật liệu Muốn nâng cao sự thamgia của cộng đồng các dân tộc cần tổ chức các lớp tập huấn, tạo sự tự tin cho chínhngười dân, giúp họ sắp xếp các vấn đề mà họ quan tâm và đưa ra chính kiến củamình; đồng thời phải tăng cường sự đoàn kết trong cộng đồng để họ có thể giúp đỡnhau, chia sẻ kinh nghiệm trong XĐGN

2.2.2 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: giảm nghèo bền

vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 –

2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trướchết là khu vực miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ,

Trang 38

toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị - nôngthôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư

Pháp lệnh dân chủ cơ sở: Pháp lệnh này quy định những nội dung phải công

khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhândân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhândân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, củacán bộ thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, khu phố, khối phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân

có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã

Các chương trình, dự án, chính sách về giảm nghèo:

- Chương trình 30a

Chương trình 30a là chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đốivới 62 huyện nghèo Đây là một chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Chínhphủ Việt Nam nhằm tạo ra sự chuyển biến nhanh về đời sống vật chất và tinh thầncho các hộ nghèo, người các dân tộc thiểu số ở 62 huyện nghèo trong cả nước.Một trong những nguyên tắc để thực hiện chương trình này đó là cần huy động

sự tham gia của cộng đồng các dân tộc và phát huy nội lực của các hộ nghèo trongphát triển VHXH trong các chương trình giảm nghèo

2.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan

Có nhiều các công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề hình thành và pháttriển cộng đồng, phát triển KT – VHXH dựa vào sức mạnh cộng đồng Các côngtrình nghiên cứu này rất đa dạng về khái niệm, cách tiếp cận và giải pháp thực hiện.Tuy nhiên, với mỗi khu vực, mỗi cộng đồng dân tộc khác nhau với những đặc trưngriêng của cộng đồng đó thì lại có cách tiếp cận và giải pháp khác nhau

Trang 39

Đề tài “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng các dân tộc về hoạt động phát triển kinh tế trong các chương trình giảm nghèo: trường hợp nghiên cứu tại Xín Mần (Hà Giang) và Đà Bắc (Hòa Bình)” của Lưu Thị Tho, Luận văn Thạc sĩ kinh

tế, 2012 Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng các

dân tộc trong các hoạt động phát triển kinh tế trong giảm nghèo; xác định các nhân

tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng và đề xuất một số giải pháp nhằm pháthuy vai trò của cộng đồng các dân tộc tham gia vào phát triển KT để giảm nghèo ápdụng cho 2 huyện Xín Mần và Đà Bắc Tuy nhiên đề tài không nghiên cứu tới cáchoạt động phát triển VHXH để giảm nghèo, chưa nghiên cứu trên tổng thể các hoạtđộng giảm nghèo

Đề tài “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng các dân tộc về các hoạt động phát triển văn hóa- xã hội trong các chương trình giảm nghèo: trường hợp nghiên cứu tại Xín Mần (Hà Giang) và Sơn Động (Bắc Giang)” của Nguyễn Xuân

Nghiêm, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, 2012 Hệ thống hóa về cơ sở lý luận và thực tiễn

về sự tham gia của cộng đồng các dân tộc trong các hoạt động phát triển văn hóa –

xã hội trong giảm nghèo; xác định các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộngđồng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của cộng đồng các dân tộctham gia vào các hoạt động phát triển VHXH để giảm nghèo áp dụng cho huyệnXín Mần và huyện Sơn Động Tuy nhiên đề tài chưa nghiên cứu về các hoạt độngphát triển KTđể giảm nghèo

Trang 40

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn xã Mản Thẩn

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình

a, Vị trí địa lý

Xã Mản Thẩn có tổng diện tích đất tự nhiên 1.390 ha

- Phía Bắc giáp hai xã Simacai và Nàn Sán;

- Phía Nam giáp hai xã Sín Chéng và Quan Thần Sán;

- Phía Tây giáp Bản Mế;

- Phía Đông giáp xã Cán Hồ

Trên địa bàn xã không có các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua Đây là một trongcác yếu tố không thuận lợi cho quá trình giao lưu phát triển KT- XH, cản trở sựtham gia của các thành viên trong xã vào các hoạt động giao lưu, buôn bán với các

xã xung quanh

b, Địa hình

Xã Mản Thẩn thuộc vùng đồi núi phân tầng cao từ 900 - 1.500 m, địa hình có

độ dốc lớn trên 25% chiếm tỷ lệ cao, được tạo bởi nhiều dãy núi chạy theo hướngĐông Bắc – Tây Nam và thấp dần về phía Bắc, mức độ chia cắt mạnh xen kẽ nhữngdải núi cao là các thung lũng sâu và nhỏ, nhiều nơi tạo thành vách đứng cộng với độche phủ rừng thấp nên trong mùa mưa rất dễ xảy ra quá trình rửa trôi, bào mòn tầngđất mặt và sạt nở diễn ra khá phổ biến Khó khăn về địa hình đồi núi và giao thôngyếu kém do chưa có hệ thống các tỉnh lộ chạy qua hạn chế sự tham gia của cộngđồng trong các hoạt động giao lưu, buôn bán và trao đổi kinh nghiệm, cản trở sựtham gia vào các hoạt động phát triển

3.1.1.2 Khí hậu, thủy văn

Ngày đăng: 28/12/2019, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w