1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiệu quả can thiệp giáo dục sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi dân tộc sán dìu mắc bệnh quanh răng tại xã nam hòa huyện đồng hỷ thái nguyên

201 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 6,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức - thái độ - thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng của đối tượng nghiên cứu .... Thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng

Trang 1

NÔNG PHƯƠNG MAI

HIỆU QUẢ CAN THIỆP GIÁO DỤC SỨC KHỎE

RĂNG MIỆNG CHO NGƯỜI CAO TUỔI DÂN TỘC SÁN DÌU

MẮC BỆNH QUANH RĂNG TẠI XÃ NAM HÒA

HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NÔNG PHƯƠNG MAI

HIỆU QUẢ CAN THIỆP GIÁO DỤC SỨC KHỎE

RĂNG MIỆNG CHO NGƯỜI CAO TUỔI DÂN TỘC SÁN DÌU

MẮC BỆNH QUANH RĂNG TẠI XÃ NAM HÒA

HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và Tổ chức Y tế

Mã số: 62 72 01 64 Chuyên ngành chuyển đổi: Y tế công cộng

Mã số: 9.72.07.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS TS Hoàng Khải Lập

2 TS Hoàng Tiến Công

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Nông Phương Mai

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng và cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các Phòng, Bộ môn và các Thầy giáo, Cô giáo, cán bộ Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên đã trang bị cho tôi kiến thức, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS.TS.Hoàng Khải Lập – Bộ môn Dịch tễ; TS Hoàng Tiến Công – Trưởng Khoa Răng Hàm Mặt Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên, là những người Thầy đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và định hướng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các cán bộ và nhân viên Khoa Điều Dưỡng, Ban Giám hiệu Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu đề tài Luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo xã Nam Hòa, Lãnh đạo và tập thể Trạm Y tế xã cùng đội ngũ Y tế thôn bản, hội Người cao tuổi xã Nam Hòa đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu hoàn thành Luận án, tôi đã nhận được sự động viên, chia sẻ, giúp đỡ của gia đình, anh, chị, em, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân Tôi xin phép được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Nông Phương Mai

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Khái niệm người cao tuổi và thực trạng người cao tuổi 3

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi 3

1.1.2 Tình hình người cao tuổi trên thế giới 3

1.1.3 Tình hình người cao tuổi tại Việt Nam 5

1.2 Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ bệnh quanh răng ở người cao tuổi 6

1.2.1 Một số đặc điểm vùng quanh răng ở người cao tuổi 6

1.2.2 Một số yếu tố nguy cơ gây bệnh quanh răng ở người cao tuổi 8

1.3 Một số nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên thế giới và Việt Nam 9

1.3.1 Một số nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên thế giới 9

1.3.2 Một số nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi tại Việt Nam 13 1.4 Các nghiên cứu về giải pháp dự phòng bệnh quanh răng 14

1.4.1 Dự phòng bệnh quanh răng cho người cao tuổi bằng phương pháp giáo dục sức khoẻ răng miệng 14

1.4.2 Một số nghiên cứu về giáo dục sức khoẻ răng miệng cho người cao tuổi 19

1.4.3 Tình hình nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc sức khoẻ răng miệng ở người cao tuổi. 23

1.5 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu 30

1.5.1 Một số đặc điểm địa lý và xã hội của địa bàn nghiên cứu 30

1.5.2 Một số đặc điểm về kinh tế, văn hóa và phong tục tập quán của người dân tộc Sán Dìu 34

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Đối tượng nghiên cứu 38

2.1.1 Đối tượng cho nghiên cứu mô tả 38

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 38

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu can thiệp 38

2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ 38

Trang 6

2.2 Địa điểm nghiên cứu 39

2.3 Thời gian nghiên cứu 39

2.4 Phương pháp nghiên cứu 39

2.4.1 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu 39

2.4.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 39

2.5 Các biến số nghiên cứu 42

2.5.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu cho mục tiêu 1 42

2.5.2 Các biến số, chỉ số nghiên cứu cho mục tiêu 2 42

2.6 Tiêu chuẩn và cách đánh giá 44

2.6.1 Đánh giá tình trạng vùng quanh răng 44

2.6.2 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức - thái độ - thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng của đối tượng nghiên cứu 49

2.6.3 Cách đánh giá chỉ số hiệu quả và hiệu quả can thiệp 51

2.7 Nội dung và phương pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng và các bước tiến hành nghiên cứu 52

2.7.1 Nội dung can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng 52

2.7.2.Phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe 53

2.7.3 Các bước tiến hành nghiên cứu 54

2.8 Công cụ thu thập số liệu 59

2.8.1 Phương tiện khám lâm sàng và can thiệp kỹ thuật 59

2.8.2 Phương tiện khác 60

2.9 Sai số và biện pháp khống chế sai số 60

2.9.1 Sai số 60

2.9.2 Biện pháp khắc phục 60

2.10 Phương pháp xử lý số liệu 61

2.10.1 Số liệu định lượng 61

2.10.2 Số liệu định tính 61

2.11 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 62

2.12 Hạn chế trong nghiên cứu 63

2.13 Sơ đồ tổng hợp quá trình nghiên cứu 64

Trang 7

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65 3.1.Thực trạng bệnh quanh răng và kiến thức - thái độ - thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng của người cao tuổi dân tộc Sán Dìu năm 2015 65 3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 65 3.1.2 Thực trạng bệnh quanh răng của người cao tuổi dân tộc Sán Dìu tại địa bàn nghiên cứu 66 3.1.3 Thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng đối tượng nghiên cứu 69 3.2 Đánh giá hiệu quả can thiệp giáo dục sức khoẻrăng miệng cho người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu 79 3.2.1 Hiệu quả can thiệp đến kiến thức - thái độ - thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng và bệnh quanh răng củađối tượng nghiên cứu 79 3.2.2 Hiệu quả can thiệp bằng giáo dục sức khỏe đến bệnh quanh răng cho cho người cao tuổi dân tộc Sán Dìu tại địa bàn nghiên cứu 89

Chương 4: BÀN LUẬN 96 4.1 Thực trạng bệnh quanh răng và kiến thức - thái độ - thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng của người cao tuổi dân tộc Sán Dìu tại địa bàn nghiên cứu năm 2015 96 4.1.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 96 4.1.2 Thực trạng bệnh quanh răng của người cao tuổi dân tộc Sán Dìu tại địa bàn nghiên cứu 97 4.1.3 Thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng của đối tượng nghiên cứu 101 4.2 Đánh giá hiệu quả can thiệp của truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệngcho người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu 113 4.2.1 Hiệu quả can thiệp của truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng

về kiến thức - thái độ - thực hànhcủa người cao tuổi 114 4.2.2 Hiệu quả can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng đến bệnh quanh răng của đối tượng nghiên cứu 118

KẾT LUẬN 123

KHUYẾN NGHỊ 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

HQCT Hiệu quả can thiệp

ISAA Hiệp hội An sinh Xã hội Quốc tế

NCT Người cao tuổi

OHI - S Simplyfied oral Hygiene index/Chỉ số vệ sinh răng miệng

SD Standard Deviation/Độ lệch chuẩn

SKRM Sức khỏe răng miệng

TT Truyền thông

VSRM Vệ sinh răng miệng

WHO World Health Organization/Tổ chức Y tế thế giới

X Giá trị trung bình

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1.Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009 và Dự báo Dânsố

đến năm 2049 5 Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 65 Bảng 3.2 Chỉ số lợi (GI) của các đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 66 Bảng 3.3 Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI - S) của các đối tượng

nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 66 Bảng 3.4 Chỉ số tình trạng quanh răng (CPI) của các đối tượng nghiên cứu

theo nhóm tuổi và giới 67 Bảng 3.5 Số trung bình vùng lục phân theo CPI của đối tượng nghiên cứu

theo nhóm tuổi và giới 68 Bảng 3.6 Thực trạng kiến thức chung về sức khỏe răng miệng của đối tượng

nghiên cứu 69 Bảng 3.7 Thực trạng kiến thức về vệ sinh răng miệng của đối tượng

nghiên cứu 70 Bảng 3.8 Thực trạng kiến thức về mối liên quan giữa sức khỏe răng miệng

với sức khỏe toàn thân của đối tượng nghiên cứu 70 Bảng 3.9 Mức độ kiến thức về chăm sóc sức khỏe răng miệng theo nhóm tuổi

và theo giới 71 Bảng 3.10.Thực trạng thái độ về chăm sóc - vệ sinh răng miệng của đối tượng

nghiên cứu 71 Bảng 3.11 Thực trạng thái độ về xử lý các vần đề răng miệng của đối tượng

nghiên cứu 72 Bảng 3.12 Thực trạng thái độ về việc tiếp nhận kiến thức chăm sóc sức khỏe

răng miệng của đối tượng nghiên cứu 73

Trang 10

Bảng 3.13 Mức độ thái độ của người cao tuổi về chăm sóc sức khỏe răng

miệng theo nhóm tuổi và theo giới 74 Bảng 3.14 Thực trạng thực hành các nội dung chăm sóc sức khỏe răng miệng

của đối tượng nghiên cứu 75 Bảng 3.15 Mức độ thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng của người cao

tuổi theo nhóm tuổi và giới 77 Bảng 3.16 Thông tin cơ bản về đối tượng nghiên cứu theo nhóm 79 Bảng 3.17 Tỉ lệ trả lời sai kiến thức chung về sức khỏe răng miệng của đối tượng

nghiên cứu theo nhóm trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe 80 Bảng 3.18.Giá trị trung bình về thái độ của nhóm nghiên cứu trước và sau can

thiệp giáo dục sức khỏe 85 Bảng 3.19 Thực trạng thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng củađối tượng

nghiên cứu theo nhóm trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe 85 Bảng 3.20 Hiệu quả can thiệp đối với chỉ số lợi (GI) ở mức độ kém của

người cao tuổi trước và sau can thiệp của hai nhóm 89 Bảng 3.21 Hiệu quả can thiệp đối với chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI -

S) của người cao tuổi trước và sau can thiệp của hai nhóm 90 Bảng 3.22 Hiệu quả can thiệp đối với chỉ số vệ sinh răng miệng (OHI - S) ở mức

độ kém của người cao tuổi trước và sau can thiệp của hai nhóm 91 Bảng 3.23 Tỷ lệ tình trạng quanh răng (CPI) theo nhóm nghiên cứu trước và

sau can thiệp 91 Bảng 3.24 Hiệu quả can thiệp đối với chỉ số CPI 3 (Túi lợi 4 – 5mm) của

người cao tuổi trước và sau can thiệp của hai nhóm 92 Bảng 3.25 Số trung bình vùng lục phân theo CPI theo nhóm nghiên cứu trước

và sau can thiệp 93

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Mức độ kiến thức về chăm sóc sức khỏe răng miệng củađối

tượng nghiên cứu theo nhóm trước và sau can thiệp 83 Biểu đồ 3.2 Mức độ thái độ về chăm sóc sức khỏe răng miệng của đối tượng

nghiên cứu theo nhóm trước và sau can thiệp 84 Biểu đồ 3.3 Mức độ thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng củađối

tượng nghiên cứu theo nhóm trước và sau can thiệp 88

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính xã Nam Hòa 33 Hình 2.2 Ghế và thiết bị nha khoa di động 59 Hình 2.3.Cây thăm dò quanh răng của WHO 60

Trang 13

DANH MỤC HỘP

Hộp 3.1 Kết quả thảo luận nhóm của người cao tuổi về việc tiếp nhậnkiến

thức chăm sóc sức khỏe răng miệng trước can thiệp 74 Hộp 3.2 Kết quả thảo luận nhóm nhân viên y tế xã về thái độ tiếp nhận kiến thức

chăm sóc sức khỏe răng miệng của người cao tuổi trước can thiệp 75 Hộp 3.3 Kết quả thảo luận nhóm của người cao tuổi về kiến thức, thực hành

chăm sóc sức khỏe răng miệng 78 Hộp 3.4 Kết quả thảo luận nhóm của người cao tuổi sau can thiệp về hiệu quả

truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng 94 Hộp 3.5 Kết quả thảo luận nhóm cán bộ y tế cơ sở sau can thiệp về hiệu quả

truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng 94 Hộp 3.6 Kết quả phỏng vấn sâu lãnh đạo xã, trạm y tế sau can thiệp về hiệu

quả truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng 95

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Già hóa dân số đang trở thành một vấn đề nổi bật của toàn thế giới trong thế kỷ thứ 21 Hiện nay, trên thế giới có khoảng 700 triệu người cao tuổi và sẽ tăng lên 1 tỷ vào năm 2020 Dự báo đến năm 2050, người cao tuổi

sẽ chiếm hơn 20% dân số thế giới [114] Ở Việt Nam theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê, số người từ 60 tuổi trở lên là hơn 9 triệu người, chiếm tỷ

lệ 10,2%, dự báo tỷ lệ này sẽ tăng lên 20,7% vào năm 2040 và 24,8% vào năm 2049 [4]

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống và tuổi thọ của người cao tuổi, trong đó sức khỏe răng miệng có vai trò vô cùng quan trọng Tổ chức Y tế Thế giới đã đề ra chiến lược chăm sóc sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi giai đoạn hiện nay với mục tiêu là hạn chế số răng mất của người cao tuổi Để đạt được mục tiêu này thì việc kiểm soát các bệnh răng miệng, đặc biệt là bệnh lý vùng quanh răng của người cao tuổi là đặc biệt quan trọng Bệnh quanh răng là một bệnh mãn tính ảnh hưởng đến một hoặc nhiều thành phần của tổ chức quanh răng và là gánh nặng ngày càng tăng đối với con người, hệ thống chăm sóc sức khỏe và xã hội trên toàn thế giới [111] Bệnh quanh răng là quá trình viêm xảy ra ở các mô xung quanh răng khi có sự tích tụ của vi khuẩn (hay gọi là mảng bám răng) gây viêm lợi kèm theo mất mô liên kết và xương ổ răng [59] Đây là nguyên nhân chính của mất răng và được coi

là một trong hai mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe răng miệng [47]

Người cao tuổi nếu được kiểm soát bệnh quanh răng định kỳ, được giáo dục sức khỏe răng miệng thường xuyên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao sức khỏe răng miệng, ngăn ngừa những hậu quả không mong muốn, giữ lại được số răng tự nhiên góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe toàn thân, nâng cao chất lượng cuộc sống [116] Ở Việt Nam thời gian gần đây đã có một

số tác giả nghiên cứu thực trạng bệnh răng miệng cũng như nhu cầu điều trị

Trang 15

bệnh răng miệng của người cao tuổi nhưng chủ yếu tập trung ở một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ

lệ người cao tuổi mắc bệnh quanh răng ở các thành phố này rất cao chiếm khoảng 95% [6], [18], [26]

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ với dân số ước tính khoảng 1,16 triệu người trong đó có số lượng khoảng 126.244 người cao tuổi bao gồmnhiều dân tộc khác nhau như Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Mông… [25] Dân tộc sán Dìu là một trong các dân tộc thiểu số sinh sống tập trung nhiều nhất tại xã Nam Hòa huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên Người Sán Dìu với nhận thức kém, kinh tế còn nhiều khó khăn và nhiều phong tục tập quán sinh hoạt lạc hậu [1], [2] Người cao tuổi dân tộc Sán Dìu có thực trạng bệnh quanh răng ra sao, can thiệp bằng giáo dục sức khỏe răng miệng thường xuyên sau điều trị bệnh quanh răng cho người cao tuổi sẽ góp phần cải thiện tình trạng bệnh lý quanh răng ở người cao tuổi dân tộc Sán Dìu như thế nào thì chưa có đề tài nào được nghiên cứu Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài trên với các mục tiêu:

* Mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng bệnh quanh răng và kiến thức - thái độ - thực hành

về chăm sóc răng miệng của người cao tuổi dân tộc Sán Dìu xã Nam Hòa huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên năm 2015

2 Đánh giá hiệu quả can thiệp giáo dục sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi dân tộc Sán Dìu mắc bệnh quanh răng tại xã Nam Hòa huyện Đồng

Hỷ - Thái Nguyên

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm người cao tuổi và thực trạng người cao tuổi

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi

Tổ chức Y tế Thế giới đã quy định người già là những người từ 60 tuổi trở lên không phân biệt giới tính Tại Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi quy định trong Luật số 39/2009/QH12 của Quốc hội, người cao tuổi là người đủ trên 60 tuổi trở lên [16]

Dân số già hiện là một vấn đề toàn cầu Những dự án của Liên Hiệp Quốc đã chỉ ra rằng cả các nước phát triển và đang phát triển sẽ phải đối mặt với sự tăng lên đáng kể của tỷ lệ những người cao tuổi (NCT) trong 45 năm tới [114] Do sự phát triển không ngừng của mọi mặt về kinh tế xã hội, đặc biệt

là khoa học y học, chất lượng cuộc sống của NCT cũng không ngừng được cải thiện, điều này làm cho tỷ lệ NCT và tuổi thọ trung bình ngày càng tăng Tuy nhiên, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội và sự

phân bố dân cư ở hầu hết các quốc gia trên thế giới

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó Một trong những xu hướng biến đổi dân số quan trọng của Việt Nam trong thời gian qua và sẽ diễn

ra mạnh mẽ trong thời gian tới chính là già hoá dân số Đây là thành quả của những chính sách kinh tế, xã hội và chăm sóc sức khoẻ nhân dân mà Việt Nam đã và đang thực hiện và ngày càng được cải thiện

1.1.2 Tình hình người cao tuổi trên thế giới

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra cảnh báo cho biết, trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2050 trên quy mô toàn cầu, số NCT sẽ nhiều hơn số trẻ

em dưới 14 tuổi Già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển, nơi mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI Tỷ lệ NCT trên toàn thế giới có xu hướng tăng gấp gần 3 lần trong vòng

Trang 17

50 năm Cụ thể, tỷ lệ NCT trên 60 tuổi năm 2000 là 9,9% dân số toàn thế giới, nhưng đến năm 2015 con số này đã tăng lên 12,3% Dự đoán tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng lên 16,5% năm 2030 và lên tới 21,5% dân số thế giới vào năm

2050 Trong đó tỷ lệ NCT có độ tuổi từ 80 tuổi trở lên cũng tăng nhanh từ 1,7% năm 2015 lên 4,5% năm 2050 [84]

Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên Đến năm

2015, số NCT tăng lên đến gần 900 triệu người Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ

400 triệu người vào năm 2030 và đến năm 2050 sẽ tăng lên khoảng 2 tỷ người Có sự khác biệt lớn về tỷ lệ người cao tuổi giữa các vùng trên thế giới

Ví dụ, năm 2015, Châu Phi có 5,4% dân số tuổi từ 60 trở lên, trong khi con số này ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 11,2%, ở Châu Á là 11,6%, Châu Đại dương là 16,5%, Bắc Mỹ là 20,8% và Châu Âu là 23,9% Đến năm

2050, dự báo tỷ trọng người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Châu Phi sẽ tăng lên chiếm 8,9% tổng dân số, so với 24,6% ở Châu Á, 23,3% ở Châu Đại dương, 25% ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe, 28,3% ở Bắc Mỹ và 34,2% ở Châu Âu [80]

Tuổi thọ trung bình của dân số thế giới cũng không ngừng được nâng cao Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, độ tuổi trung bình của dân số thế giới năm 2000 là 66,4 tuổi, nhưng đến năm 2015 độ tuổi trung bình của con người đã tăng lên 71,4 tuổi Trong đó, độ tuổi trung bình của từng vùng cũng có sự khác biệt lớn Cụ thể, năm 2000, độ tuổi trung bình ở Châu Phi là 50,6 tuổi; ở Châu Mỹ là 73,7 tuổi; ở Châu Âu là 72,3 tuổi; ở Đông Nam Á là 63,5 tuổi Nhưng năm 2015, độ tuổi trung bình đã tăng lên là 60 tuổi ở Châu Phi, 76,9 tuổi ở Châu Mỹ, 76,8 tuổi ở Châu Âu và 69 tuổi ở Đông Nam Á [114] Chúng ta thấy rằng, độ tuổi trung bình ở Châu Phi và Đông Nam Á, là những nước đang phát triển, tuy thấp hơn độ tuổi trung bình của dân số thế giới nhưng cũng tăng lên rất nhanh Điều đó thể hiện sự già hóa của dân số đang tăng lên nhanh chóng ở cả những nước phát triển và đang phát triển

Trang 18

Trong một xã hội già hóa, tỷ lệ NCT tăng nhanh là một thách thức lớn đối với hệ thống bảo trợ và an sinh xã hội Quá trình già hóa dân số này sẽ dẫn đến một số tác động như: Tiền trợ cấp hưu trí và thu nhập từ lương hưu sẽ phải chi trả một khoảng thời gian dài của cuộc sống; Chi phíchăm sóc sức khỏe sẽ tăng lên Bên cạnh đó, sự già hóa dân số cũng tạo ra những thách thức

to lớn cho hệ thống Y tế trên toàn thế giới trong việc chăm sóc sức khỏe cho NCT, đảm bảo cung cấp các dịch vụ y tế và các chính sách y tế phù hợp

1.1.3 Tình hình người cao tuổi tại Việt Nam

Trong thời gian qua, dân số Việt Nam đã có những biến động mạnh mẽ

về quy mô và cơ cấu tuổi Tỷ lệ NCT ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong thời gian này là do ba yếu tố quan trọng: tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm

và tuổi thọ tăng lên Ở Việt Nam năm 1979 tổng số người trên 60 tuổi là 3,7 triệu người chiếm 6,96% tổng dân số, năm 2009 số lượng NCT tăng lên 7,7 triệu người chiếm 8,69% tổng dân số Dự đoán con số này tiếp tục tăng lên 16,66% tính đến năm 2029 và 26,1 % vào năm 2049 Trong đó sự gia tăng tỷ lệ dân số ở các độ tuổi theo các cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê (GSO) và

Dự báo dân số của GSO được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.1: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009 và Dự báo Dân

số đến năm 2049 Nhóm

tuổi

1979 (%)

1989 (%)

1999 (%)

2009 (%)

2019 (%)

2029 (%)

2039 (%)

2049 (%)

Trang 19

Bên cạnh đó, tuổi thọ trung bình của dân số Việt Nam năm 2010 là 75,4 tuổi, dự đoán tăng lên 78 tuổi vào năm 2030 và 80,4 tuổi vào năm 2050 [17] Đây là tuổi thọ tương đương hoặc cao hơn những nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia và Inđônêxia [115]

Già hóa dân số là một thành tựu xã hội to lớn của loài người và của các quốc gia trên toàn thế giới Già hóa dân số không phải là một gánh nặng nhưng nó sẽ làm cho gánh nặng kinh tế và xã hội trở nên nghiêm trọng hơn nếu không có những bước chuẩn bị và thực hiện các chiến lược, chính sách thích ứng Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ cao và thời gian chuẩn bị thích ứng không còn nhiều nên cần phải hoạch định những chiến lược, chính sách thực tế, xác đáng để thích ứng với tình hình đó Chính sách, chiến lược cần phải dựa trên các bằng chứng về mối quan hệ qua lại giữa ―dân số già‖ đến tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội [13]

1.2 Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ bệnh quanh răng ở người cao tuổi

1.2.1 Một số đặc điểm vùng quanh răng ở người cao tuổi

Vùng quanh răng lập thành một bộ phận hình thái và chức năng, cùng với răng tạo nên một cơ quan chức năng trong cơ thể, bao gồm toàn bộ tổ chức bao bọc quanh răng: Lợi, dây chằng quanh răng, xương răng và xương ổ răng Bên cạnh đó, vai trò của hệ thống mạch máu nuôi dưỡng cho vùng quanh răng cũng rất quan trọng góp phần tạo nên vùng quanh răng lành mạnh

Vùng quanh răng ở NCT thường có những đặc điểm của quá trình thoái hóa các tổ chức bao bọc quanh răng như Lợi, dây chằng quanh răng, xương răng và xương ổ răng

* Biến đổi ở lợi

Tác động lão hóa lên mô liên kết lợi được đặc trưng bởi những biến đổi thoái triển ở mạch máu và thần kinh Mạch máu ở lợi giảm về số lượng và khả năng thẩm thấu cũng như lắng đọng Hyalin trong các tiểu động mạch Lợi mất dần tính đàn hồi, giai đoạn đầu có vẻ hơi phù nề và bóng láng, giai đoạn sau

Trang 20

lợi bị co và teo lại gây hở chân răng có khi tới 2/3 chiều dài của chân răng Hiện tượng này cần được đánh giá không phải chỉ do nhiều tuổi đơn thuần mà còn phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân như: Vệ sinh răng miệng không tốt, răng mọc lệch, lợi bị chấn thương kéo dài…

* Biến đổi dây chằng quanh răng

Những biến đổi thoái triển ở mạch máu và thần kinh ở dây chằng quanh răng cũng có những thay đổi về mạch máu như ở lợi Vì vậy vai trò làm đệm của mô quanh răng giảm, mật độ tế bào (nguyên bào sợi, tạo cốt bào, hủy cốt bào) và tăng sợi keo, những nguyên bào xơ, thành phần tế bào chính của mô dây chằng quanh răng có xu hướng hoà vào nhau để sinh ra những tế bào đa nhân Tỉ lệ đổi mới của mô liên kết chậm lại dẫn tới khả năng liền sẹo kém Dây chằng có thể thoái triển coi như mất xơ, xương răng lan vào xương ổ răng làm cho chân răng người già gần như dính vào xương

* Biến đổi ở xương ổ răng

Xương ổ răng cũng như xương hàm có hiện tượng mạch máu ít đi, chuyển hóa cơ bản thấp, gần như không có sự bồi đắp xương mới, tế bào xương giảm về số lượng và hoạt động Ở mặt ngoài răng cửa và răng hàm nhỏ hàm dưới xương ở răng xốp hơn so với phần xương ổ răng ở mặt lưỡi, trong khi đó ở răng hàm lớn thì ngược lại Lớp xương ở chân răng khi bị hở nếu bị mòn hoặc mất đi sẽ dẫn đến tình trạng tụt lợi Hậu quả của tụt lợi là răng ê buốt, giảm thẩm mỹ, giắt thức ăn ở kẽ răng, mòn chân răng

Khi tổ chức quanh răng bị viêm (gọi là viêm lợi), bao gồm quá trình tổn thương viêm và tổn thương thoái hóa Viêm lợi tùy theo mức độ mà chia ra thành viêm lợi và viêm quanh răng Lợi viêm làm người bệnh khó chịu như: Hôi miệng, chảy máu lợi khi đánh răng hoặc chảy máu lợi tự nhiên Khi lợi viêm ở giai đoạn nặng, tổ chức quanh răng bị phá hủy, sự liên kết chức năng giữa răng và tổ chức quanh răng cũng bị phá hủy làm răng lung lay, ảnh hưởng tới ăn nhai, cuối cùng là mất răng Mất răng cũng ảnh hưởng đến phát

Trang 21

âm, thẩm mỹ, do đó nó cũng ảnh hưởng tới sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

1.2.2 Một số yếu tố nguy cơ gây bệnh quanh răng ở người cao tuổi

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây BQR, những yếu tố nguy cơ này được chia làm 2 nhóm: nhóm yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được và không thể thay đổi được Những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được gây BQR bao gồm tuổi

và giới

Tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được của BQR Tuổi càng nhiều thì càng có nguy cơ mắc BQR với tỷ lệ cao và mức độ BQR cũng nặng hơn Một số nghiên cứu (NC) cho thấy tỷ lệ lưu hành và mức

độ nghiêm trọng của BQR theo tuổi [32], [71], [73] NC của Papapanou và cộng sự (CS) đã chứng minh rằng tỷ lệ tiêu xương trung bình hàng năm ở những đối tượng 70 tuổi là 0,28 mm so với 0,07 ở những người 25 tuổi [90] Mức độ nghiêm trọng gia tăng của BQR và tiêu xương theo tuổi có thể liên quan đến thời gian, trong đó các mô quanh răng đã tiếp xúc với mảng bám răng trong một khoảng thời gian dài [68] Nhiều NC được thực hiện ở một số nước phát triển cho thấy sự thay đổi mô hình tiến triển BQR Những NC này

đã chỉ ra rằng sự phá hủy mô quanh răng và tiêu xương tiến triển hiếm khi được thấy ở những người dưới 40 tuổi [38] Nhiều NC đã cho thấy sự phá hủy

tổ chức quanh răng ở nam giới cao hơn so với nữ giới [79], [82] Lý do dẫn đến sự khác biệt của tình trạng BQR giữa hai giới là không rõ ràng, nhưng sự khác nhau đó được cho là có liên quan đến sự hạn chế về kiến thức cũng thực hành chăm sóc vệ sinh răng miệng ở nam giới [30] Bên cạnh đó, hút thuốc lá

là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây BQR nhưng có thể thay đổi được Nhiều NC đã chứng minh rằng, những có thói quen hút thuốc lá càng lâu thì mức độ BQR càng nặng [66], [109] Hút thuốc lá gây phá hủy đáng kể các tổ chức quanh răng và làm tăng tốc độ tiến triển của BQR [32],[120]

Trang 22

Hút thuốc lá còn làm giảm sức đề kháng của cơ thể con người với vi khuẩn ở mảng bám răng trong quá trình tiến triển BQR [90], [101] Theo thống kê, khoảng 50% các trường hợp mắc BQR ở Mỹ đang hút thuốc lá hoặc

đã hút thuốc lá Theo nhiều NC trước đây cũng chỉ ra hút thuốc lá có mối liên quan với mức độ mất bám dính và hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ cao gây BQR [46], [31], [88]

Ngoài ra, tình trạng vệ sinh răng miệng là một yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được Tình trạng vệ sinh răng miệng không tốt sẽ dẫn đến tỷ lệ cao hơn BQR [31], [56]

Bệnh toàn thân cũng là một yếu tố nguy cơ gây tình trạng mất bám dính Nhiều NC đã chứng minh mối quan hệ giữa đái tháo đường, bệnh tim mạch với BQR [77], [63] Nghiên cứu của tác giả Nazir (2017) đã cho thấy một số các yếu tố nguy cơ như tuổi, hút thuốc lá, vệ sinh răng miệng kém, đái tháo đường, tim mạch, … có liên quan đến bệnh quanh răng Nhiều nghiên cứu đã cho thấy sự liên kết của bệnh quanh răng với các bệnh toàn thân như bệnh tim mạch, đái tháo đường Bệnh quanh răng có khả năng gây tăng 19% nguy cơ mắc bệnh tim mạch, và sự gia tăng nguy cơ tương đối này lên tới 44% giữa các cá nhân từ 65 tuổi trở lên Người bệnh đái tháo đường type 2 với tình trạng bệnh quanh răng nặng có nguy cơ tử vong cao gấp 3,2 lần so với cá nhân khác không có hoặc chỉ mắc bệnh quanh răng nhẹ Điều trị bệnh quanh răng đã được chứng minh là giúp kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 Chiến lược phòng chống bệnh răng miệng nên được kết hợp giữa phòng ngừa các bệnh toàn thân [85], [58]

1.3 Một số nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên thế giới

và Việt Nam

1.3.1 Một số nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên thế giới

Bệnh răng miệng là bệnh phổ biến và có tính toàn cầu Bệnh răng miệng nói chung và BQR nói riêng cho tới nay vẫn rất phổ biến, có xu hướng lan

Trang 23

rộng và tiến triển rất phức tạp Bệnh liên quan đến tuổi, giới, điều kiện kinh tế

xã hội, vùng địa lý

Những NC tổng quan trên thế giới đã tiến hành tổng hợp và phân tích nhiều nghiên cứu tỷ lệ, sự phân bố của BQR, hầu hết sử dụng CPI làm bộ công cụ Trong các NC những năm 1980 đến những năm 1990, tỷ lệ những người ở Châu Âu có điểm CPI ở mức độ 3 (Túi sâu 4 - 5 mm) từ khoảng 13 - 57%, trung bình khoảng 37% (trong đó Đông Âu khoảng 45% và Tây Âu khoảng 36%) Trong khi đó, tỷ lệ những người có điểm CPI ở mức độ 4 (Túi bệnh lý sâu ≥ 6 mm) ở Đông Âu là 23% trong khi tỷ lệ này ở Tây Âu chỉ có 9% (tổng thể ở Châu Âu có khoảng 14% có điểm CPI ở mức độ 4) [102] Một

NC tổng quan khác thực hiện ở Châu Á và Châu Đại Dương cho thấy, tỷ lệ người có điểm CPI ở mức độ 3 từ 8 - 57%, trong khi điểm CPI ở mức độ 4 là từ

5 - 28% (ở Arap Saudi, Hồng Kong, New Zealand, ) Tương tự, theo kết quả

NC tổng quan ở Châu Phi, có khoảng 5 - 50% có điểm CPI ở mức độ 3 và >30%

ở mức độ 4 (ở Kenya, Maroc, Nam Phi ) Bên cạnh đó, một nghiên cứu ở Bắc

Mỹ, có đến 21% có điểm CPI ở mức độ 4 [39]

Theo những NC tổng quan gần đây của WHO cho thấy tỷ lệ những người có điểm CPI mức độ 4 (Túi lợi bệnh lý sâu ≥ 6 mm) từ 5% (ở Hungary, Trung Quốc, Anh quốc, Zimbabwe) đến 21% (ởĐức, Canada) Tỷ lệ những người có điểm CPI ở mức độ 3 (Túi lợi sâu 4 - 5 mm) từ 12% (Ở Trung Quốc) tới khoảng 55% (ở Đức, Anh, Canada) [46]

Năm 2001, Ajwani và CS sử dụng chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng nghiên cứu trên 175 NCT ở Phần Lan cho thấy 7% đối tượng có lợi lành (CPI = 0), 6% tình trạng lợi chảy máu khi thăm khám nhẹ (CPI = 1), 41% có cao răng trên và dưới lợi, 46% có túi lợi sâu, trong đó có 35% có túi lợi sâu 4 - 5mm (CPI = 3) và 11% có túi lợi bệnh lý ≥ 6mm (CPI = 4) [28]

Theo báo cáo thống kê của National Health and Nutrition Examination Survey (NHANES) và nghiên cứu BQR trong cộng đồng dân số trên 30 tuổi ở

Trang 24

Mỹ theo CDC cho thấy những người lớn tuổi, người có giáo dục ít hơn có nhiều khả năng mắc BQR hơn và tỷ lệ bị BQR khác biệt bởi tuổi tác, chủng tộc, giáo dục và thu nhập Một điều tra quốc gia khác tại Mỹ đã sử dụng chỉ

số quanh răng về nhu cầu điều trị cộng đồng (Community Periodontal Index

of Treatment Needs: CPITN) và kết quả cho thấy 42% nhóm 34 - 40 tuổi và

có tới 70% nhóm 55 - 64 tuổi có mất bám dính ≥ 3,5mm [81]

Trong một NC cắt ngang tại Nhật Bản của tác giả Hirotomi và CS tiến hành năm 2002 cho kết quả 97,1% đối tượng nghiên cứu có 1 vùng lục phân cómất bám dính ≥ 4mm, 47,9% có mất bám dính ≥ 7mm Kết quả này có thấy BQR là bệnh phổ biến ở NCT Tuy nhiên có 1 vài hoặc nhiều răng bị viêm quanh răng nặng Cũng trong NC này, NC chiều dọc về sự tiến triển của BQR của nhóm những người lớn tuổi khỏe mạnh ở Nhật Bản đã được báo cáo bởi Hirotomi và CS (2002) cho thấy sự tiến triển của BQR trong khoảng thời gian

2 năm Có 599 người 70 tuổi và 162 đối tượng nghiên cứu 80 tuổi tham gia

NC lần thứ nhất Nhìn chung, BQR trong nhóm 70 tuổi có 47,3% có ít nhất một vùng lục phân mất bám dính ≥ 7 mm Sự tiến triển của bệnh quanh răng sau hai năm được xác định mất bám dính ≥ 3mm được thấy ở 75,1% những người tham gia nghiên cứu lần hai [60] Ngược lại, Ajwani và Ainamo (2001)

đã báo cáo về sự tiến triển của viêm quanh răng ở nhóm 57 NCT (81- 91) tuổi trong thời gian 5 năm Kết quả NC ghi nhận sau 5 năm có số răng trung bình

đã giảm từ 15,9 xuống 15,1 Nhìn chung, có sự thay đổi về tình trạng quanh răng, với sự gia tăng CPI 2 (từ 43% lên 58%) và giảm CPI 3 (từ 38% xuống 25%) Tuy nhiên nhu cầu điều trị tổng thể vẫn không thay đổi Có thể kết luận rằng sức khoẻ răng miệng của NCT vẫn ổn định trong 5 năm và hầu như không thấy có sự thay đổi nào trong nhu cầu điều trị BQR Vì vậy, BQR ở NCT tương đối ổn định không phải là do quá trình lão hóa [29]

Năm 2002, tác giả Ogawa và CS đã NC xác định các yếu tố nguy cơ cho tiến triển BQR ở NCT Chỉ số mất bám dính đã được sử dụng để đánh giá sự

Trang 25

tiến triển của BQR, nếu một hoặc nhiều vùng lục phân đã có mất bám dính trong thời gian 2 năm từ 3mm trở lên Trong tổng số 394 đối tượng (208 nam

và 186 nữ) được khảo sát Khoảng 75% các đối tượng cho thấy độ mất bám dính tăng lên trong khoảng thời gian 2 năm Thói quen hút thuốc và mức độ bám dính ≥ 6mm có thể được coi là các yếu tố nguy cơ cho việc mất bám dính

ở NCT [88]

Kết quả NC ở các nước phát triển khác cũng xác định được tỉ lệ BQR cao ở NCT NC về sức khoẻ ở Pomerania cho thấy tình trạng BQR ở Đức từ

60 tuổi trở lên Tỷ lệ mắc BQR thể hiện dưới sự có mặt của ít nhất một túi lợi

từ 4mm trở lên, tỉ lệ này cao hơn ở nam giới và trong số những người trẻ tuổi (nam 60 - 69 tuổi: 85% so với 71% 70 - 79 tuổi, phụ nữ 60 - 69 tuổi: 71% so với 62% 70 - 79 tuổi) [73]

Một NC về các yếu tố nguy cơ của BQR người lớn có độ tuổi từ 50 đến

73 ở Thái Lan năm 2005, tất cả các đối tượng được phân loại là BQR nhẹ, trung bình hoặc nặng dựa trên mức độ trung bình mất bám dính Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ mắc BQR nặng (mất bám dính ≥ 4mm) có ý nghĩa liên quan đến người từ 60 tuổi trở lên (OR = 1,6) [107]

Năm 2006, Holm - Pedersen và CS khám tình trạng quanh răng cho 159 NCT từ 80 trở lên ở Thụy Điển Tuy nhiên có 30 (19%) bỏ không tham gia NC Còn lại 129 đối tượng nghiên cứu và có 121 đối tượng được khám vùng quanh răng Trung bình số răng là 16,3 Tiêu chuẩn đánh giá BQR nặng là có ít nhất 4 vùng lục phân với mất bám dính ≥ 5mm, với ít nhất 1 vùng lục phân có túi lợi sâu ≥ 4mm Kết quả cho thấy tỷ lệ NCT mắc BQR nặng là 50,5% [61]

Trong năm 2009 - 2012, 46% người trưởng thành Hoa Kỳ đại diện cho 64,7 triệu người mắc BQR, với 8,9% mắc BQR Nhìn chung, 3,8% tất cả các vùng lợi (10,6% của tất cả răng) có mảng bám răng > 4 mm và 19,3% vị trí (37,4% răng) có cao răng ≥ 3 mm Tỷ lệ mắc BQR là tích cực liên quan đến tuổi già ngày càng tăng và trong nhóm nghiên cứu xã hội - nhân khẩu học,

Trang 26

viêm quanh răng nặng phổ biến hơn ở người lớn từ 50 tuổi trở lên Tỷ lệ hiện mắc BQR là cao nhất ở người Tây Ban Nha (63,5%) và người da đen không phải gốc Tây Ban Nha (59,1%), sau đó là người Mỹ gốc Á Châu gốc Phi Châu (50,0%) và thấp nhất là người da trắng không phải gốc La tinh (40,8%)

Tỷ lệ đa dạng là hai lần giữa mức thấp nhất và cao nhất về tình trạng kinh tế

xã hội, được xác định bởi nghèo đói hay giáo dục [48] NC của tác giả Aguilar và CS năm 2012 cũng cho thấy tỷ lệ mắc BQR là rất cao ở NCT tại

Pê Ru [27]

Như vậy, đặc điểm nổi bật của BQR ở NCT qua các NC là tỷ lệ mắc BQR cao, tỷ lệ viêm quanh răng nhiều hơn tỷ lệ viêm lợi Chỉ số lợi, chỉ số vệ sinh răng miệng, chỉ số quanh răng về nhu cầu điều trị, tình trạng mất bám dính là những tiêu chuẩn thường được sử dụng để đánh giá mức độ và tiến triển của BQR ở NCT và đã được rất nhiều tác giả trên thế giới sử dụng trong các nghiên cứu về sức khỏe răng miệng NCT[117]

1.3.2 Một số nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi tại Việt Nam

Đã có nhiều nghiên cứu khoa học về BQR ở Việt Nam Các nghiên cứu

đã cho thấy tỷ lệ mắc BQR ở nước ta là rất cao Một NC điểu tra sức khỏe răng miệng quốc gia năm 2000 của tác giả Trần Văn Trường và Lâm Ngọc

Ấn cho thấy, tỷ lệ viêm lợi ở nhóm tuổi 35 - 44 chiếm tỷ lệ cao trong đó cả nước chiếm 99,6%, Hà Nội chiếm 92%, Hồ Chí Minh và Cao Bằng chiếm 100% [24]

Theo kết quả NC của tác giả Nguyễn Cẩn và CS cho thấy tỷ lệ người có cao răng rất cao gặp ở hầu hết các lứa tuổi, viêm lợi luôn đi đôi với cao răng, 1/3 số viêm lợi sẽ tiến triển sang viêm quanh răng [5]

Cũng trong một NC khác ở Việt Nam vềBQR cho thấy kết quả như sau: Bệnh viêm lợi chiếm lợi tỷ lệ cao hơn bệnh viêm quanh răng Bệnh viêm lợi chiếm tỷ lệ 59,74%, Tỷ lệ bị viêm lợi tăng dần theo độ tuổi thấp nhất nhóm 18

- 34 (52,8)% và cao nhất nhóm 45 tuổi 74,26% Bệnh viêm quanh răng chiếm

Trang 27

tỷ lệ 22,05% trong đó có xu hướng tăng dần theo tuổi, ở nhóm 18 - 34 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất là 13,6% và ở nhóm 45 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 40,59% [19]

Nghiên cứu năm 2011 của tác giả Trần Văn Dũng và CS ở Thừa Thiên Huế cho thấy, có đến 80,1% người dân mắc BQR và chủ yếu tập trung ở những đối tượng có tình trạng vệ sinh răng miệng chưa tốt (96,8%) NC này cũng chỉ ra thực trạng bệnh viêm quanh răng trong nhân dân thành phố Huế là rất cao (95,44%) Trong đó CPITN1 là 5,96%, CPITN2 là 50,5%, CPITN3 là 33,68% và CPITN4 là 5,26% Tỷ lệ mắc BQR trong đối tượng nghiên cứu là 80,1%.Tỷ lệ người dân bị viêm lợi chảy máu (CPI 1) là 26,1% Tỷ lệ người dân bị viêm lợi cao răng (CPI 2) là 31,4% Tỷ lệ người dân bị viêm lợi có túi lợi bệnh lý nông (CPI 3) là 22,5% Tỷ lệ người dân bị viêm lợi có túi lợi bệnh

lý sâu (CPI 4) là 0,1% [7]

Năm 2015, tác giả Lưu Hồng Hạnh và CS đã nghiên cứu 1405 NCT khu vực nội thành Hà nội thấy BQR có liên quan tới tuổi, giới, trình độ học vấn, hút thuốc lá và thời gian khám răng Trong đó, tỉ lệ BQR cao nhất ở nhóm những người chưa đi khám bệnh bao giờ hoặc khám lần gần đây nhất là trên 5 năm (87,8% và 92,7%) [11]

Năm 2017, Lê Nguyễn Bá Thụ nghiên cứu trên 1350 NCT tại thành phố Buôn Ma Thuột – Đắc Lắc, kết quả cho thấy tỷ lệ BQR cao (79%) trong đó cao răng chiếm tỷ lệ cao nhất 56,8% [20]

Như vậy, qua số liệu nêu trên cho thấy tỷ lệ người mắc BQR cao, thậm chí ở mức báo động Các NC nhằm làm sáng tỏ bệnh lý này cũng như góp phần giúp cho công tác dự phòng và điều trị BQR đạt hiệu quả cao cũng cần được chú ý hơn bao giờ hết

1.4 Các nghiên cứu về giải pháp dự phòng bệnh quanh răng

1.4.1 Dự phòng bệnh quanh răng cho người cao tuổi bằng phương pháp giáo dục sức khoẻ răng miệng

Trang 28

1.4.1.1 Cơ sở khoa học của phương pháp truyền thông giáo dục sức khoẻ răng miệng cho cộng đồng

Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model) được coi là cơ sở khoa học hành vi của truyền thông giáo dục sức khỏe (GDSK) cho cộng đồng Mô hình niềm tin sức khỏe là một trong những học thuyết được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về hành vi sức khỏe Mô hình này đã được sử dụng để giải thích trong cả hai phương diện bao gồm nhằm thay đổi hoặc duy trì hành vi sức khỏe cũng như định hướng can thiệp vào hành vi sức khỏe của con người

Nhìn chung Mô hình nói về niềm tin của con người sẽ thực hiện hành động nhằm phòng chống bệnh tật, sàng lọc bệnh tật hoặc kiểm soát tình trạng khỏe mạnh - ốm đau nếu họ nhận thấy rằng họ có nguy cơ sẽ gặp phải những vấn đề sức khỏe đó Và nếu họ tin rằng họ sẽ gặp phải những hậu quả nguy hiểm từ những vấn đề sức khỏe mắc phải thì đây chính là nguyên nhân gốc rễ cho hành động nhằm giảm thiểu nguy cơ mắc hoặc hậu quả nguy hiểm từ bệnh tật

Mô hình niềm tin sức khỏe là học thuyết đề cập đến việc đưa ra quyết định để lựa chọn hành vi sức khỏe của một cá nhân dựa trên khả năng nhận thức Nội dung của mô hình niềm tin sức khỏe bao gồm 3 phần chính Phần một là yếu tố thay đổi có tính cá nhân (Modifying factor) bao gồm tuổi tác, giới tính, dân tộc, tính cách, kiến thức, tình trạng kinh tế xã hội Phần hai là nhận thức của cá nhân (individual perception) bao gồm nhận thức về nguy cơ mắc bệnh (Percived susceptibility to) hoặc nhận thức về những hậu quả nguy hiểm từ bệnh tật đó (Percived severity).―Nhận thức về nguy cơ mắc bệnh (Percived susceptibility)‖ đề cập đến nhận thức mang tính chất chủ quan của

cá nhân về nguy cơ mắc bệnh, hoặc quan điểm riêng về khả năng bị một vấn

đề sức khẻo nào đó Thành phần này trong học thuyết đã được chỉnh sửa lại bao gồm sự chấp nhận của cá nhân với chẩn đoán bệnh, dự đoán tính mẫn cảm, và khả năng mắc bệnh tật nói chung ―Nhận thức về những hậu nguy hiểm từ bệnh tật (Perceived severity)‖ đề cập đến cảm giác liên quan đến mức

Trang 29

độ nghiêm trọng khi mắc bệnh hoặc không điều trị bệnh, hoặc quan điểm về

sự nguy hiểm về điều kiện và những hậu quả của chúng Nó bao gồm đánh giá của cả những hậu quả y học và lâm sàng (như là tử vong, tàn tật, và đau đớn)

và nguy cơ những hậu quả về mặt xã hội (như ảnh hưởng đến điều kiện làm việc, cuộc sống gia đình và quan hệ xã hội) Sự kết hợp giữa nhận thức về nguy cơ mắc bệnh và mức độ nguy hiểm của những hậu quả từ bệnh tật đó sẽ hình thành nên nhận thức về mối đe dọa (perceived threat) Phần ba là khả năng hành động phụ thuộc vào hai yếu tố đó là nhận thức về những lợi ích sẽ

có được của hành vi sức khỏe và nhận thức về rào cản hay những khó khăn, cản trở khi thực hiện hành vi sức khỏe đó Nhận thức về lợi ích (Perceived benefit) liên quan đến niềm tin của cá nhân về hiệu quả của những hành động sẵn có trong việc phòng và giảm bớt đe dọa với bệnh tật cũng như tình trạng

ốm đau Một lợi ích đã được điều chỉnh đó là xu giảm hướng bớt sự nguy hiểm của vấn đề sức khỏe hoặc khả năng mắc bệnh đó Điều đó có nghĩa là những ai càng có niềm tin nhiều vào khả năng mắc bệnh và gặp sự nguy hiểm ngoài mong đợi sẽ chấp nhận bất cứ lời về hành động sức khỏe nào khi hành động đó được nhận thức là đem lại lợi ích [51]

Nhận thức về khó khăn, trở ngại (Perceived barriers) liên quan đến khả năng tiêu cực ảnh hưởng đến hành động sức khỏe của cá nhân hoặc quan điểm của cá nhân và vấn đề tâm lý của hành động được khuyến cáo Những khó khăn trở ngại có thể trở thành rào cản để thực hiện những hành vi được khuyến cáo Cá nhân thực hiện việc phân tích giữa chi phí và lợi ích Những khía cạnh tiêu cực là những nhận thức rằng nó có thể quá đắt, nguy hiểm (có tác dụng phụ và rối loạn hóc môn), sự khó chịu (đau, khó khăn, hoặc buồn rầu), không thuận tiện, tiêu tốn thời gian… [51]

Ngoài ra trong mô hình niềm tin sức khỏe còn có yếu tố thúc đẩy hành động (Cuse to action) là chiến lược để thúc đẩy sự sẵn sàng của một người hướng tới hành động bao gồm những yếu tố thúc đẩy cơ thể xuất phát từ chính bản thân (events body) của người đó ―Yếu tố thúc đẩy hành vi nghĩa là

Trang 30

nhận thức của cá nhân về nguy cơ mắc bệnh và sự nguy hiểm của bệnh sẽ là động lực để hành động hoặc chiến lược để sẵn sàng hành động Những lợi ích (lớn hơn những khó khăn, trở ngại) sẽ góp một phần của hành động Tuy nhiên, nó còn có thể đòi hỏi một ―yếu tố thúc đẩy hành động‖ để mong muốn hành vi đó thực sự được xảy ra

Những yếu tố thúc đẩy cũng có thể xuất phát từ môi trường bên ngoài (events environment) Ví dụ những yếu tố thúc đẩy từ bên trong bao gồm sự không thoải mái của các triệu chứng, cảm giác mệt mỏi hoặc hồi tưởng lại với những người gần gũi có hoàn cảnh mà bị ảnh hưởng, những sự kiện môi trường Yếu tố thúc đẩy từ môi trường bên ngoài bao gồm ví dụ như phương tiện thông tin đại chúng, lời khuyên của những người khác, posters, quảng cáo, báo hoặc tạp chí khoa học, hoặc danh thiếp từ những chuyên gia sức khỏe người đã cung cấp các dịch vụ chăm sóc [52] Một yếu tố nữa được bổ xung vào mô hình niềm tin sức khỏe này là độ tự tin của bản thân để thực hiện hành vi sức khỏe đó

Yếu tố thay đổi có tính cá nhân (Modifying factors) là những yếu tố khác

có thể ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi sức khỏe Đặc biệt là yếu tố xã hội học, trình độ giáo dục được tin rằng có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi thông qua nhận thực về khả năng mắc bệnh, mức độ nguy hiểm, lợi ích và những khó khăn trở ngại [51]

Kết quả hành vi (Behavior outcome) sẽ được thiết lập dựa trên nhận thức của cá nhân Cá nhân sẽ hành động để tránh những vấn đề sức khỏe nhưng thứ nhất là họ cần tin rằng họ có nguy cơ mắc vấn đề sức khỏe đó Thứ hai là

họ cần nhận thức được mức độ nguy hiểm của hoàn cảnh trước khi thưc hiện hành động và thứ ba là khả năng của một cá nhân sẽ thực hiện hành động để tăng cường sức khỏe được hình thành bởi nhận thức về những lợi ích và những khó khăn trở ngại để thực hiện hành vi Thêm vào đó hành vi sức khỏe cũng trực tiếp bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thay đổi có tính cá nhân Bên cạnh

đó, yếu tố thúc đẩy hành động là những yếu tố khác để kích hoạt cho hành

Trang 31

động thực sự xẩy ra một cách phù hợp Các kích thích từ bên trong cơ thể như triệu chứng của bệnh tật hoặc tâm lý học tích cực sẽ thúc đẩy để tránh hoặc gắn kết thực hiện hành vi Yếu tố khuyến khích bên ngoài như truyền thông đại chúng, giáo dục là môi trường sẽ tạo thuận lợi hoặc không tạo thuận hoặc ngăn chặn những hành vi lành mạnh hoặc không lành mạnh

Sự tự tin được thêm vào mô hình niềm tin sức khỏe nhằm tăng cường khả năng giải thích Sự tự tin được định nghĩa là ―niềm tin rằng người ta có thể thực hiện thành công hành vi cần thiết để tạo ra kết quả ―(Bandura, 1977 P79) Sự tự tin là niềm tin về khả năng của bản thân sẽ làm được một việc gì

đó Nhìn chung mọi người sẽ không cố gắng làm một việc gì đó trừ khi họ tin rằng họ có thể làm được Nếu một người nào đó tin vào sự hữu ích của hành

vi (nhận thức về lợi ích), nhưng không nghĩ mình có khả năng làm việc đó (nhận thức về khó khăn, trở ngại) thì sẽ không bao giờ thử thay đổi hành vi Thiếu sự tự tin được nhìn nhận như một nhận thức về khó khăn trở ngại trong việc thực hiện các hành vi sức khỏe nào đó

1.4.1.2 Ứng dụng mô hình niềm tin sức khỏe để giải thích hành vi dự phòng bệnh quanh răng

Hành vi phòng chống BQR được hiểu là hành vi tự chăm sóc vệ sinh răng miệng của mỗi người và hành vi chăm sóc răng miệng định kỳ 6 tháng một lần bởi các bác sĩ Răng hàm mặt tại các cơ sở y tế‖

*Phân tích hành vi phòng chống bệnh quanh răng cho người cao tuổi

Một cá nhân sẽ thực hiện hành vi phòng chống BQR của mình khi nhận thức được mình có nguy cơ mắc các bệnh về răng miệng như viêm lợi, lung lay răng… cũng như nhận thức được hậu quả và mức độ nghiêm trọng khi mắc phải các bệnh về răng miệng như đau nhức hay mất răng…Tuy nhiên khi thực hiện những hành vi phòng chống BQR sẽ có thể gặp phải những trở ngại như ngại khám răng định kỳ tại các phòng khám vì sợ đau, vì không có thời gian hoặc vì không có tiền, phương tiện đi lại khó khăn nhất là ở người cao

Trang 32

tuổi, thiếu cơ sở y tế chăm sóc răng miệng… Nhưng nếu cá nhân đó thấy rằng lợi ích của việc phòng chống BQR lớn hơn đó là đảm bảo cho sự chắc khỏe của hàm răng từ đó đảm bảo được tốt sự ăn nhai Khi ăn nhai tốt thì sẽ tốt cho tiêu hóa, đa dạng được các loại thức ăn thì cũng sẽ đảm bảo được dinh dưỡng và từ đó sẽ đảm bảo tốt cho sức khỏe… Ngoài ra yếu tố thúc đẩy hành động từ môi trường bên ngoài như truyền thông giáo dục sức khỏe cung cấp kiến thức, kỹ năng chăm sóc răng miệng và những lời khuyên về chăm sóc răng miệng sẽ là yếu tố thúc đẩy thực hành chăm sóc răng miệng đúng cho NCT vốn là đối tượng ít được tiếp cận với thông tin chăm sóc sức khỏe, nhất

là NCT ở vùng sâu vùng xa, NCT là đồng bào dân tộc thiểu số

1.4.2 Một số nghiên cứu về giáo dục sức khoẻ răng miệng cho người cao tuổi

1.4.2.1 Một số nghiên cứu về thực hiện giáo dục sức khỏe răng miệng cho

người cao tuổi trên thế giới

Sức khỏe răng miệng là tổng hòa của nhiều yếu tố tác động, trong đó thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng đóng một vai trò vô cùng quan trọng tác động trực tiếp làm cho sức khỏe răng miệng tốt lên hay kém đi Có nhiều nghiên cứu khoa học cũng đã chỉ ra kiến thức - thái độ - thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng cũng là những yếu tố liên quan đến sức khỏe răng miệng

Một NC ở Trung Quốc của Lim và CS (1996) cũng chỉ ra rằng, biện pháp lấy cao răng được thực hiện bởi nha sĩ đã làm giảm rõ rệt tình trạng chảy máu lợi và viêm lợi ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng Biện pháp này giúp cải thiện tình trạng quanh răng và phòng ngừa có hiệu quả các BQR của NCT, tác giả cũng đã đề xuất lập kế hoạch các chương trình y tế cộng đồng để thúc đẩy sức khoẻ răng miệng, trong đó giáo dục vệ sinh răng miệng vẫn phải là ưu tiên hàng đầu [67]

Một NC khác ở Australia của Mariño R và CS năm 2004 áp dụng một chương trình GDSK về chăm sóc sức khỏe răng miệng và các BQR cho NCT

Trang 33

Theo kết quả của NC đó, nhóm can thiệp nhận được chương trình GDSK có kiến thức về sức khỏe răng miệng, về các BQR cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (X2

vệ sinh răng miệng, giảm mảng bám răng và giảm chảy máu lợi Cụ thể, đối với kiến thức về sức khỏe răng miệng ở nhóm nghiên cứu sau can thiệp tăng hơn so với trước can thiệp (X(SD) = 6,39(1,3) so với X (SD) = 4,45(1,7) và

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm chứng (p = 0,02) Bên cạnh đó,

ở nhóm NC các hành vi thực hành vệ sinh sau can thiệp được cải thiện hơn so với trước NC (p < 0,01), còn ở nhóm chứng thì không thay đổi, ví dụ như tỷ

lệ làm sạch kẽ răng hoặc dùng chỉ tơ nha khoa hàng ngày tăng lên, tỷ lệ NCT đánh răng 2 lần/ngày với kem đánh răng có Fluoride tăng lên Về các BQR, chương trình GDSK cũng mang lại hiệu quả một cách rõ rệt ở nhóm nghiên cứu so với nhóm chứng Cụ thể, điểm trung bình của chỉ số mảng bám răng và chỉ số chảy máu lợi giảm xuống (có ý nghĩa thống kê) ở nhóm nghiên cứu (-

0,25 và – 0,22, theo thứ tự (p < 0,05), trong khi ở nhóm chứng hai chỉ số này

lại tăng lên Điều này cho thấy tình trạng mảng bám răng và chảy máu lợi được cải thiện rõ rệt ở nhóm nghiên cứu sau can thiệp so với trước can thiệp

và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm không nhận được chương trình can thiệp [44]

Trang 34

Chương trình tăng cường sức khỏe răng miệng của WHO đã khuyến khích các nhà quản lý sức khỏe cộng đồng cần xây dựng chiến lược, thiết kế chương trình chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho NCT [93]

Các NC về kiến thức - thái độ - thực hành chăm sóc GDSK răng miệng của NCT cho thấy: NCT thường có hiểu biết rất hạn chế về kiến thức, đồng thời NCT thường có những hành vi không đúng trong việc thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng, các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng giáo dục nha khoa là việc làm cấp thiết, cần và có thể làm sớm với nội dung tuyên truyền lợi ích của chải răng, hướng dẫn chải răng đúng cách, loại bỏ các thói quen có hại cho sức khỏe răng miệng [40] NC ở Mỹ của Boczko (2009) cho thấy sau khi áp dụng chương trình GDSK răng miệng, kiến thức về chăm sóc răng miệng của NCT được tăng lên một cách rõ rệt, cụ thể điểm trung bình kiến thức sau can thiệp tăng lên 5,29 điểm so với trước can thiệp có ý nghĩa thống

kê (t[62]=13,85, p < 0,01) Đồng thời, NC đó cũng chỉ ra rằng, GDSK răng

miệng cũng góp một phần quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe răng miệng và phòng các BQR [40]

Giáo dục sức khỏe răng miệng cho NCT là biện pháp hiệu quả nhất để nâng cao kiến thức, thái độ và hành vi của họ trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng Từ đó, NCT có thể nâng cao sức khỏe răng miệng cũng như phòng ngừa được BQR Thật vậy, nhiều NC trước đây đã cho thấy được hiệu quả của việc GDSK răng miệng trong việc nâng cao kiến thức, thái độ, hành

vi và sức khỏe răng miệng ở NCT cũng như phòng ngừa BQR Cụ thể, theo một NC của tác giả Nakre P D và CS (2013) đã chứng minh rằng GDSK răng miệng có thể nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng đồng thời có thể làm giảm mảng bám răng, giảm chảy máu lợi, giảm bệnh sâu răng và nâng cao sức khỏe răng miệng cho cá nhân và cho cả cộng đồng [83] Một NC khác ở Banglades của tác giả Karim F và CS năm

2014 cũng chứng minh rằng GDSK răng miệng là một biện pháp hiệu quả để

Trang 35

nâng cao kiến thức, cải thiện tình trạng thực hành vệ sinh răng miệng và phòng các BQR Cụ thể, tỷ lệ NCT đánh răng một lần/ngày giảm từ 25,5% xuống còn 4,7% sau can thiệp, tỷ lệ đánh răng ngày 2 lần tăng từ 64,2% lên 91,5% sau can thiệp, tỷ lệ người có thời gian chải răng khoảng 2 phút tăng từ 24,5 lên 73,5%, tỷ lệ NCT đi khám nha sĩ khi có vấn đề về răng miệng tăng từ 72,6% lên 95,3% [65]

NC của tác giả Eun-Joo Song và CS năm 2017 tại Hàn Quốc cũng cho thấy chương trình khuyến khích sức khoẻ răng miệng có thể cải thiện sức khoẻ răng miệng và hành vi vệ sinh răng miệng ở NCT bởi vì nghiên cứu này cho thấy có sự cải thiện đáng kể về chỉ số CPI sau chương trình từ 2,59±1,14

xuống 1,41±1,54 (p<0,001) [49]

Một NC tổng quan năm 2015 của Needleman và CS đã tổng hợp những

NC trước đó và kết luận rằng biện pháp lấy cao răng cùng với hướng dẫn vệ sinh răng miệng có thể làm giảm tình trạng chảy máu lợi, viêm lợi, đồng thời cũng làm giảm BQR NC này cũng chỉ ra rằng, lấy cao răng là biện pháp dự phòng BQR cấp II góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe các tổ chức quanh răng ở NCT [86]

Không chỉ tập trung vào việc truyền thông, giáo dục sức khỏe răng miệng cho NCT nói chung tại cộng đồng, ở các nước phát triển gần đây đã xây dựng các chương trình hỗ trợ CS SKRM cho NCT với cách tiếp cận khác như chương trình CS SKRM trực tiếp cho NCT tại các viện dưỡng lão hoặc gián tiếp thông qua việc tăng cường kiến thức - thái độ - thực hành chăm sóc SKRM NCT cho nhân viên chăm sóc tại các viện dưỡng lão [72]

1.4.2.2 Tình hình nghiên cứu về thực hiện giáo dục sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi ở Việt Nam

Trong NC của Phạm Văn Việt năm 2004, tác giả đã áp dụng một chương trình can thiệp bao gồm GDSK răng miệng, hướng dẫn vệ sinh răng miệng kết hợp với lấy cao răng trên nhóm nghiên cứu là NCT sống ở nội thành và ngoại

Trang 36

thành Hà Nội Kết quả NC cho thấy sau can thiệp, ở nhóm nghiên cứu tỷ lệ người có vùng quanh răng lành mạnh tăng lên rõ rệt so với nhóm chứng

(p<0,01) Hiệu quả can thiệp được tính là 12,09 (1209%) Giảm tỷ lệ túi lợi nông

xuống 68,96% và có cao răng xuống 39,58% Tình trạng vệ sinh răng miệng cũng được cải thiện đáng kể sau can thiệp với kết quả chỉ số mảng bám PLI sau

nghiên cứu giảm xuống có ý nghĩa (p<0,001) Hiệu quả can thiệp đã tăng tỷ lệ

người không có mảng bám răng là 6,01 Bên cạnh đó, quá trình GDSK răng miệng được thực hiện trong nghiên cứu này cũng đã đạt được những hiệu quả nhất định với kết quả sau can thiệp, kiến thức - thái độ - thực hành đối với sức

khỏe răng miệng của các đối tượng ở nhóm nghiên cứu tăng cao có ý nghĩa (p <

0,05) Hiểu biết về bệnh răng miệng được đánh giá là tốt tăng 4,01 (400,01%),

hiểu biết khá tăng 5,97 Thực hành chải răng ngày 2 lần, mỗi lần chải từ 3 phút trở lên tăng cao Nhất là chải răng sau khi ăn tăng 8,48 Các đối tượng đi khám nha sĩ định kỳ, có nguyện vọng được điều trị bệnh răng miệng tăng lên, số người

đi khám khi răng miệng có vấn đề tăng 92,19% [26] Năm 2017, Lê Nguyễn Bá Thụ nghiên cứu trên 1350 NCT tại thành phố Buôn Ma Thuột - Đắc Lắc, kết quả cho thấy điều trị bệnh BQR và truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng là có hiệu quả [20]

1.4.3 Tình hình nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc sức khoẻ răng miệng ở người cao tuổi

1.4.3.1.Tình hình nghiên cứu về kiến thức - thái độ - thực hành chăm sóc sức

khỏe răng miệng của người cao tuổi trên thế giới

* Tình hình nghiên cứuvề kiến thức chăm sóc sức khỏe răng miệng của

người cao tuổi

Năm 2001, Lin H.C và CS cũng tiến hành nghiên cứu về kiến thức - thái

độ - thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng của người trưởng thành tại Trung Quốc, kết quả nghiên cứu đã cho thấy hầu hết NCT có kiến thức chăm sóc sức khỏe răng miệng ở mức độ kém [68]

Trang 37

Năm 2005, Zhu và CS cũng tiến hành NC tại Trung Quốc và đã tìm ra rằng, có đến 92% những NCT chưa từng nghe nói đến mảng bám răng, hoặc chỉ có 5% trong số họ biết rằng fluoride có thể ngăn ngừa sâu răng nhưng lại

có đến 86% họ không biết về fluoride và chỉ có 16% họ biết rằng chải răng hoặc dùng chỉ tơ nha khoa có thể ngăn ngừa bệnh viêm lợi hoặc các BQR khác, như vậy còn có đến 78% NCT không biết điều đó Có thể thấy rằng, những NCT trong nghiên cứu trên còn thiếu kiến thức về chăm sóc sức khỏe răng miệng [119]

Nghiên cứu của Vysniauskaite cũng tìm ra rằng, 34% NCT trong nghiên cứu có kiến thức tốt, 22% có kiến thức ở mức độ trung bình và 44% có kiến thức về chăm sóc sức khỏe răng miệng ở mức độ kém [110]

Về kiến thức chăm sóc răng miệng, một NC được Wehmeyer và CS tiến hành năm 2014 cũng chỉ ra tỷ lệ tương tự, trong đó 37% NCT có kiến thức tốt, 30% có kiến thức trung b ình, 33% có kiến thức kém về chăm sóc sức khỏe răng miệng [112]

Một NC ở Ả Rập năm 2014 đã chỉ ra phần lớn (62,2%) NCT có kiến thức chăm sóc sức khỏe răng miệng kém, trong đó 20,3% hoàn toàn không có kiến thức chăm sóc sức khỏe răng miệng [99]

Một NC khác cũng được thực hiện ở Mỹ đã chỉ rằng, 34% NCT ở đây có kiến thức tốt, 27% có kiến thức ở mức độ trung bình và 34% có kiến thức kém về chăm sóc sức khỏe răng miệng Cụ thể, hầu hết NCT trong nghiên cứu này có kiến thức đúng về những nội dung kiến thức liên quan đến giải phẫu răng (89%), phòng ngừa bệnh sâu răng (83%), các phương pháp điều trị răng miệng (90%) Tuy nhiên, họ lại không có kiến thức về các nguyên nhân liên quan đến BQR (60%) hoặc ung thư miệng (69%) [78]

*Tình hình nghiên cứu về thái độ chăm sóc sức khỏe răng miệng của người cao tuổi

Trang 38

Một số NC đã được tiến hành trước đây để tìm hiểu về thái độ của NCT với việc chăm sóc sức khỏe răng miệng của họ Nghiên cứu của tác giả Zhu

và CS tại Trung Quốc đã chỉ ra rằng NCT ở đây có thái độ tích cực nhất định trong chăm sóc sức khỏe răng miệng: 44% đối tượng nghiên cứu không tin rằng mất răng ở NCT là điều tự nhiên, 67% trong số họ tin rằng các thức uống

có đường là nguyên nhân gây sâu răng, 61% cho rằng khám răng định kỳ là điều cần thiết [119] Tại Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng cũng có nhiều NC trước đây đã tìm hiểu về vấn đề này Cụ thể, NC ở Singapor cho thấy 99,6% NCT coi trọng việc chăm sóc sức khỏe răng miệng của mình, họ

có thái độ tích cực trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng và đa số họ nhận thức rằng, việc vệ sinh răng miệng giúp ngăn ngừa sâu răng (92,5%) [105] Một NC khác ở Mỹ cũng chỉ ra rằng, đa số những NCT có thái độ khá tích cực trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng Cụ thể, 92,2% NCT không tin rằng chỉ có nha sĩ mới có thể giúp họ ngăn ngừa bệnh răng miệng, 100%

họ tin rằng chải răng và làm sạch kẽ răng sẽ làm giảm khả năng bị sâu răng, 50% họ không tin rằng mất răng là bình thường ở NCT, 90,2% tin rằng việc làm sạch kẽ răng có thể giúp họ ngăn ngừa viêm lợi, và đa số họ không tin rằng việc đi khám răng miệng chỉ cần thiết khi họ có các vấn đề về răng miệng hoặc đau răng (88,2%) [95]

Nghiên cứu ở Australia năm 2016 cho thấy phần lớn NCT có thái độ tích cực trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng Cụ thể 97,8% NCT cho rằng chải răng là rất cần thiết trong việc phòng ngừa bệnh sâu răng, 97,3% cho rằng việc khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần là rất quan trọng, 90,2% cho rằng việc không dùng các đồ uống có đường là có lợi cho sức khỏe răng miệng và trên 60% NCT tin rằng nước xúc miệng có Fluoride hoặc kem đánh răng có Fluoride có thể ngừa sâu răng [75] NC của tác giả Bashiru và CS về tuổi và giới liên quan đến kiến thức - thái độ - thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng ở NCT tại Port Harcourt, Nigeria năm 2017 đã cho thấy đến 67%

Trang 39

người cao tuổi cho rằng đi khám răng định kỳ là cần thiết nhưng số lượng NCT có thái độ tích cực trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng chỉ chiếm 34%, còn lại 66% NCT có thái độ không tích cực về vấn đề này [36]

* Tình hình nghiên cứu về thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng của

người cao tuổi

Thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng luôn được coi là yếu tố quyết định đến sức khỏe răng miệng

Nghiên cứu ở Trung Quốc cũng chỉ ra tỷ lệ NCT thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng không đúng khá cao Cụ thể, tỷ lệ người không chải răng hoặc chỉ chải răng ngày một lần chiếm tỷ lệ cao (77%), tỷ lệ người chỉ chải răng vào buổi sáng chiếm 92%, 81% NCT chải răng dưới 3 phút và 93% họ

sử dụng kem đánh răng không có fluoride Bên cạnh đó, có tỷ lệ thấp những NCT sử dụng các biện pháp có lợi cho sức khỏe răng miệng, cụ thể như, chỉ

có 4% sử dụng chỉ tơ nha khoa, 14% xúc miệng với nước chè xanh, 8% xúc miệng với nước muối và chỉ có 1% xúc miệng với nước xúc miệng có fluoride [119] Nghiên cứu khác ở Nhật Bản vào năm 2005 cũng thể hiện rằng, tỷ lệ NCT có hành vi chải răng 2 - 3 lần/ ngày là 54,4%, nhưng tỷ lệ không sử dụng các dụng cụ làm sạch răng miệng khác như chỉ tơ nha khoa, nước xúc miệng có Fluoride lại cao (92,1%) và tỷ lệ người không đi khám răng định kỳ cũng rất cao (93,8%) [54]

Về thực hành chăm sóc răng miệng, một NC ở Lào năm 2008 xác định rằng chỉ có 0,7% số NCT trong NC không có bất cứ hoạt động vệ sinh răng miệng hàng ngày nào, có đến 64,3% trong số họ chải răng hàng ngày, 19,9% NCT thực hiện chải răng và súc miệng bằng nước muối Cũng trong NC đó,

có một phần nhỏ số NCT không chải răng mà làm sạch khoang miệng bằng việc cọ răng bằng ngón tay (1,4%), xúc miệng bằng nước hoặc nước muối (6,6%), hoặc cả cọ răng bằng ngón tay và xúc miệng bằng nước muối (3,5%), chỉ có 1,4% trong số họ dùng chỉ tơ nha khoa Trong những người thực hiện

Trang 40

chải răng, có 31,5% họ chỉ chải răng 1 lần/ngày, 62,7% họ chải răng 2 lần/ngày, 5,8% họ chải răng 3 lần/ ngày Tất cả họ sử dụng kem đánh răng có Fluoride và hầu hết họ dùng bàn chải lông mềm (93,8%) Từ đó có thể thấy những NCT trong NC có hành vi thực hành chăm sóc sức khỏe răng miệng khá tốt [43]

Một NC gần đây ở Lavia năm 2009 đã xác định 70% NCT trong nghiên cứu chỉ đánh răng ngày một lần hoặc không chải răng, đa số họ chỉ chải răng vào buổi sáng (79%), 81% họ không làm sạch kẽ răng, 92% họ thường sử dụng những đồ ăn, đồ uống có đường như chè, cà phê và 70% NCT trong nghiên cứu không đi khám răng định kỳ Tuy nhiên, cũng trong nghiên cứu này, tỷ lệ NCT sử dụng kem chải răng có Fluoride lại chiếm tỉ lệ cao (87%) [110] Một NC khác ở Brazil lại cho thấy những hành vi thực hành chăm sóc răng miệng tốt của NCT tại đây chiếm tỷ lệ cao, cụ thể: 89,4% NCT có hoạt động thực hành vệ sinh răng miệng hàng ngày, 63,8% trong số họ chải răng 2

- 3 lần/ngày, do đó có đến 55,7% NCT trong NC không cần sự chăm sóc và điều trị của nhân viên y tế về răng miệng [50] Một NC nữa ở Ả Rập Saudi cũng tìm ra những tỷ lệ tương tự, 56% NCT không sử dụng bàn chải đánh răng, 84,3% không chải răng hoặc chải răng chỉ một lần/ngày, 89,2% không làm sạch kẽ răng, 62,7% không làm sạch lưỡi, và 90, 4% NCT không đi khám răng định kì trong 3 tháng gần nhất [33] Năm 2015, Šapurić đã NC tại Fyrom của Macedonia đã cho thấy có 36,8% NCT trong NC chỉ chải răng ngày một lần hoặc không chải răng NC đã đưa ra một số hành vi thực hành chăm sóc không đúng của NCT như: 96,3% họ không bao giờ làm sạch kẽ răng, 73,1% NCT không đi khám răng định kỳ [98]

Một nghiên cứu gần đây của tác giả Braimoh và CS tiến hành trên 543 NCT tại Nigeria năm 2017 cho thấy phần lớn ĐTNC có tình trạng vệ sinh răng miệng kém 245 (45,1%) và trung bình 254 (46,8%) [41]

Ngày đăng: 10/12/2019, 14:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ma Khánh Bằng (1983), Người Sán Dìu ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Sán Dìu ở Việt Nam
Tác giả: Ma Khánh Bằng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1983
2. Diệp Trung Bình (2005), Phong tục và nghi lễ chu kỳ đời người Sán Dìu ở Việt Nam, Bộ văn hóa Thông tin, Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục và nghi lễ chu kỳ đời người Sán Dìu ở Việt Nam
Tác giả: Diệp Trung Bình
Năm: 2005
3. Bộ Kế hoạch và đầu tư - Tổng cục thống kê (2011), Dự báo dân số Việt Nam, 2009-2049, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo dân số Việt Nam, 2009-2049
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư - Tổng cục thống kê
Năm: 2011
5. Nguyễn Cẩn và Ngô Đồng Khanh (2007), "Phân tích dịch tễ bệnh sâu răng và nha chu ở Việt Nam", Y học thành phố Hồ Chí Minh, 11(3), tr.144-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dịch tễ bệnh sâu răng và nha chu ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cẩn và Ngô Đồng Khanh
Năm: 2007
6. Dương Thế Chung, Lê Long Nghĩa, Trương Mạnh Dũng (2016), ―Thực trạng bệnh quanh răng ở người cao tuổi thành phố Hồ Chí Minh năm 2015‖, Y học thực hành, số 11, tr.18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành
Tác giả: Dương Thế Chung, Lê Long Nghĩa, Trương Mạnh Dũng
Năm: 2016
7. Trần Văn Dũng (2011), Nghiên cứu thực trạng bệnh sâu răng, viêm nha chu trong nhân dân thành phố Huế năm 2011, Luận án Bác sĩ chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh sâu răng, viêm nha chu trong nhân dân thành phố Huế năm 2011
Tác giả: Trần Văn Dũng
Năm: 2011
9. Dương Thị Hoài Giang (2009), Nghiên cứu thực trạng bệnh quanh răng và nhu cầu điều trị ở người cao tuổi tại phường Yên Sở -Quận Hoàng Mai -Hà Nội, Luận án Bác sĩ chuyên khoa cấp II, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh quanh răng và nhu cầu điều trị ở người cao tuổi tại phường Yên Sở -Quận Hoàng Mai -Hà Nội
Tác giả: Dương Thị Hoài Giang
Năm: 2009
10. Nguyễn Mạnh Hà, Trần Thanh Sơn (2011), "Hiểu biết, thái độ, thực hành của người cao tuổi về bệnh răng miệng tại quận Hoàng Mai - Hà Nội", Tạp chí Nghiên cứu Y học, 77 (6), Tr. 83-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu biết, thái độ, thực hành của người cao tuổi về bệnh răng miệng tại quận Hoàng Mai - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Trần Thanh Sơn
Năm: 2011
11. Lưu Hồng Hạnh, Hoàng Thị Hà Anh, Phạm Dương Hiếu (2016), "Một số yếu tố liên quan đến thực trạng bệnh quanh răng ở người cao tuổi khu vực nội thành Hà Nội năm 2015", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Y Dược, 32 (2), tr. 99-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan đến thực trạng bệnh quanh răng ở người cao tuổi khu vực nội thành Hà Nội năm 2015
Tác giả: Lưu Hồng Hạnh, Hoàng Thị Hà Anh, Phạm Dương Hiếu
Năm: 2016
12. Nguyễn Dương Hồng (1977), Điều trị răng miệng người già, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tập I, tr. 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị răng miệng người già
Tác giả: Nguyễn Dương Hồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1977
13. Võ Kim Hương (2014), ―Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách‖, Nghiên cứu gia đình và giới, (4), tr. 87- 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu gia đình và giới
Tác giả: Võ Kim Hương
Năm: 2014
14. Phạm Gia Khánh (2003), Bệnh học Răng - Miệng, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học Răng - Miệng
Tác giả: Phạm Gia Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Năm: 2003
15. Dương Huy Lương (2010),Nghiên cứu chất lượng cuộc sống người cao tuổi và thử nghiệm giải pháp can thiệp ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Luận án tiến sỹ y học – Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chất lượng cuộc sống người cao tuổi và thử nghiệm giải pháp can thiệp ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Tác giả: Dương Huy Lương
Năm: 2010
16. Quốc Hội (2009), Luật số 39/2009/QH12, Luật Người cao tuổi, Quốc hội khóa 12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Người cao tuổi
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2009
17. Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) (2012), Báo cáo tóm tắt: Già hóa trong Thế kỷ 21: Thành tựu và Thách thức, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc và Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt: Già hóa trong Thế kỷ 21: Thành tựu và Thách thức
Tác giả: Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA)
Năm: 2012
18. Trần Thanh Sơn, Nguyễn Mạnh Hà (2011), "Tình trạng bệnh răng miệng ở người cao tuổi quận Hoàng Mai - Hà Nội",Tạp chí Nghiên cứu Y học, 77 (6), tr. 78-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng bệnh răng miệng ở người cao tuổi quận Hoàng Mai - Hà Nội
Tác giả: Trần Thanh Sơn, Nguyễn Mạnh Hà
Năm: 2011
19. Phạm Xuân Thành và Phạm Văn Liệu (2011), "Nghiên cứu bệnh sâu răng, viêm quanh răng và một số hiểu biết, hành vi về phòng bệnh của công nhân nhà máy Chinfon năm 2010", Tạp chí Y học thực hành, 762 (4), tr. 88-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bệnh sâu răng, viêm quanh răng và một số hiểu biết, hành vi về phòng bệnh của công nhân nhà máy Chinfon năm 2010
Tác giả: Phạm Xuân Thành và Phạm Văn Liệu
Năm: 2011
20. Lê Nguyễn Bá Thụ (2017), Thựctrạng sức khỏe răng miệng và đánh giá hiệu quả can thiệp chăm sóc răng miệng ở người cao tuổi tại Đắc Lắc, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thựctrạng sức khỏe răng miệng và đánh giá hiệu quả can thiệp chăm sóc răng miệng ở người cao tuổi tại Đắc Lắc
Tác giả: Lê Nguyễn Bá Thụ
Năm: 2017
22. Nguyễn Xuân Thực (2011), Nghiên cứu bệnh quanh răng ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương và đánh giá hiệu quả can thiệp, Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bệnh quanh răng ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương và đánh giá hiệu quả can thiệp
Tác giả: Nguyễn Xuân Thực
Năm: 2011
21. Thủ tướng Chính phủ (2017), ―Quyết định số 582/2017/QĐ-TTg ―, http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&amp;mode=detail&amp;document_id=189609 ] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w