Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan đến công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thực tiễn tại cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, đánh giá kết quả cũng như thiếu sót, tồn tại và đề ra các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng của việc thực hiện chức năng này của VKSND cấp huyện.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TIẾN SƠN
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP QUẬN (HUYỆN) TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ
TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ (TRÊN CƠ SỞ
THỰC TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TIẾN SƠN
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP QUẬN (HUYỆN) TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ
TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ (TRÊN CƠ SỞ
THỰC TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSNguyễnĐức Phúc
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu nêu trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Tiến Sơn
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự BLHS : Bộ luật hình sự
CQĐT : Cơ quan điều tra KSĐT : Kiểm sát điều tra THQCT : Thực hành quyền công tố TTHS : Tố tụng hình sự
VKS : Viện kiểm sát KSV : Kiểm sát viên ĐTV : Điều tra viên VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1NHẬN THỨC TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ, VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ 8
1.1 Nhận thức tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 8
1.1.1 Khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm vàkiến nghị khởi tố 8
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 10
1.2 Nhận thức vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 16
1.2.1 Khái niệm, cơ sở quy định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhân, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố 16
1.2.2 Sự thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 21
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của quy định pháp luật liên quan đếnvai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 24
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988 24
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 26
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực 29
Kết luận chương 1 32 Chương 2QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC TIẾP
Trang 6NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ, THỰC TIỄN THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP QUẬN (HUYỆN) TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 33
2.1 Quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải tiếp nhận, quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khới tố 332.1.1.Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 332.1.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiếp nhận và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 442.2 Tình hình có liên quan, thực tiễn thực hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố Hà Nội 522.2.1 Tình hình có liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố Hà Nội 522.2.2 Thực tiễn thực hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố Hà Nội 562.3 Nhận xét, đánh giá chung 69
Kết luận chương 2 77 Chương 3GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP QUẬN (HUYỆN) TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 78
3.1.Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực hiệnvai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố Hà Nội 783.1.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 783.1.2 Hoàn thiện các văn bản pháp luật khác liên quan đến việc tiếp nhận,
Trang 7giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 83
3.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên nhằm thực hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố Hà Nội 85
3.3 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố Hà Nội 86
3.4 Đổi mới nâng cao chất lượng công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành góp phần thực hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố Hà Nội 88
3.5 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố Hà Nội 91
Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN 94
DANH MỤCTÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 100
BẢNG 2.1: Thống kê tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các đơn vị cấp huyện và phòng nghiệp vụ VKSND Thànhphố Hà Nội năm từ năm 2014 đến2017 100
BẢNG 2.2: Thống kê cụ thể kết quả tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các đơn vị cấp huyện và phòng nghiệp vụ VKSND Thành phố Hà Nội năm 6 tháng đầu năm 2018 102
Trang 8MỞĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của ngành Kiểm sát trong lĩnh vực hình sự Công tác này có vị trí, vai trò, ý nghĩa đặc biệt trong hoạt động đấu tranh, phòng chống tội phạm bởi vì công tác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là hoạt động mở đầu cho quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm phát hiện tội phạm và các hành vi phạm tội.Trên cơ
sở đó các cơ quan tố tụng có trách nhiệm sẽ xác định việc có dấu hiệu tội phạm hay không để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, bảo đảm mọi hành vi phạm tội,người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật Viện kiểm sát thực hiện tốt công tác này không chỉ góp phần đảm bảo hiệu quả việc giải quyết vụ án hình sự, chống bỏ lọt tội phạm, chống oan, sai, giữ gìn sự nghiêm minh của pháp luật, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố và kiểm sát trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị
Trên cơ sở xác định tầm quan trọng của công tác tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và để cụ thể hóa quy định về vai trò của VKSND nói chung và VKSND cấp huyện nói riêng.Trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạtđộng này trước đây được thực hiện theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003, thông tư liênngành số 06/2013 của BCA-BQP-BTC-VKSNDTC và một
số văn bản pháp luật có liên quan Trước sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội, tình hình tội phạm,hiện nay Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có hiệu
Trang 9lực thi hànhđã khắc phục cơ bảnnhững bất cập, hạn chế của BLTTHS năm 2003.BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa, xây dựng những quy định mới về công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các chế định một cách thống nhất, khách quan, bảo đảm đúng căn cứ pháp luật
Trước tình hình đó việc nghiên cứu đề tài “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)” có ý nghĩa cần thiết và quan trọng nhằm nghiên cứu, nắm bắt các quy
định pháp luật mới, đồng thời phát hiện các hạn chế đểđưa ra những giải pháp bảo đảm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian vừa qua, đặc biệt từ khi bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề này và có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau đã được công bố Đáng chú ý là các công trình sau:
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Namtừ thực tiễn tỉnh Kiên Giang” của Trần Khánh Trường,Viện hàn lâm khoa học xã hội –
Học viện khoa học xã hội, 2017
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và thực tiễn công tác trên địa bàn thị
xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” của Ngô Quốc Hưng, Khoa Luật –Đại học
quốc gia Hà Nội, 2016
Trang 10- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn” của Nguyễn Thu Hồng,
Viện hàn lâm khoa học xã hội – Học viện khoa học xã hội, 2016
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”của Dương Tiến Mạnh, Khoa
Luật –Đại học quốc gia Hà Nội, 2015
- Luận văn thạc sĩ Luật học:“Vai trò của Viện kiểm sát trong việc khởi
tố vụ án hình sự” của Nguyễn Khắc Quang, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà
Nội, 2014
- Luận văn thạc sĩ Luật học:“Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tốcủa Phạm
Anh Đức, Trường Đại học luật Hà Nội, 2016
- “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”củaNguyễn Trọng Nghĩa và Trần Trung Hiếu, Trường Đại
học luật Thành Phố Hồ Chí Minh,2015
Ngoài ra, còn có các bài viết của các tác giả khác với các ý kiến và quan điểm khác nhau được đăng trên các báo và Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học, các báo cáo tổng kết công tác, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ
Có thể thấy, vấn đề tố giác, tin báo về tội phạm đã được nghiên cứu dựa trên các quy định pháp luật hiện hành, tuy nhiên liên quan trực tiếp đến Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên cơ sở thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nộichưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, sâu sắc Do vậy, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nàođã được công bố.Trong Luận văn, tác giả đã kế thừa có chọn lọc các kết quả của những công trình nghiên cứu có trước, tiếp tục bổ sung, phát triển hơn nữa, góp phần làm sáng
tỏ vấn đề khi Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã bổ sung nhiệm vụ và trách nhiệm của VKSND đối với hoạt động này
Trang 113 Mục đíchvà nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhận thức và làm rõ các quy định pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố qua thực tiễn công tác này trên địa bàn thành phố Hà Nội, chỉ ra những bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành và những điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực
tiễn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích nêu trên, khóa luận phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống, tập trung làm rõ một số vấn đề tố giác, tin báo về tội phạm
- Đề cập đến quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong giải tiếp nhận, quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khới tố
- Phân tích, thực tiễn thực hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố hà nội và nhận xét đánh giá
- Hệ thống, tập trung làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân
Trang 12- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các văn bản pháp luật liên quan và thực tiễn áp dụng quy định vềchức năng, nhiệm vụ của kiểm sát trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Thực tiễn hoạt động của VKSND cấp huyệntrên địa bàn thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong giải tiếp nhận, quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.Việc thực hiện vai trò này của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyệntrên địa bàn thành phố Hà Nội
5 Những đóng góp về khoa học của đề tài
- Luận văn đã khảo cứu một số vấn đề về nhận thức và thực tiễn về hoạt
động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố khi
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã bổ sung nhiệm vụ và trách nhiệm của VKSND đối với hoạt động này Đồng thời luận văn chỉ ra những đặc điểm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm của VKSND
- Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận có liên
quan đến vai tròtiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND cấp huyện trên địa thành phố Hà Nội, đánh giá kết quả cũng như thiếu sót, tồn tại và đề ra các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng của việc thực hiện chức năng này của VKSND cấp huyện
Trang 13- Qua nghiên cứu thực tiễn kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về
tội phạm của VKSND cấp huyện.Luận văn đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện công tác kiểm sát này.Luận văn cũng góp phần nhận thức đúng đắn vai trò vai trò của VKSND cấp huyện, tăng cường trách nhiệm kiểm sát, công tố trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Khóa luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn
đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII,
IX, X và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng như: Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử
cụ thể, phương pháp lô gíc.Đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong các công trình của một số nhà nghiên cứu khoa học Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong các báo cáo của Ngành kiểm sát và phòng thống kê tội phạm và công nghệ thông tin VKSND thành phố Hà Nội để phân tích, đánh giá, tổng hợp các vấn đề thực tiễn xung quanh vấn đề tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố
7 Kết cấu của luận văn
Trang 14Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Nhận thức đối vớitố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố, thực tiễn thực hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp quận (huyện)trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp quận (huyện) trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 15Chương 1 NHẬN THỨC TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ, VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC TỘI PHẠM
VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ
1.1 Nhận thức tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.1.1 Khái niệmtố giác, tin báo về tội phạm vàkiến nghị khởi tố
Trước khicóBLTTHS 2015, các quy định đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa có một khái niệm cụ thể mà chỉ có các quy định chung nên quá trình áp dụng còn có nhiều cách hiểu khác nhau.BLTTHS năm 2003 không quy định thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố mà chỉ quy định:
“Công dân có thể tố giác tội phạm với CQĐT, VKS, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức Nếu tố giác bằngmiệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký củangười tố giác
Cơ quan tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác củacông dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản” [2, Điều 101]
Theo các quy định nàythìchủ thể tố giác tội phạm là công dân, chủ thể cung cấp tin báo về tội phạm làm cơ quan, tổ chức, phương tiện thông tin đại chúng còn chủ thể của kiến nghị khởi tố là cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên trên thực tế, tố giác tội phạm không chỉ là do công dân Việt Nam cung cấp mà có thể do cá nhân là người nước ngoài, người không quốc tịch cung cấp trong những trường hợp họ bị xâm hại tài sản, danh dự, nhân phẩm trên lãnh thổ Việt Nam Do đó nếu chỉ quy định những người là công dân Việt
Nam mới có quyền tố giác về tội phạm là chưa đầy đủ
Để hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của BLTTHS 2003 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Thông
Trang 16tư liên tịch số 06/2013/TTLT – BCA – BQP – BTC – BNN&PTNT – VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính,
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (viết tắt là TTLT số 06/2013) hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHSvề tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã giải thích
cụ thể như sau:
- Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết
- Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết
- Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm
vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị CQĐT xem xét khởi tố vụ án hình sự [6, Điều 3]
Như vậy TTLT số 06/2013 đã đưa ra khái niệm thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Tuy nhiên theo cách giải thích trên vẫn chưa phản ánh đúng bản chất của tố giác và tin báo về tội phạm Bởi vì, những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cũng có thể là tin báo về tội phạm, cũng có thể là tố giác
về tội phạm Ngoài ra theo khái niệm trên cá nhân cũng có thẩm quyền tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Đối với kiến nghị khởi tố mới chỉ quy định CQĐT là cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết kiến nghị khởi tố về tội phạm.Nếu quy định tin báo do cơ quan, tổ chức cung cấp hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng là chưa phù hợp Thực tiễn cho thấy, tin báo là thông tin về vụ việc phạm tội, ngoài cơ quan, tổ chức báo tin thì cá nhân cũng báo rất nhiều tin về vụ việc mình biết cho cơ
Trang 17quan có thẩm quyền giải quyết, đây cũng là các căn cứ để xác định dấu hiệu tội phạm
Từ thực tiễn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kế thừa các quy định của pháp luật hình sự, BLTTHS năm 2015 đã quy định khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như sau:
- Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền
- Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin
về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng
- Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho CQĐT, VKS có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm[3, Điều 144]
Như vậy, quy định của BLTTHS năm 2015 đưa ra, tất cả những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân phát hiện và tố cáo với cơ quan có thẩm quyền được coi là tố giác về tội phạm, còn đối với những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm mà cá nhân biết được và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền được coi là tin báo, điều này giúp phân biệt rõ giữa tin báo và tố giác
Việc đưa ra khái niệm mới về tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như trên là chính xác hơn, phản ánh đúng bản chất của tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố so với TTLT số 06/2013
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.1.2.1 Khái niệmtiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Dưới góc độ ngôn ngữ học,tiếp nhận là việc đón nhận từ người khác, nơi khác chuyển đến,còn giải quyết là việc đưa một vấn đề đến kết quả, làm
Trang 18cho không còn mọi trở ngại, khó khăn để đạt được kết quả.Trong tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có thể do nhiềucá nhân, tố chức khác nhau thực hiện, nhưng việc tiếp nhận để giải quyết chúng chỉ do những
cơ quan và người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mới được tiến hành
BLTTHS năm 2015 quy định việc tiếp nhậntố giác, tin báo về tội phạm chỉ do cơ quan có thẩm quyền tiến hành, không giao cho cá nhân, đây là sự thay đổi so với các quy định pháp luật trước đây (bỏ quy định về giao cho cá nhân) Đối với kiến nghị khởi tố, BLTTHS năm 2015 cũng quy định các cơ quan có thẩm quyền khi gửi văn bản kiến nghị phải gửi kèm theo các văn bản, tài liệu chứng cứ liên quan để phục vụ việc xác minh.Về tiếp nhận, BLTTHS năm 2015 cũng có sự thay đổi so với các quy đinh trước đây, ngoài CQĐT thì
có thể gửi đến VKS để xem xét, thụ lý.Các chủ thể có thẩm quyền tiếp nhận
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tốđượckhoản 2 điều 145
BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể, bao gồm “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan, tổ chức khác” Những cơ quan, tổ chứckhácđược thông tư
liên tịch số 01/2017 quy địnhđó làCông an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an; Tòa án các cấp; Cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác (Những cơ quan tổ chức này chỉ có thẩm quyền tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm, không có thẩm quyền tiếp nhận kiến nghị khởi tố)
Cũng giống như tiếp nhận, BLTTHS năm 2015 việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chỉ do cơ quan có thẩm quyền tiến hành chứ không giao cho cá nhân cụ thể nào Các chủ thể có thẩm quyền giải
quyết được khoản 3 điều 145 BLTTHS năm 2015 quy định gồm “Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát”
BLTTHS năm 2015 quy định: “Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời Cơ quan, tổ chức
Trang 19có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố” [3, Khoản 1 Điều 145] Có thể hiểu, mọi thông tin tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cá nhân, cơ quan, tổ chức đều phải được các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận để giải quyết, không cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền nào được quyền từ chối việc tiếp nhận này Quy định này nhằm tạo điều kiện cũng như khuyến khích cá nhân, cơ quan, tổ chức ngay khi phát hiện các sự việc có dấu hiệu tội phạm cần tố giác, báo tin ngay cho các cơ quan có thẩm quyền để nhanh chóng xử lý, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, trị an của xã hội
Khi tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố,các chủ thể có thẩm quyền cũng phải tuân theo một số nguyên tắc nhấtđịnh,
đó là:
Thứ nhất, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Thứ hai, mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được
tiếp nhận đầy đủ theo trình tự, thủ tục
Thứ ba, chỉ những cơ quan và người có thẩm quyền giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mới được tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Thứ tư,trong quá trình tiếp nhận, giải quyếttố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố, người có thẩm quyền phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình
Thứ năm, có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ
chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố về việc giữ bí mật việc
tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa
Trang 20Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố,các chủ thể có thẩm quyềnphải thực hiện theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định như lập biên bản tiếp nhận, ghi vào sổ tiếp nhận Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền nếu tin báo, tố giác tội phạm và
kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình…“Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viê ̣n kiểm sát có thẩm quyền”[3, Khoản 5, Điều 146]
Về hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã được BLTTHS năm 2015 và các văn bản pháp luật khác như Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC sau đây gọi tắt là TTLT số 01/2017; Quy chế tạm thời ban hành kèm theo Quyết định số 169/QĐ-VKSTC ngày 02 tháng 5 năm 2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố quy định tương đối đầy đủ về thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết, phân loại, thời hạn giải quyết, tranh chấp về thẩm quyền giải quyết cũng như trách nhiệm của Cơ quan trong việc giải quyết Các chủ thể có thẩm quyền cũng phải tuyệt đối thực hiện theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định Trong
đó vai trò của Viện kiểm sát trong việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố rất quan trọng
Từ những phân tích trên có thể khái niệm:
“Tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tốlà việc đón nhận những thông tin về hành vi có dấu hiệu về tội phạm do cơ quan, tổ chức,
Trang 21cá nhâncung cấp hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúngđượccơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định”
“Giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật sử dụng quyền năng pháp lý
để giải quyết nguồn thông tin về tội phạm nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện và xử lý, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội”
1.1.2.2 Đặc điểm tiếp nhận,giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Thứ nhất, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là một hoạt động tố tụng được pháp luật hình sự quy định
Trong khoa học Luật tố tụng hình sự, các giai đoạn tố tụng hình sự thường được chia ra thành 4 giai đoạn Đó là giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử (một số quan điểm cho rằng có thêm giai đoạn thi hành án) Trong đó, khởi tố vụ án hình
sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự
có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm do hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó Có thể thấy hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nằm trong giai đoạn này Tại Điều 143 BLTTHS năm 2015 quy định có 6 căn cứ để khởi tố vụ án, trong đó có 4 căn cứ nằm trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Như vậy, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là một hoạt động quan trọng, giúp đảm bảo nguyên tắc “mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện và xử lý”
Trang 22Thứ hai, chỉ cơ cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy định mới đượctiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Chủ thể có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, khoản 2 điều 145 BLTTHS năm 2015 quy định gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức khác (Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an; Tòa án các cấp; Cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác).Chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố chỉ bao gồm các chủ thể: Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát[3, Khoản
3 Điều 145]
Thứ ba, Các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải nhiêm chỉnh thực hiện hoạt
động này theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định
Đó là những quy định về trách nhiệm tiếp nhận; những hoạt động được điều tra trong giai đoạn giải quyết;thời hạn giải quyết; tạm đình chỉ; phục hồi; tranh chấp về thẩm quyền giải quyết và những hoạt động khác.Những quy định này được BLTTHS năm 2015 và nhưng văn bản pháp luật liên quan quy định tương đối cụ thể đầy đủ
Thứ tư: Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tốđược tiến hành khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm,
là hoạt động mở đầu của tố tụng hình sự
Tiếp nhận là hoạt động mở đầu của quá trình giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, nhằm xác địnhcó hay không có hành vi phạm tội Trên cơ sở tiếp nhận tin báo, tố giác, cơ quan có thẩm quyền xác định có dấu hiệu tội phạm hay không để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Do
đó, hoạt động tiếp nhận là hoạt động tiền đề cho việc giải quyết
Trang 231.2 Nhận thức vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.2.1 Khái niệm, cơ sở quy định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.2.1.1 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhân, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trong khoa học pháp lý, vai trò dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh
và mối quan hệ nào đó
Vai trò của các cơ quan nhà nước được xác định từ vị trí của nó trong
bộ máy nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định và hiệu quả hoạt động của nó trong thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất; có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật (trong hoạt động tư pháp), thực hành quyền công tố Nhà nước, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố, Viện kiểm sát có chức năng và nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động giải quyết tin báo, tố giáctội phạm và kiến nghị khởi tố Theo tác giả, vai trò của Viện kiểm sát trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố có những đặc điểm sau:
Thứ nhất,vai trò của Viện kiểm sát trong giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm và kiến nghị khởi tố là một trong những nhóm hoạt động và quyền năng của Viện kiểm sát được pháp luật quy định khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự;
Thứ hai, so với vai trò của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng khác, đây là hoạt động chỉ do cơ quan duy nhất là Viện kiểm sát tiến hành theo quy định pháp luật tố tụng hình sự Theo Hiến pháp và pháp luật
Trang 24hiện hành, Viện kiểm sát là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Với chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát thực hiện quyền lực nhà nước, trực tiếp tiếp thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm mọi hành vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể và lợi ích hợp pháp cua công dân phải được phát hiện kịp thời, xử
lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật;
Thứba,vai trò của VKSND trong giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố được tiến hành khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, là hoạt động mở đầu của tố tụng hình sự;
Thứ tư, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong
việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát
có những vai trò khác với các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử;
Trên cơ sở phân tích, làm rõ khái niệm có liên quan như tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, vai trò của Viện kiểm sát cũng như đặc điểm của nó, có thể thấy khái niệm vai trò của Viện kiểm sát trong giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được hiểu như sau:
“Vai trò của VKSND trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khới tố là việc VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụđược pháp luật quy định để thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan sai, bỏ lọt tội phạm”
1.2.1.2 Cơ sở quy định vai trò của Viện kiểm sátnhân dân trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Thứ nhất, Căn cứ vào chức năng cơ bản của tố tụng hình sự
Trang 25Trong tố tụng hình sự có ba chức năng cơ bản là chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng xét xử Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng buộc tội Chức năng này được thực hiện ngay từ khi
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Thứ hai, Căn cứ vào chức năng của chủ thể có thấm quyền tiến hành
tố tụng
Mỗi chức năng tố tụng được thực hiện bởi chủ thể hoặc nhóm chủ thể khác nhau khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự Chức năng tố tụng
là chức năng của chủ thể cụ thể khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình
sự, là nghĩa vụ tố tụng chủ yếu cùa các chủ thể mà thông qua đó thể hiện bản chất tố tụng và vai trò của các chủ thể đó trong hoạt động tố tụng Mỗi chủ thể chỉ thực hiện chức năng vốn có của mình Chức năng của Viện kiểm sát trong
tố tụng hình sự là chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp Do vậy, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khới tố được quy định phù hợp với chức năng của Viện kiểm sát;
Thứ ba, căn cứ vào nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
Nguyên tắc của tố tụng hình sự là nhừng tư tưởng và quan điểm chủ đạo phản ánh yêu cầu phát triển khách quan của đời sống xã hội, được thể chế hóa bằng pháp luật, có ý nghĩa quyết định đối với việc xác lập và thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, các quan hệ tố tụng hình sự cùng như đối với các hình thức và phương thức thực hiện những hoạt động và quan hệ tố tụng
đó Việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự như nguyên tắc: Trách nhiệm thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự; Báo đảm pháp chế xã hội chú nghĩa trong tố tụng hình sự
Trang 26Thứ tư, Căn cứ vào tổ chức Bộ máy nhà nước
Căn cứ Hiến pháp năm 2013 thì Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua cơ quan dại diện dân cử Bộ máy Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, quyền lực Nhà nước thống nhất nhưng trong bộ máy nhà nước có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Mỗi cơ quan Nhà nước được pháp luật quy định chức năng nhất định để thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất Viện kiểm sát nhân
dân là cơ quan được Hiến pháp quy định hai chức năng: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”.[1, Khoản 1 Điều 107]
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định
Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án.Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp
do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của nhưng cơ quan hoặc cá nhân này Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm
Trang 27tội, không làm oan người vô tội Trên cơ sở Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND
năm 2014 quy định cụ thể hơn, theo đó: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, báo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích cùa Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất[4, Điều 2]
1.2.1.3 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Theo quy định, Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương hay còn gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở Việt Nam là cơ quan kiểm sát cấp thấp nhất trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bốn cấp ở Việt Nam Hiện nay có 691 Viện kiểm sát cấp huyện tại
691 quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp huyện được pháp luật quy định chung và không có sự khác biệt nào đối với những VKSND các cấp khác Tại khoản 3 Điều 41 luật Tổ chức
VKSND quy định “Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình” Từ đó có thể
hiểu nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm trong phạm vi huyện đó Không chỉ giới hạn về phạm vi lãnh thổ VKSND cấp huyện còn bị giới hạn về loại tội phạm tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng có khung hình phạt đến 15 năm tù trừ những tội phạmi xâm phạm an ninh quốc gia,các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranhvv
Có thể thấy Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong giải
Trang 28quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là vô cùng quan trọng Bởi lẽ, CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKSND cấp huyện là nơi tập trung hầu như toàn bộ hoạt động đầu vào của nguồn tin về tội phạm Từ thực tiễn, tổ chức cá nhân tố giác, báo tin về tội phạm hầu hết đều trình báo với cơ quan, tổ chức tại nơi mình sinh sống hoặc nơi có tội phạm xảy ra, họ không biết hoặc không bắt buộc phải biết về thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đó có thuộc thẩm quyền của những cơ quan có thẩm quyền giải quyết của cấp huyện hay không.Hơn nữa việc tố giác, báo tin về tội phạm tại nơi cá nhân, tổ chức sinh sống và làm việc hoặc nơi có tội phạm xảy ra sẽ thuận lợi về mặt vị trí đại lý cũng nhưng kịp thời, nhằm ngăn chặn tội phạm tiếp tục xảy ra cũng như khắc phục hậu quả Chính vì vậy, hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố Nhất là hoạt động tiếp nhận là vô cùng quan trọng
Từ những phân tích ở trên có thể hiểu:
“Vai trò của VKSND cấp huyện trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khới tố là việc VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định để thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương và loại tội phạm thuộc thẩm quyền được giải quyếtnhằm đảm bảo cho việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan sai, bỏ lọt tội phạm”
1.2.2 Sự thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.2.2.1 Sự thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân thông qua việc thực hành quyền công tố trong tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trang 29Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan thuộc hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, theo đó Viện kiểm sát nhân dân có chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc giải tiếp nhận,giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.Để thực hiện tốt vai trò của mình trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Viện VKSND sử dụng thông qua hai chức năng do Hiến pháp và pháp luật đã quyđịnh Trong đó sự thể hiện vai trò của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố thông qua việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thể hiện ở những hoạt động:
Thứ nhất, Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường
hợp khấn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy
định của pháp luật
Thứ hai, Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thực hiện
Thứ ba, Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố vụ án hình sự
Thứ tư, Yêu cầu Cơ quan điều tra , cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự
Thứ năm,Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKSND đã yêu cầu nhưng không được khắc phục
Trang 30Thứ sáu, Hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết đinh tố tụng khác trái
pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm và kiến nghị khởi tố
Thứ bảy, Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác để thực hành quyền
công tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội
1.2.2.2 Sự thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân thông qua tiếp nhận và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Vai trò của Viện kiểm sát khi kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thể hiện ở những hoạt động sau đây:
Thứ nhất, Tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố do các cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyên đến và chuyển ngay cho
CQĐT có thẩm quyền giải quyết
Thứ hai, Kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc
kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm
Thứ ba, Khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra thực hiện một số hoạt động và khắc phục việc vi phạm
Thứ bốn, Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Thứ năm,Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
Trang 31hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc
giải quyết nguồn tin về tội phạm
Thứ sáu, Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khơi tố theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự
Có thể thấy, vai trò của Viện kiểm sát thôngqua việc thực hành quyền công tố và kiểm sát có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ không thể tách rời trong đó kiểm sát việctiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tốlà một hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS Thực hành quyền công tố trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố và hoạt động kiểm sát luôn có mối quan hệ hữu cơ và chặt chẽ, tương hỗ và bổ sung cho nhau.Thực hành quyền công tố được hình thành, duy trì và không ngừng được hoàn thiện là để bảo vệ các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của con người và hoạt động kiểm sát chỉ có thể phát huy được hiệu quả và khi được song hành cùng chức kiểm sát Cả hai chức năng này của VKS khi kết hợp cùng nhau sẽ hạn chế bỏ lọt tội phạm
và hành viphạm tội, làm oan người vô tội, đồng thời bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết có căn cứ và đúng pháp luật
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của quy định pháp luật liên quan đếnvai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm1988
Ngày 01/07/1959 Thủ tưởng Phạm Văn Đồng đã ký Nghị đinh 256/TTg quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố, trong đó có quy định:
"Nhiệm vụ của Viện công tố là điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự” [Khoản 1 Điều 1] và“giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của CQĐT” [Khoản 2 Điều 1] tại thời kì này,
Trang 32Viện công tố tách khỏi hệ thống Toà án và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Như vậy, ngoài chức năng truy tố theo luật hình sự những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn có chức năng trong việc giám sát việc chấp hành pháp luật trong điều tra vụ án hình sự Nghị định 256/TTg chỉ bao gồm 7 điều và quy định một cách khái quoát và tổ chức cũng như nhiệm vụ của Viện công tố, đây là một quy định mới được ghi nhận nhưng chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm của chủ thể này nhưng có thể ghi nhận từ giai đoạn này trở đi, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự trong đó có kiểm sát hoạt động xử lý tin báo, tố giác về tội phạm của Viện công tố bắt đầu được hình thành
Ngày 31/12/1959 , Quốc hội ban hành bản Hiến pháp 1959 trong đó quy định tổ chức cơ quanVKSND thành một hệ thống độc lập với Chính phủ
và chỉ chịu tráchnhiệm trước Quốc hội Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960 để cụ thể hóa chức
năng của VKS trong đó có “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác” [Điểm C Điều 3] Luật tổ chức VKSND cũng quy định nhiệm vụ của VKSND đó là: “Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết các việc khiếu nại và tố cáo của nhân dân về việc vi phạm pháp luật, và trả lời người khiếu nại hoặc tố cáo.”[Điều 11]
Tại Điều 15 quy định luật tổ chức VKSND năm 1960khi kiểm sát việc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
a) Yêu cầu cơ quan Công an hoặc cơ quan điều tra khác tiến hành điều tra tội trạng và truy nã can phạm đang trốn;
b) Yêu cầu cơ quan Công an hoặc cơ quan điều tra khác cung cấp những tài liệu cần thiết để chứng minh tội trạng của can phạm…;
Trang 33c) Tham gia việc điều tra, hoặc khi cần thiết thì tự mình tiến hành điều tra; d) Truy tố hoặc miễn tố can phạm; đình cứu các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật;
e) Khi thấy việc điều tra của cơ quan Công an hoặc cơ quan điều tra khác có chỗ không đúng pháp luật thì yêu cầu sửa chữa; trường hợp nhân viên điều tra phạm tội trong việc điều tra thì truy cứu về trách nhiệm hình sự
Với việc ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960 đã đánh dấu sự hình thành hệ thống cơ quan VKS từ trung ương đến địa phương, đồng thời khẳng định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án hình sự
Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Quốc Hội ban hành bản Hiến pháp mới trong đó quy định chức năng của VKS không chỉ là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án và chức năng công tố mà mở
rộng chức năng “kiểm sát việc tuân theo pháp luật củacác bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức
xã hội” [Điều 138] Trên cơ sở đó Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã quy
định cụ thể chức năng kiểm sát chung và kiểm sátđiều tra tại Chương II, Chương III Tuy nhiên trong giai đoạn này chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về trình tự thủ tục hoạt động điều tra, cũng như hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc xử lý
tố giác, tin báo về tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ đódẫn đến công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm còn gặp nhiều khó khăn.Vai trò của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm còn rất hạn chế
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003
Năm 1985, BLHS Việt Nam đầu tiên và cũng là Bộ luật đầu tiên của chúng ta được ban hành thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới, đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động
Trang 34lập pháp của Quốc hội Ba năm sau Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước ta, BLTTHS năm 1988 đã quy định chặt chẽ trình
tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ và của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, trong đó có quy định về chức năng và nhiệm vụ của viện kiểm sát trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKS với mục đích là nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội
Lần đầu tiên, thuật ngữ “tin báo” và “tố giác” được xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật Tại Điều 83 BLTTHS năm 1988 quy đinh vềcăn cứ
khởi tố vụ án hình sự phải dựa trên những cơ sở: “Tố giác của công dân; Tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội; Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; Người phạm tội tự thú”
Tuy chưa ghi nhận kiến nghị khởi tố là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự nhưng có thể thấy tinh thần những nội dung về căn cứ khởi tố của BLTTHS năm 1988 đã được vận dụng và tiếp thu đến những BLTTHS sau này
Tại Điều 86 BLTTHS năm 1988 cũng đã quy định vềnhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm, đó là trách nhiệm củaCơ quan điều tra và
Viện kiểm sát “Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được
tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.”[Khoản 1 Điều 86]
BLTTHS năm 1988 cùng với đó đã quy định cụ thể về việctrách nhiệm của Viện kiểm sát trong việctiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
và kiến nghị khởi tố
Trang 35“Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc khởi tố
vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp.Trong trường hợp quyết định khởi tố của cơ quan điều tra, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố đó; nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan đó không có căn cứ, thì Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi
tố vụ án.Trong trường hợp quyết định khởi tố của Toà án không có căn cứ thì Viện kiểm sát kháng nghị lên Toà án cấp trên.”[Điều 91]
Như vậy, từ giai đoạn này trở đi, hoạt động giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm của VKS được thực hiện theo quy định của một văn bản quy phạm pháp luật và trong suốt thời gian hơn 15 năm thực hiện BLTTHS năm
1988, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm của VKS đã góp phần quan trọng trong công cuộc phòng chống, đấu tranh các loại tội phạm, đảm bảo việc ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội để phát triển một nền kinh tế bền vững trong thời kỳ đổi mới của đất nước ta, đồng thời tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa
Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sau đây được gọi là Hiến pháp năm 1992 sửa đổi), lần
sửa đổi này đã điều chỉnh chức năng của VKS với quy định:"VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật"[Điều 137], như vậy Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi)
đã quy định rõ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là hai chức năng chính của VKS.TrêncơsởquyđịnhcủaHiếnphápnăm1992 (sửa đổi), Luật tổ chức VKSND năm 2002 được ban hành và tại các Điều 12, 14
Chương II quy định: "VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra" Tại điều
5 luật tổ chức VKS năm 2002 quy định:
Trang 36“Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận các tin báo, tố giác
về tội phạm do các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân chuyển đến
Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm thực hiện việc thống kê tội phạm Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành
tố tụng khác có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ này”
Điều đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp nói chung và trong giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm nói riêng là chức năng
nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tốcụ thể:“Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền”[2, Khoản 1 điều 103]
Ngoài ra vai trò của VKS trong việc kiểm sát, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng được quy định một cách cụ thể hơn
“Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông
Trang 37báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết
Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”[2,Khoản 3, 4 điều 103]
Như vậy, trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống cơ quan VKSND thì vai trò trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhằm mục đích là sự tuân thủ nghiêm minh và thống nhất các quy định pháp luật TTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng
Trên cơ sở quy định của BLTTHS năm 2003 vàHiến pháp năm 2013 được Quốc Hội thông qua, Luật tổ chức VKSND năm 2014ban hànhđã quy
định cụ thể: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử vụ án hình sự.”[4, Khoản 1 Điều 3] tiếp đó, Luật tổ chức VKSND đã quy
định những nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố đólà: “Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố; Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân; Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố ”[4 Khoản 3 Điều
3] Luật Tổ chức VKSND năm 2014 tiếp tục dành riêng 1 mục tại chương II
để quy định về thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS.Ngoài ra, thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC của bộ Công an, bộ Quốc phòng, bộ Tài chính, bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và VKSNDTC (gọi tắt là TTLT số 06) cũng là văn bản vô cùng quan
Trang 38trọng để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Trong đó đã quy định cụ thể và khái niệm tố giác, tin báo và khiến nghị khởi tố; trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết của từng cơ quan,
tổ chức; Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Có thể thấy rằng, những quy định về tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng như vai trò của VKS trong việc kiểm sát, tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố tại giai đoạn này đã được quy định một cách tương đối đầy đủ và khoa học, đáp ứng được những yêu cầu trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong thời kỳ mới là nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
Trang 39Kết luận chương 1
Qua chương 1, tác giả của luận văn khái quátnhận thứcđối vớitố giác, tin báo về tội phạm và vai trò của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố Với mục tiêu phân tích
về khái niệmcủa tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, khái niệm, đặc điểm tiếp nhận giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố Nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố Xây dựng khái niệm khoa học về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhân, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm về tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng như việc thể hiện vai trò này Ngoài ra còn tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của quy định pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố từ khi thành lập vào năm 1960 cho đến trước khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực Kết quả nhận thức về lý luận tại chương 1 cũng là một trong những cơ sở để tác giả nghiên cứu, khảo sát thực tiễn về hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ kết quả nghiên cứu thực tiễn sẽ đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện
có chất lượng, hiệu quả vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trang 40Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI
TỐ, THỰC TIỄN THỰC HIỆNVAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP QUẬN (HUYỆN)TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải tiếp nhận, quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khới tố
2.1.1.Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công
tố trongviệc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Với sự ra đời của BLTTHS năm 2015, Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố được quy định rất cụ thể và chi tiết VKSND thực hành quyền công tố trong hoạt đông này bao gồm: Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm;Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm; Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; Yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự; Hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi
tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và hủy bỏ các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm;Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm khi có một trong những căn cứ quy định tại điểm c khoản
3 Điều 145 BLTTHS năm 2015 ; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong