Bài tập học kỳ số 1:X là người nghiện ma túy, vừa chấp hành xong hình phạt 3 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy (khoản 1 Điều 251 BLHS) được 03 tháng. Một đêm thấy nhà đối diện quên đóng cửa ban công X liền trèo sang và vào nhà lấy chiếc ba lô (bên trong có 01 laptop trị giá 15 triệu đồng). Trong lúc di chuyển, X gây ra tiếng động và bị anh P (chủ nhà) phát hiện. P giữ lại chiếc ba lô, thì bị X dùng chân đạp liên tục vào người và mặt làm P ngã gục xuống sàn nhà. X sau đó tẩu thoát cùng chiếc ba lô (bên trong có 01 laptop trị giá 15 triệu đồng). P được người nhà phát hiện đưa đi cấp cứu và bị tổn hại sức khỏe với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 25%. Câu hỏi:1.Xác định tội danh và khung hình phạt cho hành vi phạm tội của X? (2 điểm)2.Trường hợp phạm tội của X là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (1,5 điểm)3.Giả sử, P do bị ngã đập đầu xuống sàn nhà và tử vong thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi của X có thay đổi không? Tại sao? (1,5 điểm)4.Giả sử sau khi lấy được tài sản, X mang bán chiếc
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Xác định tội danh và khung hình phạt cho hành vi phạm tội của X: ……….……… ………1
1.1 Xác định tội danh cho hành vi phạm tội của X: 1
1.2 Xác định khung hình phạt cho hành vi phạm tội của X: 4
2 Trường hợp phạm tội của X là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? 5
3 Giả sử, P do bị ngã đập đầu xuống sàn nhà và tử vong thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi của X có thay đổi không? Tại sao? 6
3.1 Tội danh của X không thay đổi: 6
3.2 Khung hình phạt của X thay đổi: 7
4 Giả sử sau khi lấy được tài sản, X mang bán chiếc laptop cho M thì M có phạm tội không? Nếu có thì là tội gì? Tại sao? 8
4.1.Trường hợp 1: M phạm tội 8
4.1.1 Trường hợp 1: M phạm “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (Điều 323 BLHS 2015): 8
4.1.2 Trường hợp 2: M đồng phạm với X về “Tội cướp tài sản” (Điều 168 BLHS 2015): 9
4.2 Trường hợp 2: M không phạm tội: 10
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2BẢNG TỪ VIẾT TẮT
BLDS BLHS CTTP TNHS
Bộ luật Dân sự
Bộ luật Hình sự Cấu thành tội phạm Trách nhiệm hình sự
ĐỀ BÀI Bài tập học kỳ số 1:
X là người nghiện ma túy, vừa chấp hành xong hình phạt 3 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy (khoản 1 Điều 251 BLHS) được 03 tháng Một đêm thấy nhà đối diện quên đóng cửa ban công X liền trèo sang và vào nhà lấy chiếc ba lô (bên trong có
01 laptop trị giá 15 triệu đồng) Trong lúc di chuyển, X gây ra tiếng động và bị anh P (chủ nhà) phát hiện P giữ lại chiếc ba lô, thì bị X dùng chân đạp liên tục vào người và mặt làm P ngã gục xuống sàn nhà X sau đó tẩu thoát cùng chiếc ba lô (bên trong có
01 laptop trị giá 15 triệu đồng) P được người nhà phát hiện đưa đi cấp cứu và bị tổn hại sức khỏe với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 25%
Câu hỏi:
1 Xác định tội danh và khung hình phạt cho hành vi phạm tội của X? (2 điểm)
2 Trường hợp phạm tội của X là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (1,5 điểm)
3 Giả sử, P do bị ngã đập đầu xuống sàn nhà và tử vong thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi của X có thay đổi không? Tại sao? (1,5 điểm)
4 Giả sử sau khi lấy được tài sản, X mang bán chiếc laptop cho M thì M có phạm tội không? Nếu có thì là tội gì? Tại sao? (2 điểm)
Trang 3MỞ ĐẦU
Hiện nay, tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển, nhưng cùng với sự phát triển đó là tình hình tội phạm ngày càng gia tăng, nhất là những tội phạm xâm hại tới quan hệ sở hữu như cướp, trộm cắp, tham nhũng, cướp giật tài sản,…Nhà nước ta đã
có những biện pháp tích cực nhằm giải quyết tệ nạn này, trong số đó có tăng cường pháp chế Để hiểu rõ hơn về những quy định của pháp luật nước ta về tội cướp tài sản,
em xin phân tích và tìm hiểu tình huống ở đề bài số 01.
NỘI DUNG
1 Xác định tội danh và khung hình phạt cho hành vi phạm tội của X:
Căn cứ pháp lý: Điều 168 và Điều 173 BLHS 2015
1.1.Xác định tội danh cho hành vi phạm tội của X:
Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, cũng như pháp luật hình sự và được tiến hành bằng cách – trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiếm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định 1
Trong tình huống trên, hành vi phạm tội của X có điểm đặc biệt cần lưu ý đó là hành vi của X có sự chuyển hóa từ “Tội trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173
Bộ Luật Hình sự 2015 thành “Tội cướp tài sản” được quy định tại điều 168 BLHS
2015 Vì vậy, X phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh “Tội cướp tài sản” bởi:
* Thứ nhất, hành vi phạm tội của X thỏa mãn các yếu tố cấu thành “Tội cướp tài sản” được quy định tại Điều 168BLHS 2015: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản…”
- Về mặt khách thể: Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Bằng hành vi phạm tội của mình, người phạm tội cướp tài sản xâm phạm trước hết đến thân thể, đến sự tự
do của con người để qua đó có thể xâm phạm được sở hữu, việc xâm hại quan hệ nhân
1 Lê Cảm – Trịnh Quốc Toản (2012), Định tội danh (lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập), NXB Đại học quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
Trang 4thân xét về mặt nào đó là chỉ là phương tiện để đạt được mục đích xâm hại quan hệ sở hữu
Trong tình huống trên, hành vi của X xâm hại cả hai quan hệ nhân thân và quan hệ
sở hữu: về quan hệ nhân thân, X đã dùng chân đạp liên tục vào người và mặt làm P ngã gục xuống sàn nhà và P sau đó được xác định bị tổn hại sức khỏe với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 25%; về quan hệ sở hữu, X đã xâm phạm đến quyền sở hữu của anh
P, đó là việc X đã lấy của anh P 01 chiếc laptop trị giá 15 triệu đồng Và hành vi xâm phạm đến sức khỏe của anh P là phương tiện để X đạt được mục đích chính là lấy được chiếc laptop
- Về mặt khách quan: Về hành vi khách quan của tội cướp tài sản được điểu luật mô tả dưới 03 dạng hành vi đó là: hành vi dùng vũ lực hoặc hàng vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi (khác) làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được
Trong tình huống trên, có thể thấy hành vi X dùng chân đạp liên tục vào người và
mặt làm P ngã gục xuống sàn nhà là hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản Bởi hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi dùng sức mạnh (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) tác động vào người khác nhằm đè bẹp hoặc làm tê liệt
sự chống cự của người này chống lại việc chiếm đoạt – nghĩa là có khả năng làm cho
sự chống cự về mặt thực tế không xảy ra được hoặc xảy ra nhưng không có kết quả hoặc làm cho người bị tấn công bị tê liệt về ý chí không dám kháng cự, hành vi dùng
vũ lực trước hết phải là hành vi nhằm vào con người Người bị tấn công ở đây có thể
là chủ tài sản, là người có trách nhiệm quản lý hay bảo vệ tài sản nhưng cũng có thể là người bất kì mà người phạm tội cho rằng người này đã hoặc có khả năng sẽ ngăn cản việc chiếm đoạt của mình
Bên cạnh đó, nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản (đây là đặc điểm để phân biệt với các trường hợp
“hành hung để tẩu thoát”)
Trong tình huống trên, X đang thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của mình, thì bị
anh P phát hiện và anh P đã giữ lại chiếc balô nhưng X đã dùng chân đạp liên tục vào
Trang 5người và mặt anh P- chủ sở hữu tài sản làm cho anh P ngã gục xuống sàn, làm anh P tạm thời không có khả năng ngăn cản X, từ đó giúp cho X thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản của mình
- Về chủ thể: Điều 168 BLHS quy định “Người nào…”, như vậy từ đây có thể kết luận
chủ thể của tội cướp tài sản là chủ thể thường, là tất cả những người năng lực trách nhiệm hình sự (bao gồm năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội và đạt độ tuổi chịu TNHS theo luật định khi thực hiện hành vi phạm tội)
Trong tình huống trên, X là người có đủ năng lực TNHS vì X vừa chấp hành xong
hình phạt tù 03 năm về tội mua bán trái phép chất ma túy (Khoản 1 Điều 251 được 03 tháng) và nhận biết được sở hở của nhà hàng xóm (tức nhà anh P) để thực hiện hành
vi phạm tội của mình; sau đó, khi bị anh P phát hiện, X còn có hành vi chống trả để lấy được tài sản (01 chiếc laptop trị giá 15 triệu đồng), X có những phản ứng cơ bản của một người bình thường và cũng đã đủ tuổi chịu TNHS (do X đã từng chấp hành hình phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, nên độ tuổi của X ít nhất phải trên 16 tuổi- đủ tuổi chịu TNHS về mọi tội phạm) Cùng với đó, đề bài không có thêm tình tiết khác, nên X thỏa mãn về mặt chủ thể của tội cướp tài sản
- Về mặt chủ quan:
+ Đối với tội cướp tài sản, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội biết mình có hành vi đe dùng vũ lực hoặc biết mình
có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc biết mình có hành vi làm cho người
bị tấn công lâm vào tình trạng không thể kháng cự Người phạm tội mong muốn hành
vi được thực hiện đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của người bị tấn công
Trong tình huống trên, khi X đang thực hiện hành vi phạm tội của mình thì bị anh P
(chủ nhà) phát hiện, để có thể lấy được chiếc laptop, X đã có hành vi dùng vũ lực với anh P Như vậy, hành vi dùng vũ lực của X với anh P là cố ý để làm tê liệt sự chống
cự của anh P, làm anh P không thể ngăn chặn X thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản + Mục đích: phạm tội của tội cướp tài sản được quy định là mục đích chiếm đoạt tài sản Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý đến mục đích giữ tài sản vừa bị chiếm đoạt được cũng được coi là dạng đặc biệt của mục đích chiếm đoạt tài sản; như vậy, những hành
vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm mục đích giữ tài sản vừa
Trang 6chiếm đoạt được cũng bị coi là là cấu thành tội cướp tài sản Đây là trường hợp người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản bằng thủ đoạn không phải thủ đoạn của tội cướp tài sản nhưng bằng thủ đoạn thủ đoạn trộm cắp, cướp giật… nhưng ngay sau đó đã bị phát hiện và người phạm tội đã tấn công lại người ngăn cản (bằng những thủ đoạn của tội cướp) nhằm giữ bằng được tài sản vừa chiếm đoạt trước đó
Trong tình huống trên, X có mục đích giữ tài sản vừa bị chiếm đoạt Bởi ban đầu X
phát hiện ban công nhà anh P quên không khóa nên X liền trèo sang và vào nhà lấy chiếc ba lô (bên trong có 01 laptop trị giá 15 triệu đồng) Có thể nhận thấy, hành vi lấy chiếc ba lô mà X thực hiện có dấu hiệu lén lút và dấu hiệu tài sản đang có người quản lý, đây là hai dấu hiệu quan trọng của “Tội trộm cắp tài sản” (Điều 173 BLHS 2015) Tuy nhiên, sau đó hành vi của X đã bị anh P (chủ nhà) phát hiện và X đã có hành vi tấn công lại anh P bằng thủ đoạn của tội cướp đó là X đã dùng chân đạp liên tục vào người và mặt làm P ngã gục xuống sàn nhà để chiếm đoạt được chiếc laptop trị giá 15 triệu đồng
* Thứ hai, hành vi phạm tội của X có sự chuyển hóa từ “Tội trộm cắp tài sản” được
quy định tại Điều 173 Bộ Luật Hình sự 2015 thành “Tội cướp tài sản” được quy định tại điều 168 BLHS 2015 Vì vậy, X phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh “Tội cướp tài sản” là đảm bảo nguyên tắc pháp chế của Luật Hình sự Việt Nam
1.2.Xác định khung hình phạt cho hành vi phạm tội của X:
Định khung hình phạt là xác định khung hình phạt phải áp dụng cho hành vi phạm tội đã được định tội danh Là một hoạt động trong quá trình áp dụng luật hình sự, được thực hiện trên cơ sở kết quả của hoạt động định tội và là cơ sở cho việc quyết định hình phạt
Như đã phân tích ở phần 1.1, hành vi của X cấu thành “Tội cướp tài sản” được quy định tại Điều 168 BLHS 2015, việc định khung hình phạt đối với X cần lưu ý:
- Thứ nhất, trong quá trình thực hiện hành vi dùng vũ lực của mình X đã khiến anh P
bị tổn hại sức khỏe với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 25% đây là một trong các trường hợp thuộc tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của tội cướp tài sản được quy định
tại Điểm c Khoản 2 Điều 168 BLHS 2015: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%”
Trang 7- Thứ hai, hành vi phạm tội của X được xác định là tái phạm nguy hiểm (được giải
thích ở câu 2) – đây cũng là một tình tiết định khung hình phạt tăng nặng được quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 168 BLHS 2015
Từ đó, có thể xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của X là từ 07 đến
15 năm tù (Khoản 2 Điều 168 BLHS 2015).
2 Trường hợp phạm tội của X là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?
Căn cứ pháp lý: Điều 9, Điều 52 - 53 và Điều 168 BLHS 2015
Xác tái phạm hay tái phạm nguy hiểm có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt-được xem như là một trong các tình tiết tăng nặng TNHS Hành vi phạm tội của X
được xác định là tái phạm vì Điều 53 BLHS 2015 quy định về tái phạm như sau: “1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý” Từ quy định trên có thể hiểu, người phạm tội
được coi là tái phạm khi thỏa mãn những điều kiện sau:
- Điều kiện thứ nhất, người phạm tội phải là người đã bị kết án và đang có án tích: Ở
đây cần chú ý rằng không phải tất cả những người đã bị kết án đều bị coi là có án tích,
đó là các trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLHS 2015 và Khoản 1 Điều 107 BLHS (đối với người bị kết án dưới 18 tuổi) Như vậy, người bị kết án mà không thuộc các trường hợp này mới bị coi là có án tích Tuy nhiên, án tích sẽ được xóa theo quy định tại các điều từ 69 đến 73 và Điều 107 BLHS 2015 Theo đó, điều kiện thứ nhất của tái phạm là: Người phạm tội đã bị kết án, thuộc trường hợp có án tích và án tích này chưa được xóa.2
Trong tình huống trên, khi thực hiện hành vi cướp tài sản của mình thì X là người
nghiện ma túy, vừa chấp hành xong hình phạt 3 năm tù về tội mua bán trái phép chất
ma túy (khoản 1 Điều 251 BLHS) được 03 tháng (tội phạm của X là tội ít nghiêm trọng theo phân loại tội phạm với lỗi cố ý) Như vậy, đối với trường hợp của X, X đã
bị kết án và X vẫn đang có án tích, X chưa được xóa án tích vì theo quy định tại Điểm
b Khoản 2 Điều 70 người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp
(Phần chung), Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.271.
Trang 8hành xong hình phạt chính…không thực hiện hành vi phạm tội trong thời hạn 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm (X mới chấp hành xong hình phạt tù đến 03 năm nhưng mới được 03 tháng đã thực hiện hành vi phạm tội mới)
- Điều kiện thứ hai, người đang có án tích đã phạm tội mới và tội phạm đó là tội phạm
cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý
Trong tình huống trên, hành vi phạm tội của X đã CTTP “Tội cướp tài sản” được
quy định tại Điều 168 BLHS 2015 và như phân tích ở trên, hành vi phạm tội mới này
X là tội phạm với lỗi cố ý
Bên cạnh đó, cần lưu ý do tình tiết tái phạm vừa được quy định là tình tiết định tội, vừa là tình tiết định khung hình phạt, vừa là tình tiết tăng nặng TNHS Cho nên, khi
áp dụng cần tuân thủ nguyên tắc được quy định là những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng TNHS.3
Trong tình huống trên, trong “Tội cướp tài sản” được quy định tại Điều 168 BLHS
2015, tình tiết tái phạm đã được coi là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng nên khi quyết định hình phạt đối với X cần lưu ý không được coi đây là tình tiết tăng nặng TNHS nữa
3 Giả sử, P do bị ngã đập đầu xuống sàn nhà và tử vong thì tội danh và khung hình phạt đối với hành vi của X có thay đổi không? Tại sao?
Căn cứ pháp lý: Điều 168 BLHS 2015
Trong tình huống trên, giả sử, P do bị đập đầu xuống sàn nhà và tử vong thì tội danh của X không thay đổi vẫn là “Tội cướp tài sản” theo Điều 168 BLHS 2015 nhưng khung hình phạt đối với hành vi của X cấu thành “Tội cướp tài sản” có thay đổi
3.1 Tội danh của X không thay đổi:
- Thứ nhất, như đã phân tích ở trên hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống
cự được…” trong tội cướp tài sản chỉ là phương tiện giúp người phạm tội đạt được
mục đích chính của mình là cướp tài sản Đây chính là đặc điểm để phân biệt với một
số tội danh khác
Trong tình huống trên, X khi thực hiện hành vi lấy tài sản của mình thì bị anh P chủ
nhà phát hiện, X dùng chân đạp liên tục vào người và mặt làm P ngã đập đầu xuống
3 TS Trần Văn Biên – TS Đinh Thế Hưng (2017) , Bình luận khoa học BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017), Nxb Thế giới, TP.HCM, tr.69.
Trang 9sàn nhà và tử vong Sau đó tẩu thoát cùng chiếc balô bên trong có chứa 01 chiếc laptop trị giá 15 triệu đồng Có thể thấy, hành vi của X làm anh P chết là phương tiện giúp đạt được mục đích của X là lấy tài sản
- Thứ hai, ở đây, hành vi này của X dẫn đến hậu quả chết người cần phân biệt với một
số tội như:
+ “Tội giết người” (Điều 123 BLHS 2015) có hành vi khách quan là tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác và hành vi này cần chứa đựng khả năng thực tế có thể dẫn đến chết người, một trong những điểm có thể thấy đó là vị trí tác động của người phạm tội lên cơ thể nạn nhân như vùng động mạch có thể dẫn đến mất nhiều máu, vùng đầu hay tim,… hay công cụ, phương tiện như súng, dao,…thể hiện lỗi cố ý của người phạm tội là muốn nạn nhân chết
Trong tình huống trên, hành vi của X đạp chân liên tục vào người và mặt anh P
không thể hiện được X có ý muốn giết người
+ “Tội vô ý làm chết người” (Điều 128 BLHS 2015) có hành vi khách quan là hành vi
vi vi phạm quy tắc an toàn trong nhiều lĩnh vực khác nhau hoặc chỉ là những quy tắc
xử sự xã hội thông thường, mọi người đều biết và thừa nhận và lỗi vô ý
Trong tình huống trên, hành vi của X đạp chân liên tục vào người và mặt anh P
khiến anh P đập đầu xuống đất và chết không vi phạm quy tắc an toàn nào
3.2 Khung hình phạt của X thay đổi:
Trong tình huống, P do ngã đập đầu xuống sàng và tử vong thì khung hình phạt đối với hành vi của X cấu thành “Tội cướp tài sản” có thay đổi từ Khoản 2 Điều 168 với khung hình phạt từ 07 đến 15 năm tù (tội phạm rất nghiêm trọng) lên Điểm c Khoản 4
Điều 168: “Làm chết người” với khung hình phạt cao hơn là từ 18 đến 20 năm tù hoặc
tù chung thân (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) “Làm chết người” ở đây cần được
hiểu là trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả chết người và lỗi của họ đối với hậu quả này là lỗi vô ý
Trong tình huống trên, hậu quả chết người của anh P là do hành vi dùng vũ lực của
X với lỗi vô ý để có thể chiếm đoạt tài sản Lỗi vô ý này có thể thấy được thực hiện qua hành vi của X đạp vào người và mặt của anh P, không chứa đựng khả năng thực
tế dẫn đến chết người
Trang 104 Giả sử sau khi lấy được tài sản, X mang bán chiếc laptop cho M thì M có phạm tội không? Nếu có thì là tội gì? Tại sao?
Trong tình huống trên, do đề bài không nêu rõ M mua chiếc laptop từ X trong trường hợp biết hay không biết chiếc laptop là tài sản do X phạm tội mà có hay X và M có sự hứa hẹn trước với nhau hay không và cũng không nêu rõ về năng lực TNHS của M, nên chia ra làm 02 trường hợp sau:
4.1 Trường hợp 1: M phạm tội
Trong trường hợp này, mặc định hiểu rằng M đã đủ năng lực TNHS nên sẽ chỉ đi phân tích khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của CTTP với 02 trường hợp: X
và M không hứa hẹn trước (M biết rõ đây là tài sản do phạm tội mà có); X và M hứa hẹn trước
4.1.1 Trường hợp 1: M phạm “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (Điều 323 BLHS 2015):
Trong trường hợp này, hành vi của M cấu thành “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có” được quy định tại Điều 322 BLHS 2015 Bởi hành vi của M thỏa mãn các yếu tố CTTP của tội danh này:
- Về khách thể: Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản còn tài sản do người khác phạm tội mà có được xác định là: (i) Tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội như tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hối lộ…; (ii) Tài sản do người phạm tội có được từ việc mua bán, trao đổi bằng tài sản
có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội
Trong tình huống trên, chiếc laptop trị giá 15 triệu đồng tồn tại dưới dạng vật và là
tài sản có được trực tiếp do hành vi phạm tội cướp tài sản của X
- Về mặt khách quan:4về hành vi khách quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có Điều 323 quy định “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có…”:
+ Chứa chấp tài sản là một trong các hành vi sau đây: cất giữ, che giấu, bảo quản tài sản; cho để nhờ, cho thuê địa điểm để cất giữ, che dấu, bảo quản tài sản đó
4 http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=294 , Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có, 09/11/2018, 6:40 PM.