1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT bị GIÁO DỤC TRONG CÁC TRƯỜNG mầm NON HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHÔ HẢI PHÒNG đáp ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO dục mầm NON mới

79 146 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 118,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thực trạng thiết bị giáo dục trong các trường mầm non huyện An Dương, thành phố Hải phòng đáp ứng chương trình giáo dục mầm mới Các hoạt động TBGD gồm 3 loại hoạt động là: Trang bị, sử

Trang 1

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TRONG CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHÔ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON MỚI

Trang 2

- Vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục mầm non huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng.

- Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội

Huyện An Dương là một huyện nằm ở phía Tây thành phốHải Phòng Mạng lưới sông ngòi có mật độ dày đặc, đều là hạlưu cuối cùng của hệ thống sông Thái Bình sau khi chảy quađịa phận tỉnh Hải Dương Huyện An Dương ôm lấy ba mặtnội thành của thành phố Hải Phòng Trên địa bàn huyện cónhiều đầu mối giao thông quan trọng đi qua (đường 5, đường10) Khí hậu huyện An Dương mang đầy đủ những đặc điểm

cơ bản của khí hậu miền Bắc Việt Nam Đó là khí hậu nhiệtđới gió mùa, có mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh, ítmưa

Huyện An Dương có 16 đơn vị hành chính (15 xã và 1thị trấn) Tổng diện đất tự nhiên 9.576, 91 ha Trong đó đấtnông nghiệp có 6.439, 49 ha Nông nghiệp An Dương làngành nông nghiệp đa dạng vì ngoài cây lúa còn là vành đaixanh cung cấp thực phẩm: rau xanh, hoa, quả và gia súc giacầm cho thành phố và một số tỉnh, thành phố lân cận

Trang 3

Huyện An Dương có nhiều làng nghề truyền thống: làngnghề sản xuất bánh đa, cốm thôn Kinh Giao xã Tân Tiến vàthôn Xích Thổ xã Hồng Thái; Mây tre đan xã Hồng Thái,Đặng Cương; Làng nghề trồng hoa cây cảnh ở các xã ĐặngCương, Đồng Thái.

Nhiều dự án, khu công nghiệp trong nước và liên doanhvới nước ngoài (Nomura, Nam cầu Kiền, cụm công nghiệpTràng Duệ, Lò Đống, Đặng Cương) nhiều cơ sở kinh tế củaThành phố và Trung ương đóng trên địa bàn Là huyện ven đôchịu ảnh hưởng lớn của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa

- Tình hình Giáo dục mầm non của huyện An Dương

- Tình hình phát triển Giáo dục mầm non của huyện An Dương trong 5 năm trở lại đây

Năm học 2013-2014, huyện An Dương, thành phố HảiPhòng có 19 trường mầm non Trong đó có 17 trường mầmnon công lập (trong đó có 42 điểm trường); 2 trường mầmnon tư thực Tổng số lớp có 250 lớp.Trong đó có 240 lớpthuộc loại hình trường mầm non công lập và 10 lớp thuộcloại hình trường mầm tư thục Tổng số học sinh huy động đếntrường,lớp: 7.980/17.680 học sinh đạt 45.1%

Trang 4

Đến năm học 2017-2018 có 22 trường trường mầm non.Trong đó có 17 trường mầm non công lập (trong đó có 40điểm trường); 5 trường mầm non tư thực Tổng số lớp có 341lớp.Trong đó có 310 lớp thuộc loại hình trường mầm noncông lập và 31 lớp thuộc loại hình trường mầm tư thục Tổng

số học sinh huy động đến trường, lớp: 11.300/18.080 học sinhđạt 62.5% Các số liệu cụ thể như sau:

- Đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên

a Đội ngũ cán bộ quản lý

- Đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường mầm non huyện

An Dương đều là những người trưởng thành từ chuyên môn,

có tay nghề vững vàng, có nhiều kinh nghiệm, tâm huyết vớinghề Cán bộ quản lý ở các trường mầm non 100% là nữ.Tuổi đời của số cán bộ quản lý ở độ tuổi 34 – 53 100 %CBQL là đảng viên, 100% CBQL đã qua bồi dưỡng nghiệp

vụ quản lý Các cán bộ quản lý có thâm niên trên 5 nămchiếm tỉ lệ 82.7 %

- Đội ngũ CBQL trường mầm mon huyện An Dương,thành phố Hải Phòng có phẩm chất đạo đức, lối sống lànhmạnh, gương mẫu, có lập trường tư tưởng chính trị vững

Trang 5

vàng, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong công tác.Luôn ý trí phấn đấu cố gắng vươn lên trong mọi điều kiện,hoàn cảnh Luôn có những sáng tạo, đổi mới trong công tácquản lý, chỉ đạo, đưa chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáodục của ngành học mầm non huyện An Dương nói riêng vàngành học mầm non thành phố Hải Phòng nói chung luônđứng trong tốp đầu của giáo dục mầm non toàn quốc.

b Đội ngũ giáo viên

- Đội ngũ giáo viên tương đối đủ về số lượng, đồng bộ về

cơ cấu, đảm bảo chuẩn và trên chuẩn về đào tạo (77,1% trênchuẩn) Số lượng giáo viên có thâm niên từ 6 năm trở lên đông,phần lớn có kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy tốt Sốlượng giáo viên là đảng viên chiếm 52.1%, đây là lực lượngquan trọng, đóng vai trò là các cốt cán chuyên môn của trường,huyện, thành phố

- Hàng năm các trường đều tổ chức Hội thi giáo viên dạygiỏi cấp trường 02 năm Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện AnDương tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện 1 lần 04năm Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng tổ chức Hộithi giáo viên dạy giỏi cấp thành phố 1 lần Mỗi khi các cấp

Trang 6

phát động tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi các cấp đều đượcđông đảo giáo viên hửng ứng, tích cực tham gia, một mặtkhẳng định năng lực chuyên môn của bản thân, mặt khác có cơhội để học tập kinh nghiệm giảng dạy, tự học, từ bồi dưỡngchuyên môn để đáp ứng được với yêu cầu đổi với căn bản toàndiện giáo dục hiện nay.

- Tuy nhiên, một số trường năng lực đội ngũ giáo viênchưa đồng đều Do đầu vào đào tạo của một số giáo viên họctheo hình thức vừa học vừa làm nên kiến thức chuyên mônchưa chắc chắn, mặt khác một giáo viên lớn tuổi đã trải quanhiều chương trình giáo dục mầm non (chương trình giáo dụcmầm non cải cách, chương trình giáo mầm non mới) nên cónhững hạn chế trong việc cập nhật những quan điểm, phươngpháp giáo dục tiên tiến, đặc biệt là giáo dục theo quan điểmlấy trẻ làm trung tâm”

Tính đến thời điểm hiện tại tỷ lệ giáo viên giỏi cấphuyện: 34.7% trên tổng số giáo viên

Tỷ lệ giáo viên giỏi cấp thành phố: 3,2 % trên tổng số giáoviên Đây là lực lượng giáo viên cốt cán ở trong mỗi nhàtrường Đó là những cá nhân tiêu biểu có trình độ chuyên môn

Trang 7

nghiệp vụ cao, luôn tỏa sáng trong các phong trào thi đua củangành, là tấm gương để đồng nghiệp học tập noi theo Hàngnăm số lượng giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi các cấp đều tănglên, điều này cho chúng ta thấy chất lượng đội ngũ giáo viênmầm non huyện An Dương ngày càng có chất lượng Tuy nhiên

số lượng giáo viên tham gia thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện vàcấp thành phố còn ít, danh hiệu giáo viên đạt giáo viên dạy giỏicấp huyện và cấp thành phố tỷ lệ chưa cao, lực lượng giáo viêncốt cán chuyên môn của ngành học giáo dục mầm non huyện

An Dương còn mỏng

Như vậy, trên thực trạng của đội ngũ giáo viên hiện nayđòi hỏi các nhà quản lý nhất là các đồng chí Hiệu trưởng cầnquan tâm đến chất lượng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cầnphải có sự phân loại trình độ,năng lực giáo viên để đưa ranhững nội dung, hình thức bồi dưỡng phù hợp, hiệu quả Xâydựng và phát triển đội ngũ giáo viên dạy giỏi các cấp tạonguồn lực vững chắc cho sự nghiệp đổi mới giáo dục

- Cơ sở vật chất trường mầm non

Hiện nay, trong toàn huyện đã có 10/22 trường mầm nonđạt chuẩn Quốc gia Các trường đạt chuẩn Quốc gia đủ các

Trang 8

tiêu chuẩn, điều kiện về cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợicho việc huy động trẻ trên địa bàn ra trường, lớp, mặt khácmôi trường giáo dục quy chuẩn đáp ứng thực hiện tốt chươngtrình giáo dục mầm non mới Hàng năm các trường vẫn thựchiện nghiêm túc việc cải tạo, duy trì giữ vững các tiêu chuẩn,điều kiện công nhận trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia.Bên cạnh đó còn nhiều trường mầm non không đủ phòngchức năng và phòng học dẫn đến việc huy động trẻ em trong

độ tuổi mầm non đến trường, lớp còn thấp

- Thực trạng thiết bị giáo dục trong các trường mầm non huyện An Dương, thành phố Hải phòng đáp ứng chương trình giáo dục mầm mới

Các hoạt động TBGD gồm 3 loại hoạt động là: Trang bị,

sử dụng, bảo quản Sau đây là sự phân tích thực trạng mỗi loạihoạt động trên

- Thực trạng trang bị thiết bị giáo dục trong các trường mầm non huyện An Dương, thành phố Hải phòng đáp ứng chương trình giáo dục mầm non mới

- Thực trạng trang bị thiết bị giáo dục

Trang 9

Tính đến thời điểm hiện tại số nhóm, lớp mầm non có đủthiết bị, đồ dùng dạy học, đồ chơi theo Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11 tháng 02 năm 2010 về việc Ban hành danhmục đồ dùng đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho giáodục mầm non; Thông tư số 34/2013/TT-BGDĐT, ngày 19 tháng

9 năm 2013 về việc sửa đổi, bổ sung một số thiết bị quy định tạiDanh mục Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu dùngcho giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11 tháng 02 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo quy định Số liệu cụ thể như sau:

Thực trạng về đầu tư đủ Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bịdạy học tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non năm học 2013 –

2014 đạt tỷ lệ rất thấp: Nhà trẻ đạt 62.5 % , mẫu giáo đạt65.5% số lớp có đủ Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bị dạy học tốithiểu dùng cho giáo dục mầm non Đến năm học 2017 – 2018

số lớp có đủ Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểudùng cho giáo dục mầm non tăng: Nhà trẻ tăng 11.6%, mẫugiáo tăng 9.0% Như vậy việc đầu tư các thiết bị đồ dùng, đồchơi cho các nhóm, lớp đã được quan tâm, song để đáp ứngthực hiện chương trình giáo dục mầm non mới của Bộ

Trang 10

GD&ĐT thì chưa đảm bảo Bởi vì vẫn còn 27% số lớp nhàtrẻ, 24.9% số lớp mẫu giáo thiếu TBGD

Chính thực trạng thiếu một số thiết bị, đồ dùng, đồ chơinên giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc đáp ứng thựchiện chương trình giáo dục mầm non mới

- Thực trạng chất lượng thiết bi giáo dục được trang bị

Đa số đối tượng được khảo sát đều cho rằng chất lượngTBGD hiện nay chưa tốt, một bộ phận không nhỏ cho rằngTBGD có chất lượng kém, chưa thể đáp ứng cao nhu cầu sửdụng của tất cả các GV mầm trong quá trình tổ chức các hoạtđộng giáo dục trẻ, dẫn đến tình trạng thực hiện chương trìnhgiáo dục mầm non mới còn hạn chế Một số nội dung bị bỏ qua,vẫn còn hiện tượng nội dung dễ thì thực hiện còn nội dung khóthì bỏ Chính chất lượng TBGD chưa tốt nên giáo viên thườngngại đưa vào các hoạt động giáo dục trẻ, tình trạng giáo viêndạy chay khi tổ chức hoạt động cho trẻ nên dẫn đến chất lượngdạy học thấp như : Dạy trẻ hát nhưng không có nhạc do đànorgan kém chất lượng, kể chuyện cho trẻ nghe nhưng tranh, rốiminh họa chưa đảm bảo tính thẩm mĩ, khó sử dụng nên dẫn tớikhông hấp dẫn trẻ, dạy trẻ học khám phá môi trường xung

Trang 11

quanh nhưng máy tính không được kết nối mạng hoặc bịhỏng Để đánh giá về số lượng và chất lượng của các TBGD

ở các trường mầm non hiện nay qua xử lý bộ phiếu trưng cầu ýkiến của cán bộ quản lý, giáo viên tôi nhận thấy TBGD ở cáctrường mầm non của huyện An Dương, thành phố Hải Phòng sovới yêu cầu của chương trình giáo dục mầm non mới thì khôngchỉ thiếu về số lượng mà chất lượng cũng chưa đảm bảo tốt.Chất lượng của các TBGD một thời gian sử dụng thường bịgiảm nhanh so với chỉ tiêu của nhà sản xuất đề ra, ví dụ như: độbền máy tính, loa, băng ,đĩa, đàn bị liệt phím, âm lượng giảm,chất lượng âm thanh không đảm bảo, đồ chơi lắp ráp bằngnhựa

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:

- Một số thiết bị, đồ dùng, đồ chơi độ bền không cao domua sản phẩm kém chất lượng như : Giấy in hình mỏng, màusắc không rõ nét, đồ chơi làm từ những loại nhựa kém chấtlượng dễ vỡ, gãy, độc hại cho sức khỏe của trẻ

- Đối với một số thiết bị điện tử mua không đảm bảochất lượng Nhà trường không có nhân viên phụ trách công

Trang 12

nghệ thông tin nên khi máy vi tính gặp sự cố lỗi phần mềmhoặc bị virut sẽ không được khắc phục ngay.

- Một số GV chưa có kỹ năng trong sử dụng các thiết bịđiện tử Đối với đồ dùng, đồ chơi thì chưa quan tâm đến việcdạy trẻ cách chơi hay kỹ năng chơi các đồ dùng, đồ chơi nêndẫn tới đồ dùng, đồ chơi thường hay bị hỏng, gây mất an toàn

- Đối với mầm non TBGD do giáo viên tự làm chiếmxấy xỉ 40% trong tổng số TBGD được trang bị Chính vì vậy

độ bền không cao, một số GV không khéo tay làm ra đồ dùng

Trang 13

Xếp vị trí thứ 2 là loại TBGD các loại lô tô theo chủ đề (mức

độ tốt X = 2.62) Xếp vị trí cuối cùng là loại TBGD các nhânvật rối thơ, truyện theo chủ đề (mức độ trung bình X = 2.01)

So sánh giữa TB cộng của bảng 2.4 và 2.5 ta thấy tại bảng 2.5 thì TB cộng gần đạt được mức tốt, còn TB cộng của

bảng 2.4 mới ở mức đạt giữa trung bình Đều đó cho chúng tathấy các TBGD giáo viên tự làm là có chất lượng sử dụng tốthơn là TBGD mua sẵn, bởi vì một số TBGD nhà trường muasẵn chưa phù hợp với độ tuổi, chưa phù hợp với cá nhân một

số trẻ, chưa đa năng hiệu quả sử dụng, bên cạnh đó là kỹ năng

sử dụng TBGD mua sẵn, hiện đại còn hạn chế

Tuy nhiên chất lượng TBGD tự làm của giáo viên chưađược đánh giá ở mức độ tốt do một số thiết bị dạy học, đồdùng đồ chơi có độ bền không cao, chưa đảm bảo tính thẩm

mĩ nên khi sử dụng trong tổ chức một số hoạt động giáo dụctrẻ chưa đạt hiệu quả cao

- Thực trạng sử dụng thiết bị giáo dục ở các trường mầm non huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng

- Thực trạng tần suất sử dụng TBGD ở các trường mầm non

Trang 14

Để đánh giá đúng thực chất tình hình sử dụng TBGD của

GV chúng tôi đã tiến hành khảo sát; trao đổi với GV, CBQL;

Sổ đăng ký mượn TBGD dùng chung trong nhà trường; Thamkhảo hồ sơ kiểm tra nội bộ về chất lượng tổ chức các hoạtđộng giáo dục trẻ Thực trạng tần suất sử dụng TBGD ở cáctrường mầm non được thể hiện tại bảng 2.8 như sau :

- Tần suất sử dụng TBGD của GV các trường mầm non

Qua bảng số liệu cho thấy, đánh giá tần suất sử dụngTBGD ở các trường mầm non hiện nay đạt mức TB cộng = 2.14(thỉnh thoảng) Các loại TBGD được đánh giá là sử dụng thườngxuyên xếp thức hạng 1,2,3,4,5,6 (X = 2.41 -> 3.00) như: Giá để

đồ chơi và học liệu; Các loại hoa, quả, hạt sâu, luồn; Bộ chữ cái;Vi tính, loa; Đồ dùng dạy các vận động cơ bản theo chương trình giáo dục mầm non; Các đồ dùng làm quen với toán: thẻ

chữ số, hình phẳng, khối hình, đồng hồ, bài tập bé làm quen với

toán; Bộ đồ chơi thao tác vai, đóng vai theo chủ đề (búp bê, nồi,

bếp, thực phẩm rau củ quả, tôm, cá ,bộ đồ dùng bác sĩ khámbệnh Bởi vì đây là những TBGD cơ bản, dễ sử dụng, giáo viên

sẽ không thể xây dựng được môi trường giáo dục hoặc tổ chứchoạt động giáo dục liên quan đến dạy toán sơ đẳng cho trẻ hoặc

Trang 15

cho trẻ chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề, dạy các vận động cơ,dạy trẻ nhận biết chữ cái.

Các loại TBGD xếp thứ hạng 19,20,21,22 (mức thỉnhthoảng) như : Đồ dùng, dụng cụ tập thể dục sáng (vòng, gậy,

bóng ); Trang phục một số nghề: Bác sĩ, công an, bộ đội, nấu

ăn, công nhân; Đồ dùng đồ chơi khám phá khoa học: Cân chia vạch, nam châm thẳng đứng, kính núp, bể cát, nước; Phần mềm

trò chơi phát triển tư duy, ngôn ngữ Các TBGD này có tần xuất

sử dụng đạt mức độ trung bình (X = 1.27 -> 2.81) Lý do cácTBGD này thỉnh thoảng được sử dụng do liên quan đến nhữngnội dung giáo dục khó dạy như: Khám phá về các hiện tượng tựnhiên, sự vật, hiện tượng hoặc là các nội dung giáo viên cầnkhông sử dụng đồ dùng ( dạy chay), các trò chơi trong các phầnmềm cũng ít được giáo viên khai thác cho trẻ hoạt động vì sốlượng máy vi tính thiếu, mặt khác giáo viên hạn chế trong sửdụng, ứng dụng công nghệ thông tin

Kết quả này tương đối phù hợp với việc kiểm tra hồ sơnội bộ của các trường mầm non, số giáo viên được kiểm trabiên bản là 167 người Qua kết quả của các biên bản kiểm trađột xuất việc có sử dụng TBGD trong tổ chức các hoạt động

Trang 16

giáo dục cho trẻ là 72%, còn lại 28% giáo viên không sử dụngTBGD trong tổ chức hoạt động giáo dục trẻ

- Thực trạng hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục đáp ứng chương trình giáo dục mầm non mới

- Kết quả sử dụng TBGD của các trường mầm non

Trang 19

trung chú ý của trẻ đến nội dung giáo dục” được đánh giá ởmức độ cao nhất, xếp thứ hạng 1/7 (X =2.44) Kết quả sử

dụng TBGD: “Khuyến khích trẻ có nhiều sáng tạo trong cáchchơi với đồ chơi của trẻ; Tạo nhiều cơ hội cho trẻ được thựchành, trải nghiệm” được đánh giá xếp thứ bậc 6,7/7 Lý do,qua thực tiễn tổ chức các hoạt động giáo dục trong trườngmầm non, chúng tôi thấy việc sử dụng TBGD không phải lúcnào cũng mang lại kết quả như mong muốn do có sự ảnhhưởng của các điều kiện chủ quan ( TBGD chưa đảm bảo chấtlượng, hiệu quả sử dụng thực tế chưa cao) và khách quan (khảnăng, kỹ năng sư phạm của giáo viên còn hạn chế nên chưatạo nhiều cơ hội cho trẻ được thực hành, trải nghiệm với các

đồ vật, đồ dùng, đồ chơi) Để khắc phục những hạn chế trêngiáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ sư phạm, kỹ thuật sử dụng TBGD, cùng với sựnhạy bén, sáng tạo của mình thì mới đạt được được kết quảnhư mong muốn

- Thực trạng kỹ năng sử dụng thiết bị giáo dục của giáo viên ở các trường mầm non

Trang 20

Qua dự giờ, khảo sát kỹ năng sử dụng TBGD của giáoviên các trường mầm non chúng tôi thu được kết quả như sau:

- Kỹ năng sử dụng TBGD của GV ở các trường mầm non

tập thể dục sáng (vòng, gậy, bóng ); Giá để đồ chơi và học liệu;

Đồ dùng dạy các vận động cơ bản theo chương trình giáo dục

mầm non; Trang phục một số nghề: Bác sĩ, công an, bộ đội, nấu

ăn, công nhân; Dụng cụ, đồ dùng dạy âm nhạc: Xăc xô, trống,

thanh la, mõ dừa, mũ múa ;Các loại tranh ảnh môi trường

xung quanh theo chủ đề; Đồ chơi lắp ghép, gạch, hàng rào,

cây Đây là các TBGD dễ sử dụng, không đòi hỏi nhiều kỹnăng, yêu cầu khó khi sử dụng nên giáo viên sử dụng có hiệuquả cao

Bên cạnh đó còn có các TBGD thực hiện ở mức tươngđối thành thạo ( đạt trị số X = 1.71 -> 2.27) như: Đàn

organ; Phần mềm trò chơi phát triển tư duy, ngôn ngữ; Các

Trang 21

loại lô tô theo chủ đề; Đồ dùng đồ khám phá khoa học: Cân chia vạch, nam châm thẳng đứng, kính núp, bể cát, nước; Bộ chữ cái; Các nhân vật rối thơ, truyện theo chủ đề Các TBGD

này vẫn còn nhiều giáo viên rất lúng túng khi sử dụng, chưabiết cách sử dụng hoặc chưa biết cách sắp xếp thuận tiện khilấy, cất (lô tô các loại, thẻ chữ cái, đồ dùng dạy toán theochủ đề), chính vì vậy khi tổ chức hoạt động giáo dục liên quanđến việc cần có đủ số lượng trên trẻ và đúng theo chủng loạigiống nhau thì giáo viên gặp nhiều khó khăn khi tổ chức hoặcmất quá nhiều thời gian chuẩn bị Kỹ năng sử dụng TBGDliên quan đến công nghệ thông tin, điện tử của giáo viên cònhạn chế, đặc biệt khả năng sử dụng đàn của giáo viên còn rấtnhiều hạn chế ( hầu như chưa sử dụng thành thạo chiếm 54.08

%) nên việc tổ chức một số hoạt động giáo dục trong chươngtrình giáo dục mầm non mới là chưa đáp ứng được

- Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc sử dụng TBGD

của GV các trường mầm non

kiến tán

Tỷ lệ (%)

Trang 22

2 Sắp xếp đồ dùng chưa khoa học nên khó

khăn trong việc chuẩn bị 46/167 27.45

3 Tập huấn kỹ năng sử dụng TBGD chưa đáp

ứng yêu cầu 32/167 19.16

4 TBGD chưa phù hợp hoặc khó sử dụng 12/167 7.19

5 Ngại sử dụng TBGD thường xuyên nên

không hình thành được kỹ năng 7/167 4.19

Nhận xét:

Sự chưa thành thạo trong sử dụng TBGD của một bộ phậnđáng kể giáo viên có nhiều nguyên nhân Theo tự đánh giá củagiáo viên, nguyên nhân chủ yếu là trình độ tin học, ứng dụngcông nghệ thông tin còn hạn chế, kỹ năng sử dụng TBGD cònhạn chế (36.53 % số giáo viên được hỏi tán đồng với nguyênnhân này); Nguyên nhân do sắp xếp đồ dùng chưa khoa họcnên khó khăn trong việc chuẩn bị là 27.45 % số giáo viên tán

Trang 23

đồng ; Nguyên nhân là giáo viên ngại sử dụng TBGD thườngxuyên nên không hình thành được kỹ năng chỉ có 4.19 % sốgiáo viên tán đồng (Bảng 2.9).

Có thể thấy trình độ tin học, ứng dụng công nghệ thôngtin còn hạn chế, kỹ năng sử dụng TBGD còn hạn chế chưađáp ứng được việc thực hiện các mục tiêu, nội dung trongchương trình giáo dục mầm non mới Một bộ phận đáng kểgiáo viên còn rất lúng túng khi sử dụng TBGD, chưa biết khaithác và tận dụng hết chức năng TBGD vào trong từng hoạtđộng giáo dục trẻ

Qua dự giờ với hình thức đột xuất việc tổ chức các hoạtđộng giáo dục của giáo viên cho thấy giáo viên thường cắtxén một số nội dung dạy trẻ theo chương trình giáo dục mầmnon quy định Đặc biệt là các hoạt động có những đồ dùngliên quan đến đủ cá nhân mỗi trẻ Qua phỏng vấn, tìm hiểuchúng tôi thấy lý do chủ yếu là sắp xếp các TBGD khôngđược phân theo lĩnh vực/chủ đề nên giáo viên mất rất nhiềuthời gian tìm kiếm, chuẩn bị dùng cho giờ học nên thườnggiáo viên bỏ qua hoạt động dạy đó Đối với các nội dung giáodục liên quan đến làm thí nghiệm hoặc sử dụng vật thật chotrẻ quan sát, trải nghiệm giáo viên thường rất ngại thực hiện

Trang 24

Chính những lý do trên dẫn đến việc thực hiện quy chếchuyên môn không nghiêm túc hoặc cắt xén chương trình theoquy định

- Thực trạng bảo quản TBGD ở các trường mầm non huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng

- Mức đánh giá bảo quản TBGD ở các trường mầm non

Có một số TBGD có kết quả bảo quản được đánh giá đạtmức độ tốt như: Đồ dùng, dụng cụ tập thể dục sáng (vòng,gậy, bóng ); Phần mềm trò chơi phát triển tư duy, ngôn ngữ;Giá để đồ chơi và học liệu; Các đồ dùng làm quen với toán:hình phẳng, khối hình, đồng hồ, bài tập bé làm quen với toán.;

Đồ dùng đồ khám phá khoa học: Cân chia vạch, nam châmthẳng đứng, kính núp, bể cát, nước; Đồ dùng dạy các vậnđộng cơ bản theo chương trình giáo dục mầm non; Dụng cụ,

đồ dùng dạy âm nhạc: Xăc xô, trống, thanh la, mõ dừa Đây

là các đồ dùng đồ chơi thường được đầu tư mua sẵn, làm từchất liệu tốt, chịu được lực

Còn lại một số TBGD kết quả bảo quản đạt mức trungbình (X = 1.77 -> 2.25) gồm các TBGD như: Đồ chơi lắpghép, gạch, hàng rào, cây ; Đàn organ; Băng/đĩa các bài hát,

Trang 25

nhạc không lời, dân ca, hát ru, truyện kể theo các chủ đề; Bộ

đồ chơi thao tác vai, đóng vai theo chủ đề (búp bê, nồi, bếp,thực phẩm rau củ quả, tôm, cá , bộ đồ dùng bác sĩ khámbệnh ; Vi tính, loa; Các loại lô tô theo chủ đề; Bộ chữ cái;Tranh thơ, truyện; Đồ dùng học tập của cá nhân trẻ: Bút chì,kéo, keo, đất nặn, sáp màu, màu nước, cọ vẽ, giấy vẽ, bảngcon, phấn Đây là các TBGD được đánh giá là chất lượng bảoquản chưa tốt mới đạt ở mức bình thường Lý do, các TBGDnói trên chủ yếu là dùng để cho cá nhân trẻ hoạt động chơi vàhọc, vì vậy tần suất xử dụng sẽ nhiều hơn, bên cạnh đó giáoviên chưa quan tâm đến việc hướng dẫn, quản lý trẻ khi chơidẫn đến tình trạng trẻ chơi tự do, gây hỏng đồ dùng, đồ chơi.Một số trường chưa được đầu tư tủ để thiết bị, đồ dùng, dạyhọc, đồ chơi cho trẻ, nên giáo viên thường cất dưới trong khochung của toàn trường, việc sắp xếp khoa học dẫn tới việc bảoquản chất lượng TBGD hạn chế

Đối với những TBGD là đồ điện tử như đàn organ,máy vi tính không được kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ hoặcgiáo viên không thường xuyên sử dụng dẫn đến hỏng Mộtđiều quan trọng nữa là hàng năm sự kiểm tra, giám sát từphía ban giám hiệu đối với chất lượng và việc sử dụng

Trang 26

TBGD trong nhà trường chưa được chặt chẽ, thường xuyênnên các kế hoạch, phương án bổ sung, sửa chữa hay thaymới TBGD chưa kịp thời, ảnh hưởng đến chất lượng tổchức các hoạt động giáo dục trẻ Chình vì vậy, các điều kiện

về bảo quản TBGD nói trên mới đạt ở mức trung bình (TB

cộng = 2.31) tại

Trang 27

- Mức đánh giá điều kiện bảo quản TBGD của các trường

Trang 30

- Thực trạng quản lý hoạt động trang bị thiết bị giáo dục trong các trường mầm non huyện An Dương, thành phố Hải phòng đáp ứng chương trình giáo dục mầm mới

- Quản lý hoạt động trang bị thiết bị giáo dục

- Mức đánh giá quản lý hoạt động trang bị TBGD

Chưa thường xuyên

Không bao giờ

Trang 33

Qua bảng số liệu cho thấy, đánh giá quản lý hoạt độngtrang bị TBGD ở các trường mầm non hiện nay đạt mức trungbình (TB cộng =2.35)

Qua kết quả khảo sát ta thấy: Hiệu trưởng các trườngmầm non thường xuyên thực hiện việc xây dựng kế hoạchtrang bị TBGD ngay từ đầu năm học (117/196 CBQL, GVđánh giá là thường xuyên chiếm 59.69 %).Việc chỉ đạo trang

bị TBGD phù hợp với mục tiêu, nội dung của chương trìnhgiáo dục mới cũng được đánh giá là thường xuyên (115/196CBQL, GV đánh giá là thường xuyên chiếm 58.67 %) Trên cơ

sở dựa trên văn bản chỉ đạo của các cấp và căn cứ vào mục tiêunội dung chương trình giáo dục mầm non mới do Bộ GD&ĐTban hành, căn cứ vào nhu cầu thực tế của nhà trường để xâydựng kế hoạch đảo theo các yêu cầu chung và sát với tình hìnhthực tế của nhà trường

Tuy nhiên công tác tổ chức lấy ý kiến của GBQL, GVtrong nhà trường để có kế hoạch trang bị hiệu quả đáp ứngđược chương trình giáo dục mầm non mới mới đạt ở mứctrung bình Qua khảo sát nhận thấy có 53/196 (chiếm tỷ lệ27.04%) cho rằng Hiệu trưởng không bao giờ tổ chức lấy ýkiến của giáo viên về việc trang bị TBGD trong nhà trường

Trang 34

trước khi lập kế hoạch Công tác chỉ đạo việc cập nhật, thống

kê, kiểm kê TBGD tiến hành chưa thường xuyên hoăc khôngbao giờ thực hiện (56/196 người đánh giá là chưa thườngxuyên, chiếm tỷ lệ 28.57% ; 52/196 người đánh giá là khôngbao giờ thực hiện, chiếm 26.43%).Chính thực trạng này dẫntới kết quả kiểm kê, thống kê không chính xác, cập nhật TBGDkhông kịp thời Bên cạnh đó việc trang bị, kiểm tra đánh giáviệc trang bị thực hiện chưa tốt (X = 2.31 đánh giá đạt mứctrung bình), vì vậy nên vẫn còn tình trạng một số thiết bị, đồdùng, đồ chơi được trang bị chưa đảm bảo chất lượng dẫn tớihiệu quả sử dụng, độ bền không cao

Trang 35

- Mức đánh giá quản lý việc huy động các nguồn lực tài

chính từ công tác XHHGD đối với TBGD

Trang 37

Qua bảng số liệu cho thấy, đánh giá quản lý việc huyđộng các nguồn lực tài chính từ công tác XHHGD ở cáctrường hiện nay đạt mức trung bình (TB cộng = 2.18).

Việc huy động phụ huynh học sinh đóng góp đạt kết quảtốt (X = 2.54, thực tế cho thấy PHHS là lực lượng đóng gópxây dựng CSVC, trang bị TBGD cho nhà trường đáng kể nhất.Việc huy động từ các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, các tổchức xã hội khác được hiệu trưởng các trường thường xuyênchú trọng, bằng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau Tuynhiên, kết quả đạt được chưa cao (X = 1.51 -> 1.74 đạt mứctrung bình) Chính vì vậy việc trang bị TBGD trong các nhàtrường còn gặp rất nhiều khó khăn, dẫn đến việc tổ chức cáchoạt động giáo dục trẻ theo chương trình giáo dục mầm nonmới gặp nhiều hạn chế

- Thực trạng quản lý hoạt động tự tạo TBGD ở trường mầm non huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng

- Mức đánh giá quản lý hoạt động tự tạo TBGD

Trang 38

53.5 7

14 7.14 2.3

2

2

Trang 39

66.3 3

1.4 5

4

Ngày đăng: 18/06/2019, 17:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w