Xây dựng hệ thống đê bao ngăn những cơn lũ hung dữ là mối bận tâm chủ đạo và thường trực trong lịch sử trước đây cũng như hiện nay của Việt Nam, mối bận tâm này cũng tham gia vào việc hì
Trang 11.1 Quy hoạch thủy lợi vùng
đồng bằng sông Hồng : nhìn
nhận lịch sử về vai trò của nhà nước phong kiến và nhà nước thuộc địa (thế kỷ XII đến nửa
thủy văn tạo nên địa mạo của khu vực qua
một quá trình bồi đắp phù sa lâu dài Xây
dựng hệ thống đê bao ngăn những cơn lũ
hung dữ là mối bận tâm chủ đạo và thường
trực trong lịch sử trước đây cũng như hiện nay
của Việt Nam, mối bận tâm này cũng tham
gia vào việc hình thành nên cấu trúc trong
các quan hệ giữa nhà nước và nông dân, điều
đó có lẽ là bởi ở một đất nước gần như 100%
nông thôn, sản xuất nông nghiệp là nguồn
thu chính của nhà nước phong kiến thông
qua việc đánh thuế nông dân (có đăng ký) và
đất đai Điều này bắt buộc nhà nước phải có
các biện pháp, từ hàng thế kỷ nay, để đảm
bảo an toàn cho nguồn thu từ nông nghiệp
cần thiết để duy trì bản thân sự tồn tại của
chính nhà nước, và nhất là trong điều kiện khí
hậu không ổn định, dẫn tới sự không ổn định
triền miên trong sản xuất nông nghiệp phải
đối mặt với tình trạng hạn hán vào vụ mùa
tháng năm hàng năm, tiếp đó là nguy cơ lũ
lụt phá hoại mùa màng vào vụ chiêm tháng mười Do vậy, đặc điểm chính của vùng đồng bằng sông Hồng là : một vùng đồng bằng phù sa rộng lớn mà quá trình biến đổi từ lâu
đã bị chặn đứng bởi bàn tay con người Việc đắp đê ngăn trên hai hệ thống sông Thái Bình
và sông Hồng đã cố định tình trạng địa hình không bằng phẳng vốn trước đây nếu không
có đê thì chỉ tồn tại tạm thời sau đó sẽ được bồi đắp khi lũ về, nhưng với mạng lưới đê điều ngày càng dày đặc, hai hệ thống sông này bị bó buộc dòng chảy
Bài trình bày này sẽ giới thiệu một số điểm mốc lịch sử liên quan đến chính sách thủy lợi được thực hiện tại khu vực đồng bằng sông Hồng từ thời các triều vua tính từ thế kỷ XII, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu biên niên còn lưu giữ từ thời phong kiến Cách nhìn
từ « trên » như vậy, bởi vì đây là cách nhìn từ quyền lực trung ương, sẽ được đối chiếu với một nguồn tài liệu từ « dưới », đó là các tấm văn bia còn lưu lại ở thôn làng
Trang 21.1.1 tổng quan đặc điểm địa mạo
và thủy văn vùng đồng bằng châu
thổ sông hồng
Một vài dữ liệu tổng quát về vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng sẽ giúp hiểu rõ hơn
có độ nghiêng rất lớn (bắc-tây/nam-đông), với
độ dốc lên tới 10-12 m và có nhiều chỗ lồi lõm
Đồng bằng phù sa rộng lớn của châu thổ sông hồng
Nguồn : Tác giả xây dựng dựa theo Google 2007 (http://maps.google.com/)
Bản đồ 2
Châu thổ sông Hồng được hợp thành từ hai
hệ thống sông : sông Thái Bình và sông Hồng
Sông Thái Bình chảy từ bắc sang đông, đây là
một con sông có chế độ nước mạnh nhưng
ổn định, ít thác ghềnh Con sông này bắt
nguồn từ hợp lưu của ba dòng chảy từ vùng
trung du gồm sông Cầu, sông Thương và
sông Lục Nam Tuy nhiên, vừa ra khỏi vùng
thượng nguồn, sông Thái Bình hợp ngay với sông Đuống (thời thuộc địa được gọi là canal des Rapides) bắt nguồn từ sông Hồng, khiến cho dòng chảy ở khu vực này phình
ra Không xa vùng cửa sông Thái Bình, lại có thêm dòng chảy nữa từ sông Hồng nhập vào
là sông Luộc (tên gọi trước đây là canal des Bambous) Mặc dù có nhiều dòng chính và dòng nhánh như vậy nhưng hệ thống sông
Trang 3Thái Bình ít bị những trận lũ lớn, do có hệ
thống đê ngăn lũ rất vững chắc
chế độ mưa và lưu lượng nước châu thổ sông hồng
Nguồn : Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước, Bản đồ tài nguyên nước Việt Nam, 2003
1 Biểu đồ
Hệ thống sông Hồng dường như trái ngược
hẳn với hệ thống sông Thái Bình Với hai dòng
hợp lưu chính là sông Đà và sông Lô, sông
Hồng được cung cấp nước từ một vùng lưu
vực rộng lớn với diện tích 130 000 km² chạy
qua toàn bộ vùng Tây Bắc ở miền thượng và
một phần của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Lũ
sông Hồng thường rất lớn và gây lụt nghiêm
trọng cho toàn bộ khu vực Tuy nhiên đây
cũng là con sông chính hình thành nên khu
đồng bằng châu thổ cũng như nguồn cung
cấp phù sa chính nhờ các lớp bồi lắng tích tụ
qua hàng thế kỷ, có nơi độ dày lên tới hàng
chục mét Lượng phù sa từ nước sông Hồng
ước tính lên đến gần 130 triệu tấn/năm, nhờ
đó, đây là con sông đứng thứ tám trên thế
giới xét về lượng phù sa chuyên chở, trong khi
nếu tính lưu lượng dòng chảy thì đây không
phải là một con sông lớn (Béthemont, 2000)
Chính nhờ lượng phù sa lớn như vậy mà con
sông này có tên là sông Hồng, nhờ màu đỏ
phù sa từ đất sét được dẫn về vào mùa mưa
từ thượng nguồn tỉnh Vân Nam Với chiều dài 1200 km, sông Hồng chảy theo hướng bắc-tây/nam-đông và chảy qua chính vùng đồng bằng châu thổ, tức là từ Việt Trì tới cửa
Ba Lạt, với khoảng cách 220 km, nhưng nếu tính theo đường chim bay thì khoảng cách chỉ có 165 km : vì có ít đoạn quanh co nên lưu lượng dòng chảy rất lớn – có thể lên tới
28 000 m3/giây – nếu so với quy mô lưu vực thượng nguồn Vào mùa lũ, nước sông Hồng dâng lên rất cao, cao hơn hẳn so với toàn bộ vùng đất bằng, thông thường vào mùa bình thường thì nước không thể ngập qua các bãi sông do có một hệ thống đê điều kiên
cố bảo vệ Cụ thể, vào mùa nước ròng mùa đông, mực nước sông Hồng chỉ vào khoảng 2,50 m, cao hơn mực nước biển Ngay đầu mùa nước lớn vào mùa hè (từ tháng sáu đến tháng mười hàng năm), mực nước sông lên nhanh và có thể dâng cao tới 10 m chỉ trong vòng vài ngày
Trang 4Do không mô tả chi tiết nên có thể chỉ ra sáu
vùng địa hình đơn lẻ :
- Vùng núi phía Tây Bắc có độ cao cao hơn
các vùng còn lại của đồng bằng châu thổ,
ngoài ra vùng này còn có nhiều chỗ bãi
cao (13-15 m) rải rác nằm trên dòng chảy
của sông Hồng và nhiều vùng trũng thấp
với độ cao khoảng 5 m, thường có các ao
vũng ;
- Vùng trung du, nằm về phía đông của vùng
Tây Bắc, có độ cao thấp hơn, nhưng vẫn
còn tương đối cao (5-6 m), ngoài ra cũng
có nhiều vùng bãi cao có độ cao thấp hơn ;
- Vùng đất thấp phía Đông Bắc, có sông Thái
Bình và các hợp lưu của con sông này chảy
qua, độ cao của vùng này rất thấp (50 cm
đến 2 m) và gần như không có bãi sông Đây là một vùng trũng, đặc điểm này được thể hiện rõ nhất ở khu vực tỉnh Hải Dương với hệ thống kênh mương chiếm diện tích lớn hơn cả diện tích đất bằng ;
- Vùng đất thấp phía nam có đặc điểm tương đối giống với vùng Đông Bắc (độ cao thấp,
có các vùng chiêm trũng), nhưng ngăn cách bởi các bãi sông của sông Hồng chạy dài tới tận vùng cửa sông;
- Dải đồng bằng duyên hải, có bề rộng khoảng 10-35 km, trải dài từ phía nam đồng bằng châu thổ đến Hải Phòng Vùng này có nhiều chỗ nhấp nhô với độ cao khoảng 2m ngăn cách bởi các vùng trũng có độ cao thấp, khoảng 50 cm;
Nguồn : Olivier Tessier.
Ảnh Mực nước sông hồng lên nhanh do các trận lụt lớn
và khó lường
1,2 và 3
Trang 5- Vùng bãi bồi ven biển là kết quả do tác
động của con người trong công cuộc lấn
biển, đây là vùng đất rất thấp và bằng
phẳng được hình thành từ lượng phù sa
bồi đắp của sông Hồng Đây là lý do giải
thích vì sao các vùng bãi bồi ven biển chỉ
có ở phía nam đồng bằng châu thổ Ở các
nơi khác, phía bắc hoặc miền trung, các dải
đồng bằng duyên hải tạo thành vành đai
bảo vệ trước biển
Việc đắp đê trên khắp khu vực đồng bằng
châu thổ đã hình thành nên các đơn vị thủy
lợi, được gọi là các khu tứ giác, hoặc bán kính
thủy lợi độc lập, các hệ thống thủy lợi phân
khu này được hình thành để dẫn nước từ
sông và thoát nước mưa ra sông Hiện nay,
toàn bộ vùng đồng bằng châu thổ được chia
thành 30 phân khu thủy lợi với diện tích dao
động từ 5000 đến 180 000 ha, tương đương
với 30 hệ thống thủy lợi độc lập, riêng rẽ và
đều cần phải thoát nước vào mùa mưa
Một vài số liệu về đồng bằng châu thổ
sông hồng
Đầu những năm 1930, nhà nông học René
Dumont và nhà địa lý học Pierre Gourou lần
lượt đưa ra, cách nhau một năm, dự báo
về một tương lai đen tối đối với nông dân
vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Lý do
chính hai nhà nghiên cứu đưa ra là vùng này
có mật độ dân cư quá lớn, do tỷ lệ gia tăng
dân số cao : 12 000 km² trên tổng diện tích
14 700 km² được khai thác bởi 6 500 000
nông dân, tương đương với mật độ trung
bình 430 người/km² René Dumont thấy
đấy là một « mối nguy lớn » đe dọa đến sự
sống còn của các vùng nông thôn, còn Pierre
Gourou cho rằng đó là một « căn bệnh vô
phương cứu chữa » : « […] mật độ dân số quá
đông là một căn bệnh vô phương cứu chữa [ ]
Nông dân đang khai thác kiệt cùng đất đai ; các
công trình thủy lợi và tác động kỹ thuật chỉ có thể giúp tăng sản lượng nhưng với đánh đổi
là đảo lộn toàn bộ điều kiện sống [nghèo đói kinh niên]. » Ngoài mật độ dân số cao, thêm
một đặc điểm của vùng là dân cư nông thôn chiếm tỷ lệ lớn : năm 1931, thủ đô Hà Nội có
128 000 dân, cao hơn một chút so với dân số của Hải Phòng (124 000 dân) Phát triển đô thị
ở miền Bắc mới chỉ diễn ra gần đây, đặc biệt nhanh dưới thời thuộc địa nhằm đáp ứng yêu cầu tập trung quyền lực cũng như thỏa mãn nhu cầu của bộ máy thuộc địa
Trong hoàn cảnh như vậy, vấn đề quá tải dân
số ở đồng bằng sông Hồng được đặt ra, có liên quan đến tiềm năng nông nghiệp của cả vùng Lúa gạo chiếm vị trí cốt yếu trong hệ thống sản xuất lương thực, là cột trụ trong tổ chức kinh tế và xã hội tập trung vào đơn vị
hộ gia đình, nằm trong mạng lưới làng xã có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Mỗi năm, nông dân sản xuất một đến hai vụ tùy theo vị trí ruộng Địa hình quyết định khả năng tưới tiêu nước của mỗi thửa ruộng Các khu ruộng cao khó lấy nước vào mùa đông nhưng lại không
bị úng nước vào mùa hè, có thể cấy vụ mùa, thu hoạch vào tháng mười âm lịch, sau đó có thể cấy tiếp các loại hoa màu cần ít nước (đậu tương, khoai lang, v.v.) Các khu ruộng thấp,
dễ lấy nước vào mùa đông nhưng thường bị ngập úng vào mùa hè, có thể trồng vụ chiêm, thu hoạch vào tháng năm âm lịch Các khu ruộng nằm ở vị trí có độ cao trung bình có thể trồng hai vụ một năm, năng suất mỗi vụ phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết (khô hạn vào mùa đông) (ngập úng, bão và thậm chí có cả khô hạn vào mùa hè) Đầu những năm 1930, vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng có thể được chia ra như sau : 500 000 ha trồng lúa hai vụ, 350 000 ha trồng lúa vụ mùa
và 250 000 ha trồng lúa vụ chiêm, tổng cộng vào khoảng 1,1 triệu ha
Trang 6Nếu tính theo tỷ lệ năng suất/dân số và dựa
theo năng suất trung bình theo tính toán mà
Y Henri đưa ra năm 1932, sản lượng năm của
đồng bằng châu thổ sông Hồng vào thời
điểm đó là 17 200 000 tạ lúa, với dân số nông
nghiệp là 6 500 000 người, ta có mức trung
bình là 2,6 tạ/miệng ăn Tuy nhiên, tính thành
gạo, sản lượng này giảm đi khoảng 30 đến
35 %, vì còn phải xay xát lúa, như vậy, con số
cuối cùng còn là 180-200 kg gạo/người/năm,
khẩu phần tạm đủ để nuôi một người lớn[1]
Bảy mươi năm sau, dân số vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng đã tăng gấp gần ba lần
Hiện nay, cả vùng có 18,5 triệu người, trong
đó chiếm 13 triệu là dân nông thôn (70 %), với
mật độ trung bình là 1000 người/km² Một số
nơi có mật độ trung bình lên tới 1500 người/
km², điển hình là tỉnh Thái Bình, có thể nói
đây là một trong những nơi có mật độ cư dân nông thôn cao nhất thế giới Mặc dù trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa tăng nhanh nhưng đa phần người dân vẫn sống
ở nông thôn, tập trung tại 2000 xã trên toàn
bộ khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, thuộc hơn 80 huyện, chia thành 12 tỉnh Mặc dù áp lực về đất đai gia tăng chưa dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội rõ rệt song cũng phải nhận thấy những tác động của hai định hướng lớn mà các nhà lãnh đạo của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đưa ra ngay từ đầu những năm 1960 nhằm cải cách nền sản xuất nông nghiệp truyền thống : hiện đại hóa hệ thống thủy nông và
áp dụng nguyên tắc cuộc « cách mạng xanh» (đưa vào sản xuất các giống lúa mới năng suất cao)
210-250 kg gạo/người/năm.
Trang 7Sự định cư ở đông bằng châu thổ sông hồng : các làng xã
Nguồn : Quỹ lưu trữ ảnh – Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (Paris).
Ảnh 4,5,6 và 7
Trong những bức ảnh này, các bạn có thể
thấy nơi con người cư ngụ giống như một
ruộng mạ, các ngôi làng tựa như những cây
mạ được một bàn tay vô hình cấy xuống,
nhưng ưu tiên nhiều hơn cho phần có địa
hình cao « Lũy tre làng » truyền thống mà
hiện ít nhiều đã vắng bóng, cũng khiến ta có
cảm giác làng xã có sự tách biệt rất rõ rệt
Ngày nay cũng vậy, ta có thể thấy trên bức ảnh tỉnh Bắc Ninh chụp từ vệ tinh Spot này tầm quan trọng của địa hình trong việc hình thành các ngôi làng Ngược lại, sự tách biệt của mỗi ngôi làng cũng dần giảm bớt nhờ sự kết nối thành mạng lưới cũng như việc dần hình thành các khu dân cư kiểu đô thị nông thôn dọc theo các trục đường giao thông
Trang 81.1.2 trị thủy : mối quan tâm từ
ngàn đời (thế kỷ Xii - XViii)
Quá trình hình thành hệ thống đê điều
Quá trình lập cư và phát triển nông nghiệp ở
đồng bằng châu thổ sông Hồng thực sự bắt
đầu kể từ khi Nhà nước trung ương cùng bộ
máy hành chính tổ chức công tác xây dựng
hệ thống đê điều
Ở Việt Nam cũng như Trung Quốc, việc xây
dựng và tu bổ đê điều nằm trong quyền lực
của các hoàng đế Thiên mệnh của trời trao
cho một người « quyền lực tối cao », tức là
quyền được ra lệnh cho các thần dân của
mình, và các thần dân đó được đặt dưới sự bảo vệ của đấng tối cao
Khía cạnh chính trị và biểu trưng quyền lực của nhà vua được khẳng định ba năm một
lần qua lễ tế đàn Nam Giao Đây là lễ tế Trời
« Hoàng đế là người đại diện của thần dân : thay mặt thần dân, hoàng đế lễ lạy, dâng cúng phẩm vật, tạ ơn, khẩn cầu » Là sứ giả của trời, nhà
vua cũng có thể phải chịu trách nhiệm nếu
đê vỡ, gây lụt, vì nhân dân sẽ thấy đó là dấu hiệu Trời quở Bên cạnh việc cúng tế trời đất
mỗi năm nhân lễ tịch điền hoặc lễ hạ điền, bắt
đầu một vụ mùa mới, để bảo vệ dân chúng
và mùa màng, triều đình cũng phải quan
trích lược Bắc ninh (Spot, 2003)
Nguồn : Tác giả dựa theo Google 2007 (http://maps.google.com/).
Trang 9tâm trực tiếp đến hệ thống đê điều, thủy lợi,
phòng lũ lụt cho các vùng nông thôn
Bằng chứng đầu tiên cho thấy có các công
trình đê điều sau thời gian dài bị Trung Quốc
đô hộ được ghi trong Cương mục vào cuối
thế kỷ XI : « Năm Mậu Tí, năm Hội Phong thứ
tám, dưới thời vua Lý Nhân Tông, triều Lý (1099)
… tháng hai âm lịch, người ta đắp một con đê
ở bờ sông làng Cơ Xá » (trước đây là tỉnh Hà
Đông, nay là Hà Tây) Phải nói là những cơn giận dữ của sông Hồng vô cùng khốc liệt
những cơn giận dữ của sông hồng
Ảnh : Quỹ lưu trữ ảnh – Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (Paris).
Ảnh 9,10,11 và 12
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là trước
đấy chưa có đê : người ta thấy dấu vết của các
công trình phòng hộ ở tỉnh Sơn Tây và tỉnh
Hưng Hóa cũ ngay từ đầu kỷ nguyên Thiên
chúa giáo, có sự vay mượn kỹ thuật của Trung
Quốc Theo Pierre Gourou, « Ngay khi người
dân vùng châu thổ [sông Hồng] không còn làm
nghề đánh bắt cá nữa, khi dân số tăng lên và
không có đủ diện tích ở các khu đất cao và các
dải đất bãi, họ buộc phải đắp đê » (1936) Nhìn
chung, giả thuyết mà các tác giả đặt ra đối với nguồn gốc của các công trình đê điều là từ nội lực của địa phương: để tránh lũ hè muộn hoặc xuân sớm, nông dân và dân làng đắp
bờ bao bên các dòng nước để bao quanh các khoảnh đất có thể trồng cấy được Dần dần,
hệ thống này được phổ biến, hệ thống bờ bao được đắp nhiều lên và dần thành hình
Trang 10một mạng lưới được mở rộng không ngừng
(Rouen, 1915)
Một câu hỏi còn bỏ ngỏ liên quan tới giả
thuyết cho rằng nguồn gốc của hệ thống đê
điều là để phục vụ canh tác chính là câu hỏi
liên quan đến vai trò và các biện pháp của
nhà nước Ở điểm này, mặc dù quan điểm
mà Karl Wittfogel đưa ra trong cuốn sách gây
nhiều tranh cãi Chủ nghĩa chuyên chế phương
Đông đã bị chỉ trích rất nhiều, nhưng tác giả
cũng đã nhấn mạnh rằng công việc quản lý
nước và trị thủy tất nhiên sẽ làm hình thành
nên các tương quan lực lượng giữa chính
quyền trung ương và các xã hội nông dân
Và hiển nhiên, phải đến thế kỷ XIII, tức dưới
thời nhà Trần với việc xây dựng nền tảng cho
một triều đại đậm chất quý tộc và mạnh về
quân sự, các cuốn biên niên mới nhắc đến
các công trình thủy lợi lớn và tiết lộ từng
phần dấu ấn sơ khai của tổ chức hành chính
và quân sự chuyên nghiệp trong quản lý đê
điều Sau trận lụt do một cơn lũ lớn gây ra làm
vỡ đê Long Đàm hay Thanh Đăm (Đàm) (nay
thuộc Hà Nội) tháng 10 năm 1245, sự việc
này cho thấy rõ ràng ít nhất một phần các
công trình đê điều đã được thực hiện, Đại việt
sử ký có nêu : « Dưới triều vua Trần Thái Tông
(1225-1258) – Niên hiệu Thiên ứng chính bình
[…] năm thứ 17 niên hiệu Thiên ứng chính bình,
tháng ba, năm Mậu Thân (tháng 4 năm 1248) :
người ta bắt đầu đắp đê Đỉnh Nhĩ Tất cả các
tỉnh đều được chỉ dụ hỗ trợ cho việc đắp đê từ
đầu nguồn (sông Hồng) ra tới biển Mục đích là
để ngăn lũ Nhà vua chỉ định một quan hà đê sứ
và một phó quan để đặc trách trông coi việc đê
Nơi nào có đê đi qua, người ta đo diện tích phần
ruộng bị mất và đền bù cho nông dân Con đê
này có tên là đê Đỉnh Nhĩ ».
Đắp đê bao dọc sông Hồng là một việc lớn,
vua giao quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào –
« Năm thứ năm niên hiệu Nguyên Phong dưới triều vua Trần Thái Tông […] tháng tư âm lịch (tháng 5 năm 1255) : ở mỗi tỉnh, vua cử một quan võ làm chức hà đê sứ để trong coi việc đê điều trong tỉnh Mỗi năm, khi hết việc đồng áng, quân sĩ được huy động để đắp đê và giúp dân đào lạch, hào, vừa ngăn lụt vừa chống hạn »
Mặc dù đã bắt đầu có tổ chức và quản lý các công trình thủy lợi, việc đê điều ở các thế kỷ XIII và XIV không được đưa vào trong một kế hoạch quy hoạch tổng thể cho khu vực đồng bằng châu thổ, kỹ thuật đắp đê chủ yếu là trăm hay tay quen, chất lượng đê cũng không đồng đều giữa các tỉnh Do vậy, có nhiều đoạn đê không vững, kết nối kém nên không thể ngăn được các cơn lũ vừa từ sông Hồng cũng như từ các sông nhánh, nhiều trận lụt
đã xảy ra, vỡ đê, dẫn đến nhiều lần phải đắp lại đê và tu bổ gia cố đê
Đại Việt sử ký toàn thư viết năm 1697 cho ta
có một cái nhìn rõ nét về những mối đe dọa thường trực từ thiên tai đối với người dân trong vùng Theo bản khắc trên một văn bia cho biết vào tháng bảy âm lịch năm 1164
và năm 1199, một trận lụt lớn nhấn chìm toàn bộ các cánh đồng lúa ; tháng tám âm lịch năm 1359, nước nhấn chìm nhà dân và gây mất mùa ; v.v Có vài năm, lụt xảy ra suốt mùa mưa, như năm 1586, biên niên có nhắc đến một trận lụt lớn xảy ra vào ngày mùng 5 tháng tư âm lịch, tiếp theo đó là một cơn lũ lớn trên sông Mã, tỉnh Thanh Hóa vào ngày
25 cùng tháng, trận lũ lớn tới mức cuốn trôi hết nhà cửa ra tận biển, sau đó còn hai trận lụt nữa vào ngày mùng 2 và ngày 25 tháng bảy âm lịch, tổng cộng, có tới bảy trận lụt lớn trong vòng một năm Nhưng những giai đoạn khốn khổ đó không chỉ ảnh hưởng tới các miền quê : tháng bảy âm lịch năm 1270, phố phường kinh thành Thăng Long chìm trong nước lụt, người người phải đi lại bằng
Trang 11thuyền ; tháng sáu âm lịch năm 1630, sông
Nhị Hà (sông Hồng) tràn bờ và làm ngập
nhiều phố phường, nước tràn vào như thác
ở cổng kinh thành phía nam, rất nhiều người
bị chết đuối ; v.v
Sang thế kỷ XV, khi nhà Lê lên ngôi, đất nước
trải qua một giai đoạn thanh bình trong quan
hệ với Trung Hoa và nước Chămpa với việc
áp đặt quyền lực của mình lên nước này Có
thể nói, dưới triều Lê, việc xây dựng một nhà
nước tập quyền trị vì đất nước bằng một hệ
thống quan lại tới tận làng xã chính là một
yếu tố quyết định tới công tác quy hoạch
thủy lợi và phòng chống lũ lụt
Chính sách nông nghiệp thực thi dưới thời
vua Lê Thái Tổ vẫn được tiếp nối dưới triều
đại vua Lê Thánh Tông : sau khi vỡ đê sông Tô
Lịch, vua Lê Thánh Tông đã ra chỉ dụ sửa chữa
gia cố đê điều và đường xá trên cả nước và
lập ra các chức quan khuyến nông và quan
hà đê Chủ trương này còn tiếp tục được thực hiện tới tận những năm đầu thế kỷ XVI và không chỉ cho việc xây dựng và gia cố đê mà còn là đường hướng thực hiện các biện pháp thủy lợi Vì vậy, vào năm 1503, dưới triều vua
Lê Hiển Tông, Dương Trực Nguyên (tả thị lang
bộ Lễ) đã xin phép « đắp các con đê dọc sông
Tô Lịch từ cầu Trát đến sông Cống để bảo vệ các ruộng lúa khỏi bị ngập nước, và đào một con kênh từ làng Yên Phúc đến xã Thượng Phúc để đảm bảo tưới tiêu cho các cánh đồng Nhà vua
đã chấp thuận ».
Chủ trương hợp lý hóa và hệ thống hóa việc
tu bổ và gia cố hệ thống đê điều được thể hiện trong bộ luật nhà Lê, theo đó các quan thuộc cấp hành chính là những người chịu trách nhiệm duy nhất đảm bảo việc thực thi các chỉ dụ của nhà vua
khung 1
« Điều 181 : Các công trình sửa chữa đê phải được bắt đầu vào ngày mùng 10 tháng
giêng, là ngày mà tất cả dân chúng các làng nằm trong đê phải tham gia sửa chữa
phần đê mà họ được giao Thời hạn sửa chữa này là hai tháng ; ngày 10 tháng ba, mọi
công việc sửa chữa phải hoàn tất Trong trường hợp xây mới một con đê, thời hạn xây
sẽ là ba tháng Quan lộ được giao phó theo dõi thường xuyên công việc xây dựng, các
giám sát và quan hà đê phải theo dõi sát sao để công trình được thực hiện ổn định và
nhanh chóng […] ».
Một hệ thống đê điều hợp lý và có hệ thống
Sau này, cho đến thời nhà Nguyễn với sự
lên ngôi của hoàng đế Gia Long năm 1802,
nguồn lực dành cho việc quy hoạch thủy lợi
là khiêm tốn nhất Thực tế đất nước đã trải
qua một thời kỳ thực sự loạn lạc và bất ổn
chính trị kéo dài được đánh dấu bởi sự nổi
dậy của nhà Mạc và một loạt các cuộc chiến
tranh đẫm máu giữa các chúa Trịnh và chúa
Nguyễn
Vào đầu thế kỷ XVIII, tháng tám năm 1708,
sách Cương mục ghi « chỉ dụ sửa chữa đê sông
Nhị Hà [sông Hồng] : Hàng năm nước sông Nhị Hà đều tràn bờ, nhiều điểm bị vỡ Vì vậy hai bộ phận Quản lý và Hành chính (trấn thừ)
có nhiệm vụ điều hành quân sĩ thực hiện sửa chữa đê theo nhu cầu của nông dân. » (Langlet,
1978) Ba năm sau (1711), năm thứ bảy triều Vĩnh Thịnh, nhà vua quyết định thay đổi hệ
Trang 12thống tổ chức công trình sửa chữa đê bằng
việc cử các quan từ kinh đô theo dõi việc thực
hiện
Tuy nhiên, tác giả nhận thấy « Sau đó, số lượng
công việc tăng lên nhưng thiệt hại do lũ lụt gây
ra vẫn không thể tránh khỏi » (Langlet, 1978 :
516) Cuối cùng, chỉ có bốn đoạn từ chương
33 đến 35 trong Cương mục (1663 đến 1721)
đề cập vấn đề ngăn lũ và cho biết chỉ có sửa
chữa đê chứ không có công trình đắp đê mới
Thông tin này hoàn toàn trái ngược với những
thông tin về thiên tai hạn hán và lũ lụt, đồng
nghĩa với nghèo đói kéo dài trong suốt thời
kỳ này (17 tài liệu tham khảo), cho thấy một
Nhà nước yếu kém và bất lực mà các nguồn
tài liệu lịch sử chính thức vẫn đưa ra. : « (Tháng
tám âm lịch năm 1684, dưới triều chúa Trịnh
Tạc) – Nước dâng cao do bão, sông Nhị Hà tràn
bờ [còn được gọi là sông Phú Lương, có nghĩa là
sông Hồng] ; nhiều ruộng lúa bị thiệt hại hoặc
mất trắng tại các huyện vùng Tây Bắc ».
Đây là một trong những sai lầm nghiêm
trọng nhất của nhà Trịnh vì đã không chú
trọng quan tâm đúng mực đến nông nghiệp
nói chung và công tác trị thủy nói riêng mà
đã giao công việc này cho riêng các quan địa
phương cấp tỉnh Chắc chắn là sau nhiều lần
vỡ đê, vào năm 1723, Nhà nước đã phải lấy
lại quyền điều hành các công trình ngăn lũ,
nhưng từ năm 1767, nó lại thuộc về thẩm
quyền của các quan chức vùng, chính phủ
hoàn toàn hỗn loạn (Lê Thành Khôi, 1992)
hệ thống tưới tiêu : sự bất lực của triều
đình
Các nguồn tài liệu liên quan đến một mặt
khác của vấn đề trị thủy là hệ thống cung cấp
nước phục vụ nông nghiệp ít hơn so với tài
liệu về chống lũ, nhưng các nguồn này đều
xác nhận mối quan tâm thường xuyên của
các triều đại nối tiếp nhau đến các vấn đề hạn hán và những hậu quả nặng nề mà dân chúng phải gánh chịu Tuy nhiên, nếu như từ thế kỷ XV, triều đình có ý định cải thiện tình hình trong lĩnh vực này thì trên thực tế các sáng kiến thực hiện lại không mang lại kết quả đáng kể : trước thế kỷ XIX, không có bất
cứ sự quy hoạch trực tiếp nào được thực hiện trên các con sông Cần phải nhấn mạnh là vào thời kỳ này các vấn đề cần giải quyết là những vấn đề tầm cỡ
Việc dự trữ nước cho cánh đồng được thực hiện nhờ vào các vùng thấp ở gần tạo thành
hệ thống ao và rạch Các vùng này thường ngập nước trong mùa mưa, tạo thành các
bể chứa nước cung cấp cho đồng ruộng vào những thời điểm hanh khô của mùa đông, lượng nước dự trữ tùy thuộc vào nhịp độ khi thủy triều lên, mức nước cao nhất là 4 m, khi
đó mức ảnh hưởng tại phần lớn các khu vực
của đồng bằng là đáng kể « Chúng ta ở trong
một đồng bằng, vùng châu thổ phù sa bồi đắp,
có độ dốc và độ cao thấp Lưu lượng dòng chảy yếu của các con sông vào mùa khô khiến cho nước biển dâng lên khi thủy triều lên, nước biển chặn dòng chảy của nước ngọt và như vậy làm tăng lượng nước trên các con sông » (Gourou,
1936)
Tại các vùng duyên hải, từ nhiều thế kỷ nay, người nông dân luôn biết tranh thủ tận dụng hiện tượng tự nhiên này : họ làm rất nhiều cửa xả nước bằng gỗ lim chắc không bị mủn
và điều khiển những cửa này dẫn nước vào các kênh khi gió biển thổi vào phía trong cửa sông và thổi ngược dòng chảy của sông làm mặt nước sông dâng cao
Tại các vùng khác, việc quy hoạch tưới nước chủ yếu tập trung vào hệ thống ao và rạch nhằm duy trì sự tồn tại ngắn ngủi của các bể chứa nước tự nhiên này Vì vậy, trên một tấm
Trang 13bia làng khắc năm 1764 có ghi lại việc có hai
xã đã cùng nhau tiến hành đào một kênh dẫn
nước vào giữa thế kỷ XVIII :
khung 2
« Hai xã Thời Ủng và Chu Lũng đã thực hiện các công trình quy hoạch nhằm ổn định đời
sống người dân Năm Đinh Mão (1747), thành lũy được xây dựng và nhiều mương nước
được đào, năm Quý Dậu (1753), một kênh tưới nước cũng được đào và năm Mậu Dần
(1758), các khoảng đất canh tác đã được cung tiến để tu tạo khu đền thờ Vào thời kỳ này,
quan lại hai xã đã tiến hành đo đạc, 99 trượng [1 trượng = 4 m] thành lũy và mương nước,
581 trượng [khoảng : 2,32 km] kênh đào đã ra đời, đền thờ nằm trên một chu vi 61 trượng
và 6 thước (đơn vị đo lường của Việt Nam thời xưa) […] Tổng cộng, tổng số tiền đóng góp
là 1010 quan tiền sử, 148 người đã hiến đất để đào kênh Để ghi nhận tấm lòng của những
người đã hiến đất và đóng góp tiền, hai xã đã cho lập một tấm bia có khắc tên của những
người này và thờ phụng họ lâu dài ».
Sáng kiến của địa phương
Song song với những sáng kiến cấp địa
phương, từ thế kỷ XV, triều đình ban hành
một loạt các chỉ dụ khuyến khích nhân dân
đắp các con đê nhỏ, đào các hồ chứa nước và
khơi thông kênh đào, rạch nhằm tăng nguồn
dự trữ nước tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi
cho vụ mùa tháng năm và nếu có thể, để
trồng giống lúa ngắn ngày thay thế giống lúa
thông thường trồng vào vụ chiêm bị phá hủy
do vỡ đê (Pouyanne, 1931) Vì vậy, vào cuối
thế kỷ XV, kênh Sông Đào đã được đào Con
kênh này cho phép cung cấp nước cho các
cánh đồng lúa vào mùa khô đồng thời tiêu
nước cho các khu vực trũng trong mùa mưa
Do không thể cắt đê và do cấu tạo đất tại
những nơi cùng có các gờ bờ sông và lòng
chảo đòi hỏi phải sử dụng những trang thiết
bị cơ khí để lấy nước từ các dòng sông vào
mùa khô Về điểm này, trong tài liệu nghiên
cứu việc cung cấp nước, E. Chassigneux ghi
lại rằng nếu như một số văn bản và chỉ dụ
yêu cầu các quan lại và người dân «phải chế
tạo các máy móc để vận chuyển nước», nhưng
không có bất cứ chi tiết nào cho biết tính chất của « những chiếc máy » này cũng như nói
rõ liệu chúng có tồn tại thực sự Phải chăng đây chính là những guồng đạp nước cỡ nhỏ thường thấy vào thời kỳ này tại một số tỉnh của đồng bằng sông Hồng ?
Cũng vậy, vào thời kỳ hạn hán, biện pháp cứu cánh chủ yếu là cầu viện chúa Trời Nhiều
đoạn trong sách Cương mục ghi lại, một mặt,
các biện pháp ân xá hàng loạt được coi như các hành vi phục hồi đạo đức trước sự hà khắc thái quá của triều đình bắt nguồn từ thiên tai (Langlet, 1970) và mặt khác, cầu khấn
và cúng lễ vật cho thần núi và thần sông để làm giảm cơn thịnh nộ của trời đất, thỉnh cầu các vị thần ban cho mưa mà hạ giới bấy lâu trông ngóng Vì vậy, sử sách có ghi vào năm
Quý Hợi, năm thứ 4 [1143] : « Hạn hán kéo dài,
từ mùa xuân đến mùa hạ Nhà vua thân hành
Trang 14cầu đảo để xin trời ban mưa Vào tháng sáu, trời
mưa » ; hay như vào năm Mậu Thìn, năm thứ
6 [1448] : « Vào tháng tư, là mùa hè Hạn hán
Nhà vua dâng lễ vật tế thần để cầu mưa Nhà
vua cũng đã trả tự do cho các tù nhân ».
Cuối cùng, do thiếu kỹ thuật hiệu quả trong quá trình cấp nước, nhà vua ban lệnh miễn một phần hay toàn bộ thuế cho dân và lấy gạo từ kho của triều đình để cấp cho những người dân nghèo khổ nhất để xoa dịu phần nào những nỗi đau mà người dân phải gánh chịu trong thời kỳ hạn hán
Dụng cụ tát nước truyền thống
Nguồn : Olivier Tessier và Philippe Le Failler (2009) Kỹ thuật của người dân An Nam, tác giả Henri OGER, tái xuất bản, ba ngôn ngữ,), nxb Thế giới, Hà Nội, 2 tập (nội dung : 700 trang ; lời mở đầu : 271 trang).
Ảnh 13
Trang 15Cũng vậy, việc lấy nước theo phương pháp
truyền thống từ các rạch và ao với nước dự
trữ từ các nguồn nước tự nhiên của sông
ngòi vẫn là chuẩn mực cho đến khi hệ thống
mương tự chảy được xây dựng Mỗi người
sử dụng hệ thống phải chịu trách nhiệm về
khoảnh ruộng của mình và tát nước từ một
nơi đặc biệt nằm dọc theo một con rạch hay
ao, được gọi là trạm tát nước, như hình ảnh
minh họa bên cạnh Các trạm tát nước này là
sở hữu cá nhân, người chủ sở hữu hệ thống
này có quyền ưu tiên lấy nước so với những
người dân khác trong làng có mong muốn
lấy nước tưới cho ruộng của mình Nước
được tát trực tiếp vào các khoảnh ruộng hoặc
tát vào một con kênh cấp nước cho đất đai
của người nông dân Việc tát nước được thực hiện chủ yếu bằng hai dụng cụ đơn giản, khá
rẻ và phụ thuộc vào cao độ mực nước được tát lên Phương pháp này vẫn được sử dụng cho đến ngày nay vì một số lý do được giải thích trong các phần sau
Gầu sòng là gầu đan bằng tre, dài khoảng
70 cm và miệng rộng khoảng 25 cm, được gắn với một cán dài từ 1,5 đến 2 m Gầu được treo bằng dây vào một cái chạc ba chân bằng tre sao cho gầu ở vị trí nằm ngang cách mặt nước khoảng 10 cm
Vật dụng này do một người điều khiển và chuyển động như một con lắc đồng hồ : lúc đầu, gầu chìm xuống nước khoảng 15 cm
Dụng cụ tát nước truyền thống (tiếp)
Nguồn : Quỹ lưu trữ ảnh – Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (Paris).
Ảnh 14,15 và 16
Trang 16theo hướng xiên, sau đó người điều khiển tác
động lên gầu gây ra một chuyển động giống
con lắc đồng hồ và gầu dừng lại khi đạt đến
điểm phải đổ nước Nước khi đó được kéo
theo nhờ vào lực tác động mạnh và được đổ
vào khoảnh ruộng hay một con kênh dẫn
Gầu sòng cho phép đẩy nước lên cao tối đa
40 cm Một ngày tát nước vất vả và nhàm
chán tưới được 10 cm nước cho 1 ha lúa
Vật dụng thứ hai, cái gầu giai, được sử dụng
khi muốn đưa nước lên cao hơn 40 cm nhưng
không vượt quá một mét Gầu giai giống như
một cái xô được làm từ những tấm tre đan có
hình nón, mỗi bên nối với hai dây, một ở đáy
gầu, một ở miệng gầu
Cần có hai người điều khiển gầu Khi nghiêng
người về phía trước, hai tay căng ra để gầu
chìm xuống nước, sau đó thẳng người và
kéo mạnh dây phía trên để khi gầu đạt tới
điểm cuối hành trình, kéo dây phía dưới để
dốc ngược gầu và đổ nước ra Với giả thuyết
cần đưa nước lên cao 90 cm và đạt tới 10 cm
nước cho một héc-ta lúa, hai người sẽ phải
lao động trong khoảng 30 ngày Hơn nữa, đôi
khi phải thực hiện nhiều bước để có thể đưa
nước đến mảnh ruộng cần tưới
Đứng trước một công việc khó khăn và đòi
hỏi nhiều thời gian, sẽ là dễ hiểu vì sao các
vụ lấy trộm nước thường xuyên xảy ra và là
nguyên nhân chính gây bất hòa giữa hàng
xóm láng giềng, nhất là vào mùa hạn hán
Quả vậy, không có gì dễ hơn là bổ một nhát
cuốc vào bờ ngăn giữa hai khoảnh ruộng,
nước sẽ chảy vào ruộng bên cạnh ở vị trí thấp
hơn
Ngoài ra, còn có hai nông cụ khác để đưa
nước lên cao nhưng ít được sử dụng hơn hai
nông cụ trước Đầu tiên là cái gầu kèo Đây
đơn giản là một cái gầu đựng bằng tre đan
gắn chặt với một cái can Khi ngập trong
nước, gầu trượt theo chiều dài một thành đất nhẵn và nghiêng : người điều khiển ở vị trí ngồi, kéo gàu về phía mình, nước dâng lên thành đất để tiếp sau đó đổ ra ngay khi lên cao hơn mặt bờ ngăn Hiệu quả tát nước này rất cao nhưng chỉ cho phép đưa nước lên cao từ 10 đến 20 cm vì vậy việc sử dụng gàu kèo chỉ giới hạn ở một số huyện phía dưới đồng bằng có độ dốc rất thấp Vật dụng thứ hai là guồng đạp nước (hay guồng nước), cho phép đưa nước lên độ cao từ 10 cm đến 1,5 m Loại gầu này trên thực tế dành cho những nông dân có điều kiện vì chi phí và độ phức tạp cao
Khi so sánh các công cụ dẫn nước tưới cho ruộng đồng tại đồng bằng sông Hồng vào đầu thế kỷ XX với các công cụ được đề cập trong một khảo luận của Trung Quốc vào
năm 1210, cuốn Keng tche t’ou, với 23 bức vẽ
mô tả nghề trồng lúa, E Chassigneux đã thiết lập được một mối liên hệ về mặt kỹ thuật và mối liên hệ này hoàn toàn chắc chắn Các công cụ được nông dân đồng bằng sông Hồng sử dụng dựa trên sự vay mượn kỹ thuật của Trung Quốc : chỉ có vài chỉnh sửa cho phù hợp và có cải tiến so với kỹ thuật Trung Quốc, nhất là đối với công cụ đầu tiên được miêu tả khi hệ thống đối trọng ban đầu được thay thế bằng gạc tre ba chân
1.1.3 nhà nguyễn : một tầm nhìn bao quát và sáng tạo về quy hoạch thủy lợi
Mặc dù kinh đô của nhà nước mới thống nhất được rời về Huế, các hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn đã chú trọng vào việc vực dậy nền kinh tế-xã hội của miền Bắc đất nước vốn hoang tàn sau nhiều thập kỷ chiến tranh
và tàn phá Để thể hiện quyền lực của mình
ở khắp nơi trên đất nước, nhà Nguyễn khẳng định mình như một nhà xây dựng vĩ đại khi
Trang 17cho tiến hành xây dựng đường xá, cầu, cảng
và cả các thành trì vững mạnh theo kiểu công
sự Vauban để phòng ngừa các cuộc nổi dậy
của nông dân Đây là một trong những điểm
mập mờ nhất của nửa đầu thế kỷ XIX : nếu
như việc xây dựng một chế độ quân chủ
chuyên chế cho phép hiện đại hóa cơ sở hạ
tầng tại đồng bằng sông Hồng, việc tăng
cường giám sát người dân bằng một bộ máy
quan liêu của quan lại tham nhũng tràn lan
ngày càng gây bất bình cho nông dân và
nhiều lần sự phẫn nộ đã biến thành các cuộc
nổi dậy Vì vậy, những thủ lĩnh nông dân như
Phan Bá Vành, các quan lại tiếc nuối triều Lê
trước kia đã tập hợp nông dân nghèo nổi dậy
trong sáu năm (1821-1827) chống lại các thế
lực triều đình ở vùng duyên hải Quang Yên
(Sơn Nam) Nếu những cải cách hành chính
do vua Minh Mạng thực hiện nhằm lập lại
kỷ cương đất nước đã đem lại yên bình thì
khủng hoảng lại ngày càng nghiêm trọng
dưới thời vua Tự Đức, đỉnh điểm là sự xâm
lược của các tàn quân Trung Hoa chạy trốn
khỏi sự truy sát liên tục sau cuộc nổi dậy Thái
Bình Thiên Quốc (Lê Thành Khôi, 1992)
hướng tới việc đắp đê toàn diện ở đồng bằng sông hồng
Trong lĩnh vực thủy lợi, các hoàng đế, đầu tiên là vua Gia Long, sau đó là vua Minh Mạng
và vua Tự Đức, tiến hành thực hiện các công trình quy mô chủ yếu nhằm chế ngự lũ sông Hồng Vì vậy, theo số liệu điều tra năm 1829
do quan Đê chính Lê Đại Cương tiến hành, tổng chiều dài đê chính ở đồng bằng sông Hồng (số liệu tại 739 xã thuộc 38 huyện trên
5 tỉnh) là 952 km trong đó 144,5 km được đắp trong vòng 26 năm dưới thời hai hoàng đế đầu tiên của triều đại (Đỗ Đức Hùng, 1979) Pierre Gourou đánh giá, vào thời điểm trước khi có sự xuất hiện của chế độ thực dân, việc đắp đê toàn diện tại đồng bằng sông Hồng
đã hoàn thành, tức là hệ thống đê điều dày đặc gần với những gì quan sát được vào đầu năm 1930 Hệ thống này trải dài trên gần
2000 km đê chính cũng như đê quai (Gourou, 1936) (Xem Bản đồ hệ thống đê)
Trang 18Năm 1809, hoàng đế Gia Long thực hiện
cải cách quản lý đê điều và thiết lập một cơ
quan trung ương chuyên biệt nằm dưới sự
phụ trách của một quan triều đình « quan Đê
chính ở Bắc Thành » Nhà vua đồng thời ban
hành một quy định gồm tám điều liên quan
đến việc thực hiện và giám sát các công trình
xây dựng, bảo vệ các công trình và lập các kế
hoạch xây dựng trong tương lai có ước tính
chi phí thực hiện
Quy định này thiết lập hệ thống các loại hình
đê điều theo ba cấp độ quan trọng (đê đại
giang, đê trung giang, đê tiểu giang) và xác
định với mỗi loại hình một bản mẫu chuẩn mực các công trình – độ rộng chân đê và bề mặt đê, độ cao và mật độ nén
Cuối cùng, cũng như trong bộ luật nhà Lê, bộ luật Gia Long quy định các hình phạt, có thể
là tử hình, cho bất cứ ai bị kết tội « Cắt đê sông
trái phép – Điều 395 » và « Không kịp thời sửa chữa đê và không sửa chữa đê – Điều 396 » [2],
Bản đồ các tuyến đê (thời gian giả định : 1905)
Nguồn : Gauthier, J (1931).
Bản đồ 3
hay tát ao (thuộc sở hữu cá nhân), sẽ bị phạt đánh 80 trượng […] » Điều 396 : « Mỗi lần đê sông không được (đắp và) tu bổ (trước khi xảy ra tai nạn), hay cho dù (cho dù đã tu bổ), đê đã được tu bổ nhưng không kịp thời, các quan viên lại chịu trách nhiệm quản lý chung của bộ phận sẽ bị phạt đánh 50 trượng […] » (Philastre, 1876).
Trang 19điều luật này lấy lại các điểm chính trong bộ
luật nhà Lê
Cho dù toàn bộ những biện pháp này nhằm
hệ thống hóa việc quản lý kỹ thuật và nhân
lực hệ thống đê điều, các đợt vỡ đê và lũ lụt
vẫn liên tiếp xảy ra hàng năm dưới triều vua
Gia Long và Minh Mạng, với hàng loạt trận lũ
lụt chết người, nạn đói và các cuộc nổi dậy
của nông dân Hàng năm hay gần như hàng
năm, kể từ tháng sáu âm lịch, Đại Nam Thực
Lục mô tả lại thực trạng các địa điểm bị thiên
tai nặng, nhẹ, do lũ hay ngược lại do hạn hán,
hoàng đế cấp gạo cứu trợ khẩn cấp hoặc cấp
tiền cho những người bị thiên tai và ban hành
lệnh miễn thuế một phần hay miễn thuế
toàn phần
Trận lụt năm 1872 là một thảm họa : « Bắc
Thành bị lụt nặng, đê điều tại ba tỉnh Sơn Tây,
Sơn Nam, Nam Định bị vỡ, nhà cửa và ruộng
đồng chìm trong biển nước, nhiều người chết
đuối Các vị chức sắc đã cử người xuống địa
phương để cứu trợ người bị nạn và báo cáo với
nhà vua […] Tôi đã đọc bản báo cáo về tình
hình bi thảm của người dân bị nạn, cứu trợ
không đủ và còn quá ít ỏi Tôi ra lệnh cho các
chức sắc tỉnh cứu trợ bổ sung, mỗi người, nam,
phụ, lão, ấu, hoặc đã chết đuối, được nhận 3
quan tiền, nếu như một người rất nghèo sẽ
được nhận 2 quan tiền, 1 phương gạo, nếu như
một người nghèo sẽ được cấp 1 quan tiền và 1
phương gạo »
Vào năm trị vì thứ tám (1828), vua Minh Mạng
ban chỉ dụ tước quyền đắp đê và tu bổ đê
điều của quan lại cấp tỉnh bị kết tội là lơ là và
bất tài, để giao trách nhiệm này cho một bộ
phận quan viên lại chuyên biệt Chỉ dụ ban
hành chính xác kích thước của các loại hình
đê điều khác nhau, các kích thước này được
nâng lên so với kích thước mẫu chuẩn ban
hành dưới thời vua Gia Long, và chỉ rõ cách
tiến hành ; vua Minh Mạng cũng ra chỉ dụ trồng tre ở chân đê và lập dự trữ mỗi năm trước mùa lũ giỏ và tre để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sửa chữa ; cuối cùng, nhà vua ra chỉ dụ lập đền thờ thần nước ở hợp lưu sông Hồng và sông Lô
Tuy nhiên không gì được thực hiện Bởi vậy năm 1833, vua Minh Mạng quyết định cải cách toàn bộ việc quản lý đê điều Nhà vua giải tán bộ phận chuyên biệt được lập ra sáu năm trước và giao lại quyền cho quan lại tỉnh
(bộ Công) có trách nhiệm quản lý khúc sông
đi qua địa phận tỉnh mình Việc phục hồi toàn bộ quyền này được lý giải bằng nhận định sau : kinh nghiệm cho thấy các quan lại chuyên biệt chỉ tập trung vào các công trình đắp và tu bổ đê điều mà không phải quan tâm đến các hoạt động nông nghiệp, và nhất
là không phải lo về khả năng tạo kênh rạch thoát nước hay cấp nước
Năm 1862, bộ phận đê điều một lần nữa lại
bị giải tán và chính sách các công trình thủy lợi lớn bị dừng lại Vua giải thích là do vấn đề tài chính nhưng nguyên nhân chủ yếu là do những rối loạn nghiêm trọng mà các đạo quân cướp bóc Trung Hoa gây ra ở miền Bắc
và do sự can thiệp của thực dân Pháp ở miền Trung và miền Nam
Tóm lại, cho dù có một kế hoạch tổng thể ấn tượng, chính sách thủy lợi của nhà Nguyễn vẫn là một chính sách không nhất quán và thiếu tính liên tục, cho thấy độ quan trọng của những quyết định đơn phương và sự bất
ổn nghiêm trọng của bộ máy quan lại
Cuộc tranh luận vào năm 1803 về tính hữu ích của việc duy trì hệ thống đê điều là một minh chứng
Trang 20thảo luận xung quanh tính hữu ích của
việc tu bổ và gia cố đê điều
Việc liên tiếp thực hiện tái tổ chức hành chính
và kỹ thuật này phải được đặt lại trong bối cảnh
một cuộc tranh luận về nội dung trong đó các
thuật ngữ được vua Gia Long đặt ra ngay vào
năm 1803 : bằng chỉ dụ, vua ra lệnh cho quan
lại và dân chúng phải tranh luận về tính hữu
ích của việc giữ lại hay san phẳng hệ thống
đê điều Quả vậy, khi hệ thống đê chính và đê
quai ngày càng dày đặc, nông dân và quan lại
bắt đầu nhận thấy sự bất tiện khi tiến hành
tưới tiêu cho các cánh đồng lúa tại đồng bằng
sông Hồng Họ đau lòng khi nhìn thấy sông
Hồng cuồn cuộn chảy trong khi lúa khô cong
trên các cánh đồng Vì vậy, cuốn Mô tả Địa thế
của vua Đồng Khánh (1888) có ghi lại vấn đề
này tại tỉnh Sơn Tây : « Đất đai và nước của các
huyện ở vị trí thấp sạch hơn, giống với đất đai và
nước của các tỉnh miền Đông Nam Các cơn mưa
lớn từ độ cao các tỉnh lân cận Hưng Hóa và Tuyên
Quang đến trong vài tuần đan xen giữa mùa hè
và mùa thu ; các con sông vì thế chảy nhanh và
mực nước có thể đạt 18 hay 19 thước, trong khi
đó những cánh đồng phía bên kia triền đê đang
phải gánh chịu hạn hán ».
Một câu hỏi được đặt ra là liệu có hợp lý khi
san bằng những công trình vốn đắt đỏ và
nguy hiểm này để nước của các dòng sông
lớn có thể tràn vào mọi diện tích trên đồng
bằng như một trận lũ chậm, từ từ chứ không
phải như một trận đại hồng thủy Từ đó độ
ẩm sẽ tăng cao giúp giải quyết vấn đề tưới
nước cho các cánh đồng, đồng thời tăng độ
màu mỡ của đất nhờ có phù sa bồi đắp Nói
cách khác, vấn đề là phải xác định liệu đê điều
không phải là một liều thuốc chữa bệnh mà
tệ hơn thế, đó là một căn bệnh cần loại bỏ Vì
vậy, sau mỗi trận lụt, nhân dân các vùng bị lụt
lại yêu cầu loại bỏ đê điều, như vào các năm
1804, 1825, 1835, 1847, 1872 và 1879 Nguyên
nhân chính khiến người dân yêu cầu loại bỏ
đê điều là do trong một trận lụt do vỡ đê ở thượng nguồn, các vùng ở hạ nguồn không
bị lụt phải đối mặt với nước rút khi mực nước sông xuống thấp, lấy đi toàn bộ hy vọng mùa màng của người dân (Pouyanne, 1931) Tuy nhiên, may mắn thay, không một vị vua nào dưới thời nhà Nguyễn đi đến quyết định phá bỏ đê điều trên quy mô toàn vùng đồng bằng Các giải pháp thay thế bổ sung nhằm khắc phục những thiếu sót của hệ thống đê điều giúp giải quyết vấn đề nan giải này.Trước tiên người ta tìm cách hạ độ cao mặt nước sông Hồng bằng cách tăng khả năng tiêu nước của các cửa sông và tạo ra các nhánh sông nhân tạo Chính vì vậy, song song với việc cải cách quản lý đê điều vào năm 1833, vua Minh Mạng quyết định thành lập các hội đồng bao gồm hai quan đặc biệt phụ trách đào và nạo vét sông Cửu An, là con sông cùng lúc được sử dụng như nhánh thoát nước của sông Hồng ở độ cao của Hưng Yên
và là kênh tưới nước Từ năm 1835 đến năm
1836, 20 km sông đã được đào để thiết lập điểm giao giữa sông Hồng và sông Cửu An có lòng sông được nạo vét và mở rộng trên hơn
40 km Song song với việc đào đê này, các con
đê nằm trong vùng trũng của tỉnh Hưng Yên được san bằng, độ cao các con đê được hạ thấp nhiều khi đê không đơn thuần và đơn giản nằm trên mặt đất (Đỗ Đức Hùng, 1998) Ảnh hưởng của việc quy hoạch trên quy mô lớn này trái ngược với kết quả mong đợi Bốn tháng sau khi công trình hoàn tất, vào tháng sáu âm lịch năm 1836, nhà thơ nổi tiếng, quan văn Nguyễn Công Trứ khi đó là Tổng đốc Hải Yên, đã thông báo cho vua Minh Mạng cửa sông Cửu An trên sông Hồng bị
vỡ tại ba điểm : tỉnh Hưng Yên và Hải Dương chìm trong nước ở độ sâu 2 m và thành phố
Trang 21Hưng Yên hoàn toàn bị ngập Đây là trận lụt
khủng khiếp nhất mà hai tỉnh này từng trải
qua (Đỗ Đức Hùng, 1998) Nguyễn Công Trứ
chịu sự khiển trách nặng nề từ nhà vua, bị coi
là người chịu trách nhiệm về thảm họa này và
phải có nghĩa vụ khắc phục hậu quả Từ năm
1837, nhiều công trình lớn tu bổ sông Cửu An
đã được thực hiện Trước sự khẩn nài của dân
chúng các tỉnh bị lũ lụt tàn phá liên tiếp hàng
năm, cửa sông thượng lưu sông Cửu An hoàn
toàn bị đóng lại và con sông này không còn chức năng là kênh thoát nước để tháo nước từ các vùng trũng của tỉnh Hưng Yên về phía hạ lưu của sông Luộc là sông Đuống (Pouyanne, 1931) Không còn lựa chọn nào khác ngoài việc xây dựng lại và gia cố hệ thống đê điều ở các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Nam Định, một nhiệm vụ mà vua Thiệu Trị phải thực hiện trong sáu năm ông trị vì (1841-1847)
những công trình tu bổ lớn vào thế kỷ XiX nhằm hạ mực nước sông hồng
Nguồn : tác giả.
Bản đồ 4
Tuy vậy, dù đã trải qua kinh nghiệm đau
thương này, vấn đề lại được vua Tự Đức đưa
ra tranh luận vào năm 1852 và lấy ý kiến đóng
góp về những việc phải làm đối với hệ thống
đê điều Chính sự thiếu tin tưởng vào hệ
thống đê điều đã cho nhà vua ý tưởng phải tiếp tục các công việc ngăn lũ ở đồng bằng sông Hồng, bằng chứng là những ghi chú
bằng tay của nhà vua trong cuốn Đại Việt sử
ký bên lề đoạn ghi chép về việc xây dựng đê
Trang 22Đỉnh Nhĩ (xem phần trên) : « Đây là hành động
không suy nghĩ khiến chúng ta phải gánh chịu
thiên tai liên tục », Tuy nhiên, sau năm năm
trì hoãn, cuối cùng chính những người ủng
hộ việc duy trì và gia cố hệ thống đê điều là
những người thắng cuộc, phần lớn những
quan lại triều đình đều thừa nhận là việc loại
bỏ một số con đê đã gây ra các trận lũ lụt ở
quy mô lớn và với tần suất chưa từng thấy
trong thập kỷ đó
Sau khi tranh luận đã ngã ngũ, bộ phận đê
điều một lần nữa được tái thiết lập vào năm
1857 Vị quan Đê chính mới lập một danh
sách gồm 10 đề nghị cụ thể cũng như các
điểm ưu tiên liên quan đến các công việc
thủy lợi và quy chế chống lũ (Đỗ Đức Hùng,
1979) Trên cơ sở này và song song với việc
xây dựng các đê chính và đê quai mới trên
dòng sông Hồng để nước sông không tràn
bờ, các công việc nạo vét cũng được tiến
hành bằng việc sử dụng bừa do tàu thủy kéo
để tăng độ sâu cửa sông và như vậy cho phép
dòng chảy đầy biến động của sông chảy
nhanh hơn Người ta cũng tìm cách chuyển
hướng một phần dòng chảy sông Hồng sang
sông Thái Bình để hạ mức nước và hạn chế sự
hung dữ của các cơn lũ Vì vậy, năm 1858 vua
Tự Đức cho đào một nhánh mới đổ vào sông
Đuống ở hạ nguồn nhánh cũ bị tắc do phù
sa (Chassigneux, 1914) Tuy nhiên, năm 1862,
khi các công việc quy hoạch sông Đuống còn
đang dang dở, bộ phận đê điều một lần nữa
lại bị giải tán và chính sách về các công trình
thủy lợi tầm cỡ bị dừng nửa chừng Lý do nhà
vua đưa ra là do các vấn đề tài chính và nhất
là do các rối loạn nghiêm trọng mà thực dân
Pháp gây ra tại miền Trung và Nam đất nước
Đê công, đê tư
Sự tồn tại hai loại hình đê điều là một thực tế
lịch sử nằm trong chính quá trình chống lũ ở
đồng bằng sông Hồng Vì vậy, vào năm 1665,
tháng 11 âm lịch, sách Cương mục ấn định
thời hạn tu bổ đê và tổng kết tình hình các công việc khác nhau theo thứ tự tầm quan
trọng : « Vào tháng 10 âm lịch hàng năm, các
Thửa ty của mỗi xứ phải yêu cầu các quan ở các quận trực thuộc tiến hành điều tra xác định các điểm đê điều cần tu bổ Những tu bổ nhỏ do dân chúng các xã nơi bị lũ đe dọa thực hiện dưới sự giám sát của quan lại cấp xứ ; các công trình lớn
do một viên quan được chỉ định điều hành. »
Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên hai loại hình đê điều này được tách biệt dưới triều đại nhà Nguyễn Vì thế, trong cuộc điều tra tiến hành năm 1829 tại bốn xứ ở đồng bằng sông Hồng (xem phần sau), song song với việc kiểm kê các công trình công cộng, quan Đê chính
Lê Đại Cương thống kê được 698 km đê tư nhân và 16 cống thuộc hệ thống tư nhân này (Đỗ Đức Hùng, 1979) Vào thời kỳ này, tỉ lệ đê
tư chiếm hơn 40% trong tổng số 1650 km
đê quy hoạch được kiểm kê tại năm xứ Việc phân chia thành hai loại hình đê điều này dựa trên những tiêu chí nào ?
Đê công
Hệ thống đê công do nhà nước phong kiến thực hiện dưới sự điều hành của bộ máy quan lại tỉnh hay bộ phận quan lại chuyên biệt tùy vào từng thời kỳ Hệ thống này được coi là mang tính chiến lược vì nó bảo vệ các công trình và con người, vỡ đê có thể gây ra lũ lụt tại các thị trấn cấp huyện, các thị xã cấp tỉnh
và trên quy mô toàn tỉnh Đây là những công trình quan trọng nhất bao quanh bãi sông Hồng và các nhánh sông hỗn loạn nhất Việc xây dựng và tu bổ vì thế đòi hỏi phải tuân thủ chặt chẽ các quy chuẩn về kích thước và đầm đất do Nhà nước ấn hành Để huy động theo định kỳ một số lượng lớn nhân công cần thiết cho việc xây dựng các công trình hạ tầng cơ