1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀO KHÔI PHỤC, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM, TĂNG THU NHẬP CHO NGƯỜI DÂN TỈNH TRÀ VINH

254 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 254
Dung lượng 3,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, bên cạnh đội ngũ nghệ nhân, thợ lành nghề, đòi hỏi các hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng n

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

LIÊN HIỆP KHOA HỌC KINH TẾ ĐÔ THỊ - NAM BỘ

VIỆN NGHIÊN CỨU KINH TẾ

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀO KHÔI PHỤC, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM, TĂNG THU NHẬP CHO NGƯỜI DÂN

TỈNH TRÀ VINH

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu Kinh tế

Chủ nhiệm đề tài: TS, GV Nguyễn Chí Tân

Trà Vinh - 2016

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

LIÊN HIỆP KHOA HỌC KINH TẾ ĐÔ THỊ - NAM BỘ

VIỆN NGHIÊN CỨU KINH TẾ

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀO KHÔI PHỤC, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM, TĂNG THU NHẬP CHO NGƯỜI DÂN

TỈNH TRÀ VINH

Sở Khoa học và Công nghệ

Trà Vinh - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH ẢNH iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 23

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 23

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 24

6 Kết cấu đề tài 25

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 26

1.1 Một số khái niệm liên quan 26

1.2 Khái quát chung về làng nghề ở Việt Nam 27

1.2.1 Nguồn gốc hình thành các làng nghề 27

1.2.2 Lịch sử phát triển các làng nghề 29

1.2.3 Đặc điểm của làng nghề 31

1.2.4 Cơ hội và thách thức của phát triển làng nghề 32

1.3 Cách tiếp cận và lý thuyết áp dụng 33

1.3.1 Cách tiếp cận 33

1.3.2 Lý thuyết áp dụng 35

Trang 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 37

1.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 37

1.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 38

1.5 Kỹ thuật sử dụng 42

CHƯƠNG 2 LÀNG NGHỀ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TRÀ VINH 43

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh 43

2.1.1 Đặc điểm kinh tế 43

2.1.2 Đặc điểm xã hội 47

2.2 Vai trò làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trà Vinh 51

2.2.1 Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời, độc đáo 51

2.2.2 Góp phần giải quyết nhu cầu việc làm, tận dụng nguyên liệu tại chỗ 54

2.2.3 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa 58

2.2.4 Đa dạng hóa hoạt động kinh tế, tạo nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội 60

2.2.5 Góp phần quan trọng trong việc phát triển du lịch 61

2.3 Thực trạng hoạt động sản xuất của 10 làng nghề được công nhận trên địa bàn tỉnh Trà Vinh 63

2.3.1 Làng nghề tiểu thủ công nghiệp 65

2.3.2 Làng nghề đan đát, thủ công mỹ nghệ xã Lương Hòa, huyện Châu Thành 72

2.3.3 Làng nghề khai thác, sơ chế biến thủy sản 75

Trang 5

2.3.4 Làng nghề trồng hoa kiểng 83 2.3.5 Làng nghề sản xuất rượu Xuân Thạnh,

xã Hòa Thuận, huyện Châu Thành 90 2.3.6 Làng nghề bánh tét Trà Cuôn, xã Kim Hòa, huyện Cầu Ngang 95

2.4 Thuận lợi và khó khăn trong phát triển

làng nghề của tỉnh Trà Vinh 97

2.4.1 Thuận lợi 97 2.4.2 Khó khăn 99

CHƯƠNG 3 HÀM LƯỢNG CÔNG NGHỆ, KHOA HỌC

KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT, KINH DOANH

CỦA LÀNG NGHỀ Ở TỈNH TRÀ VINH 102

3.1 Vai trò của tiến bộ khoa học kỹ thuật với sự phát triển

của làng nghề ở Trà Vinh 102 3.1.1 Quan điểm tiếp cận 102 3.1.2 Vai trò của tiến bộ kỹ thuật với sự phát triển của làng nghề 103 3.2 Hàm lượng công nghệ, khoa học kỹ thuật của

làng nghề tỉnh Trà Vinh 108 3.2.1 Hàm lượng công nghệ, khoa học kỹ thuật của

làng nghề tỉnh Trà Vinh trong sản xuất 108 3.2.2 Hàm lượng công nghệ, khoa học kỹ thuật của

làng nghề tỉnh Trà Vinh trong kinh doanh 124 3.2.3 Nhân lực khoa học công nghệ trong làng nghề 126

Trang 6

CHƯƠNG 4 MÔ HÌNH ỨNG DỤNG TIẾN BỘ

KHOA HỌC, KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TRONG

KHÔI PHỤC, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 140 4.1 Mô hình ứng dụng công nghệ nấu bánh tét bằng nồi nấu hiện đại thay thế nấu bằng củi tại làng nghề bánh tét Trà Cuôn, xã Kim Hòa, huyện Cầu Ngang 141

4.1.1 Thực hiện mô hình 141 4.1.2 Đánh giá hiệu quả mô hình 149

4.2 Mô hình ứng dụng công nghệ trong làm giường tre tại làng nghề tiểu thủ công nghiệp xã Hàm Giang, huyện Trà Cú 163

4.2.1 Thực hiện mô hình 163 4.2.2 Đánh giá hiệu quả mô hình 169

4.3 Mô hình ứng dụng máy móc vào sấy, bóc tách tôm khô

tại làng nghề sơ chế biến thủy sản Xóm Đáy xã Đông Hải

huyện Duyên Hải 181

4.3.1 Thực hiện mô hình 181 4.3.2 Đánh giá hiệu quả mô hình 186

CHƯƠNG 5 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHÔI PHỤC

BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2025 ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 197 5.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển làng nghề trên địa bàn

tỉnh Trà Vinh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 198

5.1.1 Quan điểm 198

Trang 7

5.1.2 Mục tiêu tổng quát 199

5.1.3 Mục tiêu cụ thể 199

5.2 Định hướng phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 200

5.2.1 Định hướng chung 200

5.2.2 Định hướng cụ thể 201

5.3 Các giải pháp về phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 204

5.3.1 Các giải pháp trước mắt 204

5.3.2 Các giải pháp lâu dài 215

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 220

1 Kết luận 220

2 Kiến nghị 222

TÀI LIỆU THAM KHẢO 234

PHỤ LỤC BÁO CÁO THỐNG KÊ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 238

Trang 8

5 DNTN Doanh nghiệp tư nhân

6 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

18 TTCN Tiểu thủ công nghiệp

19 UBND Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1: Phân bổ phiếu điều tra đợt 01 40

2 Bảng 1.2: Phân bổ phiếu điều tra đợt 02 41

3 Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế qua các năm của tỉnh Trà Vinh 44

4 Bảng 2.2: Tốc độ tăng tổng sản phẩm của tỉnh năm 2015 44

5 Bảng 2.3: Dân số của tỉnh Trà Vinh qua các năm 47

6 Bảng 2.4: Dân số và mật độ dân số theo đơn vị hành chính 48

7 Bảng 2.5: Cơ cấu lao động ở tỉnh Trà Vinh qua các năm 49

8 Bảng 2.6: Đặc điểm lực lượng lao động tỉnh Trà Vinh năm

9 Bảng 2.7: Số lao động được giải quyết việc làm 56

10 Bảng 2.8: Số liệu 12 làng nghề trên địa bàn tỉnh Trà Vinh

14 Bảng 2.12: Hiệu quả kinh tế 79

15 Bảng 2.13: Việc áp dụng KHKT vào làng nghề rượu

Trang 10

18 Bảng 4.1: Hiệu quả kinh tế khi ứng dụng KHKT vào cơ sở

19 Bảng 4.2: Thu nhập 1 ngày của lao động 155

20 Bảng 4.3: Hiệu quả xã hội khi ứng dụng KHKT 156

21 Bảng 4.4: Dung tích các nồi nấu bánh tét 162

22 Bảng 4.5: Các thiết bị thuộc mô hình công nghệ trong làm

23 Bảng 4.6: Các thiết bị thuộc mô hình ứng dụng máy móc

24 Bảng 4.7: Thông số kỹ thuật của tủ sấy tuần hoàn khí nóng 189

25 Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế khi ứng dụng KHKT 190

26 Bảng 4.9: Hiệu quả tăng năng suất, nâng cao chất lượng

Trang 11

DANH MỤC HÌNH ẢNH

1 Hình 1.1: Mô hình lý thuyết tân cổ điển về tăng trưởng

2 Hình 2.1: Đường vào làng nghề thông thoáng, sạch sẽ 80

3 Hình 2.2: Phơi tôm trên nền xi măng 81

4 Hình 2.3: Vườn hoa kiểng hộ sản xuất Nguyễn Văn Triều 89

5 Hình 2.4: Trồng hoa trong nhà lưới 89

5 Hình 3.1: Dệt chiếu tại cơ sở anh Triều 116

6 Hình 3.2 và hình 3.3: Máy khoan và máy cắt tre tại cơ sở

7 Hình 3.4 và hình 3.5: Máy sấy và máy tách vỏ tôm tại cơ sở

Lân Văn Siên - Làng nghề sơ chế biến thủy sản Xóm Đáy 117

8 Hình 4.1: Nồi nấu bánh tét bằng điện 142

9 Hình 4.2: Chứng nhận của cơ sở bánh tét Ba Loan 143

10 Hình 4.3: Các thùng ngâm trứng vịt muối 146

11 Hình 4.4: Gói bánh tét tại cơ sở Ba Loan 148

12 Hình 4.5: Sản phẩm bánh tét của cơ sở Ba Loan 149

Trang 12

13 Hình 4.6: Củi gỗ - Nguyên liệu đun nấu của cơ sở bánh tét 158

14 Hình 4.7: Nồi nấu bánh tét truyền thống 159

15 Hình 4.8: Ban chủ nhiệm đề tài làm việc cùng đại diện

chính quyền xã Hàm giang và cơ sở Thành Đạt 165

16 Hình 4.9: Giấy chứng nhận của cơ sở Thành Đạt 166

17 Hình 4.10: Sản phẩm giường tre của cơ sở Thành Đạt 180

18 Hình 4.11: Ban chủ nhiệm đề tài làm việc cùng đại diện

19 Hình 4.12: Giấy phép đăng ký kinh doanh của cơ sở Dương

20 Hình 4.13: Giấy Công nhận của cơ sở Dương Thị Bến 184

21 Hình 4.14: Lò sấy tôm của cơ sở Dương Thị Bến 186

22 Hình 4.15 và 4.16: Máy bóc vỏ và máy lạo tôm cơ sở Dương Thị Bến 186

Trang 13

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1: Thực trạng các làng nghề tiểu thủ công nghiệp 66

2 Biểu đồ 2.2: Vai trò của làng nghề thủ công mỹ nghệ 73

3 Biểu đồ 2.3: Những hạn chế của làng nghề thủ công mỹ nghệ 74

4 Biểu đồ 2.4: Nguồn khai thác, sơ chế biến thuỷ sản 76

5 Biểu đồ 2.5: Việc ứng dụng công nghệ, kỹ thuật vào sản xuất

6 Biểu đồ 2.6: Mức độ ứng dụng khoa học công nghệ vào

7 Biểu đồ 2.7: Thực trạng phát triển của hai làng nghề hoa kiểng 84

8 Biểu đồ 2.8: Thực trạng làng nghề sản xuất rượu Xuân Thạnh 91

9 Biểu đồ 3.1: Việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật 10 làng nghề 110

10 Biểu đồ 3.2: Lý do không nên ứng dụng KHKT vào làng

Trang 14

19 Biểu đồ 3.11: Kênh tiêu thụ sản phẩm rượu Xuân Thạnh 125

20 Biểu đồ 3.12: Kỹ năng, tay nghề của thợ làng nghề 128

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển công nghiệp nông thôn là một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nông thôn ở Việt Nam Trong những năm qua, hoạt động ngành nghề nông thôn luôn được quan tâm, chú trọng phát triển với nhiều chủ trương, chính sách được ban hành Đặc biệt khi Quyết định số 132/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn được ban hành, hoạt động ngành nghề nông thôn đã có nhiều bước phát triển rõ rệt Trong đó, chú trọng thực hiện quy hoạch, xây dựng chương trình bảo tồn và phát triển ngành nghề nông thôn tập trung vào 3 lĩnh vực: bảo tồn và phát triển làng nghề, phát triển làng nghề gắn với du lịch và phát triển làng nghề mới.

Thực hiện đổi mới công nghiệp nông thôn theo xu hướng chung của cả nước, kinh tế nông thôn của tỉnh Trà Vinh đã có những bước phát triển rõ rệt với tốc độ tăng trưởng khá cao, ổn định và liên tục Đóng góp vào sự phát triển của kinh tế nông thôn của tỉnh có vai trò rất quan trọng của các ngành nghề, làng nghề với nhiều tiềm năng và lợi thế chưa khai thác hết Với mục tiêu tập trung phát triển ngành nghề nông thôn nhằm góp phần tích cực vào phát triển du lịch và quá trình phát triển kinh tế - xã hội, UBND tỉnh Trà Vinh

đã ban hành Quyết định số 1307/QĐ-UBND ngày 10/7/2009 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Trà Vinh đến năm

2015 và tầm nhìn đến năm 2020, Quyết định 1515/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 Về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 1307/QĐ-UBND ngày 10/7/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh, Quyết định số 2009/QĐ-UBND ngày 25/11/2014 về việc ban hành Đề án Bảo tồn và phát triển làng nghề tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2014 - 2015, tầm nhìn đến năm 2020

Trang 16

Đến thời điểm hiện tại, Uỷ ban nhân dân tỉnh Trà Vinh đã ban hành quyết định công nhận 12 làng nghề Các làng nghề này chủ yếu sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến thực phẩm, khai thác sơ chế biến thủy hải sản và hoa kiểng Nhiều sản phẩm mang nét đặc thù và phản ánh văn hóa của tỉnh như mô hình đồ dùng gia đình nông thôn được làm từ mây, tre, các sản phẩm điêu khắc và một số loại thực phẩm như tôm cá khô, bánh tét, nước mắm rươi và một số làng nghề chuẩn bị được thành lập

Hoạt động của các làng nghề đã góp phần giải quyết việc làm cho gần 10.000 lao động, tạo ra giá trị sản xuất hàng năm khoảng 130 tỉ đồng, đóng góp 1,9% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành, tạo ra nhiều sản phẩm mang những nét đặc trưng của vùng Tây Nam bộ, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, giúp tăng thu nhập, ổn định cuộc sống cho các hộ gia đình

ở khu vực nông thôn Theo nhận định của các cơ quan hữu quan, tiềm năng phát triển làng nghề ở Trà Vinh còn rất lớn

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, bên cạnh đội ngũ nghệ nhân, thợ lành nghề, đòi hỏi các hộ gia đình, cơ

sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề phải đầu tư công nghệ, đổi mới trang thiết bị ở một số công đoạn sản xuất phù hợp để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm giá thành sản phẩm để phát triển bền vững trên thị trường Tuy nhiên, phần lớn các hộ, các cơ sở sản xuất trong các làng nghề ở tỉnh Trà Vinh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu thông tin, kiến thức để hành động thích ứng với những biến đổi của thị trường, hạn chế về công nghệ nên sản phẩm cũng đơn điệu về mẫu mã, chất lượng và số lượng không ổn định Do vậy, không đủ khả năng ký kết cung ứng những đơn hàng lớn cho giá trị kinh tế cao

Điển hình, ở làng nghề thiểu thủ công nghiệp xã Hàm Giang, huyện Trà

Cú (chuyên sản xuất các sản phẩm từ tre gai và tầm vông), chủ yếu sản xuất các sản phẩm như giường, tủ, bếp, bàn, ghế… đóng theo công nghệ thủ công

Trang 17

cũ, giá trị kinh tế không cao Một số cơ sở chỉ mới trang bị các loại cưa điện, khoan điện… với mẫu mã đơn giản nên sản phẩm chỉ để phục vụ nông dân Hay nhiều cơ sở trong làng nghề đan đát vẫn chưa có máy chẻ nan và nhiều

cơ sở ở làng nghề dệt chiếu thiếu máy dệt… Trong khi đó, ở nhiều nơi khác trong cả nước, nghề tiểu thủ công nghiệp đã được hiện đại hóa Hầu hết đều được trang bị máy móc, công nghệ sản xuất mới để làm ra các mặt hàng tinh xảo đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu

Trước thực trạng đó, nhu cầu đầu tư, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất kinh doanh của các làng nghề ở Trà Vinh là rất lớn Điều này giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận; đồng thời góp phần hiện đại hóa làng nghề Bên cạnh đó, để có được đầu ra ổn định thì việc cải tiến sản phẩm là vấn đề rất cần thiết Bởi nếu sản phẩm chất lượng tốt, cộng thêm mẫu mã đẹp thì sẽ đáp ứng nhu cầu của khách hàng và việc tìm kiếm thị trường đầu ra sẽ khả thi hơn

Để các làng nghề phát triển, Trà Vinh cần đầu tư cơ sở hạ tầng điện, nước, đường giao thông ở các làng nghề; hỗ trợ mở các lớp đào tạo nghề cho lực lượng sản xuất, hỗ trợ đầu tư dây chuyền công nghệ mới phục vụ sản xuất nhằm tạo sức cạnh tranh; tập hợp những hộ sản xuất nhỏ lẻ hoặc thành lập các

tổ kinh tế hợp tác, phát triển và thành lập các làng nghề mới, ngành nghề mới Đặc biệt là ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào bảo tồn và phát triển các làng nghề, hình thành các làng nghề mới, nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí, tính cạnh tranh cao phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Từ những phân tích nêu trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khôi phục, bảo tồn và phát triển các làng nghề giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân tỉnh Trà Vinh” là việc làm cần thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, công nghiệp hóa ngày càng cao, diện tích đất nông nghiệp giảm, công nghệ và kỹ thuật đang có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển vượt bậc của các quốc gia, dân tộc trên thế giới

Trang 18

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.1.1 Các công trình nghiên cứu

- Bộ Công thương, Các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam thời

hội nhập, Tạp chí Công nghiệp, tháng 12, 2008

Hiện nay các làng nghề đang đứng trước nhiều khó khăn, đó là phát triển kiểu phong trào, chưa có quy hoạch; quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, các thiết bị cũ chắp vá, thiếu đồng bộ, trình độ tay nghề lao động không đồng đều Đặc biệt, các làng nghề còn có một điểm yếu quan trọng dẫn đến bị thua thiệt khi cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước

là chưa có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm của mình Các khó khăn trong xây dựng và phát triển làng nghề ở Việt Nam

có thể nêu ra là: Thứ nhất, khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế còn thấp Thứ hai, nội lực của các làng nghề nói chung còn yếu Thứ ba, phát triển các làng nghề hiện đang làm gia tăng ô nhiễm môi trường Các giải pháp chủ yếu để phát triển làng nghề trong thời gian tới: Một

là, quy hoạch phát triển các làng nghề gắn với quy hoạch phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước Hai là, phát triển thị trường cho các làng nghề Ba là, tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm của làng nghề Bốn là, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các làng nghề

- TS Trần Chí Quỳnh, Mô hình thị trường tiêu thụ sản phẩm các làng

nghề Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Sở hữu trí

tuệ và Sáng tạo, số 2, 2009

Bài viết đã khái quát được những đặc điểm và quá trình thành thị

trường của làng nghề Việt Nam qua các nội dung: Vai trò của làng nghề và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường làng nghề trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; Tình hình sản xuất kinh doanh của làng nghề; Tình hình thị trường của làng nghề; Những khó khăn vướng mắc về thị trường của

Trang 19

làng nghề hiện nay; Các giải pháp và dự báo về thị trường trong đó gồm các quan điểm phát triển làng nghề trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế; Phương hướng phát triển thị trường cho làng nghề; Dự báo về thị trường tiêu thụ sản phẩm và các yếu tố nguồn lực phát triển các làng nghề trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; Giải pháp nhằm phát triển thị trường cho làng nghề

- Nhóm tác giả Bạch Quốc Khang, Nguyễn Thị Thu Quế và Bùi Đình

Toái, Quy trình xây dựng kế hoạch phát triển làng nghề sử dụng phương pháp

có sự tham gia của cộng đồng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2010

Nhóm tác giả đã xây dựng hệ thống các tiêu chí, quy trình, kế hoạch phát triển các làng nghề Trong đó mỗi quy trình, công đoạn đều có sự tham gia của người thợ, người dân, nhà quản lý, khách hàng hay nói cách khác sự tham gia của cộng đồng Ở nước ta nông thôn, nông nghiệp chiếm tới 70% về quy mô, cơ cấu dân số và thu nhập nên hầu như các làng nghề đều có nguồn gốc từ các nông nghiệp, nông thôn, nông dân Cho nên việc ban hành sổ tay hướng dẫn về kỹ năng, trình độ, an toàn lao động, môi trường… trong việc phát triển các làng nghề có sự tham gia của cộng đồng là việc làm hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Nhóm tác giả Mai Văn Nam và Đinh Công Thành, Hiệu quả hoạt

động sản xuất kinh doanh của các làng nghề ở tỉnh Bạc Liêu, Tạp chí Khoa

học 2011:18a 298-306, Trường Đại học Cần Thơ

Mục tiêu của bài viết nhằm phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề ở tỉnh Bạc Liêu Kết quả nghiên cứu làm rõ hoạt động sản xuất của các làng nghề mang lại hiệu quả tài chính và cả về mặt xã hội cho tỉnh Bạc Liêu Bên cạnh đó, bài viết đã phân biệt tính chất hộ (hộ chuyên

và hộ kiêm), số lao động hộ, vốn lưu động và cố định, tính chất làng nghề (đã được công nhận hay chưa) là những yếu tố tạo nên sự khác biệt thu nhập của các hộ làng nghề Kết quả của mô hình cho thấy tính chất hộ, số lao động

Trang 20

tham gia sản xuất và vốn lao động là 3 nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Từ đó, tác giả đã trình bày một số giải pháp cơ bản cũng như nêu lên các kiến nghị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các làng nghề ở địa phương Tuy nhiên, những giải pháp chỉ mang tính lý thuyết chưa có giải quyết tình hình hoạt động sản xuất của làng nghề hiện nay

- TS Vũ Quốc Tuấn, Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước,

Nxb Tri thức, Hà Nội, 2011

Công trình nghiên cứu về làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước, thể hiện trong những bài viết chọn lọc, chuyên đề đã đăng báo, bài phát biểu tại các cuộc hội thảo trong thời gian gần đây của tác giả về làng nghề cùng những bài viết có liên quan về đổi mới thể chế kinh tế, cải cách hành chính là những điều kiện không thể thiếu để bảo tồn và phát triển làng nghề Những bài viết trong tập sách có thể còn chưa toàn diện, song đó là những nhận thức, giải pháp tâm huyết của tác giả về làng nghề sau nhiều năm nghiên cứu, khảo sát tại nhiều làng nghề trong cả nước và qua tiếp thu nhiều ý kiến của những chuyên gia, nhà quản lý có kinh nghiệm cùng những người thợ làng nghề mà tác giả được tiếp xúc

- TS Hồ Kỳ Minh, Nghiên cứu phát triển làng nghề tỉnh Quảng Ngãi,

Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội, Đà Nẵng, 2011

Đề tài đã hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về làng nghề cũ, làng nghề mới; những tiêu chí phân loại làng nghề; chuỗi giá trị làng nghề; quyết định và tiêu chí phát triển làng nghề, vai trò của việc phát triển nghề

và làng nghề nói chung trong phát triển kinh tế - xã hội Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số địa phương trong nước và một số nước trên thế giới, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Ngãi Giới thiệu tổng quan về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ngãi nói chung và 06 huyện đồng bằng, trung du, thành phố Quảng Ngãi nói riêng Phân tích thực trạng phát triển nghề và làng nghề trên địa bàn tỉnh

Trang 21

Quảng Ngãi Đồng thời tập trung điều tra khảo sát và đi sâu phân tích thực trạng, đánh giá sự phát triển của 30 nghề và làng nghề tại 6 huyện đồng bằng, trung du và thành phố Quảng Ngãi Từ đó, phân loại và lựa chọn 10 ngành nghề để nghiên cứu sâu trong giai đoạn tiếp theo Trình bày các cơ sở quan trọng, đề xuất các quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển, từ đó đưa ra hệ thống các giải pháp phát triển đồng bộ, khả thi nhằm phát triển 10 nghề và làng nghề tại 06 huyện đồng bằng, trung du và thành phố Quảng Ngãi Lựa chọn 02 làng nghề tiêu biểu, có nhiều tiềm năng phát triển để xây dựng đề án phát triển Đây là đề tài nghiên cứu có phạm vi nghiên cứu rộng, không gian nghiên cứu trải dài trên nhiều địa phương, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực

- PGS, TS Đặng Kim Chi, Tài liệu hướng dẫn áp dụng các biện pháp

cải thiện môi trường cho làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm, Nxb Tri

thức, Hà Nội, 2012

Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội Công trình đề cập đến kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấy quá trình phát triển kinh tế mà không quan tâm tới các vấn đề môi trường sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế thấp, chi phí cho các hoạt động xử lý ô nhiễm sẽ cao hơn chi phí đầu

tư cho các biện pháp kiểm soát ô nhiễm Việc thực hiện các công trình cải tạo, phục hồi môi trường sớm sẽ tiết kiệm chi phí và giảm thiểu ảnh hưởng tới sức

khỏe cộng đồng Công trình gồm các nội dung: Giới thiệu chung về làng nghề

chế biến nông sản thực phẩm; Các giải pháp kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm; Giải pháp quản lý môi trường tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm; Hướng dẫn quan trắc kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm

- TS Lương Ngọc Hương, Phát triển bền vững du lịch làng nghề sinh

thái - văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, 2012

Nghiên cứu cho thấy du lịch làng nghề nước ta có nhiều lợi thế, tiềm năng để phát triển Trong những năm gần đây, mặc dù đã có bước phát triển

Trang 22

đáng ghi nhận, thể hiện những nỗ lực của những cơ quan quản lý ngành du lịch cũng như của các địa phương, du lịch làng nghề đã ngày càng đóng góp tích cực hơn so với tỷ trọng các loại hình du lịch Tuy nhiên nhìn chung, loại hình du lịch làng nghề còn phát triển manh mún, tự phát và chưa xứng tầm với tiềm năng Chính vì thế, vấn đề tìm và ứng dụng các phương hướng, biện pháp nhằm phát triển du lịch làng nghề ở nước ta là một vấn đề lớn, không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý ngành du lịch, mà còn cần sự phối hợp của nhiều ban ngành như các cơ quan quản lý văn hóa, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Công thương… Vấn

đề phát triển, quảng bá du lịch làng nghề đã khó, gìn giữ được bản sắc, những nét tinh hoa của làng nghề cũng như môi trường sống của người dân còn khó hơn Nếu chỉ chú trọng tới làm du lịch, làm kinh tế mà quên mất những điều căn bản đó thì sẽ tự làm mất đi một phần di sản văn hóa lớn nhất của mình đó

là các làng nghề

- ThS Nguyễn Phước Quý Quang, Du lịch làng nghề ở Đồng bằng

sông Cửu Long - Một lợi thế, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, 2013

Bài viết đã đưa cụ thể thực trạng du lịch làng nghề ở Đồng bằng sông Cửu Long như: với các ngành nghề phù hợp với khả năng lao động tại địa phương, làng nghề chính là “kênh” tạo việc làm đáng kể cho lao động tại chỗ; nhất là vùng nông thôn Tuy nhiên, thực tế là số làng nghề sản xuất - kinh doanh ổn định, “ăn nên làm ra” trong tình hình hiện nay chưa nhiều Sau một quá trình hoạt động, nhiều làng nghề vì thiếu vốn, thiếu thông tin, thiết bị - máy móc lạc hậu và sản phẩm ngày càng khó tìm “đầu ra” do tính cạnh tranh kém Về phương diện du lịch, hiện nay trên địa bàn các tỉnh khu vực ĐBSCL,

du lịch làng nghề vẫn chưa được phát triển, các tour du lịch rời rạc làm cho người dân không thu được lợi nhuận gì sau một chuyến tham quan của du khách, sản phẩm họ bán ra tiêu thụ không được Từ đó, tác giả cũng đưa ra giải pháp trước mắt và lâu dài cho làng nghề tại ĐBSCL Một trong những

Trang 23

giải pháp giúp du lịch làng nghề sẽ thực sự hấp dẫn, có hiệu quả khi các cấp

ủy, chính quyền địa phương và ngành du lịch quan tâm tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách đúng đắn, thiết thực và mang tính chiến lược lâu dài Bên cạnh đó là chú trọng công tác quảng bá, thu hút khách, nâng cao chất lượng sản phẩm và đội ngũ những người làm công tác du lịch làng nghề

- TS Hoàng Anh Thư, Môi trường làng nghề với việc phát triển du lịch

bền vững, Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo, số 3, 2013

Đề tài đã nghiên cứu, phân tích và khái quát một số vấn đề quan trọng

như nhằm phát triển du lịch làng nghề bền vững: Thứ nhất, là công tác quy

hoạch làng nghề Thứ hai, là vấn đề môi trường làng nghề Thứ ba, là vấn đề định hướng phát triển làng nghề nhằm mục đích phục vụ du lịch Thứ tư, là sự liên kết giữa các làng nghề, để phát triển du lịch làng nghề đòi hỏi phải có sự kết nối sâu rộng hơn giữa các làng nghề để khai thác triệt để những tiềm năng còn bỏ ngỏ Thứ năm, là nâng cao hoạt động của các làng nghề gắn với hoạt động du lịch Thứ sáu, là tập trung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về du lịch để hình thành một đội ngũ làm du lịch tại chỗ Thứ bảy, là đa dạng hóa sản phẩm làng nghề, tập trung sản xuất các mặt hàng có giá trị nghệ thuật, phù hợp với thị hiếu của du khách Thứ tám, là quảng bá du lịch làng nghề

2.1.2 Một số văn bản liên quan

- Quyết định số 2636/QĐ-BNN-CB ngày 31/10/2011 của Bộ trưởng Bộ

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về “Chương trình bảo tồn và phát triển

làng nghề”

Mục tiêu của chương trình là phát triển làng nghề, ngành nghề, dịch vụ, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Các chương trình cụ thể như: bảo tồn và phát triển làng nghề; phát triển làng nghề gắn với du lịch; phát triển làng nghề mới, phấn đấu thực hiện mỗi làng một nghề

Trang 24

- Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020 và

định hướng đến năm 2030”

Đề án đề cập tới các nhiệm vụ chủ yếu nhằm bảo vệ môi trường làng nghề như: hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường làng nghề, thực thi có hiệu quả các công cụ quản lý môi trường, triển khai các mô hình công nghệ, các biện pháp kỹ thuật nhằm định hướng cho việc xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề Công tác truyền thông, đào tạo và nâng cao năng lực bảo vệ môi trường làng nghề Các nhóm giải pháp thực hiện: cơ chế, chính sách, nhận thức, triển khai xây dựng, thực hiện quy hoạch, di dời, chuyển đổi ngành nghề sản xuất, giải pháp về tài chính

- UBND tỉnh Trà Vinh, Quyết định số 1307/QĐ-UBND ngày

10/7/2009 về việc Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Trà Vinh

đến 2015 tầm nhìn đến năm 2020, và Quyết định số 1515/QĐ-UBND ngày

15/9/2014 Về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 1307/QĐ-UBND ngày

10/7/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh

Quy hoạch nhóm ngành nghề chế biến nông - lâm - thủy hải sản; nhóm ngành nghề sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, đan lát, dệt may và cơ khí; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh; nhóm nghề xây dựng, vận tải và ngành nghề khác; xây dựng chương trình bảo tồn

và phát triển làng nghề Trong đó, chú trọng bảo tồn và phát triển các nghề, làng nghề truyền thống lâu đời, mang bản sắc văn hóa dân tộc, tạo điều kiện cho các nghề này phục hồi và phát triển, như: Làng nghề Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đan đát - Thủ công mỹ nghệ v.v

- UBND tỉnh Trà Vinh, Quyết định số 2009/QĐ-UBND ngày

25/11/2014 Ban hành Đề án Bảo tồn và phát triển làng nghề tỉnh Trà Vinh

giai đoạn 2014 - 2015, tầm nhìn đến năm 2020:

Bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở phát triển hài hòa giữa sản xuất hàng hóa với bảo vệ môi trường và gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa

Trang 25

truyền thống theo hướng bảo tồn và phát triển; phải kết hợp phát triển hài hòa các cơ sở ngành nghề quy mô vừa và nhỏ, đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề, chú trọng phát triển các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở làng nghề; phát huy sự tham gia của cộng đồng gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

và phát triển nông thôn mới; phải gắn với thị trường và hội nhập kinh tế quốc

tế, đẩy mạnh xuất khẩu, phù hợp phát triển kinh tế xã hội và phát huy lợi thế

so sánh của mỗi địa phương, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn

2.1.3 Kinh nghiệm bảo tồn và phát triển làng nghề của một số tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long

2.1.3.1 Tỉnh Bến Tre

Du lịch làng nghề ở Bến Tre nhanh chóng trở thành một xu hướng thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước Một trong những làng nghề được chú ý nhất ở Bến Tre là làng nghề tiểu thủ công nghiệp Phước Long, huyện Giồng Trôm Ngoài ra còn có làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh là một trong những làng nghề mới phát triển sau này với các sản phẩm phong phú, đa dạng được làm từ cây dừa Hiện nay, Bến Tre đã đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao tay nghề cho các nghệ nhân đồng thời tuyên truyền nâng cao nhận thức, văn hóa ứng xử cho cộng đồng Nhờ vậy, chất lượng sản phẩm không những được nâng cao mà còn phản ánh giá trị nhân văn sâu sắc, tạo điều kiện thuận lợi để du khách tiếp cận làng nghề

Song song với đẩy mạnh phát triển du lịch làng nghề thì việc đầu tư cơ

sở hạ tầng đang được chính quyền tỉnh Bến Tre tập trung xây dựng Đến nay, tỉnh đã xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đến các làng nghề ngày càng hoàn chỉnh, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để vận chuyển sản phẩm làng nghề tiếp cận thị trường dễ dàng hơn

Trang 26

Một số làng nghề đã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, chế tác để nâng cao chất lượng sản phẩm Ngoài sản phẩm chất lượng cao, tỉnh Bến Tre đẩy mạnh công tác quảng bá để tiêu thụ nhanh các sản phẩm làng nghề Cùng với chính quyền địa phương, các làng nghề đã đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá sản phẩm cùng với thương hiệu đến thị trường trong

và ngoài nước

Tóm lại, công tác bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa của làng nghề

đã được tỉnh Bến Tre kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố Từ yếu tố định hướng của chính quyền địa phương đến sự đóng góp của chính người dân trong làng nghề là một trong những bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Trà Vinh Nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề, kết hợp với khai thác thương hiệu du lịch cùng làng nghề là việc làm cần thiết Một mặt bảo tồn các giá trị văn hóa, đẩy mạnh phát triển các làng nghề, mặt khác làm đa dạng sản phẩm du lịch giúp cải thiện đời sống kinh tế của người dân tại địa phương

2.1.3.2 Tỉnh Kiên Giang

Ở Kiên Giang, các sản phẩm của các làng nghề thủ công mỹ nghệ, nghề truyền thống luôn được chú trọng khai thác Các sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng từ làng nghề của tỉnh: nước mắm Phú Quốc, hồ tiêu, rượu sim, sản phẩm ngọc trai, cỏ Bàng, Lục Bình, chiếu Tà Niên Với những thế mạnh trên, trong thời gian qua chương trình phát triển làng nghề cùng với du lịch Kiên Giang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong những năm tới Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các làng nghề có nguy cơ mất dần hoặc biến tướng, làm thay đổi lợi ích của làng nghề, ảnh hưởng đến lối sống, sinh hoạt của người dân Do đó, chính quyền địa phương đã định hướng một số chính sách bảo tồn và phát triển làng nghề:

- Chính sách đổi mới và tăng cường công tác quản lý của nhà nước về làng nghề: Điều tra toàn diện về thực trạng để tìm ra những thế mạnh và điểm

Trang 27

yếu công tác quản lý làng nghề hiện nay Từ đó đưa ra hướng đi đúng đắn, chuẩn xác trong bảo tồn và phát triển du lịch làng nghề

- Thực hiện quy hoạch làng nghề: Từ thực trạng làng nghề tỉnh Kiên

Giang cho thấy phải gắn liền quy hoạch làng nghề với quy hoạch giao thông,

cơ sở hạ tầng, giữa quy hoạch nông thôn và khu dân cư, nhất là thực hiện các giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường ở các làng nghề

- Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch: Sản phẩm chủ lực của làng nghề

hiện nay vẫn là mặt hàng lưu niệm Tại làng nghề nuôi ngọc trai Phú Quốc, có nhiều sản phẩm làm từ ngọc trai có chất lượng cao

Tóm lại, du lịch làng nghề tại tỉnh Kiên Giang là một trong những chiến lược để phát triển làng nghề nhanh chóng Bên cạnh đó, làng nghề tại địa phương cũng cần có chính sách đổi mới, tăng cường công tác quản lý cũng như thực hiện công tác quy hoạch làng nghề Việc đa dạng hóa các sản phẩm

du lịch, áp dụng các kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào các sản phẩm là một trong những hình thức mà làng nghề tỉnh Trà Vinh nên áp dụng

2.1.3.3 Tỉnh An Giang

Với thế mạnh về nguồn nhân lực của địa phương, các làng nghề tỉnh

An Giang có nhiều tiềm năng phát triển bền vững trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hiện nay, An Giang có một lượng lớn các làng nghề với nhiều sản phẩm đa dạng về chủng loại mẫu mã, độc đáo, thu hút khách trong

và ngoài nước

Thông qua chương trình khuyến công, tỉnh đã hỗ trợ kinh phí đầu tư đổi mới máy móc cho các cơ sở sản xuất nhỏ; hỗ trợ quảng bá sản phẩm làm nghề, tạo điều kiện cho sản phẩm làng nghề tham gia hội chợ… Như hỗ trợ thực hiện 10 mô hình trình diễn kỹ thuật từ nguồn vốn của Chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng nông thôn mới; hỗ trợ 136 lượt doanh nghiệp tham gia trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại hội chợ tổ chức tại các tỉnh, thành phố

Trang 28

Nhờ các hoạt động này, sản xuất tại các làng nghề từng bước được cải thiện, tạo ra những mặt hàng có giá trị kinh tế cao, nhiều cơ sở sản xuất đã bước đầu khẳng định được uy tín chất lượng và thương hiệu hàng hóa

Tỉnh đã thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa làng nghề bằng cách

mở rộng quy mô sản xuất, sử dụng máy móc, công nghệ thay thế lao động thủ công Đồng thời hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật, tư vấn cho các cơ sở sản xuất, làng nghề chọn thiết bị và công nghệ phù hợp với yêu cầu sản xuất và thị trường

2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công

trình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công”

của N.H.Noace (1928) Năm 1964, tổ chức WCCI (World crafts council International - Hội đồng Quốc tế về ngành nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công Các nước trên thế giới khi tiến hành công nghiệp hóa đối với kinh tế nông nghiệp thì phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn được coi là nguồn nội lực quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế Trong đó, làng nghề, làng nghề truyền thống, ngành nghề ở nông thôn là những nguồn lực còn nhiều tiềm năng Do đó, phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống, ngành nghề ở nông thôn và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa

có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đã được nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Các công trình nghiên cứu

- Goranka Horjan, Làng nghề truyền thống - Điểm thu hút mới của du

lịch văn hóa, Bảo tàng Hrvatsko Zagorje, Croatia, 2008

Craftattract là dự án khởi xướng bởi Viện Bảo tàng Hrvatsko Zagorje

1

Trường Vũ, An Giang: Tập trung vào sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao, nguồn: baocongthuong.com.vn

Trang 29

và triển khai thực hiện với các đối tác trong nước và ở khu vực biên giới chung với Slovenia Dự án được đồng tài trợ từ quỹ châu Âu trong khuôn khổ Chương trình Neighbourhood Interreg Iiia Mục tiêu chính của dự án là xây dựng nền tảng cho việc tạo ra khu vực văn hóa và du lịch ở khu vực biên giới chung của hai nước trên cơ sở sử dụng sáng tạo các di sản Dự án phát triển

mô hình bảo vệ sự đa dạng kỹ năng của thợ nghề và mang lại khả năng cạnh tranh cho làng nghề trong thị trường du lịch văn hóa ngày càng phát triển

Kết quả dự án được chứng minh trên nhiều phương diện Phương diện

di sản bao gồm các nghiên cứu, hồ sơ lưu giữ, lưu trữ và thông tin xử lý Phương diện du lịch được nhìn thấy thông qua các chương trình văn hóa - du lịch được tiếp nhận bởi các cơ quan ban ngành Phương diện quảng bá kết hợp với xúc tiến thương mại mạnh mẽ về kết quả dự án được thể hiện thông qua nhiều hoạt động nhằm thu hút cộng đồng tham gia và thu hút các nguồn tài trợ Phương diện phát triển được nhìn thấy thông qua những lợi ích mà dự

án mang đến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (tăng việc làm, tăng lượng khách du lịch mới, cung cấp các sản phẩm mới, giới thiệu các điểm đến mới)

- Zu-Chun Liao, Sự phục hồi của mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền

thống: Mô hình cộng đồng địa phương tại Đài Loan, Khoa Nhân học, Bảo

tàng Khoa học Tự nhiên, 2010

Ở Lukang, mặc dù sự phát triển của du lịch văn hóa mang lại những lợi ích cả về kinh tế và xã hội nhưng những chuyên gia thủ công mỹ nghệ thường không được hưởng lợi từ chúng Nghiên cứu này chứng minh rằng thợ thủ công địa phương đã đấu tranh để làm sống lại truyền thống của họ, nhưng để tồn tại, các thợ thủ công phải cạnh tranh với nhau để tạo ra quan hệ đối tác với chính phủ, để có được nguồn tài trợ Do đó, các dự án cộng đồng trao quyền thông qua phát triển di sản văn hóa đã trở thành một công cụ mà nhờ đó thợ thủ công địa phương có được các khoản tài trợ và các nguồn lực để tiếp tục những gì họ cần trong lĩnh vực thủ công truyền thống

Trang 30

Sự thành công của các chương trình trao quyền đòi hỏi sự tự tin của cá nhân khi họ chủ động truy cập thông tin, được chính quyền lắng nghe và được

tự do tham gia vào các quyết định của cộng đồng Trong tương lai, việc học tập và nâng cao kiến thức về các tổ chức và công ty có thể xem như là một điểm khởi đầu để cải thiện chương trình trao quyền cộng đồng hiện nay

- Nhóm vì thiên nhiên và động vật hoang dã (2011), Chương trình Phát

triển làng nghề Pyangoun, TNW và Tổng cục Du lịch Nepal

Với tiến trình phát triển mang nhiều ý nghĩa lịch sử và văn hóa, việc phát triển mô hình làng nghề du lịch sinh thái giúp quảng bá sâu rộng hình ảnh Pyangoun giàu văn hóa, nghệ thuật với sản phẩm thủ công đặc sắc, giúp nâng cao đời sống kinh tế người dân.Việc thực hiện chương trình giúp người dân nhận thấy vai trò và nguồn lợi mang lại từ phát triển du lịch, đưa các hoạt động du lịch trong cộng đồng, nhận được sự ủng hộ của người dân Qua đó, giúp Pyangoun trở thành làng nghề du lịch sinh thái đầu tiên ở Nepal

2.2.2 Kinh nghiệm bảo tồn và phát triển làng nghề của một số nước

Phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn được coi là nguồn nội lực quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế Trong đó, làng nghề, làng nghề truyền thống, ngành nghề ở nông thôn là những nguồn lực còn nhiều tiềm năng Do

đó, phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống, ngành nghề ở nông thôn và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đã được nghiên cứu trong và ngoài nước Hiện nay, nhiều

quốc gia trên thế giới, điển hình là Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc,

Trung Quốc đã có những kinh nghiệm hiệu quả về phát triển làng nghề

2.2.2.1 Nhật Bản

Nhật Bản là đất nước có nhiều thành tựu trong bảo tồn và phát triển làng nghề Sản phẩm của họ đạt đến trình độ kỹ thuật tinh xảo, mẫu mã phong phú và tinh tế Để đạt được những sản phẩm mang bản sắc dân tộc độc đáo,

Trang 31

thợ thủ công Nhật Bản đã rèn luyện tay nghề, dày công sáng tạo Khi đánh giá

về khả năng cạnh tranh sản phẩm làng nghề với các nước lân cận: Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan… Nhật Bản đã chỉ ra thế mạnh cạnh tranh của họ thuộc về giá trị văn hóa dân tộc, tính sáng tạo trong sản xuất với những sản phẩm có giá trị kinh tế rất cao

Là nước khởi đầu cho phong trào “mỗi làng một sản phẩm” và đã thu hút được sự quan tâm, học hỏi và phát triển ở nhiều quốc gia, đứng trước nguy cơ mai một các làng nghề và sự suy thoái của kinh tế nông thôn, lãnh đạo tỉnh Oita đã có chiến lược khôi phục kinh tế và phong trào “mỗi làng một sản phẩm” như một giải pháp hữu hiệu Phong trào này được xây dựng và

thực hiện với ba nguyên tắc: thứ nhất là hành động địa phương nhưng suy nghĩ toàn cầu; thứ hai là tự tin và sáng tạo và cuối cùng là phát triển nguồn

có giới hạn, các làng nghề đã sử dụng nguồn tài nguyên có hiệu quả nhất để đem lại những giá trị tốt nhất cho sản phẩm

Triết lý và bài học của Nhật Bản trong phát triển làng nghề trở thành kinh nghiệm quý báu Những triết lý này như bài học mà làng nghề Việt Nam cần tiếp thu và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của nước ta, góp phần thay đổi tư duy, hoạt động sản xuất

Trang 32

2.2.2.2 Thái Lan

Sau khi mô hình “mỗi làng một sản phẩm” ở Nhật Bản thành công Thái Lan đã nhanh chóng nghiên cứu, áp dụng linh hoạt và phong trào này cũng mang lại nhiều thành quả Hiện nay, Thái Lan có hơn 36.000 mô hình

“mỗi làng một sản phẩm”, mỗi mô hình có từ 30 đến 3.000 thành viên Chính phủ đã ra chỉ thị cho các trường đại học tổ chức thiết kế phần mềm thiết kế các mẫu sản phẩm cho mô hình này Đồng thời, lập ra các trang thông tin để tìm kiếm khách hàng và bán sản phẩm qua mạng cho khách quốc tế

Thái Lan rất thành công trong việc kết hợp du lịch và phát triển làng nghề khi đã xây dựng những tuyến điểm du lịch ở các làng nghề, đào tạo kỹ năng đón tiếp du khách cho thợ thủ công Loại hình du lịch này rất được ưa thích bởi vì sản phẩm làng nghề gắn với bản sắc, văn hóa của dân tộc Ví dụ,

ở Thái Lan vốn nổi tiếng là đất nước chùa tháp, gắn với đạo Phật Vì vậy, làng nghề Ban Baat (Bangkok), nơi sản xuất bình, bát theo chân các nhà sư

đi khất thực khắp đất nước luôn thu hút sự chú ý của du khách Mô hình

“mỗi làng một sản phẩm” đã trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng, khuyến khích người dân sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn, phát huy tri thức bản địa

2.2.2.3 Indonesia

Từ năm 1999, chính quyền tỉnh Bali, Indonesia đã tập trung quảng bá lịch sử làng nghề, tổ chức nhiều cuộc triển lãm giới thiệu sản phẩm làm bằng thủ công Sự thành công của chiến lược phát triển du lịch nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục, tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một tiến trình; ban hành các quy định chặt chẽ, rõ ràng

về kiến thức và chú trọng đến quan điểm bảo tồn và giữ gìn giá trị văn hóa

Chính quyền tỉnh Bali đã đưa ra luật hạn chế và cấm xuất khẩu nguyên vật liệu thô để đáp ứng nhu cầu sản xuất của ngành thủ công mỹ nghệ Địa phương cũng áp dụng mức thuế xuất khẩu ưu đãi đối với các sản phẩm thủ công và tăng cường hỗ trợ đào tạo, cấp chứng chỉ nghề cho người lao động

Trang 33

Nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm thủ công mỹ nghệ, Hiệp hội làng nghề đã hợp tác chặt chẽ với trung tâm khoa học - công nghệ thường xuyên tổ chức đào tạo kỹ năng, tay nghề cho lao động, công nhận nghệ sĩ, nghệ nhân Điều này thể hiện tính liên kết chặt chẽ, thống nhất của các bên liên quan để tạo ra sản phẩm chất lượng cao, thúc đẩy phát triển làng nghề

2.2.2.4 Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc xu hướng tiêu thụ mặt hàng tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng Nắm bắt được xu hướng đó Chính phủ đã lập chương trình khôi phục và phát triển ngành nghề thủ công lấy cơ sở là các hộ nông dân (chiếm 79,4%) Bên cạnh đó, Bộ Văn hoá Hàn Quốc duy trì chủ trương “Nhân giống nghệ nhân” khá thành công Hàng năm bộ này cấp một khoản tiền cho nghệ nhân trên toàn quốc, gọi là “Lương đào tạo” Theo nguyên tắc, mỗi nghệ nhân

có trách nhiệm đào tạo 3 người có thể nối nghiệp mình Khoản tiền được hỗ trợ có thể tăng, giảm, thậm chí cắt bỏ tùy theo kết quả đào tạo và tay nghề của các nghệ nhân Đối với Việt Nam cũng từng có chủ trương tương tự, là đưa các nghệ nhân vào mạng lưới đào tạo nghề, tuy nhiên chưa hiệu quả

Việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất làng nghề ở Hàn Quốc luôn có chiến lược cụ thể Hướng đi bền vững của làng nghề là phải vừa đem lại năng suất cao, nâng cao thu nhập, đồng thời không gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường Học từ các chuyên gia Hàn Quốc, Việt Nam đã có dự án KOPIA phối hợp với viện Nghiên cứu Rau quả

tổ chức “Hội thảo Sản xuất tại Việt Nam và Hàn Quốc” nhằm áp dụng kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất rau quả Nổi bật là sử dụng chỉ thị phân tử trong tạo giống cây kháng bệnh, ứng dụng nuôi cấy mô trong sản xuất giống

2.2.2.5 Trung Quốc

Trung Quốc luôn xem chính sách giữ gìn và phát huy làng nghề là cách giữ gìn tinh hoa đất nước Trong thời kỳ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa mới ra đời, các xưởng sản xuất tiểu thủ công nghiệp được hình thành và phát

Trang 34

triển trong quá trình hợp tác hoá Với chính sách cải cách mở cửa, nhờ chủ trương của Đảng và Chính phủ Trung Quốc mà nhiều hộ gia đình có khả năng về tiểu thủ công nghiệp đã tự liên kết để xây dựng các xí nghiệp cá thể Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như sản phẩm tơ lụa và nghề dệt, đồ gốm

sứ của Trung Quốc đã nổi tiếng khắp thế giới về mẫu mã hoa văn cũng như

độ tinh xảo

Cách quản lý của quốc gia này trong xử lý vi phạm ô nhiễm làng nghề cũng thực hiện khá thành công Bằng phương pháp tham gia của cộng đồng, Trung Quốc cho phép tính các loại phí ô nhiễm dựa trên sự thảo luận của cộng đồng Mức định giá phí ô nhiễm dựa trên mức độ ô nhiễm, mức dân cư phải chịu hậu quả do ô nhiễm, mức thu nhập bình quân… Chính phủ cũng thường xuyên nâng cao năng lực của cộng đồng trong nhận thức và giải quyết các vấn đề môi trường Qua đó cho thấy, sự tham gia của cộng đồng trong giải quyết vấn đề ô nhiễm của làng nghề là một trong những giải pháp mà các nhà nghiên cứu lĩnh vực bảo tồn, phát triển làng nghề cần lưu ý

Trong tổ chức hoạt động tại các làng nghề, Trung Quốc thành lập hệ thống các hiệp hội bao gồm: Hiệp hội các nhà đầu tư - Hiệp hội nhà sản xuất - Hiệp hội các nhà bán lẻ Trong đó, Hiệp hội các nhà bán lẻ thường là những

tổ chức lớn, có vai trò rất quan trọng nhằm thông tin cho Chính phủ và các doanh nghiệp về định hướng phát triển; giao dịch và thanh toán quốc tế; đào tạo và huấn luyện kỹ thuật cho lao động làng nghề

Sản phẩm làng nghề Trung Quốc có thế mạnh là sự nắm bắt nhanh xu hướng thị trường điều này giúp cho sản phẩm làng nghề có khả năng xâm nhập vào nhiều thị trường trên thế giới

Tóm lại, đối với các nước, phát triển làng nghề là giải pháp tích cực cho vấn đề kinh tế - xã hội nông thôn Nhiều làng nghề ở các nước trong khu vực: Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc… phát triển nhờ sự phối hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát huy, bảo tồn văn hóa Từ thành tựu của các

Trang 35

quốc gia trên cho thấy phát triển làng nghề phải gắn liền với quá trình công nghiệp hóa nông thôn; đề cao vai trò và sự phối hợp giữa nhà nước, xã hội dân sự và cộng đồng trong quản lý, giải quyết xung đột môi trường; đảm bảo

an sinh xã hội, nâng cao thu nhập cho người dân, khuyến khích áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm làng nghề, đảm bảo

nguồn tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm của làng nghề

* Bài học kinh nghiệm về bảo tồn và phát triển làng nghề áp dụng cho Trà Vinh

Trong quá trình phát triển, ngoài những thuận lợi thì thách thức đối với các làng nghề ở Trà Vinh là không nhỏ Việc học hỏi kinh nghiệm trong bảo tồn và phát triển làng nghề là điều quan trọng Từ những thành công của một

số tỉnh trong nước cũng như của các nước trên thế giới, Trà Vinh có thể rút ra được trong kinh nghiệm trong việc bảo tồn, phát triển và mở ra hướng đi mới cho làng nghề như sau:

- Về mẫu mã sản phẩm

Các làng nghề cần có tư duy về kinh doanh, đa dạng mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu khách hàng, nắm bắt xu hướng vận động của thị trường Người chế tác có thể khai thác các chủ đề vốn phong phú, đa dạng, sâu sắc trong văn hóa dân tộc, trong đời sống của người dân địa phương để thổi hồn vào từng sản phẩm Chính quyền địa phương và các Hiệp hội cần tổ chức các cuộc thi nhằm phát huy tính sáng tạo trong sản phẩm tại các làng nghề Bên cạnh, sự sáng tạo về mẫu mã ngoài ý tưởng, bản phác thảo bằng tay, các làng nghề cũng cần sử dụng kỹ thuật máy tính, tin học để có những mẫu thiết kế đa dạng hơn và đẩy nhanh thời gian mẫu mã mới ra đời

- Về chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là nền tảng đẩy mạnh hoạt động marketing hay xây dựng niềm tin đến với khách hàng Chất lượng sản phẩm cần phải định lượng được thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng của Việt Nam và

Trang 36

các thị trường trên thế giới Sản phẩm ở làng nghề Trà Vinh mang đậm hương

vị văn hóa địa phương nhưng người dân còn chưa có ý niệm về quản lý chất lượng… Do đó, cần có các hoạt động truyền tải thông tin, nâng cao nhận thức của người dân về tính tự giác, đảm bảo chất lượng sản phẩm, tạo niềm tin cho khách hàng

- Về tiếp thị

Sản phẩm các làng nghề của tỉnh Trà Vinh sau khi có chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, sáng tạo thì cần thực hiện tốt khâu giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng Về lâu dài, cần phải định hướng tiêu dùng, định hướng lựa chọn sản phẩm của các làng nghề Bởi sản phẩm làng nghề ngoài việc có chất lượng tốt, nhiều mẫu mã nó còn có nét riêng, tinh tế và phản ánh văn hóa Sự định hướng sẽ tác động đến nhận thức và trách nhiệm của người tiêu dùng, làm họ tin tưởng, yêu mến sản phẩm và khi đó họ mua sản phẩm một cách tự nguyện và trung thành với sản phẩm Trong thời kỳ hội nhập, các cơ sở sản xuất phải nâng cao năng lực cạnh tranh Khi thị trường nội địa ổn định, bền vững sẽ là nền tảng để mở rộng ra thị trường nước ngoài Khi các làng nghề đảm bảo được đầu ra của sản phẩm thì thu nhập của người dân sẽ đảm bảo, người lao động sẽ gắn bó với làng nghề

- Về vấn đề tiết kiệm nguyên liệu và bảo vệ môi trường

Chính quyền địa phương cần có chính sách quy hoạch làng nghề để quản lý hiệu quả các cơ sở sản xuất Khoa học kỹ thuật, công nghệ cần được

áp dụng ở những khâu sản xuất, xử lý chất thải nhằm tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nhiên liệu và bảo vệ môi trường Các cơ sở phải chủ động để đảm bảo nguồn nguyên liệu, đặc biệt phải phải quy hoạch nguồn nguyên liệu, trồng mới rừng để đảm bảo nguyên liệu trong tương lai Ngay từ thời điểm này, các cơ sở sản xuất cần tiết kiệm nguyên nhiên liệu trong mọi khâu, đảm bảo nguồn nguyên liệu bền vững, để điều này trở thành thói quen, tinh thần, trách nhiệm của mỗi người

Trang 37

- Về kết hợp làng nghề với hoạt động du lịch

Làng nghề là một tài nguyên trong hoạt động du lịch do đó sự kết hợp này sẽ đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và có ý nghĩa trong bảo tồn và phát triển các làng nghề Việc hình thành các tuyến liên kết các làng nghề với các điểm du lịch trong tỉnh và trong vùng đồng bằng sông Cửu Long là rất quan trọng Cần có kế hoạch thiết kế các tuyến du lịch phù hợp, hấp dẫn du khách Bên cạnh đó cần tổ chức, hướng dẫn các cơ sở làng nghề cách thức làm du lịch, từ thái độ đón tiếp khách đến giới thiệu quy trình,

kỹ thuật tạo ra sản phẩm đến với du khách tạo cho du khách cảm giác thoải mái và có nhận thức, tình cảm nhất định về sản phẩm làng nghề

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu xây dựng mô hình cụ thể ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khôi phục, bảo tồn và phát triển các làng nghề giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân tỉnh Trà Vinh; định hướng, giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề phù hợp với điều kiện từng địa phương đến năm 2020, tầm nhìn 2025

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh, những khó khăn, thuận lợi và mức độ hàm lượng công nghệ, khoa học kỹ thuật trong sản xuất của các làng nghề ở tỉnh Trà Vinh

Trang 38

4.1.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là các đối tượng có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các làng nghề ở tỉnh Trà Vinh, bao gồm hộ gia đình làng nghề, công nhân (thợ), hưu trí - cao tuổi, tiểu thương, chủ cơ sở thu mua

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là 10 làng nghề được công nhận ở tỉnh Trà Vinh: + Làng nghề trồng hoa kiểng ấp Vĩnh Yên, xã Long Đức, thành phố Trà Vinh; + Làng nghề trồng hoa kiểng ấp Long Bình, phường 4, thành phố Trà Vinh; + Làng nghề tiểu thủ công nghiệp xã Hưng Mỹ, huyện Châu Thành; + Làng nghề sản xuất rượu Xuân Thạnh, xã Hòa Thuận, huyện Châu Thành; + Làng nghề đan đát - thủ công mỹ nghệ xã Lương Hòa, huyện Châu Thành; + Làng nghề tiểu thủ công nghiệp Đức Mỹ, xã Đức Mỹ, huyện Càng Long; + Làng nghề sơ chế biến thủy sản Xóm Đáy xã Đông Hải, huyện Duyên Hải; + Làng nghề tiểu thủ công nghiệp xã Hàm Giang, huyện Trà Cú;

+ Làng nghề bánh tét Trà Cuôn, xã Kim Hòa, huyện Cầu Ngang;

+ Làng nghề khai thác thủy sản thị trấn Mỹ Long, huyện Cầu Ngang

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa khoa học

- Các kết quả nghiên cứu của đề tài thực trạng làng nghề hiện nay ở Trà Vinh là tư liệu để các nhà quản lý có phương hướng và chính sách phù hợp cho sự bảo tồn và phát triển của mỗi làng nghề trên địa bàn

- Đánh giá hàm lượng khoa học công nghệ làng nghề của Trà Vinh qua quá trình nghiên cứu là cơ sở để có sự đầu tư máy móc, công nghệ hợp lý

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo để các cơ quan quản lý đưa ra hệ thống giải pháp thích hợp nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề ở Trà Vinh để giải quyết việc làm, tăng thu nhập

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào làng nghề giúp tăng năng suất lao động, sản phẩm hàng hóa đa dạng, sắc sảo mang đến giá trị kinh tế cao và đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng

Trang 39

- Ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào làng nghề giúp quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, từng bước hình thành các thị trấn, thị tứ và phát triển nông thôn mới

- Ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào làng nghề góp phần nâng cao đời sống của bà con, do sản phẩm làm ra nhiều, ít hao tốn nhân công, đồng thời dễ dàng được nhân rộng, khích lệ tinh thần của người dân Thông qua đó giải quyết vấn đề việc làm và tăng thu nhập

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần tóm tắt, danh mục bảng, biểu, chú giải viết tắt, đề tài nghiên cứu được chia làm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận, kiến nghị Trong đó phần nội dung được chia thành 5 chương bao gồm những nội dung chính sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận

- Chương 2: Làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh

- Chương 3: Hàm lượng công nghệ, khoa học kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh của làng nghề ở tỉnh Trà Vinh

- Chương 4: Mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ trong khôi phục, bảo tồn và phát triển làng nghề

- Chương 5: Định hướng và giải pháp khôi phục, bảo tồn và phát triển đến năm 2020, tầm nhìn 2025 đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh Trà Vinh

Trang 40

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Một số khái niệm liên quan

Đề tài giới hạn các khái niệm có liên quan như sau:

Làng nghề: Khái niệm về làng nghề theo cách nhìn văn hoá gồm các nội dung

Bảo tồn: Theo định nghĩa của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế

IUCN (1991): Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì

tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai

Văn hóa: Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc

(UNESCO) định nghĩa: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật,

cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị và đức tin

Du lịch: Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO): Du lịch bao gồm tất

cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa,

Ngày đăng: 30/04/2019, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w