1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bt học kì luật bồi thường nhà nước x có một ngôi nhà đang cho y thuê (giá trị xây dựng của ngôi nhà là 300 triệu đồng) thời hạn thuê là 6 tháng bắt đ

10 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Áp dụng qui định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP về Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính: “Trách n

Trang 1

ĐỀ SỐ 5

X có một ngôi nhà đang cho Y thuê (giá trị xây dựng của ngôi nhà là 300 triệu đồng) Thời hạn thuê là 6 tháng bắt đầu từ 1/1/2010 đến hết ngày 1/7/2010 Giá thuê nhà là 5 triệu đồng/tháng và Y đã trả toàn bộ tiền thuê nhà (30 triệu đồng) cho X tại thời điểm giao kết hợp đồng thuê nhà Ngày 1/4/2010, Chủ tịch UNBD huyện N đã ra quyết định tháo dỡ nhà của X với lý do nhà xây dựng trái phép và lấn chiếm Do nhà bị tháo dỡ, X không thể cho Y tiếp tục thuê nhà trong 3 tháng còn lại và X phải hoàn trả lại Y 15 triệu đồng thuê nhà X cho rằng việc tháo dỡ nhà trái pháp luật vì nhà được xây dựng có giấy phép, không lấn chiếm và cũng không vi phạm các qui định khác về nhà xây dựng Ngày 20/4/2010, X làm đơn đề nghị Chủ tịch UBND huyện N giải quyết khiếu nại xem xét quyết định tháo dỡ nhà của ông X là trái pháp luật Ngày 18/5/2010, Chủ tịch UBND huyện N đã ra quyết định giải quyết khiếu nại trong đó đã xác nhận quyết định tháo dỡ nhà của X là trái pháp luật X yêu cầu bồi thường thiệt hại Anh (chị) cho biết:

(a) Ai chịu trách nhiệm bồi thường cho X?

(b) Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường trong trường hợp này?

Trang 2

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

(a) Ai chịu trách nhiệm bồi thường cho X?

Trong vụ việc trên, UBND huyện N là cơ quan có trách nhiệm bồi thường

cho X Bởi vì:

Ta nhận thấy, thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính Việc xác định

ai chịu trách nhiệm bồi thường được qui định tại Mục 1 Chương II Luật trách nhiệm

bồi thường của Nhà nước, tại Chương II Nghị định 16/2010/ NĐ-CP Quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và

tại Chương I Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP Hướng dẫn thực

hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Áp dụng qui định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch số

19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP về Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt

động quản lý hành chính: “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động

quản lý hành chính chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật;

b) Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 13 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sau đây gọi chung là Luật);

c) Có thiệt hại thực tế xảy ra;

d) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.”

- Điều kiện thứ nhất, đối chiếu với vụ việc, Chủ tịch UBND huyện N đã ra quyết định giải quyết khiếu nại trong đó xác nhận quyết định tháo dỡ nhà của X là trái pháp

luật, do đó “quyết định giải quyết khiếu nại” này chính là văn bản của cơ quan nhà

Trang 3

qui định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP: “Quyết định

giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật”

- Ngoài ra, hành vi tháo dỡ nhà trái phép của người thi hành công vụ thi hành theo quyết định tháo dỡ của Chủ tịch UBND huyện N thuộc phạm vi trách nhiệm bồi

thường tại khoản 3 Điều 13 Luật TNBT của nhà nước là “áp dụng biện pháp tháo

dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc,…” phù hợp với điều kiện thứ hai tại điểm b Điều

khoản trên

- Với điều kiện thứ ba “có thiệt hại thực tế xảy ra”, theo Điều 4 Thông tư liên

tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP: “Thiệt hại thực tế là thiệt hại có thực mà

người bị thiệt hại phải gánh chịu do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra Thiệt hại thực tế bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần” Ở vụ việc này, do việc tháo dỡ nhà mà X không thể tiếp tục cho Y thuê, đồng

thời X phải trả lại số tiền mà Y đã trả để thuê căn nhà này, số tiền này tương ứng với

số tháng còn lại Y không được thuê do căn nhà bị tháo dỡ (ở đây là 15 triệu đồng); hơn nữa, giá trị xây dựng ngôi nhà là 300 triệu đồng, việc ngôi nhà bị tháo dỡ đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cũng như mĩ quan của ngôi nhà, X đã phải chịu tổn thất về vật chất Còn tổn thất về tinh thần, em xin không đề cập tới

- Mặt khác, do hành vi tháo dỡ nhà của người thi hành công vụ, đây là hành vi trực tiếp dẫn đến việc gây ra thiệt hại cho X Mối quan hệ nhân quả này quá rõ ràng trong vụ việc, đáp ứng điều kiện thứ tư tại điểm d khoản 1 Điều 1 Thông tư trên

Như vậy, ta hoàn toàn có căn cứ xác định cơ quan phải thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra Bởi việc bồi thường của cơ quan Nhà nước chỉ tiến hành khi đáp ứng đầy đủ tất cả bốn điều kiện trên

Trang 4

Theo như khẳng định đã đưa ra: “UBND huyện N có trách nhiệm bồi thường” Căn cứ qui định tại khoản 1 Điều 14 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà

nước: “Cơ quan hành chính trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái

pháp luật gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.”

Cụ thể hơn, áp dụng qui định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 16/2010/ NĐ-CP

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường

của Nhà nước: “Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành

chính quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xác định như sau:

5 Trong trường hợp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là thành viên Ủy ban nhân dân cấp huyện và người thi hành công vụ do các cơ quan chuyên môn trực thuộc

Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp quản lý thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là

Ủy ban nhân dân cấp huyện;….”

Trong vụ việc này, người ra quyết định tháo dỡ nhà của X là Chủ tịch UBND huyện N, mà Chủ tịch UBND huyện N chính là một thành viên của UBND cấp huyện, nhưng người thi hành quyết định này không phải là Chủ tịch UBND huyện N mà là người thi hành công vụ do UBND huyện giao nhiệm vụ Chính việc thi hành quyết định này mới trực tiếp gây ra thiệt hại cho X, nhưng nếu xét rõ nguồn gốc của thiệt hại thì từ chính việc ra quyết định sai của Chủ tịch UBND huyện N mới dẫn đến việc gây thiệt hại cho X, người thi hành quyết định trên hoàn toàn không có lỗi Như vậy,

“người thi hành công vụ gây ra thiệt hại” ở đây là Chủ tịch UBND huyện N Do đó,

căn cứ theo hai điều luật trên, người chịu trách nhiệm bồi thường chính là UBND huyện N, nơi trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật

Trang 5

(b) Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường trong trường hợp này?

Về trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường được qui định tại Mục 2 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Điều 9 Nghị định 16/2010/NĐ-CP và tại Chương II của Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP

Theo qui định tại Điều 15 và Điều 16 Luật TNBT của Nhà nước thì người bị

thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc các trường hợp qui định tại Điều 13 Luật TNBT của Nhà nước thì người thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường qui định tại Điều 14 của Luật này

 Như vậy, ở vụ việc trên, X đã nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện N trong đó xác nhận quyết định tháo dỡ nhà của X là trái pháp luật thì X tiến hành gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường, xác định ở trên thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là UBND huyện N

Đơn yêu cầu bồi thường phải đáp ứng về hình thức theo Mẫu số 01a, 01b hoặc

01c tại Điều 11 của Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP; phải đáp ứng về các nội dung tại khoản 2 và khoản 3 Điều 16 Luật TNBT của Nhà nước

bao gồm:

“2 Đơn yêu cầu bồi thường có các nội dung chính sau đây:

a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;

b) Lý do yêu cầu bồi thường;

c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.

Trang 6

3 Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và tài liệu, chứng cứ

có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.”

Trong thời hạn 2 năm kể từ ngày có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, người yêu cầu bồi thường gửi

hồ sơ yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Trực tiếp gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường;

b) Gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường thông qua hệ thống bưu chính viễn thông

(khoản 1 Điều 12 Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP).

 Sau đó cơ quan có thẩm quyền phải thụ lý đơn yêu cầu bồi thường theo qui định

tại Điều 17 Luật TNBT của Nhà nước, đó là khi nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường, cơ

quan có trách nhiệm bồi thường phải kiểm tra và xác định tính hợp lệ của đơn và các giấy tờ kèm theo; trường hợp hồ sơ không đầy đủ thì hướng dẫn người bị thiệt hại bổ sung

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn và các giấy tờ hợp

lệ, nếu xác định yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan

đã nhận hồ sơ (UBND huyện N) phải thụ lý và thông báo bằng văn bản về việc thụ lý đơn cho người bị thiệt hại

 Tiếp theo, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi

thường, người đại diện phải tổ chức việc xác minh thiệt hại theo Điều 18 Luật TNBT

Trang 7

Việc xác minh thiệt hại được thực hiện trên cơ sở tài liệu, chứng cứ do người yêu cầu bồi thường cung cấp Thời hạn xác minh thiệt hại là 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, UBND huyện N phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại để làm căn cứ xác định mức bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn xác minh thiệt hại có thể kéo dài nhưng không quá

40 ngày

UBND tổ chức định giá căn nhà của X, giám định thiệt hại của căn nhà do việc tháo dỡ trái phép gây ra Chi phí định giá, giám định được đảm bảo từ ngân sách nhà nước Nếu trường hợp X không đồng ý với kết quả định giá, giám định mà yêu cầu định giá, giám định lại và được UBND huyện đồng ý thì chi phí định giá, giám định do

X chi trả, trừ trường hợp kết quả định giá, giám định chứng minh yêu cầu định giá, giám định lại là có căn cứ

 Sau khi xác định thiệt hại, giữa người bị thiệt hại và cơ quan chịu trách nhiệm

bồi thường tiến hành thương lượng Việc bồi thường áp dụng theo qui định tại Điều 19

Luật TNBT của Nhà nước và Điều 14 Thông tư liên tịch số 19/2010.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, UBND huyện N phải tổ chức và chủ trì thương lượng với X về việc giải quyết bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày

Thành phần thương lượng gồm đại diện cơ quan có trách nhiệm bồi thường (UBND huyện N) và người bị thiệt hại (là X) hoặc đại diện hợp pháp của họ Đại diện của cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải là người có thẩm quyền để thỏa thuận việc bồi thường với người bị thiệt hại và chịu trách nhiệm trước cơ quan có trách nhiệm bồi thường

Trang 8

Địa điểm thương lượng là trụ sở của cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc trụ

sở của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị thiệt hại cư trú, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Ở đây, trụ sở chính là ở UBND huyện N

Việc thương lượng phải lập thành biên bản theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 19/2010 Biên bản thương lượng phải ghi rõ những nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm tiến hành thương lượng; Địa điểm thương lượng, thành phần tham gia thương lượng; Ý kiến của các bên tham gia thương lượng; Những nội dung thương lượng thành hoặc không thành Biên bản thương lượng phải có chữ ký của các bên và được gửi cho người bị thiệt hại một bản ngay sau khi kết thúc thương lượng

Kết quả thương lượng là cơ sở để quyết định việc bồi thường

 Ngay sau khi kết thúc việc thương lượng, người đại diện phải hoàn thành dự thảo quyết định giải quyết bồi thường để báo cáo thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm

bồi thường theo qui định tại Điều 20 Luật TNBT của Nhà nước và Điều 15 Thông

tư liên tịch số 19/2010 Căn cứ vào kết quả xác minh thiệt hại, thương lượng với

người bị thiệt hại và ý kiến của các cơ quan có liên quan (nếu có), thủ trưởng cơ quan

có trách nhiệm bồi thường xem xét, ký ban hành quyết định giải quyết bồi thường Quyết định giải quyết bồi thường thực hiện theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông

tư liên tịch số 19/2010

Quyết định giải quyết bồi thường phải có các nội dung chính sau đây:

a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;

b) Tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường;

c) Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường;

Trang 9

đ) Quyền khởi kiện tại Toà án trong trường hợp không tán thành với quyết định giải quyết bồi thường;

e) Hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường

Quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi cho người bị thiệt hại, cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người thi hành công vụ gây ra thiệt hại Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định, trừ trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý và khởi kiện ra Toà án theo qui định tại Điều 21 Luật TNBT của Nhà nước

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2010

2 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

3 Thông tư liên tịch số 19/2010/ TTLT-BTP-BTC-TTCP Hướng dẫn thực hiện

trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Ngày đăng: 25/03/2019, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w