So sánh hệ thống ngũ hình trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt Luật Lệ.. Bài viết dười đây xin làm rõ đề tài: “ So sánh hệ thống ngũ hình trong bộ Quốc triều hình luật và bộ Hoàng Vi
Trang 1MỤC LỤC
A
MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 2
1. Khái quát về Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ 2
2 So sánh hệ thống ngũ hình trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt Luật Lệ.
2.1.sự giống nhau 3 2.2.Sự khác nhau 3
3 Nguyên nhân của sự giống và khác nhau trong hệ thống ngũ hình của
QTHL và HVLL 6
C KẾT LUẬN 6
Trang 2A MỞ ĐẦU.
Các văn bản pháp luật cổ đại Việt Nam thực sự là những kho báu chứa đựng những giá trị văn minh của đất nước và con người Việt Nam Trong đó Quốc triều hình luật và Hoàng Việt Luật Lệ là những bộ luật quan trọng nhất thuộc pháp luật cổ nước ta Những kho báu đó
đã và đang được khai thác từ những mức độ khác nhau, việc nghiên cứu tìm hiểu chúng luôn
là điều cần thiết nhằm góp phần chắt lọc tinh hoa và giá trị của nền văn minh pháp lý cổ để
có thể vận dụng vào quá trình hoàn thiện và áp dụng pháp luật ở nước ta trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay Việc nghiên cứu chế định hình phạt với hệ thống “ngũ hình” của 2 bộ luật này có ý nghĩa to lớn, là kinh nghiệm quý báu cho công tác lập pháp ngày nay Bài viết
dười đây xin làm rõ đề tài: “ So sánh hệ thống ngũ hình trong bộ Quốc triều hình luật và
bộ Hoàng Việt luật lệ”
B NỘI DUNG.
1 Khái quát về Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ.
Quốc triều hình luật – bộ luật “được coi là quan trọng nhất”, “chính thống nhất của
triều Lê” và trong lịch sử pháp luật Việt Nam nó được đánh giá là “một thành tựu có giá trị đặc biệt, không chỉ là đỉnh cao so với những thành tựu pháp luật của các triều đại trước đó
mà còn đối với cả bộ luật được biên soạn đầu thế kí XIX: Hoàng Việt Luật lệ”
Theo Viện Sử học Việt Nam, Quốc Triều hình luật (QTHL) được khởi thảo từ thời Lê Thái Tổ, sau đó tiếp tục được bổ sung dưới các triều Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông Tới
thời Lê Thánh Tông thì bộ luật được hoàn chỉnh Các ý kiến này chủ yếu dựa vào Đại Việt
sử ký toàn thư với ghi chép là năm Thái Hòa thứ 7 (1449), vua Lê Nhân Tông đã bổ sung
thêm vào bộ hình luật chương điền sản gồm 14 điều Ngoài ra, qua các sử sách khác và qua các lần in khắc ván (với những điểm khác nhau về nội dung của các văn bản), các bổ sung và tên gọi các đơn vị hành chính ghi trong bộ luật… có thể nhận thấy bộ luật này được soạn thảo, bổ sung, hiệu đính qua nhiều đời vua triều Lê Trong số 722 điều của Quốc triều Hình
luật thì 200 điều phỏng theo luật nhà Đường, 17 điều phỏng theo luật nhà Minh Ngoài ra có
178 điều chung đề tài nhưng Quốc triều Hình luật đưa ra một giải pháp khác các triều đại Trung Hoa Đáng chú ý nhất là có 328 điều không tương ứng với điều luật nào của Tàu cả Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có 13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển
có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều Ngoài ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Quốc triều hình luật còn có các đồ biểu quy định về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng, gông, dây sắt v.v)
Gia Long sau khi lên ngôi để có cơ sở về luật pháp, cho soạn bộ luật mới có tên gọi
là Hoàng Việt luật lệ (còn được gọi là "luật Gia Long) bao gồm 22 quyển và 398 điều sau
đó vua Gia Long cho ban hành chính thức vào năm 1815 Có ý kiến cho rằng bộ luật này gần như lấy nguyên mẫu là luật nhà Thanh nhưng ý kiến khác lại cho rằng bộ luật này củng
cố các phong tục, tập quán cổ truyền tốt đẹp của dân tộc cùng với nhiều định chế rất tiến bộ Hoàng Việt luật lệ được sử dụng trong suốt thời nhà Nguyễn rồi dùng tiếp ở Trung Kỳ trong thời Thực dân Pháp chiếm đóng Việt Nam
Hoàng Việt luật lệ (HVLL) được xây dựng trên cơ sở khảo xét, tham chiếu bộ luật Hồng Đức (tức Quốc triều Hình luật, là bộ luật của nhà Lê), nhưng chủ yếu là mượn bộ luật của nhà Thanh, dù đã được chỉnh sửa và cập nhật cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt
Trang 3Nam lúc bấy giờ Trong 398 điều thì 397 là chép lại Đại Thanh luật lệ Chỉ có một điều là rút
từ Quốc triều Hình luật
2 So sánh hệ thống ngũ hình trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt Luật Lệ
“Ngũ hình” là hệ thống hình phạt chính của cả 2 bộ luật đây là nhóm chế tài có nguồn gốc
từ pháp luật cổ Trung Hoa, đã được các nhà làm luật đại Việt cận dụng từ thời Lý Trần đầu tiên, kể từ đó các hình phạt này được ứng dụng trong hệ thống ứng dụng trong hệ thống pháp luật và được quy định cụ thể trong các bộ luật than văn kể cả triều Lê và Triều Nguyễn
2.1.sự giống nhau
Trước hết, có thể thấy Hệ thống ngũ hình của hai bộ luật QTHL và HVLL đều gồm 5 hình phạt là: xuy (đánh bằng roi), trượng hình (đánh bằng gậy), đồ hình (tù khổ sai có thời hạn), lưu hình (đi đày), tử hình (tội chết), do được hình trong thời kì phong kiến Việt Nam nên chúng có đặc điểm của hình phạt trong hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam nói chung:
-Các hình phạt thể hiện tính dã man tàn bạo: không chỉ đầy đọa về thể xác mà còn về tinh thần Điển hình như hình phạt “Lưu” Mục đích của hình phạt lưu mang tính chất trừng phạt
cả về thân xác (làm công việc nặng nhọc ở những nơi môi trường khắc nghiệt), cả về tinh thần(xa quê hương, họ hàng đẩy họ ra khỏi quê cha đất tổ…), hay hình phạt tử hình với hình thức lăng trì (xẻo chậm, róc thịt cho chết dần) khiến phạm nhân chết từ từ đau đớn khiến người chứng kiến kinh hãi, không những vậy còn đánh vào đời sống tâm linh (một cái chết không toàn thây là một điều hết sức kiêng kị nó sẽ gây nỗi đau đớn, xót xa cho người thân) -Hình phạt được áp dụng với mọi loại vi phạm pháp luật không chỉ là chế tài hình sự mà còn áp dụng với cả vi phạm pháp luật dân sự, hành chính hay hôn nhân gia đình Vì vậy hình phạt này có tính phổ biến
-Thêm vào đó là mức hình phạt thường được ấn định một cách cố định chi tiết trong hầu hết các điều khoản thậm chí còn cố định bậc của hình phạt mỗi hình phạt thì được quy định trong một điều khoản cụ thể, một tội phạm chỉ có 1 khung hình phạt không có nhiều khung hình phạt như pháp luật xã hội chủ nghĩa và có quy định mức tối thiểu và mức tối đa
Thứ hai, Cả hai bộ luật đều bị ảnh hưởng bởi hệ thống ngũ hình Trung Quốc.
Hệ thống ngũ hình của hai bộ luật này đều được quy định rõ ràng tại Điều 1, điều căn bản ,
mở đầu của khung hình phạt cụ thể: Về nội dung hình phạt cũng có một số điểm giống nhau: +Xuy: cả hai bộ luật đều có 5 bậc (khung) từ 10 dến 50 roi, mỗi bậc tăng lên 10 roi bẳng roi mây Mục đích đều làm cho họ cảm thấy xấu hổ, đau đớn mà bỏ ý định phạm tội lại Phạm
vi áp dụng: cho cả tội phạm nam và nữ
+Trượng: Cả 2 bộ luật dều có 5 bậc (từ 60 trượng dến 100 trượng) Đều có sự khoan hồng đối với phạm nhân nữ hơn so với phạm nhân nam
+Đồ: Đều áp dụng cho cả phạm nhân nam và nữ nhưng vẫn có sự phân biệt công viêc +Lưu: Có kèm theo trượng Và đều phân ra thành 3 bậc (nhưng nội dung của chúng lại khác nhau)
+Tử: Đều có hình phạt giảo và trảm, đuợc áp dụng độc lập
2.2.Sự khác nhau.
Tuy hệ thống ngũ hình của cả hai bộ luật đều chịu ảnh hưởng từ hệ thống ngũ hình Trung quốc nhưng mức độ ảnh hưởng khác nhau Do đó 2 hệ thống ngũ hình của 2 bộ luật có nhứng điểm khác nhau cơ bản
-về hình phạt xuy:
Trang 4Trong QTHL: Có thể được áp dụng độc lập nhưng cũng có thể áp dụng phạt xuy kèm theo phạt tiền, biếm (Điều 295, điều 374, điều 375, điều 376…) và lưu đồ (xem Điều 1 phần III, IV)
Trong HVLL: Không có gì khác nhiều so với QTHL, nhưng có thêm một số phần cụ thể hơn Trong biểu đồ hình cụ (để trừng phạt) có quy định “Dùng dây mây nhỏ dài 0,2 thước 0,7 tấc, hay 0,6 phân trở xuống 0,5 phân trở lên về bề tròn Roi không quá nặng” Phụ nữ phạm tội bị xử bằng roi, trượng không được chuộc tội, nếu họ bị xử roi mà họ chịu, nhưng nếu bị xử từ 60 đến 100 trượng thì người ta có thể đổi ra roi Tội xuy có thể là chính hình để trừng trị các tội nhẹ VD: Điều 7 quyển 5 quy định “Phàm làm trễ hạn văn thư của quan một ngày, lại điển bị phạt 10 roi, 3 ngày thì thêm một bực tội, mút là 100 roi” Quan thủ lãnh các nơi được giảm một bực (quan thủ lãnh là đầu mục của lại điển) Phàm nói thủ lĩnh thì quan chính không bị phạm tội
-về hình phạt trượng:
Ở QTHL , khung hình trượng có thể áp dụng độc lập (VD: Điều 574, điều 640, điều 649, điều 692…) nhưng cũng có thể là áp dụng kèm theo các tội lưu, tội đồ, tội biếm (VD: Điều
351, điều 356, điều 360, điều 378…) Ở khung hình này thì nữ phạm nhân đuợc khoan hồng
nhiều hơn, dù phạm bất cứ tội nào thì nữ phạm nhân đều được thay trượng bằng xuy
Trong HVLL Luật quy định 2 roi = 1 trượng Ai phạm tội nặng hơn 50 roi thì người ta
bỏ roi mà đánh bằng trượng Theo lệ 1 (đoạn cuối) trong điều 1 quy định, nếu nữ phạm nhân
bị tội trượng cũng đuợc thay thế bằng tội roi, tuy nhiên sau khi đã chấp nhận nguyên tắc tổng quát này thì lệ 8 trong điều 1 và lệ 1 trong điều 19 đã dự liệu một giải pháp khác Cụ thể là: Đối với đàn bà phạm tội thông gian, tội bất hiếu hoặc tội trộm cắp sẽ chịu tội như luật định, đối với các phạm nhân khác bất luận là hình phạt nào, nếu đàn bà có tài sản thì cho chuộc tội theo giá tiền đã định cho các vợ quan chức Điều 19, quyển 2 còn dữ liệu đánh trượng đối với nữ phạm nhân, nếu là tội thông gian thì bắt lột áo, tội khác thì cho được mặc áo mỏng Tuy nhiên, nữ phạm nhân được miễn thích chữ Nếu đàn bà phạm tội đồ hoặc lưu thì đánh hẳn 100 trượng còn dư tội thì cho chuộc
Như vậy có thể thấy luật Gia Long có phần khắt khe hơn với phụ nữ, đây là điềm hạn chế so với QTHL
-về hình phạt đồ:
QTHL: Ở triều đại này thì hình phat đồ được chia thành ba bậc, tùy theo công việc nặng nhọc mà phạm nhân phải làm, mỗi bậc lại phân biệt công việc của đàn ông với đàn bà Hình phạt được quy định áp dụng kèm theo xuy, trượng hoặc thích chữ, đeo xiềng
Bậc thứ nhất: là dịch đinh (với nam) và dịch phụ (với nữ ) đều phải làm việc nặng nhọc
Bậc thứ hai: (nặng hơn) gồm tượng phường binh: quét dọn chuồng voi, đánh 80 trượng và thích vào cổ 2 chữ
(đối với đàn ông) và xuy thất tỳ: nấu cơm nuôi quân, đánh 50 roi và thích vào cổ 2 chữ (đối với đàn bà):
Bậc thứ ba: (nặng nhất) chủng điền binh (dành cho đàn ông) làm lính lao động ở đồn điền nhà nước, đồng thời bị kèm đánh 80 trượng thích vào cổ 4 chữ, bắt đeo xiềng và thung thất tỳ (dành cho phụ nữ) phải xay thóc giã gạo trong các kho thóc thuế của nhà nước, đánh
50 roi và thích vào cổ 4 chữ
Trong HVLL, người bị phạm tội bị gửi về thúc quản tại trấn nơi họ đồng thời bị áp dụng hình phạt này phải làm những công việc nặng nhọc với thời hạn từ 01 năm dến 03 năm Hình đồ được chia làm 5 bậc, mỗi bậc tăng thêm 10 trượng và nửa năm Đồng thời tuỳ theo
Trang 5thời hạn bị áp dụng là ngắn hay dài hạn mà mỗi bậc lại áp dụng thêm một phụ hình (hình phạt bổ sung) với mức phạt từ 60 trượng đến 100 trượng Cụ thể:
Bậc 1: 01 năm và 60 trượng
Bậc 2: 1,5 năm và 70 trượng
Bậc 3: 02 năm và 80 trượng
Bậc 4: 2,5 năm và 90 trượng
Bậc 5: 03 năm và 100 trượng
Đến năm Thành Thái thứ 18 (1906) thì 5 bậc hình đồ nêu trên đuợc đổi thành hình phạt khổ sai với mức phạt từ 01 đến 05 năm, đồng thời bỏ hình phạt này bổ sung áp dụng kèm theo.Trong thời gian chấp hành hình phạt này phạm nhân được hưởng chế đọ bán tự do Việc áp dụng hình phạt này được coi là một sự tiến bộ hơn hẳn so với hình phạt khổ sai 5 bậc Các phạm nhân không bị giam giữ tại các trạm giam sau khi làm việc, do đó tránh cho
họ cảnh lao tù và giúp họ có điều kiện hoàn lương vì họ vẫn được tiếp xúc với xã hội Ưu điểm của hình phạt trong bộ luật này là có hạn định về thời gian, người phạm tội còn có thời
cơ được trở về Còn có “phép nhuận đồ” tức là giảm chế tài đối với tội nhân mà mắc những tội không quá nghiêm trọng, không phải thập ác ( ba bậc lưu = 4 năm đồ, hai bậc tử giảo chảm = 5 năm đồ)
-về hình phạt lưu:
Trong QTHL: Gồm 3 bậc:
Lưu cận châu (châu gần) đày đi làm việc nặng ở Nghệ An
Lưu ngoại châu (châu ngoài) lưu đến Bố Chánh (Quảng Bình)
Lưu viễn châu (châu xa): đày lên Cao Bằng
Về thời hạn thụ hình của hình phạt lưu, trên danh nghĩa là lưu đày vĩnh viễn nhung thực
tế, sau một thời gian sống tại nơi lưu đày phạm nhân có thể được ân xá nếu có hạnh kiểm tốt
và khai khẩn 3 – 5 mẫu đất Mục đích hình phạt mang tính trừng phạt về cả thể xác (làm việc nặng nhọc tại nơi có môi trường sống khắc nghiệt) lẫn cả về tinh thần (xa quê hương) Hình phạt vừa mang tính giáo dục phạm nhân thông qua lao động vừa góp phần phát triển kinh tế đất nước
Trong HVLL: Gồm 3 bậc: + 2000 dặm với 100 trượng
+ 2500 dặm với 100 trượng
+ 3000 dặm với 100 trượng
Hình phạt áp dụng cho phạm nhân tội dù nặng nhưng vẫn chưa đáng phải chết Họ bị lưu đày vĩnh viễn nơi xa, cả đời không được trở về cố hương Hơn nữa, Không giống như bộ QTHL, Hình phạt này Lưu đến đâu thì nơi đó phải nhận tội phạm, tức là tất cả các tỉnh thành phải nhận (trừ Huế)
-về hình phạt tử:
Trong QTHL: Hình phạt tử gồm 3 bậc:
+ Thắt cổ (giảo), chém đầu (trảm)
+ Chém biêu đầu (khiêu)
+ Lăng trì (dân gian thường gọi là tùng xẻo), tội nhân bị xẻo từng miếng thịt rồi bị mổ bụng, moi ruột cho đến chết, sau đó bị cắt rời chân tay và bị gãy hết xương
Trong HVLL: Là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt của HVLL.
Hình phạt chỉ gồm 2 bậc: giảo (thắt cổ) và trảm (chém đầu)
Hoàng Việt luật lệ còn quy định thêm phép “Nhuận Tử” trong một số điều luật quy định về tội phạm (điều 223, điều 253, điều 254, điều 256, điều 257) bao gồm: Lăng trì (xẻo chậm), Trảm khiêu (chém bêu đầu), Lục thi (chặt xác chết)
Trang 6Tuy nhiên, trong thực tế các hình thức nhuận tử chỉ mang tính chất thị uy nhiều hơn là ứng dụng thực tiễn
Từ phân tích trên có thể thấy QTHL là bộ luật mang tính nhân đạo, tính dân tộc đậm nét hơn so với HVLL Một đặc điểm dễ nhận ra sự khác biệt giữa hai bộ luật trên đó là việc giải thích pháp luật Đối với bộ QTHL thì việc giải thích pháp luật là không có Còn bộ HVLL
có tiến bộ hơn là vấn đề đó được giải thích rất cụ thể về nguồn gốc TN – XH và lịch sử của hình phạt, hơn thế còn rõ rằng về ý nghĩa và giá trị của hình phạt
3 Nguyên nhân của sự giống và khác nhau trong hệ thống ngũ hình của QTHL và HVLL
Ta nhận thấy hai bộ luật này có những nét giống nhau cơ bản vì cùng chịu ảnh hưởng của
hệ thống ngũ hình ảnh hưởng từ Trung Quốc Sự giống nhau này chính là sự kế thừa lẫn nhau của hai bộ luật này, nó vẫn mang những nét đặc sắc của pháp luật phong kiến Nguyên nhân của sự giống nhau đó ngoài chịu sự ảnh hưởng của pháp luật Trung quốc là hơn hết là
nó phục vụ quyền lợi cho nhà nước phong kiến là công cụ quan trọng, chịu ảnh hưởng của
hệ tư tưởng phong kiến
Nguyên nhân có sự khác nhau: Ngoài ảnh hưởng của pháp luật Trung Quốc không giống nhau ở mỗi thời kì lịch sử, cụ thể thì QTHL chịu ảnh hưởng phần lớn của thời Đường còn HVLL chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật nhà Thanh thì yếu tố cũng quan trọng ảnh hưởng đến quá trình xây dựng 2 bộ luật có sự khác nhau là điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của 2 thời kì nhà Lê sơ và nhà Nguyễn
Triều Lê được thành lập là kết quả của công cuộc kháng chiến cứu quốc lâu dài, gian khổ suốt 10 năm và có tính nhân dân sâu rộng nhất từ năm 938 đến lúc này Trong con mắt của đương thời cũng như hậu thế triều đại Lê sơ thành lập chính danh hơn, vẻ vang hơn, hào quang của cuộc kháng chiến chống Minh lâu dài và anh dũng vẻ vang dân tộc luôn luôn bao trùm lấp lánh triều đình này Do đó nhà Lê luôn được quần chúng nhân dân hết lòng ủng hộ, đồng thời triều Lê không ngừng tăng cường triển khai nhiều chủ trương biện pháp về kinh tế văn hóa nâng cao đời sống nhân dân, đất nước dần đi vào ổn định đến đời Lê Thánh Tông có thể gọi là “hoàng kim” Có thể thấy điều đó đã tác động tích cực đến việc xây dựng bộ luật: nhà nước quan tâm tới xây dựng hoàn thiện luật pháp, tăng cường tính dân tộc trong luật tránh sự sao chép luật Trung Quốc và bỏ đi những điều không phù hợp phong tục tập quán nước ta
Năm 1802 đánh dấu sự ra đời nhà Nguyễn, trong thời kì đầu, vua Gia Long đã góp công đầu trong thống nhất đất nước nhưng cũng phải đảm đương nhiều công việc trọng đại
mà cũng phải thừa hưởng di sản nội chiến kéo dài Bởi theo quan niệm nhân dân nhà Nguyễn thành lập là không chính danh do sựa vào Pháp để thiết lập, lại lật đổ triều đại Tây Sơn, triều đại có 2 chiến công lớn với đất nước là đánh đuổi quân Xiêm ở Đáng Trong và quét sạch bọn quân Thanh xâm lượng ở miền bắc vì thế vị thế của Nhà Nguyễn chưa cao trong long nhân dân Suốt thời gian chiến tranh mọi công việc trong nước gần như đình đốn, riêng pháp luật gần như bị quên lãng hoàn toàn Sau khi lên ngôi vua Gia Long phải giải quyết nhiều vấn đề hệ trọng mà pháp luật là 1 trong những vấn đề ông quan tâm hàng đầu triều đình cho xây dựng bộ luật nhưng hầu hết là sao chéo của luật nhà Thanh, tính dân tộc
mờ nhạt, chưa hướng đến phản ánh tình hình kinh tế, xã hội đất nước
C KẾT LUẬN
Rõ ràng, hệ thống ngũ hình thời kì phong kiến nước ta là một công cụ, chế tài vô cùng quan trọng phục vụ cho giai cấp thống trị Có thể thấy rằng hệ thống ngũ hình là một biện pháp chế tài hà khắc, mặc dù có sự khác nhau về hệ thống ngũ hình của hai bộ luật này nhung về cơ bản đó là sự kế thừa giữa hai bộ luật này.Qua đó, ta nhận thấy được cái mối
Trang 7quan hệ cơ bản của hai bộ luật này thông qua hệ thống ngũ hình tiêu biểu bản chất nhà nước, bản chất của giai cấp thống trị phong kiến tất cả đều vì quyền lợi và pháp luật chính là công cụ để cho họ thể hiện ra và Ngũ hình vẫn là một hệ thống điển hình của thời kì phong kiến nước ta
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội, 2007.
2 Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb ĐHQG, 2008.
3 Quốc triều hình luật, Nxb Pháp lí, Hà Nội, 1991.
4 Một số văn bản pháp luật Việt Nam thế kỉ XV - XVIII, Nxb KHXH, Hà Nội,
1994.
5 Hoàng Việt luật lệ, Nxb VHTT, Hà Nội, 1994.
6 Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 2007.
7 TS Lê Thị Sơn, Quốc Triều hình luật, lịch sử hình thành và nội dung giá trị, NXB Khó học xã hội, Hà Nội 2004
8 TS Trương Quang Vinh, tội phạm và hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ, NXB
tư pháp, Hà Nội 2008.
9 Một số trang web:
Wikipedia.org Lichsuvietnam.vn.