ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---TRẦN NGỌC ĐĂNG ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY HỌ ĐẬU FABACEAE TRỒNG TẠI MÔ HÌNH VƯỜN THỰC VẬT KHOA LÂM NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-TRẦN NGỌC ĐĂNG
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY HỌ ĐẬU
(FABACEAE) TRỒNG TẠI MÔ HÌNH VƯỜN THỰC VẬT KHOA
LÂM NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : ST&BTĐDSH Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-TRẦN NGỌC ĐĂNG
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY HỌ ĐẬU
(FABACEAE) TRỒNG TẠI MÔ HÌNH VƯỜN THỰC VẬT KHOA
LÂM NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : ST&BTĐDSH Lớp : K46 ST&BTĐDSH Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2014 - 2018 Giảng viên HD : TS Hồ Ngọc Sơn
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Đánh Giá Sinh Trưởng Của Một Số Loài Cây Họ Đậu (Fabaceae) Trồng Tại Mô Hình Vườn Thực Vật Khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên” là công trình
nghiên cứu khoa học của bản thân em, công trình được thực hiện dưới sựhướng dẫn của TS Hồ Ngọc Sơn Những phần sử dụng tài liệu tham khảotrong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu vàkết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực,chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2018
Trang 4Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
để sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, họ và tên)
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy
cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô trongkhoa Lâm nghiệp của trường đã tạo điều kiện, quan tâm giúp đỡ cho em trongquá trình thực hiện đề tài khóa luận
Em xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới TS Hồ Ngọc Sơn là người đã trực tiếphướng dẫn thực hiện và giúp đỡ em hoàn thành đề tài khóa luận này
Em cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ởbên cạnh động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập và thời gian emthực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Trong quá trình thực tập, cũng như trong quá trình làm bài báo cáothực tập, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các thầy, cô bỏ qua Đồng thời dotrình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài khóaluận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được
ý kiến đóng góp của thầy, cô để chuyên đề được hoàn thiện hơn Em xin chânthành cảm ơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Trần Ngọc Đăng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của 6 loài cây bản địa trong mô hình 34Bảng 4.2: Sinh trưởng đường kính của 6 loài cây bản địa 35Bảng 4.3: Sinh trưởng về chiều cao của 6 loài cây bản địa trong mô hình 38
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Sưa đỏ trong vườn thực vật 17
Hình 2.2: Lim Xanh trong vườn thực vật 19
Hình 2.3: Lim Xẹt trong vườn thực vật 21
Hình 2.4: Cây vàng anh trong vườn thực vật 22
Hình 2.5: Cây Cẩm Lai trong vườn thực vật 24
Hình 2.6: Cây Giáng Hương trong vườn thực vật 25
Hình 4.1: Kết quả đường kính của 6 loài cây họ đậu 36
HÌnh 4.2: Kết quả về chiều cao của 5 loài cây bản địa 39
Hình 4.3: Động thái ra lá của các loài cây bản địa 41
Trang 12MỤC LỤC
Trang
i LỜI CẢM ƠN ii DANHMỤC CÁC BẢNG iii
HÌNH iv DANH MỤCCÁC TỪ VIẾT TẮT v MỤCLỤC .vi
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
Trang 132.3.1 Những nghiên cứu về xây dựng vườn thựcvật 9
Trang 142.5.4 Vàng anh (Saraca dives)
Trang 154.3 Đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình vườn thực vật.
tại 445.3 Kiến nghị
44
TÀI L IỆU THAM
KHẢO 45
PHỤ LỤC
Trang 17có mức độ nguy cấp cao và bên cạnh đó tạo nơi học tập và nghiên cứu chosinh viên Khoa Lâm Nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên Kết thúc
ở giai đoạn đầu của việc xây dựng thành công 406 cây thuộc 25 loài cây bản
địa khác nhau trong đó có các họ như: Họ thông tre (Podocarpaceae), Họ mộc lan (Magnoliaceae), Họ đậu (Fabaceae), Họ xoan (Meliaceae), Họ long não (Lauraceae) hay Họ quả hai cánh (Dipterocarpaceae) [1] Họ đậu (Fabaceae)
được đánh giá là họ có số lượng loài đang có mức độ nguy cấp cao nhiều nhất
trong mô hình vườn thực, các loài cây họ đậu (Fabaceae) có quan hệ mật thiết
với nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng Các loại vi khuẩnnày
được biết đến như là vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium), có khả năng lấy khí nitơ
(N2)
trong không khí và chuyển hóa nó thành các dạng nitơ mà cây có thể hấp thụđược (NO3- hay NH4+)[11] Hoạt động này được gọi là cố định đạm Các loàicây họ đậu cung cấp nơi ở và dinh dưỡng, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai tròcủa nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh Mối quan hệ nàykhông chỉ giúp tạo đạm cho cây họ đậu sử dụng mà còn cho cả các cây khácxung quanh, do đó có tác dụng cải tạo đất Các loài cây thân gỗ Họ đậu
(Fabaceae) có giá trị rất cao thường được khai thác thân cây và rễ nhằm mục
đích làm đồ mỹ nghệ và đồ gia dụng cấp cao Bởi giá trị của các loài cây Họđậu (Fabaceae) đem lại cao nên việc khai thác của con người rất mạnh, đồng
thời đẩy các loài thân gỗ Họ đậu (Fabaceae) đến mức nguy cấp tuyệt chủng
cao vì vậy việc thực hiện đề tài “Đánh giá sinh trưởng của một số loài cây Họ
Trang 18đậu (Fabaceae) trồng tại mô hình vườn thực vật khoa Lâm Nghiệp trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên” nhằm đánh giá mức độ sinh trưởng của các loài
cây Họ đậu (Fabaceae) nhân rộng mô hình chuyển vị các loài cây Họ đậu (Fabaceae) trong mô hình vườn thực vật trường Đại học Nông Lâm Thái
nguyên
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng của 6 loài cây Họ đậu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức đã học, bổ sung kiếnthức chuyên môn và vận dụng vào thực tế sản xuất
- Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâmsinh phù hợp để phát triển mô hình vườn thực vật tại trường Đại học NôngLâm Thái Nguyên
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Qua những đánh giá cụ thể về sinh trưởng chúng ta có thể tìm ra đượccác giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến ngành Lâm nghiệp
và phát triển các loài cây bản địa
- Làm cơ sở tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan
Trang 19PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Một số nét chung
Đánh giá sinh trưởng cây rừng nói chung và đánh giá sinh trưởng cácloài cây bản địa nói riêng là nội dung quan trọng, cần thiết trong khôi phụcrừng và xây dựng các vườn thực vật nhằm lựa chọn các loài cây phù hợp chotừng khu vực để đưa các loài cây này vào công tác trồng rừng và làm giàunguồn tài nguyên thực vật, do vậy việc xây dựng mô hình vườn thực vật từ lâu
đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Vườn thực vật là: là một nơi trồng cây cối, được chăm sóc tốt thườngđược trồng từng nhóm theo loại Người ta cũng trồng ở đây các cây từ cácnước khác, các vùng khí hậu khác nhau Các vườn thực vật thường được quản
lý bởi các trường Đại học, dùng nó làm cơ sở nghiên cứu khoa học
Các vườn thực vật loài cây bản địa hiện đang được chú trọng và xâydựng nhiều trên thế giới, cũng như Việt Nam không phải ngoại lệ, điều đóchứng minh con người ngày càng quan tâm đến thiên nhiên, quan tâm đến sựhài hòa của cuộc sống Mô hình vườn thực vật tại trường Đại học Nông LâmThái Nguyên là một ví dụ điển hình cho vườn thực vật bảo tồn các loài câybản địa, đồng thời lồng ghép giúp sinh viên có nơi học tập và nghiên cứu Vớimục tiêu sẽ là một hạt mầm để nhân rộng đến các vùng lân cận nhằm pháttriển ngày càng nhiều các mô hình loài cây bản địa như vậy
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1 Nghiên cứu về xây dựng các vườn thực vật
Nhận thấy sự nguy cấp của sự đa dạng các loài thực vật trên thế giới,cùng với đó là trách nhiệm phải bảo tồn những loài cây quý hiếm đang cónguy cơ tuyệt chủng cao đồng thời có thể kết hợp tham quan giải trí và lồngghép
Trang 20giáo dục về thiên nhiên thay đổi nhận thức và là cơ sở cho con người học tập,nghiên cứu, thư giãn nên trên thế giới con người đã xây dựng các vườn thựcvật chuyển vị để góp phần bảo vệ nguồn gen của các loài thực vật Hiện nay
có khoảng 1800 vườn bách thảo tại 150 nước thuộc phần lớn tại các vùng cókhí hậu ôn hòa Trong đó có 400 vườn ở Châu Âu, 200 ở Bắc Mỹ, 150 ở Nga,
và một số càng ngày càng tăng lên ở Đông Á [20] Những vườn này lôi cuốnmỗi năm khoảng 150 triệu du khách Trong quá khứ, các vườn bách thảo traođổi các cây cối qua việc ấn hành danh sách các hạt giống Đó là một phươngtiện để trao đổi không những các thực vật mà cả các thông tin giữa các vườnbách thảo với nhau Ở Châu Âu, từ năm 1492 đã có vườn bách thảoArboretum von Trsteno gần Dubrovnik Tổng diện tích của Arboretum là 28hecta Trong suốt
5 thế kỷ tồn tại, các yếu tố của thời kỳ Phục Hưng Baroque và Romanticism
có thể được nhìn thấy trong kiến trúc cảnh quan Trên một số bậc thang bêncạnh cây trồng ở Địa Trung Hải như ô liu , cây sung hoặc cây có múi cũng córất nhiều cây cọ , cây bạch đàn , cây laurel , cây xương rồng và các cây kỳ lạkhác [19] Ngoài ra ở Ý vào năm 1544 tại Pisa của Luca Ghini, 1545 ở Paduacủa Johannes Baptista Montanus cũng như ở Firenze (1545) và Bologna(1568) Điển hình năm 1808 Vườn thực vật Jardim Botnico, ở Rio de Janeiro,Brazil với diện tích 240.000 m2 đây được xem là một trong hai khu vườn đẹpbậc nhất thế giới Với khoảng 6500 loài thực vật, trong đó một số loài quýhiếm có nguy cơ tuyệt chủng Hay là nằm trên đỉnh Dessert là khu vườn thựcvật Kirstenbosch có thể không phải là vườn bách thảo cổ nhất nhưng lại làvườn lớn nhất thế giới Ngự trị trên vùng đất rộng 35,6 hecta, ra đời từ năm
1913, vườn thực vật quốc gia Kirstenbosch của Nam Phi được thành lập chomục đích bảo tồn hệ thực vật địa phương, khu vườn Kirstenbosch hiện sở hữuhơn 20.000 loài cây [20] Được mở cửa từ năm 1910, vườn hoa Berlin-Dahlem được xem là một trong những địa điểm thu hút du lịch của đất nướcnày Khu vườn rộng tới 43
Trang 21hecta có hơn 43.000 loài thực vật khác nhau Nơi đây được coi như một ốcđảo xinh đẹp, yên bình, nhưng rực rỡ muôn sắc màu, khác biệt với sự bận rộn,hối hả thường ngày của cuộc sống ở thủ đô nước Đức Được thành lập năm
1840 từ một vườn cây ngoại lai tại công viên Kew, vườn thực vật hoàng giaKew Bộ sưu tập của vườn bao gồm 30.000 loài thực vật sống khác nhau.Vườn thực vật Na Aina Kai, Mỹ khoảng 240 loài Và còn vườn thực vật đạihọc Hokkaido rộng hơn 13 hecta trồng khoảng 4000 loại thực vật được mởcửa vào cuối thế kỷ 19 Bên cạnh đó là rất nhiều vườn thực vật nổi tiếng, lưugiữ nhiều loài thực vật trên thế giới như: Vườn Butchart, British Columbia,Canada, Villa D’este, Italy, Villa Eprhussa de Rothchild, Pháp…xây dựng vớimục đích bảo vệ các loài thực vật quý hiếm lồng ghép thăm quan giải trí chocon người Ở Đức vườn bách thảo đầu tiên được thành lập ở Leipzig (1580),Jena (1586), Heidelberg (1593), Gießen (1609) hay Freiburg (1620), thườngthuộc về phân khoa Y học là vườn dược thảo Vườn bách thảo Kiel là vườnbách thảo đầu tiên theo nghĩa hiện nay Nó được hình thành bởi JohannDaniel Major vào năm 1669 tại Christian-Albrechts-Universität zu Kiel Ở BồĐào Nha vườn bách thảo đầu tiên do bá tước Grafen von Pombal thuộcUniversität Coimbra xây vào năm
1772 [20] Tại Châu Á, có vô vàn các vườn thực vật lớn nhỏ của các nướcnhư:
Trung Quốc có 152 vườn thực vật điển hình như là Vườn Thực Vật Bắc Kinh
- Khu vườn được thành lập năm 1953 và hiện nay có diện tích 564.000 m2.Chúng bao gồm 6.000 loài thực vật, bao gồm 2.000 loại cây và bụi rậm, 1.620loài thực vật nhiệt đới và cận nhiệt đới và 500 loài hoa Bộ sưu tập này baogồm một số loài quý hiếm, ngoài ra còn có Vườn thực vật Nam Trung Quốc làmột phần của Học viện Khoa học Trung Quốc, trước đây gọi là Viện NôngLâm nghiệp, Đại học Sun Yat-Sen, được thành lập vào năm 1929, Vườn Báchthảo Nhiệt đới Xishuangbanna của Học viện Khoa học Trung Quốc đượcthành lập năm 1959 Vườn thực vật Kadoorie và Vườn Bách thảo Kadoorie
và Vườn
Trang 22Bách thảo trải dài trên 148 hecta đất và nằm trên sườn núi phía bắc và chânnúi của ngọn núi cao nhất ở Hồng Kông - Tai Mo Shan, Vườn thực vật VũHán, Nghiên cứu vườn thực vật theo định hướng này là một phần của Họcviện Khoa học Trung Quốc và được thành lập vào năm 1956 và mở cửa chocông chúng vào năm 1958 Hơn 10.000 loài thực vật và các giống và có 16vườn đặc sản Vườn hoa quả hoang dã, Vườn thực vật quý hiếm và Vườn câythuốc là một trong những vườn lớn nhất Trung Quốc và Vườn Thực vậtXiamen - nằm trên núi Wanshi ở phía đông nam của đảo Hạ Môn Còn đượcgọi là Vườn Thực Vật Wanshi có diện tích 4,93 km2 và chứa hơn 6.300 loạicây cảnh nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới cộng thêm 10 vườn độc đáo dành riêngnhỏ hơn Ấn độ có 131
vườn thực vật nổi tiếng như Vườn thực vật nhiệt đới Jawaharlal Nehru vàViện nghiên cứu , Trivandrum, Kerala 121 ha ở độ cao 100 m trên mực nướcbiển Bảo tồn số lượng lớn nhất các bộ sưu tập cây trồng nhiệt đới tại cácvườn thực vật ở châu Á, vườn thực vật Acharya Jagadish Chandra Bose đượcthành lập năm 1786, mục đích của vườn bách thảo hoàng gia là thu thập cáccây bản địa và giới thiệu làm cho cây trồng được phục hồi lại từ các nướckhác Các vườn cũng là một nguồn cung cấp cây trồng quan trọng cho Kew vàcác vườn khác của châu Âu Vườn bách thảo Jhansi, Jhansi, Uttar Pradesh,Vườn Bách thảo Saharanpur, Saharanpur, Uttar Pradesh, Vườn thực vậtLloyd's , Darjeeling, Tây Bengal được thành lập vào năm 1878 như là một phụtùng xa xôi của Vườn thực vật Calcutta Tại Indonesia có 5 vườn thực vật nổitrội đó là Vườn Bách thảo Bali Nhật bản có 64 vườn thực vật đặc biệt phải kểđến đó là Vườn thực vật, Trường đại học Khoa học, Đại học Tokyo Đại họcTokyo Botanical Gardens, Hakusan, Bunkyo-kuTokyo, Nhật Bản Lào cóVườn thực vật Pha Tad Ke xây dựng vào năm 2008 và mở cửa vào năm 2015.Đến với Malaysia phải kể đến Rimba Ilmu Rimba Ilmu là một khu vườn thựcvật nhiệt đới, được thành lập tại khuôn viên trường Đại học Malaya ở KualaLumpur, Malaysia
Trang 23Rimba IlmuInstitute of Biological Sciences, Đại học Malaya, Kuala Lumpur,Malaysia Singapore có 2 vườn không thể không nhắc đến Singapore BotanicGardens nằm ở trung tâm thành phố và được thành lập vào năm 1859 Vớidiện tích gần 74 hecta, khu vườn là nơi nghiên cứu và bảo tồn hơn 30.000 loàithực vật Khu vườn này nổi tiếng trên thế giới với Vườn lan Quốc gia, nơitrưng bày hoa lan nhiệt đới lớn nhất thế giới với hơn 1.000 loài phong lan và2.000 loại lan lai tạo Nam Triều Tiên có 54 vườn những cái tên thường đượcnhắc đến như Vườn Bách Thảo Namsan có trụ sở tại Seoul nó chiếm một khuvực 59 m2, có tổng cộng 117.132 cây từ 269 loài trên có 13 khu vườn theochủ đề Oedo - một vườn thực vật ven biển được xây dựng năm 1969 bởi LeeChang Ho và vợ ông, trong công viên biển quốc gia được gọi là Vườn Quốcgia Hallyeo Haesang Vườn Sinh thái Eco Yanggu - khai trương năm 2004.Chiếm 189.141
người Đặt tại chân núi Daeamsan Đây là khu vườn sinh thái cực bắc của HànQuốc và được phát triển như là một trung tâm khôi phục hệ sinh thái Nam vàBắc Triều Tiên Bao gồm hơn 400 thực vật quý hiếm bao gồm các loài thựcvật bản địa Hàn Quốc và được bảo vệ bởi Bộ Môi trường Hàn Quốc Vườnthực vật Yeomiji mở cửa năm 1989 bao gồm 112000 m2, có vườn trong nhà
và ngoài trời theo chủ đề trong các khu Một số vườn tạo ra các phong cáchđược tạo ra ở các nước khác trong quá khứ Tiếp đó là Sri Lanka có các vườnthực vật nổi tiếng như Vườn Bách Thảo Hoàng Gia Sri Lanka, Peradeniya,Kandy có 147 mẫu vật nằm ở độ cao 460 mét so với mực nước biển, bao gồmhơn 4.000 loài thực vật và nổi tiếng với bộ sưu tập hoa phong lan, ngoài ra còn
có Vườn Bách thảo Hakgala, Vườn Bách thảo Henarathgoda và Vườn Báchthảo Mirijjawila Đài loan có 5 vườn nổi trội kể đến là Vườn Bách thảo ĐàiLoan, Đài Loan năm
1896, một vườn ươm chính thức với diện tích dưới 5 ha đã được thành lập gầnXiaonanmen ở phía tây nam thành phố Đài Bắc Điều này đánh dấu sự ra đờicủa Vườn thực vật Đài Bắc và Thái Lan có 12 vườn thực vật gồm có vườnthực
Trang 24vật Queen Sirikit là vườn thực vật quan trọng nhất và lâu đời nhất ở Thái Lan
và là trung tâm nghiên cứu khoa học chính Dành riêng cho việc bảo tồn hệthực vật Thái Lan Vườn Bách Thảo Queen Sirikit, trước đây gọi là VườnBách Thảo Mae Sa Nằm cách Pattaya 20km về phía Nam tại Thái Lan vườnthực vật Nong Nooch rộng khoảng 2,4 km2 đã sưu tập khoảng 20.000 loại câynhiệt đới khác nhau đặc biệt tại Nong Nooch có hơn 670 loài hoa lan [5] Tất
cả những
vườn thực vật kể trên hiện tại ngoài mang nhiệm vụ là nơi bảo vệ được cácnguồn gen quý của các loài cây mà còn có thể trở thành nơi thăm quan giải trí
và tạo ra một địa điểm hùng vĩ của các đất nước đó
2.2.2 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng các loài cây bản địa
Trong những năm gần đây rất nhiều nơi trên thế giới đã và đang nghiêncứu thử nghiệm và trồng rừng thanh công bằng những loài cây bản địa Trongnhiều loại cây trồng các cây thuộc chi Paulownia đáng được sự quan tâm củanhiều nước trong khu vực và trên thế giới
Tại Malaysia (1999) [21], trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giớithiệu cách thiết lập mô hình trồng rừng hỗn loại trên 3 đối tượng: Rừng tự
nhiên, rừng Acacia mangium 10 - 15 tuổi và 2 - 3 tuổi Dự án đã sử dụng 23
loài cây bản địa có giá trị trồng theo băng 30 m mở ra trong rừng tự nhiên,
trồng 6 hàng cây Trong rừng Acacia mangium mở băng 10 m trồng 3 hàng
cây, băng 20 m trồng 7 hàng cây, mở 40 m trồng 15 hàng cây với 14 loài khối
B chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng, chặt 2 hàng trồng 2 hàng, chặt 4 hàng trồng 4hàng… Trồng
3 loài sau khi chặt 5 năm, trồng 7 loài sau khi chặt 7 năm Trong 14 loài cây
trồng khối A, có 3 loài S roxburrghii; S ovanlis; S leprosula sinh trưởng
chiều cao và đường kính tốt nhất Tỉ lệ sống không khác biệt, sinh trưởngchiều cao cây trồng tốt ở băng 10 m và băng 40 m Băng 20 m không thỏamãn điều kiện sinh trưởng chiều cao Khối B có tỷ lệ sống, sinh trưởng chiềucao tốt khi trồng
1 hàng, sinh trưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 và 6 hàng
Trang 25Ảnh hưởng của mật độ đến sự phát triển của tán lá khá rõ rệt Nghiên
cứu đối tượng rừng trồng loài Pinus patula, Julians Evan (1982) [7], cho thấy
ở rừng 19 tuổi chưa quá tỉa thưa độ dài tán chỉ là 29% tổng chiều dài thân,trong khi cũng ở tuổi này rừng đã tỉa thưa 1 lần vào tuổi 9 chiều dài tán lên tới40% chiều dài thân Đối với diện tích tán, Hunt (1969) đã so sánh ảnh hưởng
của tỉa thưa đến lâm phần 22 tuổi loài Pinus strobus và kết luận: sau 5 năm
tính từ thời điểm tỉa thưa, tổng trọng lượng lá cây của lâm phần qua tỉa thưagấp 3 lần tổng trọng lượng lá cây của lâm phần chưa tỉa thưa
Nghiên cứu thực sự khác biệt về độ thưa của cây ở các lâm phần có mật
độ khác nhau, Vanlaar (1976) đã chỉ ra rằng, với loài cây Pinus trồng tại Nam
Phi, ở lâm phần có mật độ cao (3000 cây/ha) hình số của cây là 0,565 trongkhi đó ở lâm phần mật độ thấp (125 cây/ha) giá trị hình số tương tự chỉ là0,495
Qua những nghiên cứu ở trên cho thấy thực sự có mối quan hệ giữa cácchỉ tiêu hình thái và chất lượng cây với mật độ của cây Đây là những kết luậnquan trọng không những có ý nghĩa lý luận trong nghiên cứu mà còn có ýnghĩa thực tiễn về mặt lâm sinh
2.3 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
2.3.1 Những nghiên cứu về xây dựng vườn thực vật
Tại Việt nam việc bảo vệ các loài động thực vật khỏi sự khai thác trầmtrọng của con người cũng đang được chú ý đến thông qua việc xây dựng nêncác vườn thực vật nhằm mục đích bảo vệ nguồn gen quý hiếm, bên cạnh đó lànơi để kết hợp cho con người tham quan giải trí và giáo dục về việc bảo vệthiên nhiên Đồng thời là nơi để học tập và nghiên cứu khoa học cho học sinh,sinh viên và cả các nhà nghiên cứu khoa học Nổi bật phải kể đến Thảo cầmviên ở thành phố Hồ Chí Minh, Thảo cầm viên còn được mệnh danh là vườnthực vật lâu đời nhất việt nam, được xây dựng vào năm 1864, Thảo Cầm Viên
có 590 loài động vật với 125 loài và 1.830 cây và thực vật của 260 loài, trong
Trang 26đó có một số loài trên 100 tuổi Bao gồm 20 loài phong lan, 32 loài cây xươngrồng và 34 loài cây cảnh Vườn thú và Vườn thực vật Sài Gòn được chia thànhkhu bảo tồn động vật, khu bảo tồn thực vật, vườn lan và công viên giải trí.Khu vườn thực vật có nhiều loài thực vật quý hiếm, một số loài không cónguồn gốc ở Việt Nam Có nhiều loài xương rồng, dương xỉ và thực vật đãđược nhập khẩu từ Châu Phi và Mỹ [13] Tiếp đó là Vườn Bách Thảo tại HàNội được xây dựng từ năm 1890, do nhiều biến đổi nên hiện tại diện tích chỉcòn 10 ha, tuy diện tích có bị thu lại nhưng tính đa dạng về các loài ở VườnBách Thảo Hà Nội không vì đó mà giảm Vườn bách thảo Hà Nội tạo thànhmột cảnh quan thu nhỏ bao gồm núi, rừng và hồ nước Trên mảnh đất tuy nhỏhẹp của khuôn viên vườn bách thảo có mặt nhiều loài cây gỗ quý hiếm đặctrưng cho các cánh rừng ẩm nhiệt đới phương Nam Số loài địa phương chiếmtrên 2/3 các loài cây hiện hữu, còn lại 1/3 là các loài cây nhập nội từ nhiềuchâu lục trên thế giới: Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương Các loài câycũng đại diện cho các họ, bộ của hệ thực vật bậc cao có mạch, nổi bật là cácloài cây thuộc ngành thực vật hạt trần và thực vật hạt kín Vào vườn BáchThảo khách tham quan có dịp chiêm ngưỡng các loài cây thân gỗ có đườngkính 2, 3 người ôm; các loại cây thân cột khổng lồ của họ cau dừa; các cây gỗ
có bộ rễ phụ buông dài của nhóm si, đa, đề các loài cây leo thân gỗ, các giòphong lan khoe sắc và các cây cảnh sặc sỡ [14] Bên cạnh đó thì một số vườnthực vật được xây dựng ngay trong các khu bảo tồn vừa phục vụ bảo tồn lạivừa lồng ghép tham quan giải trí, giáo dục đem lại nguồn kinh tế ví dụ nhưvào năm 2012 vườn thực vật tại thôn Cà Đâng, xã Tà Bhinh diện tích xâydựng vườn thực vật này khoảng 50,3 hecta trên khu đất nương rẫy trồng câyhàng năm Vườn thực vật Phong Nha - Kẻ Bàng có diện tích trên 40 hecta[15] Cùng với đó chúng ta đã xây dựng các vườn thực vật ngay trong trườnggiúp học sinh có nơi học tập ngoài giờ lý thuyết khô khan, tất nhiên đồng thờivẫn có thể bảo tồn các loài thực vật như vào năm 2008
Trang 27trường tiểu học Lương Thế Vinh, có diện tích khoảng 300m2 với hơn 100 cácloại cây và các trường tiểu học khác gần vùng lân cận trong địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh Nơi lưu giữ các loài thực vật quý hiếm nhiều không kém đó làVườn Thực vật Cúc Phương, vườn thực vật rộng khoảng 90 ha đến nay đã sưutập và bảo tồn được 535 loài cây Trong đó có 210 loài cây gỗ Cúc Phương, 85loài cây gỗ của các vùng khác ở Việt nam, 5 loài nhập nội, 25 loài thuộc họráy,
20 loài cây ăn quả 15 loài tre trúc, 15 loài cau dừa, 20 loài cây thuốc và 140loài lan Các loài cây đều được chăm sóc và theo dõi sinh trưởng để nghiêncứu quá trình sinh trưởng phát triển Nhiều loài đã ra hoa kết quả và cung cấpcây giống cho các chương trình trồng rừng bằng loài cây bản địa Có diện tíchnhỏ chỉ khoảng 3 ha Vườn thực vật Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam Nằmtrên địa bàn xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, cách Trung tâm thành phố HàNội
12 km về phía Nam, được bắt đầu xây dựng và gây trồng cách đây khoảng 50năm Từ đó đến nay có hơn 4.000 cây thuộc 30 bộ, 60 họ và hơn 200 loàiđược gây trồng phát triển trong Vườn Trong đó, gần 30 loài có tên trong Sách
đỏ Việt Nam và Thế giới, như Sưa, Thông nàng [16] và còn rất nhiều loàinữa Tất cả những vườn thực vật được liệt kê bên trên đều là những vườn thựcvật có khả năng lưu giữ các nguồn gen quý và là nơi tham quan giải trí kết hợpvới học tập và nghiên cứu khoa học Từ những vườn thực vật đã và đang xâydựng tại Việt Nam có thể nhận thấy con người đang dần có suy nghĩ tích cựchơn về việc bảo vệ và giá trị của thiên nhiên
Trang 282.3.2 Nghiên cứu về trồng cây bản địa
Ở nước ta, việc tuyển chọn các loại cây bản địa có những ưu thế sinhtrưởng nhanh, có giá trị cao và khả năng bảo vệ tài nguyên đất nước tốt là việclàm mang ý nghĩa thực tiễn và có cơ sở khoa học Trong những năm gần đây,
đã có nhiều tác giả đi sau nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số loài cây bảnđịa ở Việt Nam
Năm 2009, Phạm Văn Bốn [2] thực hiện “Bước đầu đánh giá khả năng
sinh trưởng của cây Lim xanh (erythrophloeum fordii oliv) tại Bình Phước”.
Điều tra sinh trưởng trên cây Lim xanh 10 năm tuổi và 3 năm tuổi cho thầyLim xanh rất thích hợp trồng trên đất Bình Phước (khu vực Đông Nam Bộ),
kể cả cho làm giàu rừng và trồng rừng thuần loài Trong mô hình làm giàurừng theo rạch, sau 10 năm, tỷ lệ sống đạt từ 53%-75%, tăng trưởng bìnhquân năm đạt
1,25cm/năm về đường kính và 1,35m/năm về chiều cao Trong mô hình rừngtrồng thuần loài, sau 3 năm, tỉ lệ sống còn 81,81%, tăng trưởng đạt 2,15cm/năm về đường kính và 1,93m/năm về chiều cao Tuy nhiên, đây mới là kết quảbước đầu, cần tiếp tục mở rộng quy mô nghiên cứu trên diện rộng, với nhiềuloại đất khác nhau trong khu vực nhằm bổ sung loài cây này vào danh mục cácloài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất trong khu vực sinh thái Đông Nam
Bộ, đồng thời góp phần vào công tác bảo tồn nguồn gen
Năm 1960, Lưu Phạm Hoành, Lê Cảnh Nhuệ, Trần Nguyên Giảng… đãtiến hành nghiên cứu thử nghiệm cải tạo và làm giàu rừng bằng những loài câybản địa như Lim xanh, Chò nâu, Ràng ràng mít, Vạng trứng… theo phươngthức cải tạo chặt trắng, cải tạo theo băng, trồng dưới tán
Chương trình 327 với định hướng trồng hừng phòng hộ theo hướng hỗnloài 500 cây bản địa + 1000 cây phụ trợ Khi thực thi có hơn 60 tỉnh thành phố
đã trồng rất nhiều mô hình rừng trồng hỗn loài khác nhau với hơn 70 loài cây
Trang 29Theo Thẩm Đức Thuận năm 2017[12] Đánh giá tình hình sinh trưởngcủa một số loài cây bản địa trồng trong mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn tạiCao Phong - Hòa Bình trên cây Lim xanh, Re hương, Lim xẹt cho thấy Ở câyLim xẹt đường kính tán lá dao động từ 3,5 - 4,1 m, trung bình 3 OTC là 4,0 m,còn về hệ số biến động từ 15,8 - 22,4%, hệ số biến động trung bình 3 OTC là18,7%, tăng trưởng bình quân về đường kính tán lá của Lim xẹt đạt 0,3 m/năm.
Đối với cây Re hương có sinh trưởng đường kính tán lá từ 6,1 - 6,7 m,trung bình 3 OTC là 6,4 m, có hệ số biến động từ 19,9 - 24,3%, trung bình 3 ôtiêu chuẩn là 22,7%, tăng trưởng bình quân về đường kính tán lá của Rehương đạt 0,4 m/năm
Với cây Lim xanh đường kính tán lá dao động từ 4,4 - 4,9 m, trung bình 3
OTC là 4,6 m, có hệ số biến động từ 16,0 - 20,8%, trung bình 3 OTC là 17,7%,tăng trưởng bình quân về đường kính tán lá của Lim xanh đạt 0,3 m/năm
Triệu Văn Hùng (1993) [4], đã nghiên cứu về “Đặc tính sinh vật họccủa một số loài cây làm giàu rừng (Trám trắng, Lim xẹt )” có nhận xét: Trong
tổ thành rừng tự nhiên Trám trắng chỉ đạt trung bình 3,87% về số cây và6,84% về chữa lượng ô tiêu chuẩn Xét ở trạng thái rừng IIIA1, Trám trắngchiếm tỷ lệ cao hơn so với IIIa2 Trong rừng rất hay gặp Trám trắng với một
số loài cây bạn như Kháo vàng, Giẻ, Lim xẹt, Hu đay, Sau sau, Xoan nhừ,Xoan ta, Vối thuốc
Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất khi nghiên cứu đề tài: “Xác định cơcấu cây trồng và xây dựng quy định hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loàicây chủ yếu phục vụ chương trình 327” trong 2 năm 1997 - 1998 đã chọn đượctập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng được quy trình, hướng dẫn kĩthuật cho 20 loài cây như Lát hoa, Muống đen, Trám trắng, Tếch, Dầu rái
Trang 30Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) đã đưa ra các nghịch lí cơ bản về cây bảnđịa trong đó có nêu rõ những khó khăn khi đưa cây bản địa vào trồng rừng ởnước ta [9].
Trong báo cáo chuyên đề về cây Huỷnh (Tarrietia javannica Kost), Bùi
Đoàn đã có nhận xét: “Huỷnh được coi là một trong những cây bản địa chủyếu trong công tác trồng rừng” ở Nam Trung Bộ, đặc biệt là ở Quảng Bình
Phùng Ngọc Lan (1994), nghiên cứu một số đặc tính sinh thái loài Limxanh đã xác nhận: Vùng phân bố của loài Lim xanh rất rộng và có ở hầu hếtcác tỉnh phía bắc nước ta (từ đèo Hải Vân trở ra) với độ cao phân bố từ 900 mtrở xuống phía nam và 500 m trở xuống ở phía bắc Sinh trưởng thích hợp ởvùng núi bát úp tháp, độ dốc nhỏ hơn 20o hoặc ở chân đồi chân núi nơi dốc tụ[8]
Viện Khoa học Lâm nghiệp khi nghiên cứu về hai loài cây để cải tạorừng nghèo kiệt tại Vũ Mễ (Bắc Sơn) và Đồng Hỷ (Thái Nguyên) là Dẻ đỏ vàKháo vàng từ những năm 1972 đến những năm sau 1975 một số lâm trườngnhư Bắc Sơn, Võ Nhai, Đồng Hỷ đã nhân rộng hoặc cải tạo theo băng (15 - 30m) hoặc theo đám Cho đến nay việc đánh giá các mô hình này rất khó khăn vì
đã bị tàn phá
Từ kết quả nghiên cứu “Đặc điểm một số nhân tố tiểu hoàn cảnh củarừng trồng thử nghiệm hỗn giao cây lá rộng nhiệt đới tại phân khu phục hồisinh thái vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng)” và “Nghiên cứu thực nghiệm cây
trồng bản địa dưới tán rừng Thông đuôi ngựa (Pinus massonianna) và Keo lá tràm (acacia auriculiformis) tại khu rừng thực nghiệm trường đại học Lâm
nghiệp tác giả Phạm Xuân Hoàn (2002) đã rút ra 1 số kết quả, như tăngtrưởng của một số loài cây bản địa trồng dưới tán rừng trông rất là tốt, đặc biệt
là dưới tán rừng trồng Keo lá tràm và Thông đuôi ngựa, đồng thời cũng đãđịnh lượng được một số nhân tố ảnh hưởng chính đến sinh trưởng cây bản địanhư độ tàn che của tầng cây cao, cường độ ánh sáng, đất
Trang 31Vi Hồng Khanh (2003), khi đánh giá sinh trưởng của một số loài câybản địa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển rừng ở Cầu Hai - Phú Thọ đãkết luận: Phần lớn các xuất sứ Lim xanh đều có tỷ lệ sống cao và sinh trưởngtốt đồng thời trồng 34 loài cây bản địa nơi nghiên cứu đã chọn các loài cây sauđây để đánh giá sinh trưởng là Re Gừng, Giổi xanh, Xoan đào, Lim xanh, Limxẹt, Trám trắng, Giẻ cau, Giẻ đỏ, Chiêu liêu, Giổi xanh là những loài cây mọcnhanh thích ứng nhanh, phát triển tốt, ít bị sâu bệnh có khả năng nhân rộng vàphát triển cho các điều kiện lập địa tương tự [6].
Năm 1994 trong hội thảo về tăng cường các công trình trồng rừng ởViệt Nam với sự phối hợp giữa Bộ Lâm nghiệp, dự án tăng cường các chươngtrình trồng rừng ở Việt Nam (STRAP) và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản(JICA) đã đưa ra khuyến nghị quan trọng là cần có nhiều thông tin hơn về loàicây bản địa để cho các địa phương tham khảo và tìm chọn loài cây phục vụcho trồng rừng Nhằm đáp ứng được phần nào yêu cầu trên, dự án STRAP đãcùng với Viện Khoa học Lâm nghiệp thực hiện một dự án “Xác định các loàicây bản địa chất lượng cao để trồng rừng ở Việt Nam” Kết quả đã đưa ranhững thông tin có hệ thống và tổng hợp về 210 loài cây cho gỗ chất lượngcao dùng để làm nhà ở và đồ mộc cao cấp Qua đó cũng thấy tiềm năng củacây bản địa ở từng vùng cũng như trong cả nước rất phong phú nhưng số cây
đã có kĩ thuật, có mô hình, có khả năng trồng rừng còn quá ít Do vậy cần phảiđẩy mạnh nghiên cứu thử nghiệm những cây còn lại mới có thể biến tiềm năngthành hiện thực Ngoài ra cần tập trung nghiên cứu và phát triển những cây cógiá trị cao để tạo nguồn cây chủ lực cho từng vùng và cho cả nước
Qua nhiều năm nghiên cứu Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam(2000) [17], đã đề xuất trên 100 loài cây bản địa cho các chương trình trồngrừng phục vụ cho cả 3 loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
Trang 322.4 Khái quát một số đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu
Địa điểm xây dựng mô hình vườn thực vật nằm trong Mô hình khoaLâm nghiệp và nằm trong diện tích của trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên, Mô hình có diện tích khoảng 0.8 hecta và mô hình nghiên cứu chiếm0.26 ha trên tổng diện tích [3]
a Đất đai
Đất đai của Mô hình khoa Lâm Nghiệp được hình thành do hai nguồngốc: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sabồi tụ
Nhóm đất phù sa chiếm tỷ lệ ít, là nhóm đất ở địa hình bằng, được bồiđắp bởi sản phẩm phù sa của dòng chảy của các suối và do thời tiết, thời gianđược chia thành Đất phù sa không được bồi tụ hàng năm trung tính ít chua,thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình đất phù sa ít được bồi hàng nămtrung tính ít chua, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ
Nhóm đất xám bạc màu: phát triển trên đất phù sa cổ có sản phẩm Feralitictrên nền cơ giới nặng, đây là đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ, dễ bị xóimòn, rửa trôi
Nhóm đất Feralit: Phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triểntrên phù sa cổ, dăm cuội kết và cát kết, loại đất này diện tích khá lớn
Đất khu vực mô hình khoa Lâm Nghiệp là đất dốc tụ pha cát lẫn với đá nhỏ,đất có màu xám đen, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp do đã sử dụngnhiều năm Đất feralit, nguồn gốc của đất xuất phát từ đá sa thạch, độ pH củađất thấp, đất nghèo mùn Đất có độ màu mỡ thấp nên cây con sinh trưởng vàphát triển mức trung bình, đôi khi có cây phát triển kém [10]
b Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm nằm trong khuvực xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ các đặc điểmkhí hậu của thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chialàm 4 mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông Có 2 mùa chính: Mùa mưa và mùa khô.Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Trang 332.5 Khái quát một số đặc điểm của 6 loài cây bản địa được chọn để nghiên cứu
Kế thừa các tài liệu nghiên cứu đã có và quy trình kỹ thuật trồng rừngcủa Viện Khoa học Lâm nghiệp cho thấy một số đặc điểm sinh thái học cơ bảncủa Sưa đỏ, Lim xanh, Lim xẹt, Vàng anh, Cẩm lai và Giáng hương như sau:
2.5.1 Sưa đỏ (Dalbergia tonkinensis)
2.5.1.1 Đặc điểm nhận biết
Hình 2.1: Sưa đỏ trong vườn thực vật
Là cây gỗ nhỡ, rụng lá theo mùa, cao từ 6-12m (cũng có thể cao tới15m), sinh trưởng trung bình Thân cây dạng hợp trục, dáng phân tán Vỏ thâncây màu vàng nâu hay xám, nứt dọc Cành non màu xanh, có lông mịn thưa
Lá mọc cách, cấu tạo lá dạng kép lông chim lẻ, mỗi là kép có từ 9-17 lá chétđính
Trang 34so-le trên cuống chính Lá chét hình xoan thuôn, đầu nhọn hoặc có mũi ngọn,đuôi tròn, mặt dưới phiến lá thường có màu tái trắng Kích thước lá chét dài từ6–9 cm, rộng từ 3–5 cm, lá ché đính ở đầu cuống kép thường có kích thướclớn hơn các lá còn lại Cuống chính và các cuống lá chét không lông, phiên láchét không lông Có lá kèm nhỏ không lông, sớm rụng [1]
2.5.1.2 Đặc tính sinh học và sinh thái
Là cây ưa sáng, ưa đất sâu, dày, độ ẩm cao Phân bố ở đai độ cao tuyệtđối dưới 500m Trong tự nhiên tìm thấy trong rừng mưa nhiệt đới và rừngmưa nhiệt đới gió mùa
- 5 đôi cuống thứ cấp và mỗi cuống mang 9 - 15 lá chét hình trái xoan, đầunhọn, gốc tròn dài
4,5 - 6 cm, rộng 3 - 3,5 cm, hai mặt nhẵn bóng Gân lá nổi rõ ở cả hai mặt [1]
Hoa tự kép hình bông, dài 20 - 30 cm, hoa nhỏ, màu hoa trắng xanh,hoa lưỡng tính gần đều, đài 5 cánh hợp hình chuông, tràng màu xanh vàng 5cánh hẹp và dài, nhị 10, chỉ nhị rời, bầu phủ nhiều lông Quả đậu hình trái
Trang 35Hình 2.2: Lim Xanh trong vườn thực vật
xoăn thôn dài, dài 20 - 25 cm, rộng 3,5 - 4 cm Hạt dẹt màu nâu đen, xếp lập lên nhau, vỏ hạt cứng, dây rốn dày và to gần bằng hạt
2.5.2.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái
Cây mọc chậm, tốc độ thay đổi theo từng giai đoạn tuổi và vùng phân
bố Tăng trưởng trung bình 10 năm đầu 0,5 – 0,7 m về chiều cao và 0,5 – 0,7
cm về đường kính trong 1 năm, sau đó có thể mọc nhanh hơn
Mùa ra hoa tháng 3 - 5, quả chín tháng 10 - 11 Cây ưa sáng nhưng khicòn nhỏ chịu bóng Mọc tốt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới mưa mùa nơi cónhiệt độ trung bình năm 22,4 - 24,10C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 42,30C,thấp nhất tuyệt đối -1,40C Lượng mưa trung bình hàng năm 1500 - 2859 mm.Năm có 3 - 9 tháng khô
Trang 362.5.2.3.Phân bố địa lý
Là cây đặc hữu của Việt Nam, phân bố ở đai thấp vùng có lượng mưa
1500 - 3000 mm/năm, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, HoàBình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Huế, Quảng Nam tới Bình Thuận
2.5.2.4 Giá trị
Giác gỗ màu xám vàng nhạt khá dày, lõi màu xanh vàng sau nâu sẫm,dăm thô, thớ xoắn, nặng và chịu được ngoài mưa nắng Giác dễ bị mỗi mọt
Có thể dùng gỗ để làm các công trình lớn, làm nhà, đóng tàu, đóng bàn ghế,làm tà vẹt Than Lim cho nhiệt lượng cao Vỏ chứa nhiều chất chát dùng đểnhuộm
2.5.3 Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum)
2.5.3.1 Đặc điểm nhận biết
Lim Xẹt là loại cây thân gỗ, cao khoảng 20 - 25 m, thân màu xám trắng,phân cành thấp và mập mập, tán thưa, cành non phủ dày lông màu gỉ sắt
Lá lim xẹt có cuống chung dài: 25 - 30 cm mang 4 - 10 đôi lá cấp 1, mỗi
lá cấp 1 mang 10 - 22 đôi lá chét, lá nhỏ thuôn đầu tròn, xếp đều đặn Lá képnguyên [1]