1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN BA XÃ THUỘC BAN QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ ĐẦU NGUỒN ĐA NHIM TỈNH LÂM ĐỒNG

131 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn ba xã thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện vớ

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN BA XÃ THUỘC BAN QUẢN LÝ RỪNG

PHÒNG HỘ ĐẦU NGUỒN ĐA NHIM TỈNH LÂM ĐỒNG

Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

4 Phản biện 2: PGS.TS NGUYỄN DANH

5 Ủy viên: TS NGUYỄN NGỌC THUỲ

Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Ký tên

VÕ ĐÌNH THỌ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Xin cảm ơn các quý Thầy, Cô đã tận tình giảng dạy trong suốt chương trình đào tạo thạc sỹ (2009 -2011)

Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Bùi Việt Hải, Thầy

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ bản thân hoàn thành cuốn luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện hoàn thành đề tài tốt nghiệp này

Tác giả cũng xin cảm ơn sự hỗ trợ của các bạn học viên lớp Cao học Lâm nghiệp 2009 tại Lâm Đồng, sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng nghiệp và bạn bè

TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2011

Tác giả: VÕ ĐÌNH THỌ

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn ba xã thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện với mục tiêu là đánh giá kết quả từ các hoạt động triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) đối với các đối tượng được chi trả Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 9 năm 2011 tại địa bàn ba xã Đa Sar, Đa Nhim và Đa Chais của huyện Lạc Dương, tỉnh lâm Đồng

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) với các công cụ sau: (i) Phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ chốt; (ii) Phỏng vấn hộ gia đình thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn, ưu tiên cho những hộ đã tham gia nhận khoán QLBVR; (iii) Thảo luận nhóm có trọng tâm với hai đối tượng: nhóm cán bộ công chức của BQL rừng phòng hộ Đa Nhim, nhóm những người dân đang nhận khoán QLBVR ở các cộng đồng

Những kết quả đạt được của đề tài là:

- Đến thời điểm 2010, tổng diện tích đã nhận khoán của các tổ chức và hộ gia đình là 36.201,6 ha, trong đó phần giao cho các hộ gia đình chiếm 75,8% Phần diện tích rừng đã được giao khoán lớn nhất là xã Đa Sar, sau đến Đa Nhim và cuối cùng là xã Đa Chais Trên diện tích giao khoán, đã có 5 tổ chức tập thể nhà nước và

869 hộ gia đình của 3 xã nghiên cứu nhận khoán Ngoài ra còn có 57 đơn vị doanh nghiệp nhà nước và tư nhân thuê đất và rừng với tổng diện tích 7.580,8 ha

- Thu nhập trung bình các hộ nhận khoán trong vùng khảo sát có khác nhau giữa các xã, khoảng 13- 15 triệu/hộ/năm ở xã Đa Nhim và Đa Chais, trung bình 34,8 triệu/hộ/năm ở xã Đa Sar Khoảng cách thu nhập giữa nhóm thu nhập cao và nhóm thu nhập thấp là 5 lần Nguồn đóng góp chính cho thu nhập của hộ gồm nông nghiệp và lâm nghiệp, trong đó phần chủ yếu là trồng trọt và khoán bảo vệ rừng Thu nhập năm 2009 bình quân chung là 21,5 triệu/hộ, trong đó phần đóng góp của

Trang 6

nhận khoán chiếm 36,8% tổng thu nhập Do thu nhập tăng từ khoán (bởi PES/380)

mà hộ nghèo giảm vào năm 2009 với 38% số hộ so với năm 2008

- Danh sách những đối tượng được chi trả dịch vụ MTR bao gồm: (i) 5 tổ chức nhà nước có rừng nhận khoán tại Đa Sar và Đa Nhim với tổng diện tích là 2.288 ha; (ii) 869 hộ gia đình được giao khoán bảo vệ rừng tại xã Đa Sar, Đa Nhim

và Đa Chais với tổng diện tích là 25.078 ha

- Với các tổ chức hay doanh nghiệp đang thuê đất hay rừng, ưu tiên chi trả dịch vụ MTR cho: (i) nhóm các doanh nghiệp có mục đích bảo vệ rừng hay trồng rừng, (ii) nhóm các doanh nghiệp có mục đích sản xuất nông lâm kết hợp với các hoạt động khác Không thực hiện chi trả cho các doanh nghiệp không liên quan gì đến bảo vệ rừng hoặc sản xuất nông lâm nghiệp trên đất được giao

- Số tiền chi trả hiện tại là 290.000 đồng/ha/năm Căn cứ vào bình quân thu nhập/hộ hiện nay ở toàn vùng khoảng 21,5 triệu/năm thì vấn đề thu nhập từ nhận khoán có thể chiếm đến 50% tổng thu sẽ trở thành hiện thực nếu đơn giá chi trả là 400.000 đồng/ha/năm đề nghị được thực hiện

- Đề tài kiến nghị cần nghiên cứu sâu hơn về tác động của việc thực hiện chi trả MTR đối với chất lượng và số lượng tài nguyên rừng Quan trọng là giá trị của tài nguyên rừng dẫn đến lợi ích gián tiếp mà MTR đem lại

Trang 7

The study mainly used the participatory rural appraisal for data collection with certain tools as listed: (i) Key informant interview; (ii) Household interview

by using questionnaire, of which priority was given the households received the Forest protection Contract; (iii) Focus group discussion with two groups of stakeholder: staffs of Committee of watershed forest protection of Da Nhim and people whose engaged in Forest protection Contract in the communes

The results of the thesis:

- Up to the year of 2010, the total area of the forest under the Forest protection contract of households and other organizations was 36,201.6 ha, of which households account for 75.8% The largest area under the Forest protection Contract was in Da Sar commune, then Da Nhim commune and Da Chais The area

of the forest under the forest protection Contract was given to 5 state agencies and

869 households in three communes Besides, there were 57 state and private enterprises hired forests and forestland with the total area 7,580.8 ha

- Average income of contracted households was different among the three communes It is 13- 15 million/household/year in Da Nhim and Da Chais and 34.8 million/household/year in Da Sar The income of households mainly came from agricultural and forestry activities, of which crops and Forest protection contract were significant Average income of the year 2009 was 21.5 million

Trang 8

VND/household, of which the contribution of forest protection contract account for 36.8% of total income Because of the increasing of income (by PES/380), the number poor households decreased to 38% in the year 2009 in compare to 2008

- The list of people and organizations take the pay environment services: (i)

5 state agencies in Da Sar and Da Nhim with the area of 2,288 ha; (ii) 869 households in Da Sar, Da Nhim and Da Chais with the area of 25,078 ha

- State and private enterprises hired forests and forestland, PES give the priority to: (i) enterprises which aim at forest conservation or forest plantation, (ii) enterprises aim at agroforestry production combines with other activities and, (iii) not to PES to enterprises which have no activities related to forest conservation or agro- forestry activities

- With the amount of 290,000 dong/ha/year, compare to the average income

in the study site about 21.5 million/year, the income from forest protection contract may account for 50% of total income of households if the recommended 400,000 dong/ha/year was implemented

- The study recommended further research need to be conducted on the impacts of PES implementation on forest resources in terms of quality and quantity The important thing was the value of services which the forest induces to the PES

Trang 9

MỤC LỤC

Trang chuẩn y i

Lý lịch cá nhân ii Lời cam đoan iii Lời cám ơn iv Tóm tắt luận văn v Mục lục ix Danh sách các bảng xii Danh sách các hình xiv Danh sách chữ viết tắt xv ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng 4

1.1.1 Chính sách của nhà nước về chi trả dịch vụ môi trường rừng 4

1.1.2 Khả năng thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng ở nước ta 6

1.2 Cách tiếp cận nghiên cứu có sự tham gia dựa vào cộng đồng 10

1.3 Các nghiên cứu và hoạt động liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng 12 1.4 Một số thảo luận 17

Chương 2: ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu 21

2.1.1 Vị trí địa lí và địa hình 21

2.1.2 Khí hậu và thuỷ văn 21

Trang 10

2.1.3 Tài nguyên rừng 22

2.1.4 Tình hình kinh tế xã hội của địa phương trong khu vực nghiên cứu 24

2.1.5 Quá trình hình thành và thực thi thí điểm chi trả dịch vụ MTR 26

2.2 Nội dung nghiên cứu 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Phương pháp luận 29

2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 31

2.3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 31

2.3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 32

2.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 34

2.3.4 Công cụ xử lí và phân tích thông tin 37

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiện trạng kinh kế-xã hội và quá trình thực hiện giao khoán bảo vệ rừng 38

3.1.1 Hiện trạng kinh tế-xã hội của cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng 38

3.1.1.1 Một số đặc điểm chung 38

3.1.1.2 Đặc điểm của từng cộng đồng 41

3.1.1.3 Sinh kế và thu nhập của các cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng 42

3.1.2 Hiện trạng quá trình thực hiện khoán bảo vệ rừng ở các cộng đồng 46

3.1.2.1 Hiện trạng đất rừng và loại rừng tại khu vực 3 xã nghiên cứu 46

3.1.2.2 Các đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng ở 3 xã nghiên cứu 48

3.1.2.3 Diện tích đã giao khoán, sẽ giao khoán và không thể giao khoán 53

3.1.3 Thuận lợi và khó khăn của quá trình thực hiện giao khoán 57

3.1.4 Một số thảo luận 59

3.2 Các đối tượng nhận chi trả dịch vụ môi trường rừng 61

3.2.1 Thống kê, phân loại tài nguyên rừng dựa trên hiện trạng tự nhiên 61

3.2.2 Thống kê, phân loại đối tượng được nhận chi trả dịch vụ MTR 65

3.2.2.1 Đối tượng nhận chi trả dịch vụ MTR là các tổ chức 66

3.2.2.2 Đối tượng nhận chi trả dịch vụ MTR là các hộ gia đình 70

3.2.3 Một số thảo luận 72

Trang 11

3.3 Các kết quả đánh giá tình hình thực hiện chi trả dịch vụ MTR 74

3.3.1 Chính sách chi trả dịch vụ MTR đối với quản lí bảo vệ rừng 74

3.3.2 Kết quả thực hiện khoán rừng và ảnh hưởng tới đời sống cộng đồng 78

3.3.2.1 Tổng thu nhập và thu nhập từ nhận khoán của hộ gia đình 78

3.3.2.2 Cải thiện thu nhập và giảm nghèo từ thực hiện chi trả MTR 81

3.3.3 Đề xuất các biện pháp thực hiện đối với chi trả dịch vụ MTR 83

3.3.3.1 Đề xuất biện pháp từ chủ rừng BQL Đa Nhim 83

3.3.3.2 Xác định đối tượng và số tiền chi trả dịch vụ 84

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 1 Kết luận 86

2 Đề nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHẦN PHỤ LỤC Phụ lục 1 Câu hỏi phỏng vấn 93

Phụ lục 2 Kết quả thảo luận nhóm 100

Phụ lục 3 Kết quả điều tra hộ gia đình 104

Phụ lục 4 Kết quả tính toán trên Statgraphics 112

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BẢNG

BẢNG TRANG

Bảng 2.1 Hiện trạng che phủ tự nhiên ở lưu vực thuỷ điện Đa Nhim 23

Bảng 2.2 Diện tích và dân số của 3 xã tại khu vực nghiên cứu 25

Bảng 2.3 Thống kê diện tích giao khoán của các chủ rừng trong khu vực 28

Bảng 2.4 Khung logic các vấn đề nghiên cứu đã thực hiện trong đề tài 36

Bảng 3.1 Hiện trạng dân tộc, nghề nghiệp và mức độ giàu nghèo của hộ 39

Bảng 3.2 Hiện trạng phân bố số hộ theo nhân khẩu của các hộ điều tra 39

Bảng 3.3 Hiện trạng về số nhân khẩu và lao động của các cộng đồng 40

Bảng 3.4 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở các cộng đồng qua các năm 40

Bảng 3.5 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ ở các cộng đồng 43

Bảng 3.6 Hiện trạng phân bố số hộ theo diện tích đất mà hộ sử dụng 43

Bảng 3.7 Diện tích đất sản xuất và thu nhập bình quân trên đất của hộ 44

Bảng 3.8 Tình trạng phụ thuộc vào lâm sản và loại lâm sản sử dụng của hộ 45

Bảng 3.9 Hiện trạng cảnh quan và mức độ che phủ ở lưu vực Đa Nhim 46

Bảng 3.10 Thống kê diện tích đất và loại rừng tại các xã nghiên cứu 47

Bảng 3.11 Thống kê diện tích đất và rừng giao khoán tại các xã nghiên cứu 49

Bảng 3.12 Diện tích đã giao khoán cho các tổ chức và hộ gia đình (2009) 50

Bảng 3.13 Các tổ chức tập thể nhận khoán bảo vệ rừng cho BQL Đa Nhim 51

Bảng 3.14 Phân bố của hộ gia đình và diện tích nhận khoán ở các xã 52

Bảng 3.15 Năm giao khoán và quá trình nhận khoán ở các hộ điều tra 52

Bảng 3.16 Diện tích đất, rừng và rừng giao khoán ở các xã nghiên cứu 53

Bảng 3.17 Hiện trạng phân bố số hộ theo diện tích đất giao khoán cho hộ 56

Bảng 3.18 Hiện trạng diện tích giao khoán bình quân/hộ ở các xã điều tra 56

Bảng 3.19 Hiện trạng đất lâm nghiệp phân theo loại rừng ở các xã 61

Trang 13

Bảng 3.20 Các tổ chức tập thể nhận khoán bảo vệ rừng cho BQL Đa Nhim 67

Bảng 3.21 Phân bố của số tổ chức và diện tích thuê đất/ rừng ở các xã 67

Bảng 3.22 Phân loại các doanh nghiệp làm cơ sở cho việc chi trả dịch vụ 69

Bảng 3.23 Thống kê các hộ gia đình làm cơ sở cho việc giao khoán 70

Bảng 3.24 Phân loại hộ gia đình nhận khoán theo tình trạng xã hội 71

Bảng 3.25 Phân loại hộ gia đình nhận khoán theo hiện trạng sử dụng đất 71

Bảng 3.26 Số vụ vi phạm liên quan đến phá rừng và lấn đất được báo cáo 76

Bảng 3.27 Hiện trạng về thu nhập/hộ và thu nhập/người ở các cộng đồng 78

Bảng 3.28 Hiện trạng về thu nhập/hộ và tỷ lệ thu nhập (%) từ các nguồn 80

Bảng 3.29 So sánh thu nhập giữa hai năm trước và sau khi có PES/380 81

Trang 14

DANH SÁCH CÁC HÌNH

HÌNH TRANG

Hình 2.1 Bản đồ che phủ tự nhiên ở lưu vực Đa Nhim .24

Hình 2.2 Mối quan hệ giữa các thành phần của hệ thống dịch vụ MTR 30

Hình 3.1 Tỷ lệ (%) diện tích các loại rừng hiện có ở các xã nghiên cứu 47

Hình 3.2 Diện tích và cơ cấu phân bố các loại rừng ở các xã nghiên cứu 48

Hình 3.3 Diện tích rừng tự nhiên và diện tích rừng giao khoán ở các xã 54

Hình 3.4 Diện tích rừng đặc dụng và phòng hộ so với diện tích rừng tự nhiên 54

Hình 3.5 Tổng diện tích và diện tích rừng tự nhiên ở các xã nghiên cứu 62

Hình 3.6 Bản đồ vị trí và hiện trạng tài nguyên rừng của 3 xã 63

Hình 3.7 Tỷ lệ (%) các loại trạng thái rừng ở các xã nghiên cứu 64

Hình 3.8 Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình từ các thành phần chính 79

Hình 3.9 So sánh tổng thu nhập với thu nhập từ NN và LN của các hộ 80

Hình 3.10 So sánh tổng thu nhập và thu khoán năm 2008 với năm 2009 82

Hình 3.11 So sánh số lượng hộ nghèo của năm 2008 với năm 2009 83

Trang 15

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

BQL BV&PTR

CBCNV

CDM

CTLN ĐDSH ĐTQH BB-DV

KT-XH

MTR LSNG LNXH NLKH NN&PTNT

PRA PES

PES/380

QLBVR

SXNN SXLN UBND VQG WWF

Ban quản lí Bảo vệ và Phát triển rừng Cán bộ công nhân viên (Clean Development Mechanism)

Cơ chế phát triển sạch Công ty Lâm nghiệp

Đa dạng sinh học Điều tra Quy hoạch Buôn bán - dịch vụ Kinh tế - xã hội Môi trường rừng Lâm sản ngoài gỗ Lâm nghiệp xã hội Nông Lâm kết hợp Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Participatory Rural Appraisal) Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (Payment for Environment Services)

Chi trả dịch vụ môi trường Chi trả dịch vụ môi trường theo quyết định 380 Quản lý bảo vệ rừng

Sản xuất nông nghiệp Sản xuất lâm nghiệp

Ủy ban nhân dân Vườn quốc gia (World Wildlife Fund) Quỹ động vật hoang dã thế giới

Trang 16

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Tỉnh Lâm Đồng có tỷ lệ che phủ của rừng chiếm 61,5% diện tích tự nhiên (UBND tỉnh Lâm Đồng, 2010), cao hơn so với tỷ lệ bình quân của cả nước là 39,5% (theo Bộ NN&PTNT, 2011) Rừng Lâm Đồng là nơi tạo lập sinh thủy của những dòng sông lớn, là yếu tố cực kỳ quan trọng về môi trường sinh thái không chỉ cho địa phương mà còn đối với cả khu vực Ngoài các nguồn lợi từ hoạt động khai thác lâm sản, kinh doanh du lịch, nghỉ dưỡng, rừng ở đây còn mang lại những lợi ích về khai thác thủy điện, cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, đảm bảo năng lực phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ môi trường cảnh quan khu vực, bảo vệ đất và phòng chống xói mòn

Trong nhiều năm qua, những người tham gia quản lý bảo vệ và tái tạo rừng

ở Lâm Đồng chỉ hưởng một phần giá trị sử dụng trực tiếp hoặc hưởng tiền công do nhà nước chi trả, còn giá trị sử dụng gián tiếp của rừng mang lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội và các tổ chức, cá nhân kinh doanh lại không được quan tâm đến Tại Lâm Đồng, người dân trực tiếp tham gia giữ rừng ở các vùng sâu vùng xa còn là đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 22% dân số toàn tỉnh), họ cần được cải thiện về sinh kế và tài chính để góp phần giảm nghèo (Sở NN&PTNT Lâm Đồng, 2009) Phần tài chính được lấy từ việc hưởng lợi giá trị gián tiếp của rừng thông qua một

tổ chức và cơ chế chi trả thống nhất trong toàn vùng, gọi là Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) Đó chính là cơ sở của việc thực hiện chính sách “chi trả dịch vụ môi trường” (PES), trong đó có môi trường rừng (MTR)

Từ năm 2009, Chính phủ cho áp dụng chính sách thí điểm chi trả dịch vụ MTR tại tỉnh Lâm Đồng (QĐ380/QĐ-TTg, 2008) Qua việc thực hiện cơ chế tài chính này thì những người hưởng lợi gián tiếp từ rừng phải có trách nhiệm đóng góp, còn những người trực tiếp bảo vệ và phát triển rừng sẽ được trả công nhiều

Trang 17

hơn, nhằm cùng nhau bảo vệ và phát triển rừng Bên cạnh, sẽ góp phần cải thiện thêm đời sống kinh tế của người dân trực tiếp giữ rừng, mà tại Lâm Đồng, đa số là đồng bào dân tộc thiểu số Đây cũng là thực hiện xã hội hoá nghề rừng, từng bước tạo lập cơ sở kinh tế bền vững cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là bảo đảm nguồn nước cho sản xuất điện, sinh hoạt và các hoạt động khác

Theo Trần Kim Thanh (2010), mức độ đồng thuận cao của người dân về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quyết định 380 (viết tắt là PES/380) đã được ghi nhận Hầu hết các hộ ở huyện Lạc Dương đã đánh giá rằng PES/380 là một chính sách tốt và nên được tiếp tục Các chi trả bảo vệ rừng theo chính sách này cao gần gấp 3 lần so với mức trước đây Tuy nhiên, không thể kỳ vọng rằng rừng có thể được bảo vệ bằng cách chi trả mức cao hơn Điều đó còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó cần đến: (i) sự quản lý tốt hơn của các cơ quan quản lí nhà nước đang là chủ rừng; (ii) việc thực thi các qui định về khoán quản lí bảo vệ rừng của người được giao khoán bảo vệ rừng theo thoả thuận trong hợp đồng Các khía cạnh này cần được nghiên cứu thêm để có một bức tranh rõ nét và

có hành động mang tính chiến lược hơn Để đạt được, trước hết cần phải có những kết quả đánh giá qua thời gian thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ ở địa bàn các huyện trong tỉnh Lâm Đồng, trong đó có BQL rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim

Nhằm góp phần xây dựng các phương án chi trả một cách có cơ sở thực tiễn,

trước hết là trên phạm vi huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, theo đó đề tài “Đánh giá kết quả thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn ba xã thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng” đã

được thực hiện

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

+ Mô tả quá trình thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ rừng đã được thực hiện, thuận lợi và khó khăn của quá trình này Từ đó xác định được những yếu tố

có ảnh hưởng tới quá trình thực hiện giao khoán trước đây

Trang 18

+ Xác định các đối tượng đang nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng ở khu vực nghiên cứu dựa trên sự phân cấp quản lí (tổ chức nhà nước, tổ chức tư nhân, hộ

gia đình và cá nhân)

+ Đánh giá kết quả của việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng về đời sống kinh tế và xã hội của cộng đồng được thực hiện chi trả (so với trước khi áp dụng chính sách này)

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài giới hạn là tài nguyên rừng (chủ yếu là rừng

tự nhiên) thuộc quyền quản lý của BQL rừng phòng hộ Đa Nhim và các hộ dân được nhận giao khoán bảo vệ rừng thuộc cộng đồng dân cư 3 xã đang sinh sống

trong khu vực này nhưng trong địa bàn của huyện Lạc Dương

- Đối tượng được chi trả dịch vụ MTR ở đây hiểu theo 2 nghĩa: tài nguyên rừng và chủ rừng quản lý tài nguyên ấy Chủ rừng cũng được phân biệt ra chủ rừng quản lí về phía nhà nước như VQG, BQL và chủ rừng nhận khoán đang bảo vệ trực tiếp rừng của mình Việc phân cấp các loại chủ rừng sẽ là khâu quan trọng để đảm bảo tính bền vững của dịch vụ chi trả

- Về phạm vi: Lưu vực thủy điện Đa Nhim nằm trên địa bàn hành chính của huyện Lạc Dương, huyện Đơn Dương và thành phố Đà Lạt Trong đề tài này, giới hạn khu vực nghiên cứu chỉ trong phạm vi 3 xã của huyện Lạc Dương, nằm ở trung tâm của lưu vực Đa Nhim, đang được thực hiện thí điểm chính sách PES Tuy nhiên, hai trong số ba xã còn có diện tích nằm trong lâm phận của VQG Bidoup-Núi Bà, cho nên một số thông tin liên quan về diện tích và giao khoán sẽ được làm

rõ thêm trong quá trình phân tích

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng

1.1.1 Chính sách của nhà nuớc về chi trả dịch vụ môi trường rừng

Ngày 10 tháng 04 năm 2008, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số: 380/QĐ-TTg về “chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng” Những vấn

đề chính của quyết định này liên quan đến đề tài là như sau:

1- Đối tượng áp dụng

- Các tổ chức sử dụng và phải chi trả dịch vụ MTR trong quyết định này, gồm các nhà máy thủy điện, các công ty cấp nước, các tổ chức, cá nhân kinh doanh các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch trên địa bàn

- Toàn bộ chủ rừng nằm ở vùng đầu nguồn lưu vực sông Đồng Nai, Sông Đà trong phạm vi hành chính của tỉnh Lâm Đồng và Sơn La

- Cơ quan nhà nước có liên quan đến việc thu, nộp quản lý và sử dụng tiền thu được từ chi trả dịch vụ MTR

2- Loại dịch vụ MTR:

- Dịch vụ về điều tiết và cung ứng nguồn nước

- Dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ

- Dịch vụ về du lịch

3- Hình thức chi trả dịch vụ MTR

- Chi trả dịch vụ MTR trực tiếp: Là việc người sử dụng dịch vụ MTR (người phải chi trả, người mua) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ MTR (người được chi trả, người bán)

Trang 20

- Chi trả dịch vụ MTR gián tiếp: Là việc người sử dụng dịch vụ MTR chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ MTR thông qua một tổ chức và thực hiện theo quy định tại khoản 2, điều 10 của Quyết định này

3- Đối tượng được chi trả tiền dịch vụ MTR

- Chủ rừng theo quy định tại khoản 2, điều 3 của Quyết định này (ở trên)

- Danh sách từng loại chủ rừng cụ thể là các tổ chức do UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định theo đề nghị của UBND cấp huyện sau khi được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định

- Danh sách các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, bản do UBND cấp huyện xem xét, quyết định theo đề nghị của cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp thuộc huyện

- Xác định số tiền được chi trả cho chủ rừng:

ha rừng (đ/ha)

X

Diện tích rừng do người được chi trả dịch vụ MTR quản

4- Nghĩa vụ, quyền hạn của người được chi trả dịch vụ MTR

a) Phải đảm bảo rừng được bảo vệ về số lượng và chất lượng, phát triển rừng theo quy hoạch và kế hoạch Trong trường hợp gặp phải yếu tố khách quan có nguy

cơ ảnh hưởng đến việc cung ứng dịch vụ MTR, chủ rừng phải thông báo cho Quỹ bảo vệ và phát triển rừng và cơ quan chính quyền cấp huyện biết để chủ động có biện pháp phòng, chống thích hợp

Trang 21

b) Đối với chủ rừng có rừng trồng được hỗ trợ chi trả dịch vụ MTR, sau khi khai thác rừng trồng, trong vòng 12 tháng, phải tự tổ chức trồng lại rừng theo quy định của pháp luật

1.1.2 Khả năng thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng ở nước ta

Ngày nay, con người đã nhận ra rằng, các giá trị sử dụng của rừng gồm giá trị hiện vật và giá trị sử dụng trừu tượng Nếu con người muốn có cuộc sống an lành thì phải trồng rừng và bảo vệ rừng để rừng sản xuất ra các giá trị sử dụng ấy

Và nếu các giá trị này được cung ứng cho mọi thành viên trong xã hội thụ hưởng thì các chủ rừng phải được chi trả, hoàn lại vốn hay lao động mà họ đã đầu tư cho rừng Theo Nguyễn Tuấn Phú (2008), rừng là “loại hàng hoá đặc biệt” có giá trị rất lớn, chiếm tới 60-80% tổng giá trị kinh tế mà rừng tạo ra Do đó, cần phải được hình thành “thị trường” để trao đổi giữa người sản xuất cung ứng các giá trị sử dụng của rừng với người hưởng thụ các giá trị này Các hoạt động trao đổi cung ứng dịch vụ sử dụng môi trường từ rừng được gọi là “Chi trả dịch vụ môi trường rừng” Đó là những cơ sở để hình thành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

ở Việt Nam

* Các chương trình tiền đề cho PES tại Việt Nam

Dự thảo Luật ĐDSH trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 18/10/2008 có quy định về tài chính cho bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học đề cập đến các nguồn thu từ PES Hiện tại, Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF) đang thực hiện một số dự án về các mô mô hình PES như: bảo vệ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch sinh thái

Chương trình Bảo tồn ĐDSH khu vực Châu Á đánh giá cao tiềm năng và xây dựng mô hình thí điểm PES rừng ở 3 tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Phước, những mô hình này được triển khai thực hiện từ năm 2006-2009 do Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp với tổ chức Winrock Internationnal

Chương trình Môi trường trọng điểm và Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ từ năm 2006-2010

Trang 22

Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng hỗ trợ một số họat động đánh giá và tìm cơ hội thị trường cho PES ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị

Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thực hiện dự án chi trả dịch

vụ môi trường ứng dụng tại khu vực ven biển Dự án xây dựng cơ chế chi trả hấp thụ CO2 trong lâm nghiệp thí điểm tại huyện Cao Phong tỉnh Hoà Bình, do Trung tâm Nghiên cứu sinh thái và Môi trường rừng thực hiện

Hiện tại, Viện Chiến lược chính sách Tài nguyên và Môi trường (thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) đang đề xuất nghiên cứu đề tài khoa học công nghệ

“Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường đất ngập nuớc ở Việt Nam”, với mục tiêu đề xuất cơ chế PES phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ngập nước

Những chương trình nói trên đã có những kết quả bước đầu và cho thấy rằng, Việt Nam đã sẵn sàng sử dụng một số công cụ tài chính và kinh tế cần thiết

để thực thi hoạt động chi trả dịch vụ hệ sinh thái, tạo cơ sở pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn bước đầu để PES thực sự ứng dụng có hiệu quả rộng rãi ở Việt Nam

* Khái niệm và thuật ngữ

Để nắm bắt được các nội dung và hoạt động liên quan đến PES, cần thống nhất một số khái niệm mới sau đây (Nguyễn Tuấn Phú, 2008):

+ Môi trường rừng (MTR) là giá trị sử dụng trừu tượng (còn gọi là giá trị sử dụng gián tiếp) do rừng tạo ra và bảo vệ mà có được, bao gồm:

- Điều hoà nguồn nước, cung cấp nước cho thủy điện, thủy lợi và đời sống sinh hoạt của xã hội

- Dự trữ sinh quyển, tạo môi trường không khí trong lành

- Bảo vệ, cải tạo đất, chống rửa trôi và xói mòn đất

- Bảo vệ các công trình kinh tế quan trọng, ngăn chặn lũ lụt

- Tạo môi trường cảnh quan thiên nhiên, phục vụ du lịch sinh thái

- Bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là bảo tồn gen động thực vật,

Trang 23

+ Dịch vụ môi truờng rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị

sử dụng trừu tượng của rừng, giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ

+ Chi trả dịch vụ MTR là quan hệ kinh tế giữa người sản xuất cung ứng (người bán, người được chi trả) cho người hưởng thụ dịch vụ môi trường rừng (người mua, người phải chi trả)

Các đối tượng được chi trả dịch vụ MTR gồm: tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng dân cứ thôn và cá nhân có tư cách pháp nhân được giao đất, giao và khoán rừng tự nhiên và rừng trồng

Các loại rừng được áp dụng chi trả dịch vụ MTR là: rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng sản xuất (nếu bảo đảm các chức năng phòng hộ trong giai đoạn chưa khai thác)

* Các hoạt động nghiên cứu liên quan

Trong tài liệu “Chi trả dịch vụ môi trường: Kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam” của nhiều tác giả (Hoàng Minh Hà và ctv, 2008) đã đề cập đến những vấn đề ban đầu liên quan đến PES (chi trả dịch vụ môi trường) ở Việt Nam Theo tài liệu này, có một vài nghiên cứu điểm liên quan đến môi trường rừng (MTR) nói riêng

đã được tiến hành ở nước ta là:

(1) Tạo nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn sông Đồng Nai

do Cơ quan phát triển DANIDA của Đan Mạch và các đối tác nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm tại hồ Trị An và vùng hạ lưu sông Đồng Nai Vấn đề đặt

ra là vùng hạ lưu sông bị ô nhiễm thì chi phí để xử lý nước ở đây sẽ tăng Nhưng quan trọng là nghiên cứu phải xây dựng được cơ chế chi trả giữa các công ty cung cấp nước và nhóm đối tựơng gây ô nhiễm ở thượng nguồn Bước đầu tiên đã xác định nguyên nhân gây ô nhiễm và chi phí xử lý nước của các nhà máy nước Khi xác định được mối liên hệ này thì sẽ xây dựng cơ chế chi trả Nghiên cứu này đã đưa ra các thông điệp: (i) Các chi phí và lợi ích của việc bảo vệ nguồn nước là những yêu cầu chính để thuyết phục người mua tham gia; (ii) Nguồn tài chính hỗ trợ là cần thiết cho những thay đổi ban đầu trong các phương thức sử dụng đất ở

Trang 24

thượng nguồn; (iii) Kế hoạch chi trả dịch vụ MTR có nhiều khả năng thành công nếu các lợi ích của người mua là rõ ràng

(2) Xây dựng cơ chế chi trả hấp thụ các-bon trong lâm nghiệp, một nghiên cứu điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Dự án được Trường Đại học Lâm nghiệp và Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường phối hợp xây dựng Mục tiêu của dự án là bảo vệ môi trường và xoá đói giảm nghèo thông qua nâng cao mức thu nhập từ sản phẩm rừng và lợi ích thu được từ việc bán tín chỉ các bon Các thông điệp từ nghiên cứu điểm này cho thấy rằng: (i) Xây dựng các dự án các bon trong lâm nghiệp sử dụng cơ chế phát triển sạch (CDM) là một quá trình phức tạp

và tốn kém; (ii) Cần lồng ghép các dự án phát triển lâm nghiệp với các lợi ích từ việc kinh doanh tín chỉ các-bon thông qua cơ chế chi trả tự nguyện; (iii) Chia sẻ lợi ích rõ ràng và sự tham gia của cộng đồng địa phương và nông dân là chìa khoá để triển khai dự án thành công

Việt Nam đã sẵn sàng sử dụng một số công cụ tài chính và kinh tế cần thiết

để thực thi hoạt động chi trả dịch vụ hệ sinh thái Trong tất cả các nghiên cứu điểm

về PES đã trình bày, vấn đề không phải ở chỗ thiếu nguồn tài chính mà chính là thiếu một khung pháp lý (Vũ Tấn Phương, 2006)

Tài liệu “Chi trả dịch vụ môi trường tại Việt Nam” (Hoàng Minh Hà và ctv, 2008) cũng đã đưa ra một số kiến nghị liên quan đến chức năng phòng hộ của rừng đầu nguồn:

1- Nghiên cứu xác định mối liên hệ giữa việc sử dụng đất vùng thượng nguồn và chất lượng nước ở vùng hạ nguồn, tính toán các chi phí nhằm duy trì chất lượng nước;

2- Thu hút các cộng đồng địa phương tham gia ký kết hợp đồng với các bên hưởng lợi từ rừng;

3- Đảm bảo các hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với các cơ chế chi trả, đặc biệt xây dựng đuợc cơ chế rõ ràng cho cộng đồng địa phương trong việc hưởng lợi từ quản lý tài nguyên được giao;

Trang 25

4- Tiến hành nghiên cứu điểm về chi trả dịch vụ môi trường cho người nghèo, tập trung vào các cơ chế chi trả nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói Các mô hình này có thể gồm: tăng cường sự an toàn về hưởng dụng đất, tạo cơ hội để người dân địa phương tham gia vào việc ra quyết định, trả công lao động cho việc bảo vệ môi trường sao cho người dân thực hiện được các hoạt động cho sinh kế của họ

1.2 Cách tiếp cận nghiên cứu có sự tham gia dựa vào cộng đồng

Cách tiếp cận có sự tham gia đã được nhiều tác giả nghiên cứu, nhưng có

lẽ vấn đề quan trọng nhất có thể là những cách hiểu khác nhau về khái niệm

“tham gia” (Dẫn theo Bùi Việt Hải, 2007) Đây là một khái niệm được diễn dịch một cách rất mềm dẻo Trong những ý kiến thảo luận về sự tham gia trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, cần phân biệt giữa các mức độ và loại hình tham gia Có hai trường hợp cực đoan có thể xảy ra liên quan đến khái niệm này: (i) Sự tham gia có thể được xem là một phương thức hay phương tiện để tạo điều kiện thực hiện một biện pháp quản lý đã được các cơ quan bên ngoài ấn định trước; (ii) Sự tham gia được xem là mục đích; phát huy sự tham gia là một phương thức phát huy nội lực của các cộng đồng địa phương để bảo vệ cơ sở tài nguyên của họ Trong thực tế, điều quan trọng khi đánh giá mức độ tham gia là ý nghĩa cơ bản của nó: người dân phải tham gia vào các quyết định chi phối đến đời sống của họ

Việc sử dụng phổ biến cụm từ “sự tham gia” phản ánh những quan điểm khác nhau về mục tiêu và phương thức Trong nhiều trường hợp, “sự tham gia” ít khi được định nghĩa rõ ràng và do đó, trở nên ít có ý nghĩa khi thực thi các hoạt động quản lý rừng Sự suy diễn phong phú các nội dung khác nhau về sự tham gia

đã dẫn tới những định nghĩa phức tạp về các “kiểu” tham gia Nói chung, sự phân biệt các kiểu tham gia dựa trên mức độ kiểm soát tiến trình lập quyết định về tài nguyên giữa những người trong cuộc (hay đối tượng hưởng lợi) và người ngoài cuộc (hay người khởi xướng)

(1) Sự tham gia thường được hiểu ở cấp độ cơ bản và đơn giản nhất, đó là sự cung cấp thông tin tham vấn khi một cơ quan hay tổ chức tiến hành để lấy ý kiến

Trang 26

của các thành viên trong một cộng đồng trước khi đưa ra các quyết định hay triển khai các hoạt động có ảnh hưởng đến người dân địa phương

(2) Ở một mức cao hơn, sự tham gia được hiểu là việc thực thi các hoạt động, một số nông dân được hợp đồng trồng rừng hay giao khoán quản lý bảo vệ rừng Một lần nữa, người dân không có quyền quyết định trồng rừng như thế nào, hoặc quản lý bảo vệ rừng ra sao, mặc dù họ có thể có quyền ký hay không ký các hợp đồng này Ở đây, sự tham gia dừng lại ở mức độ đóng góp sức lao động

(3) Cao hơn nữa, sự tham gia được thể hiện ở mức độ người dân tham gia vào việc lập kế hoạch cùng với các cơ quan phát triển từ bên ngoài, đóng góp nhân lực và kinh phí cho các hoạt động phát triển ở địa phương vì lợi ích của mình và giám sát tiến trình Nhiều hoạt động của Quyết định 145/TTg đã được thực hiện thành công theo hướng này

(4) Sau cùng, ở mức cao nhất, sự tham gia thường được hiểu như là một chuẩn mực, trong đó người dân chủ động, tích cực đưa ra các phương án phát triển Trong trường hợp này, các cơ quan bên ngoài tham gia vào hoạt động của cộng đồng mà không phải là các cộng đồng tham gia vào công việc của họ Ví dụ, nếu như rừng được thực sự giao cho người dân quản lý và sử dụng thì người dân phải

có phương án quản lý và cơ quan lâm nghiệp địa phương có trách nhiệm tham gia góp ý để làm cho các phương án quản lý ấy thực sự bền vững

Bốn cấp độ trên đây của cách tiếp cận “có sự tham gia” có thể được vận dụng trong từng tình huống cụ thể Do đó, ý tưởng cho rằng mọi sự tham gia đều đồng nghĩa với “tốt” và mọi hoạt động thiếu sự tham gia đều đồng nghĩa với

“không tốt” có vẻ cực đoan Tuy nhiên, trong thực tế, nó có thể ẩn dấu một cách thức làm cho các hoạt động dựa trên sự điều khiển được tiến hành thuận lợi và dễ được chấp nhận (Chương trình hỗ trợ LNXH, 2002)

Trong sự phát triển của lý thuyết về sự tham gia trong quản lý môi trường

và tài nguyên thiên nhiên nói chung, cần nhấn mạnh một xu thế: bản thân các vấn

đề về quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng là

Trang 27

một tiến trình xã hội (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Tài, 2006) Tuy nhiên, hành động của con người trong các cộng đồng ở trong hay gần rừng bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên của các hệ sinh thái, đồng thời với các quy luật do con người tạo

ra Do đó, để phân tích tương tác giữa cộng đồng với môi trường và tài nguyên theo các khía cạnh định chế - môi trường, cần xem môi trường và cộng đồng như

là tác nhân hành động hơn là nhân tố trong quản lý tài nguyên

Trong bối cảnh của quản lý và bảo tồn tài nguyên rừng có sự tham gia, nhiều câu hỏi quan trọng được đặt ra chung quanh các vấn đề ai tham gia và họ tham gia như thế nào? Việc phân tích sự tham gia trước hết được bắt đầu bằng cách xác định những “người tham gia”, những “cá nhân” hay “nhóm liên quan” nào tham gia vào

hệ thống quản lý và bảo tồn tài nguyên rừng? Vai trò của họ là gì? Những người này tham gia với động cơ nào? Liệu các mối quan tâm nào của họ sẽ được lưu ý và

hệ thống quản lý có sự tham gia có giúp giải quyết các mối quan tâm của họ ra sao?

Sự tham gia thực tế xảy ra ở địa phương như thế nào? Trên thực tế, không phải tất

cả các câu hỏi này đều có câu trả lời rõ ràng Tuy nhiên, nếu các bên tham gia không xem xét chúng một cách thận trọng, sự tham gia sẽ mất đi ý nghĩa của nó (Bùi Việt Hải, 2007)

1.3 Các nghiên cứu và hoạt động liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng tại địa phương

Hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng trong cả nước nói chung hay tại tỉnh Lâm Đồng nói riêng chỉ mới thực hiện từ năm 2008 trở đi Do vậy, các nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này hoàn toàn ít ỏi Sau đây là một số kết quả chính:

(1) Một nghiên cứu được xem là khá bài bản về “Giá trị của rừng để bảo tồn nguồn nước và kiểm soát xói mòn” tại lưu vực Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng của nhóm nghiên cứu quốc tế (Winrock International) đã được tiến hành ở vùng thượng lưu khu vực sông Đồng Nai (Trần Kim Thanh, 2008) Kết quả của nghiên cứu này tạo

cơ sở cho việc xây dựng chính sách thí điểm cấp quốc gia về chi trả dịch vụ MTR cho tỉnh Lâm Đồng Trong báo cáo kết quả nghiên cứu đã chỉ ra:

Trang 28

- Vai trò quan trọng của rừng trong lưu vực là tăng dòng chảy kiệt trong mùa khô cho các mục đích sử dụng nước Diện tích rừng càng lớn, độ che phủ rừng càng cao thì dòng chảy trong mùa khô càng tăng Rừng có thể tác động tích cực lên các

hồ chứa được điều tiết hàng ngày và ít hơn đối với hồ điều tiết nhiều năm Tác động của rừng lên các hồ chứa điều tiết hàng năm có thể ở giữa hai giá trị đó

- Tại lưu vực Đa Nhim, độ che phủ của rừng đạt 85%, do đó giá trị gián tiếp của rừng tại lưu này được nhìn nhận ở các cấp độ:

(a) Bảo tồn nước: Rừng có thể: giảm thiểu thiệt hại về lũ trong các lưu vực nhỏ; điều tiết nước trong hệ thống sông tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất điện và tưới; và tăng dòng chảy kiệt trong mùa khô

(b) Kiểm soát xói mòn: Các giá trị tổng thể của rừng về kiểm soát xói mòn bao gồm: giảm xác suất lở đất; giảm xói mòn bờ sông; giảm bồi lắng cát trên các cánh đồng hoa màu ở vùng núi; giảm bồi lắng cát dọc theo sông; và giảm bồi lắng bùn ở lòng hồ

(c) Hấp thu và lưu giữ các-bon: Rừng có giá trị kinh tế trong việc điều hòa khí hậu Trong các dịch vụ này, dịch vụ dễ đoán nhất là giá trị về lưu giữ các-bon

vì thực vật đang phát triển lưu giữ được các-bon Có hai cách để tích giá trị lưu trữ các bon: giá trị thị trường/ thay thế chi phí và thiệt hại kinh tế tránh được

- Giá trị của rừng về điều tiết nước và giảm bồi lắng bùn trong hồ chứa ở lưu vực Đa Nhim sẽ ở mức thấp so với công trình thủy điện mà ở đó sản lượng điện phụ thuộc chủ yếu vào lưu lượng và thể tích hoạt động của hồ chứa Tuy nhiên, tại lưu vực này có tỉ lệ che phủ cao 85% với tổng diện tích rừng là 63.000 ha Một hecta rừng sẽ mang lại lợi ích cho công trình thủy điện Đa Nhim là 69,07 USD/ha/năm (trong đó 14,64 USD/ha/năm là từ việc điều tiết nước và 54,43 USD/ha/năm là do giảm chất lơ lửng bồi lắng vào hồ) Nếu lợi ích của rừng được tính bằng VND/kWh, tổng sẽ là 64,55 VND/kWh

(2) Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng được thành lập theo Quyết định số 333/QĐ-UB ngày 17/02/2009 của UBND tỉnh Lâm Đồng Trong

Trang 29

thời gian 2 năm làm thí điểm chi trả dịch vụ MTR, Qũy BV&PTR đã làm được những công việc như sau:

- Lập danh sách các đối tượng phải chi trả trong thời gian thí điểm 2010) gồm: Nhà máy thủy điện Đa Nhim và Đại Ninh, Công ty cấp nước TP Hồ Chí Minh (SAWACO); Công ty cấp nước TP Biên Hoà (tỉnh Đồng Nai) Ngoài ra còn có

(2009-9 đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Mức thu theo quy định của chính phủ (trong quyết định 380/QĐ-TTg)

- Lập danh sách các đối tượng được chi trả trong thời gian thí điểm 2010) gồm: Các chủ rừng là tổ chức Nhà nước thực hiện khoán BVR cho các hộ gia đình trên lâm phần mình quản lý (13 Ban quản lý rừng và Công ty Lâm nghiệp trong tỉnh); các hộ gia đình, tổ chức nhận khoán BVR ổn định lâu dài trên diện tích

(2009-do các tổ chức nhà nước quản lý; các chủ rừng là hộ gia đình và cá nhân được nhà nước trực tiếp giao đất

- Xác định diện tích lưu vực chi trả dịch vụ môi trường rừng, gồm có: lưu vực

hồ thuỷ điện Đa Nhim là 73.700 ha, lưu vực hồ thuỷ điện Đại Ninh là 114.866 ha, lưu vực sông Đồng Nai trên địa phận tỉnh Lâm Đồng sản xuất nước sinh hoạt cho Nhà máy SAWACO và Công ty cấp nước TP Biên Hoà với tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 395.803 ha

- Xác định cụ thể hệ số K: Áp dụng cách tính hệ số K (do UBND tỉnh quyết định) để tính toán giá trị chi trả dịch vụ môi trường rừng như sau:

K = (KLR + KCLR + KNGR + KTĐ) / 4 Các hệ số KLR, KCLR, KNGR, KTĐ được vận dụng áp dụng trên cơ sở như sau:

- Hệ số phụ KLR (loại rừng) cụ thể là: KLR= 0,9 với rừng sản xuất, KLR = 1 với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;

- Hệ số phụ KCLR (chất lượng rừng) cụ thể là: KCLR= 0,9 với rừng nghèo và rừng phục hồi, KCLR= 0,95 với rừng trung bình và KCLR= 1 với rừng giàu;

Trang 30

- Hệ số phụ KNGR (nguồn gốc hình thành rừng) cụ thể là: KNGR = 0,9 với rừng trồng, KNGR = 1 với rừng tự nhiên;

- Hệ số KTĐ (mức tác động) cụ thể: hệ số KTĐ = 1 cho mức tác động I, hệ số

KTĐ = 0,9 cho mức tác động II

Hệ số K như trên chỉ đặt ra và xác định tương đối trong giai đoạn thí điểm với mức chênh lệch khá thấp giữa các hệ số phụ (chỉ biến động từ 0,9 đến 1,0) để đảm bảo sự đồng thuận trong cộng đồng các hộ gia đình và tổ chức nhận khoán quản lý và bảo vệ rừng

môi trường rừng cho toàn tỉnh Lâm Đồng Theo báo cáo kết quả của đề tài này, trong các đối tượng được chi trả dịch vụ MTR, tác giả phân ra làm 3 nhóm lớn là:

tổ chức nhà nước, doanh nghiệp tư nhân sản xuất trên đất lâm nghiệp, hộ gia đình

và cộng đồng được giao đất và khoán BVR Còn theo Chi cục Lâm nghiệp Lâm Đồng (2009), có 4 loại đối tượng được chi trả: tổ chức nhà nước, doanh nghiệp tư nhân sản xuất trên đất lâm nghiệp, hộ gia đình được giao đất lâm nghiệp, hộ gia đình và tập thể nhận giao khoán QLBVR

Sau khi tham khảo và xem xét các vấn đề liên quan đến chi trả, đề tài có một vài nhận xét sau đây: (i) Số tiền trích lại cho các đơn vị chủ rừng 10% để chi phí quản lý theo Quyết định 380 của chính phủ là một con số quá lớn; (ii) Người dân muốn nhận trực tiếp từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, tuy nhiên trong trường hợp này công tác chi trả tiền cho từng hộ dân sẽ hết sức phức tạp; (iii) Các hệ số phụ để tính K sẽ không công bằng đối với từng loại rừng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng; rừng nghèo, rừng trung bình và rừng giàu; đối với rừng trồng và rừng tự nhiên; đối với rừng ít có khả năng tác động và rừng có khả năng tác động cao; vì rằng giá trị, công sức, tiền bạc của người dân đầu tư vào từng loại rừng có sự chênh lệch quá lớn mà mức độ chi trả lại không chênh lệch nhau nhiều; (iv) Việc thực hiện áp dụng

hệ số K được tính theo tiểu khu, những người trong cùng một tiểu khu được xác định một hệ số K giống nhau trong khi có thể có những kiểu loại rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất khác nhau, chất lượng rừng khác nhau, nguồn gốc hình thành

Trang 31

rừng và khả năng tác động của chúng đến rừng cũng có thể khác nhau; ngược lại trong những tiểu khu có hệ số K khác nhau lại có những khoảnh rừng giống nhau; cho nên việc xác định hệ số K theo tiểu khu là không công bằng đối với những đối tượng rừng

Cũng trong nghiên cứu này, tác giả đã có một kết luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở đây là: Trong việc xác định các đối tượng phải chi trả và được chi trả dịch vụ MTR vẫn còn chưa đầy đủ, còn nhiều đối tượng sử dụng dịch vụ nhưng chưa được tính đến Tỷ lệ chi trả dịch vụ về du lịch còn thấp, mức chi trả dịch vụ

về điều tiết và cung ứng nguồn nước hay dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ là một con số quy định dựa theo ước lượng chưa đúng với khả năng và giá trị mà nó cung cấp, dẫn đến số tiền chi trả dịch vụ môi trường còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng thực sự của nó

(4) Năm 2010, Trần Kim Thanh đã tiến hành Khảo sát kinh tế xã hội để đánh giá chính sách thí điểm của Chính phủ Việt Nam về chi trả dịch vụ MTR ở Lâm Đồng thuộc dự án Cảnh quan bảo tồn lưu vực Đồng Nai của Winrock International Trong báo cáo kết quả, nghiên cứu có đề cập đến một số kết quả mà PES đạt được như:

- Tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành một số biện pháp để nâng cao nhận thức về giá trị rừng và tuyên truyền chính sách PES/380 đến các sở, ban, ngành có liên quan, các công ty và cộng đồng Kết quả khảo sát cho thấy rằng cách hiệu quả nhất đối với cộng đồng và hộ là thông qua các cuộc họp cộng đồng

- Tỉnh Lâm Đồng có lợi thế về việc chuẩn bị hợp đồng bảo vệ rừng vì việc giao đất rừng cho hộ đã được bắt đầu từ những năm 1990 Cơ chế quản lý đã tồn tại (hợp đồng, theo dõi, chi trả, v.v) Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ để xác định ranh giới, giao đất, phê duyệt cần thời gian và kinh phí Cần phải có nhiều thời gian và nguồn lực đáng kể để chuẩn bị trước khi áp dụng chính sách

- Việc theo dõi và đánh giá PES sẽ bao gồm: (i) vai trò và trách nhiệm của các cơ quan được giao trách nhiệm trong quá trình giám sát và đánh giá, (ii) các

Trang 32

tiêu chí chính cho giám sát và đánh giá (có thể là diện tích rừng và loại rừng, các trường hợp vi phạm loại rừng bị mất do đốn rừng, cháy rừng, xâm lấn,…) Kết quả tham vấn với những người chi trả trong quá trình khảo sát cho thấy họ mua dịch vụ nhưng không biết là dịch vụ có mang lại lợi ích cho hoạt động của họ hay không

Và tác giả cũng nêu ra những thách thức liên quan đến PES là:

* Việc theo dõi chất lượng môi trường (bao gồm diện tích, chất lượng rừng)

là điểm yếu của việc thực hiện chính sách thí điểm hiện tại Hiện nay không có bảng biểu và mẫu báo cáo chuẩn và không rõ ai chịu trách nhiệm giám sát và theo dõi để thực hiện PES Dữ liệu ghi chép quá khứ về rừng bị mất và các trường hợp

vi phạm không có hệ thống và không đủ chi tiết để phân tích Vì vậy, việc theo dõi

và giám sát phải là một phần của Nghị định PES sắp tới

* Quy hoạch sử dụng đất đóng góp cho việc giải quyết vấn đề thiếu đất nông nghiệp hiện tại của người dân trong vùng đệm và gần khu bảo tồn, xác định được tính phù hợp của đất cho nông nghiệp và đất rừng để phát triển bền vững nên được nhắm tới Năng suất nông nghiệp ở một số nơi ở lưu vực Đa Nhim là thấp Cần nghiên cứu thêm để xác định vấn đề và đưa ra giải pháp thích hợp

1.4 Một số thảo luận

Đề tài có một vài thảo luận để làm sáng tỏ cho những vấn đề hay hoạt động

sẽ được thực hiện trong nghiên cứu này

Một là, khu vực rừng thuộc BQL phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim chiếm tỷ lệ

65,7% tổng diện tích rừng phòng hộ của huyện Lạc Dương, có chức năng phòng hộ đầu nguồn cho nhà máy thủy điện Đa Nhim Tuy nhiên, cũng như nhiều khu rừng phòng hộ khác ở nước ta, tài nguyên rừng của BQL rừng phòng hộ Đa Nhim đang phải đối mặt với những nạn xâm lấn diện tích đất để chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho các hoạt động kinh doanh khác Một trong các nguyên nhân chính là do người dân chỉ nghĩ đến sản phẩm trực tiếp có thể lấy ra được (gỗ, củi, LSNG) hoặc làm ra được từ đất rừng này (sản phẩm từ cây trồng trên đất rừng), hoàn toàn chưa

có nhận thức về giá trị gián tiếp mà rừng đem lại Thực tế, nếu có tham gia nhận

Trang 33

khoán quản lý bảo vệ rừng thì tiền công 100.000 đồng/ha/năm (năm 2008) cũng chưa đủ bồi đắp công sức của người dân nếu họ tận tâm với các hoạt động bảo vệ rừng Nếu tình trạng này vẫn cứ tiếp diễn, rừng trong khu vực sẽ bị suy thoái dần cả

về diện tích và chất lượng, mất đi những giá trị quý báu vốn có của nó trong việc bảo vệ và điều tiết nguồn nước Thêm nữa, giá trị gián tiếp của rừng tại lưu vực Đa Nhim trong việc duy trì và điều tiết nguồn nuớc đã được định lượng, khoảng 69,07 USD/ha/năm Nếu lợi ích của rừng được tính bằng VND/kWh, tổng sẽ là 64,55 VND/kWh Từ thực tế đó, việc thay đổi đơn giá cho khoán quản lý bảo vệ rừng tự nhiên để người dân hạn chế lợi dụng sản phẩm trực tiếp từ rừng và có trách nhiệm hơn trong bảo vệ rừng đầu nguồn là một hoạt động có thể kỳ vọng được

Hai là, BQL rừng phòng hộ Đa Nhim từ khi thành lập đến nay chưa có

những nghiên cứu cụ thể nào gọi là mang tính khoa học về các vấn đề liên quan đến

kỹ thuật cũng như thực hiện chính sách, mặc dù cũng đã có áp dụng một số chương trình và dự án quốc gia như: dự án xoá đói giảm nghèo, chương trình 135, chương trình 327, chương trình trồng rừng 661, Những chương trình này nhằm từng bước ổn định đời sống người dân, làm giảm áp lực của cộng đồng địa phương với nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Tuy nhiên, từ khi quyết định 380/QĐ-TTg

về chi trả dịch vụ MTR được thực hiện thí điểm tại Lâm Đồng từ năm 2009 thì khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim là một trong những đối tượng được quan tâm đến nhiếu nhất Song, thực hiện một chính sách không thể cứ mãi là “thí điểm”

mà phải mang tính lâu dài Vì thế, để có cơ sở ra một chính sách thực thi trong khoảng thời gian nhất định phải bắt đầu từ những nghiên cứu chuyên sâu Theo đó,

đề tài này là một trong số các gói nghiên cứu cho việc thực hiện đề án nghiên cứu chi trả dịch vụ MTR ở Lâm Đồng

Ba là, trong báo cáo của BQL rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim về tình

hình thực hiện giao khoán QLBVR thuộc chương trình chi trả dịch vụ MTR năm

2009 đã xác định có 19.171,28 ha của 786 hộ dân được nhận chi trả với định mức 290.000 đ/ha/năm, dự kiến sẽ giao tiếp cho 122 hộ dân với diện tích 4.178,35 ha Ngoài ra, BQL còn giao cho các đơn vị tập thể trong tỉnh với diện tích 2.071,80 ha

Trang 34

với định mức 145.000 đ/ha/năm Điều đó có nghĩa là Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Lâm Đồng chưa thực hiện được các định mức chi trả cụ thể cho từng loại rừng, hiện trạng rừng và từng nhóm người dân; hoặc nếu có đưa ra hệ số K thì mới chỉ xác định cho cấp độ tiểu khu trong khi đây là đơn vị quản lý chứ không phải đơn vị phản ánh chất lượng MTR Những kết quả ấy gián tiếp dẫn đến: (i) Chưa có cơ chế, chính sách, phương thức hợp lý để phát huy vai trò của cộng đồng thôn, buôn nhằm tạo sức mạnh tập thể trong bảo vệ rừng, đồng thời chưa tạo quy chế quản lý, giám sát lẫn nhau giữa người phải trả và người được trả, tính bền vững của dịch vụ chi trả MTR vì thế chưa được đảm bảo (ii) Các quy định cụ thể về việc xử lý vi phạm đối với các hộ nhận khoán còn thiếu hoặc chưa phù hợp với dịch vụ MTR, vì vậy khi hộ nhận khoán để rừng bị khai thác, bị phá, bị lấn chiếm trái phép thì việc xử lý chỉ mới dừng lại ở mức độ trừ tiền công giao khoán hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, trong khi MTR bị mất đi nhưng không thể lấy lại được

Bốn là, hoạt động thực hiện chi trả dịch vụ MTR ở tỉnh Lâm Đồng đã được

Chính phủ và UBND tỉnh cho phép Việc thu tiền từ các đơn vị và tổ chức thực thi theo quy định của QĐ380/QĐ-TTg ở đây không bàn đến, nhưng việc chi trả số tiền

đó như thế nào cho hợp lý phải là nhiệm vụ của Quỹ BV&PTR Lâm Đồng nói riêng và Sở NN&PTNT tỉnh nói chung Những bài học và kinh nghiệm từ các nghiên cứu điểm về dịch vụ môi trường rừng (PES) ở Việt Nam (như đã đề cập ở phần trên) có lẽ cũng vẫn đúng với trường hợp riêng ở tỉnh Lâm Đồng, ấy là chi trả dịch vụ MTR phải gắn với xoá đói giảm nghèo Nhưng Lâm Đồng còn khác với nhiều địa phương trong nước: là tỉnh có độ che phủ cao nhất, đặc biệt diện tích lưu vực đầu nguồn nước cho thủy điện và sinh hoạt cũng lớn nhất, đồng thời còn là tỉnh

có nhiều loại hình dịch vụ MTR nhất Vì thế, bản thân tỉnh Lâm Đồng cũng phải xác định một chính sách chi trả dịch vụ MTR mang tính đặc trưng riêng của tỉnh mình Tất cả những điều đó lại chưa có các công trình nghiên cứu và định lượng một cách chuẩn xác để làm cơ sở đánh giá chất lượng dịch vụ MTR Từ đó, nhiệm

vụ đặt ra trước mắt phải phân loại các đối tượng nhận chi trả từ dịch vụ này nếu đặt

Trang 35

dịch vụ chi trả là một trong các yếu tố của hệ thống xã hội như phương pháp luận

đã đặt ra, và xa hơn là phân loại tài nguyên rừng trong phạm vi rừng phòng hộ

Từ các kiến nghị đã nêu trong tài liệu “Chi trả dịch vụ môi trường: Kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam“ (2008), cộng với thực tiễn thí điểm chi trả dịch vụ MTR đã diễn ra ở Lâm Đồng trong năm 2009 và 2010, đề tài thấy nổi lên hai vấn

đề chính phải làm ngay:

(1) Thống kê các loại rừng đã giao khoán tại 3 xã nghiên cứu trong phạm vi quản lý của BQL rừng phòng hộ Đa Nhim Thống kê và phân cấp các loại chủ rừng được chi trả Vấn đề này sẽ phức tạp hơn vì nó liên quan đến: (i) tổ chức tập thể hay cá nhân, (ii) đối tượng giàu nghèo về mặt xã hội (một trong những mục tiêu của PES là giảm nghèo)

(2) Nhóm đối tượng người dân nhận khoán bảo vệ rừng từ trước đây khá lâu (1999), nhưng chính sách PES/380 mới thực sự được thực hiện thí điểm tại đây từ năm 2009 Vì thế cần có những đánh giá về cách thức và kết quả thực hiện có được tại thời điềm điều tra, một trong số các đánh giá là tác động của PES làm thay đổi đời sống của người dân nhận khoán

Căn cứ vào việc xác định các loại tài nguyên rừng và đối tượng nhận khoán, kết hợp lại có thể xác định được các cấp độ chi trả về môi trường rừng, đó là cơ sở của việc ra chính sách thực hiện chi trả dịch vụ MTR trong các năm sau

Trang 36

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của khu vực nghiên cứu

2.1.1 Vị trí địa lí, địa hình

Ban quản lí rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim (từ đây gọi tắt là BQL Đa Nhim) nằm trong lưu vực thuỷ điện Đa Nhim, thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng

- Phía Bắc và Tây Bắc giáp VQG Bidoup-Núi Bà và tỉnh Đắc Lắc

- Phía Nam giáp huyện Đơn Dương và Thành phố Đà Lạt

- Phía Đông giáp tỉnh Ninh Thuận

- Phía Tây giáp huyện Lâm Hà, Đam Rông

Khu vực BQL Nhim có địa hình khá phức tạp, độ cao tuyệt đối biến đổi từ trên 1.000 m đến 2.000 m so với mực nước biển, độ cao giảm dần theo hướng nghiêng từ phía Bắc xuống phía Nam

Địa hình của khu vực BQL Đa Nhim thuộc dạng địa hình núi trung bình và núi cao, có những thung lũng dạng lòng chảo, bề mặt địa hình chia cắt khá phức tạp, có nhiều khe suối sâu, đây là những yếu tố gây khó khăn khi tổ chức các hoạt động sản xuất lâm nghiệp

2.1.2 Khí hậu và thủy văn

BQL Đa Nhim nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng do bị chi phối bởi quy luật độ cao và ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu khu vực này mát lạnh quanh năm, mưa nhiều, mùa khô ngắn, lượng bốc hơi thấp, ít có bão

Trang 37

Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 180C, thấp hơn nhiệt

độ trung bình của các vùng khác trong tỉnh, vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên từ

4 - 60C Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm khá ôn hòa Biên độ nhiệt trung bình tháng là 3,90C Nhiệt độ trung bình ngày dao động từ 150C - 200C

Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm là 1.755 mm, vào mùa mưa chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm Số ngày mưa trung bình ở khu vực này khoảng

170 ngày/năm Tháng 9 có lượng mưa cao nhất bình quân đạt 300 mm/tháng Thời gian từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau bình quân chỉ có khoảng 5 ngày có mưa trong tháng Lượng mưa phân bố không đồng đều, càng lên vùng núi phía Bắc huyện Lạc Dương như khu vực Vườn quốc gia Bi Doup-Núi Bà, núi Bi Doup, núi Hòn Giao, núi Gia Rích, núi Chư Yên Du thì lượng mưa dao động từ 2.800 mm đến 3.000 mm/năm, số ngày mưa và tháng mưa dài hơn ở khu vực Đà Lạt

Độ ẩm không khí: Mùa mưa độ ẩm không khí trên 85% Mùa khô độ ẩm không khí dưới 80% Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm vào tháng 2, tháng 3 từ 75% - 78%

Thủy văn: Khu vực Đa Nhim nằm trong địa hình bị chia cắt mạnh, có độ dốc lớn, lượng mưa bình quân trong năm cao nên khu vực vùng dự án có mạng lưới sông suối khá phong phú Sông Đa Nhim và sông Đa Dâng là 2 con sông đầu

nguồn của hệ thống sông Đồng Nai (BQL rừng phòng hộ Đa Nhim, 2009)

2.1.3 Tài nguyên rừng

Lưu vực Đa Nhim cho đến đập Dran có diện tích 750 km2 bao gồm các phần của huyện Đơn Dương, Lạc Dương, và Đà Lạt Lưu vực được che phủ chủ yếu bởi rừng với tổng diện tích là 631 km2 chiếm 84% tổng diện tích lưu vực

Vùng rừng lớn nhất là rừng thông (Pinus) chiếm 64%, sau đó là rừng lá rộng

(11%), rừng hỗn giao (7%) và rừng trồng (3%) Đất trống được che phủ bởi cỏ và bụi chiếm gần 5% Hiện trạng che phủ tự nhiên trên lưu vực Đa Nhim (Dẫn theo Trần Kim Thanh, 2008) như trình bày tóm tắt trong Bảng 2.1 và biểu diễn trên Hình 2.1

Trang 38

Bảng 2.1 Hiện trạng che phủ tự nhiên ở lưu vực thuỷ điện Đa Nhim

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Trần Kim Thanh, 2008)

Hình 2.1 Bản đồ che phủ tự nhiên ở lưu vực Đa Nhim

Rừng lá kim

Nông nghiệp

Rừng thường xanh và lá rộng

Đường cao tốc

Hồ chứa

Đa Nhim

Biên giới lưu vực

Đa Nhim

Trang 39

Riêng BQL Đa Nhim là một đơn vị quản lý tài nguyên rừng của lưu vực Đa Nhim nói chung Tổng diện tích tự nhiên của BQL Đa Nhim 39.056 ha, trong đó đất có rừng là 37.081 ha (chiếm 95% tổng diện tích của BQL), gồm rừng tự nhiên 35.719 ha (91,5%); rừng trồng 1.362 ha (3,5%) (BQL Đa Nhim, 2009)

Như vậy, độ che phủ của rừng của BQL Đa Nhim rất cao, chiếm 95%, trên địa hình núi cao, dốc nên có vai trò rất quan trọng về chức năng phòng hộ đầu nguồn (điều tiết nước, hạn chế xói mòn, rửa trôi đất) và bảo vệ môi trường, cảnh quan tự nhiên

2.1.4 Tình hình kinh tế-xã hội của địa phương trong khu vực nghiên cứu

* Tình hình kinh tế-xã hội chung của toàn khu vực

Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim nằm trên địa bàn hành chính của các xã Đa Chais, Đa Nhim, Đa Sar, Lát, Đưng K’Nớ và thị trấn Lạc Dương, thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Tổng diện tích tự nhiên của BQL

Đa Nhim xấp xỉ 40.000 ha

Về giao thông: Trong khu vực có hai đường tỉnh lộ 722 và 723 Hiện nay đường tỉnh lộ 723 nối liền với tỉnh Khánh Hòa, dài 50 km, đi qua trung tâm các xã

Đa Sar, Đa Nhim và Đa Chais, là tuyến đường chính, rất thuận lợi cho sự đi lại và trao đổi hàng hoá của đồng bào địa phương

Về điện và nước sinh hoạt: Hiện nay đã có điện thắp sáng cho đồng bào sống tập trung ở toàn bộ các xã trong vùng Các xã cũng được đầu tư nước sạch tự chảy cho nhân dân nhưng vẫn chưa khắp hết các cụm dân cư, một số hộ ở phân tán, vùng sâu, vùng xa vẫn phải dùng nước lấy từ suối tự nhiên và các giếng đào

Những đặc điểm về kinh tế:

- Địa bàn BQL Đa Nhim và VQG Bidoup-Núi Bà thuộc địa bàn vùng núi của tỉnh Lâm Đồng, cơ cấu kinh tế là nông - lâm nghiệp và dịch vụ chiếm vai trò quan trọng đối với phát triển của huyện Trong nông nghiệp, phát triển mạnh trên hai lĩnh vực là trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên về tổng thể, sản xuất nông nghiệp

Trang 40

vẫn gặp nhiều khó khăn như phụ thuộc vào những biến đổi của điều kiện tự nhiên,

xã hội và thị trường tiêu thụ các mặt hàng nông sản không ổn định, dẫn đến đời sống sinh hoạt của người dân trong khu vực gặp khó khăn

- Tỷ lệ hộ nghèo sống trên địa bàn chiếm tỷ lệ trên 25% Để hỗ trợ địa phương, nhà nước đã có các chương trình hỗ trợ việc xóa đói giảm nghèo như chưong trình giao khoán bảo vệ rừng gắn với các chương trình 134, 135, 304

- Địa bàn vùng BQL Đa Nhim hiện nay đang thu hút và được sự chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh đến đầu tư nhằm khai thác các thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, phát triển chăn nuôi và du lịch sinh thái, xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất nông lâm kết hợp với bảo vệ rừng Các dự án đầu tư hy vọng sẽ phát huy hiệu quả, góp phần chuyền dịch cơ cấu kinh

tế, tạo việc làm, tăng thu nhập trên địa bàn (BQL Đa Nhim, 2009-2010)

* Tình hình dân số và kinh tế của các xã nghiên cứu

Toàn lưu vực Đa Nhim nằm trên các huyện Lạc Dương, Đơn Dương, và Thành phố Đà Lạt Vùng nghiên cứu có 3 xã ở huyện Lạc Dương, gồm:

Bảng 2.2 Diện tích và dân số (hộ, nhân khẩu) ở 3 xã của lưu vực Đa Nhim

Ngày đăng: 14/03/2019, 10:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w